Đối với bộ môn Lịch sử ngoài những năng lực chung còn có những năng lực chuyên biệt như: tìm hiểu lịch sử; nhận thức và tư duy lịch sử; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.” [22; tr.6] T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
TRẦN THỊ THÚY HẰNG
SỬ DUNG̣ CÂU HỎI TRONG DAỴ HOC̣ PHẦN
ĐẦU THẾ KỈ XIX LƠP 10 NHĂM PHAT TRIÊN
̉̉
SỬ CHO HOC̣
NĂNG LƯC̣ TÌM HIÊU LICḤ
SINH Ở TRƯỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử
Người hướng dẫn khoa học
ThS PHAN THỊ THÚY CHÂM
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng củabản thân, còn có sự quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, cũngnhư sự động viên, ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu
Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến ThS Phan Thị Thúy Châm
- người thầy đã tận tâm giúp đỡ và cung cấp những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Lịch
sử đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tạitrường
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy côtrong tổ Xã hội và các em học sinh trường THPT Tiên Du số 1 (Bắc Ninh) nơitôi về thực tập đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực nghiệm và hoàn thànhkhóa luận
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài không tránh khỏi những thiếu xót Tôirất mong nhận được sự đóng góp của mọi người để khóa luận được hoànchỉnh hơn
Em xin trân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Trần Thị Thúy Hằng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của mình Những
số liệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa đượccông bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Trần Thị Thúy Hằng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
4 Muc ̣ đích vànhiêṃ vu ̣của đềtài 6
5 Cơ sởpháp luâṇ vàphương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của khóa luâṇ 8
7 Ý nghiã khoa hoc ̣ vàthưc ̣ tiêñ của đềtài 8
8 Cấu trúc của khóa luận 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC TÌM HIỂU LỊCH SỬ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT 9
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1.1 Môṭsốkhái niêṃ cơ bản 9
1.1.2 Đăc ̣ trưng kiến thức licḥ sử 13
1.1.3 Đăc ̣ điểm tâm lívànhâṇ thức của hoc ̣ sinh lớp 10 ởtrường THPT 14 1.1.4 Đinḥ hướng đổi mới PPDH trong daỵ hoc ̣ Licḥ sử ở trường THPT 19 1.1.5 Vai trò, ýnghiã của viêc ̣ sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ Licḥ sử nhằm phát triển năng lưc ̣ tim̀ hiểu licḥ sử cho hoc ̣ sinh ởtrường THPT 20 1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Thực trạng dạy và học lịch sử ở trường THPT 24
1.2.2.Thưc ̣ trang ̣ sửdung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ licḥ sử nhằm phát triển năng lưc ̣ tim̀ hiểu licḥ sử ởtrường THPT 25
Trang 5Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP SỬDUNG̣ CÂU HỎI TRONG DAỴ HOC̣ ̉̀ ̉ PHÂN LICḤ SƯ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ ̉́ ̀ ́ ̉ ̀ ̉ ̉ XIX LƠP 10 NHĂM PHAT TRIÊN NĂNG LƯC̣ TIM HIÊU LICḤ SƯ CHO HOC̣ SINH ỞTRƯỜNG THPT 33
2.1 Vi tṛí, muc ̣ tiêu, nôịdung phần licḥ sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (SGK Licḥ sử 10, chương trinh̀ chuẩn) 33
2.1.1 Vi tṛí 33
2.1.2 Muc ̣ tiêu 34
2.1.3.Nôịdung 35
2.2 Nguyên tắc sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ Licḥ sửởtrường THPT 37 2.2.1.Đảm bảo nôịdung bài hoc ̣ licḥ sử 37
2.2.2 Đảm bảo tính vừa sức 38
2.2.3 Đảm bảo tính đa dang ̣ trong viêc ̣ thiết kếcâu hỏi 40
2.2.4 Đảm bảo tính hê ̣thống 41
2.3.Quy trinh̀ sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ Licḥ sử để phát triển năng lực tìm hiểu Licḥ sửcho HS ở trường THPT 41
2.4 Môṭsốbiêṇ pháp sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ phần Licḥ sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát triển năng lưc ̣ tim̀ hiểu licḥ sử cho hoc ̣ sinh ởtrường THPT 43
2.4.1 Sử dung ̣ câu hỏi nhằm phát triển năng lưc ̣ nhâṇ diêṇ vàsử dung ̣ tư liêụ licḥ sử 43
2.4.2 Sử dung ̣ câu hỏi nhằm phát triển năng lưc ̣ tái hiêṇ vàtrinh̀ bày licḥ sử 49
2.5.Thưc ̣ nghiêṃ sư phaṃ 53
2.5.1.Muc ̣ đích thưc ̣ hiêṇ 53
2.5.2.Đối tương ̣ vàđiạ bàn thưc ̣ nghiêṃ 53
Trang 62.5.4.Kết quảthưc ̣ nghiêṃ 54 2.5.5 Kết luâṇ sau thưc ̣ nghiêṃ 56 Tiểu kết chương 2 57
̉́
KÊT LUÂṆ 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong thời đại hội nhập như hiện nay, giáo dục là lĩnh vực có vai trò vôcùng quan trọng đối với mọi quốc gia, mọi dân tộc Đảng và nhà nước ta đã
khẳng định: “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Do vậy việc đổi mới giáo
dục là rất cần thiết và là mối quan tâm hàng đầu của các cấp, các ngành, cácnhà giáo dục và của toàn xã hội
Để nâng cao chất lượng giáo dục, cần đổi mới từ muc ̣ tiêu, chương trinh,ksách giáo khoa đến phương pháp daỵ hoc ̣ Đăc ̣ biêṭphải đổi mới PPDH từcách hoc ̣ “ truyền thu ̣môṭchiều” sang viêc ̣ HS đươc ̣ chủđông ̣ khám phávàchiếm linh̃ kiến thức dưới sư ̣hướng dâñ vàđinḥ hướng của GV Córất nhiềubiêṇ pháp đổi mới PPDH như cải tiến các PPDH truyền thống, kết hơp ̣ đadang ̣ các PPDH, PPDH tích cưc,̣…
Licḥ sử không chỉ giúp người hoc ̣ có được những kiến thức lịch sử mà cònhình thành và phát triển phẩm chất năng lực cho người học Đất nước ta đãtrải qua một chặng đường lịch sử với bao thăng trầm của thời đại, có rất nhiềuchiến công huy hoàng cũng có những đau thương, mất mát không thể nào
quên Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “ Dân ta phải biết sử ta/ cho tường
gốc tích nước nhà Việt Nam”, câu nói này như một lời kêu gọi vàyêu cầu của
Bác với nhân dân đặc biệt là thế hệ học sinh phải hiểu rõ được lịch sử nướcnhà , bởi nếu không có quá khứ thì sẽ không có hiện tại và tương lai Tuynhiên, thưc ̣ tếcho thấy môn Lịch sử đang bị hoc ̣ sinh thờ ơ, xem nhẹ, chỉ coi làmôn phụ và học theo kiểu đối phó Đồng thời một số GV còn chưa thực sựhiểu sâu về phương pháp dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào SGK, chưachủ động đổi mới dẫn đến giờ học năng ̣ nề, khókhăn
Đặt câu hỏi là kỹ năng quan trọng đối với mỗi GV và là một trong nhữngyếu tố quyết định đến chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh Nôịdung củacâu hỏi sẽ giúp học sinh kích thích tư duy, hướng HS vào nôịdung bài
Trang 9học, đồng thời giúp học sinh dê ̃dàng khám phávàghi nhớ kiến thức mới Thếnhưng, trên thưc ̣ tếviêc ̣ đăṭcâu hỏi trong daỵ hoc ̣ vâñ thường bi xeṃ nhe.̣GVchỉđăṭra những câu hỏi “cho có” chưa chúýđến kết quảnhâṇ đươc ̣ sau khi HS
trảlời Các câu hỏi thường chưa tâp ̣ trung vào nôịdung ̣ kiến thức, thâṃ trí hoc ̣sinh chỉđoc ̣ laịnguyên trong sách giáo khoa màkhông hiểu bản chất câu trảlời,không taọ sư ̣kích thích tikm tòi dâñ đến viêc ̣ hoc ̣ trởnên năng nề
Chương trinhk giáo duc ̣ phổthông tổng thểvàchương triknh môn hoc ̣ nhấn
manh:̣ “giáo duc ̣ phải giúp học sinh phát triển những phẩm chất, năng lực
cần thiết, khả năng tự học và đinḥ hướng nghề nghiệp phù hợp với năng lực
và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân Hệ thống các năng lực chung và năng lực chuyên biệt cho học sinh ởtừng môn hoc ̣ đãđươc ̣ đưa ra trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Đối với bộ môn Lịch sử ngoài những năng lực chung còn có những năng lực chuyên biệt như: tìm hiểu lịch sử; nhận thức và tư duy lịch sử; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.” [22; tr.6] Trong đó, NLTHLS là một trong những năng lực quan trọng
giúp học sinh tìm hiểu, khai thác tư liệu để hình thành kiến thức, kĩ năng vàthái độ trong quá trình học tập, đồng thời, đây cũng làcơ sở, nền tảng đểpháttriển các năng lưc ̣ cần thiết khác
Phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX có vị trí và tầmquan trọng trong đó có nhiều sự kiện quan trọng, nhân vật tiêu biểu, để lạinhiều ý nghĩa, có sử dụng nhiều khái niệm lịch sử đòi hỏi học sinh phải nhậnthức đúng bản chất của nó đặc biệt trong giai đoạn này có nhiều tư liệu, sửliệu có giá trị cần khai thác Bởi xem đây là một giai đoaṇ khó và buôc ̣ GVphải có những PPDH tích cực để phát triển NL cho HS đặc biệt là NL THLS
Xuất phát từ những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Sử dụng câu hỏi
trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp
10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT”
làm đề tài khóa luận của mình
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học nhằm phát triển năng lực cho học sinh
ở trường THPT là rất quan trọng Vấn đề này đã được khá nhiều các nhà nghiên cứu và các nhà giáo dục triknh bày trong bài viết của mình
Tài liêụ nước ngoài
B.P Exipop đa ̃viết “Những cơ sở lý luận dạy học” (1971), tập 3 NXB Giáo dục, “nhấn mạnh đến việc nâng cao tính tích cực, sáng tạo, độc lập,
ham hiểu biết của HS trong quá trình học tập, đồng thời nêu rõ nhiệm vụ của nhà trường là phải phát triển tính tích cực và phương pháp làm việc tự lập cho HS” [9; tr.112].
Trong cuốn Phương pháp và ki ̃thuâṭ lên lớp của N.Miacolep do
Nguyêñ Hữu Chương dicḥ (NXB Giáo duc ̣ HàNôi,̣ 1973) Tác giảđa ̃khẳng
đinḥ : “ Môĩ câu hỏi phải là môṭ bâc ̣ thang đểkhái quát viêc ̣ đưa ra chứ nhất
quyết không rẽsang hướng khác.” [14 ;tr.121]
Trong giáo dục lịch sử, N.G Dari với cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử
như thế nào” NXB Giáo dục, Hà Nội, 1973 đa ̃viết: “Tác giả đã đưa ra những yêu cầu quan trọng của giờ học lịch sủ, trong đó hoạt động nhận thức tích cực của HS là một điều kiện bắt buộc đối với giờ học được tổ chức khoa học
và hiệu quả”.
[15; tr.98]
A.A.Vagin trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung
học” (1978), Nxb giáo dục Matxcơva (tài liệu dịch), đã nêu ra các biện pháp
nâng cao chất lượng dạy học lịch sử trong đó có phương pháp sử dụng tài liệulịch sử vào dạy học
A.V Petrovsiki trong cuốn Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm,
tập 1, (NXB Giáo dục, 1982) đa ̃trinhk bày vềđăc ̣ điểm tâm lýcủa HS THPT từđócócác biêṇ pháp phùhơp ̣ đểgiáo duc ̣ trẻ
Trang 11Tác phẩm “Daỵ hoc ̣ nêu vấn đềcủa I.La.Lecne “ do Phan Tất Đắc dicḥ (NXB Giáo duc ̣ HàNôi,̣ 1997), tác giảkhẳng đinḥ : “ sư ̣cần thiết của viêc ̣ đăṭ
nhiêṃ vu ̣nhâṇ thức cho HS trong suốt giờ hoc ̣ bằng cách lâp̣ môṭ hê ̣ thống câu hỏi liên quan chăṭ chẽvới nhau Các tài liêụ sửdung̣ đểđăṭ câu hỏi phải đa
dang,̣ chính xác và phùhơp̣ với mức đô ̣nhâṇ thức của HS Đồng thời đề cập đến vai trò của người giáo viên trong dạy học, đăc ̣ biêṭlà vai trò đinḥ hướng của GV nhằm phát triển năng lưc ̣ cho HS.” [11;tr.85]
Tài liêụ trong nước:
“Vấn đềđăṭ câu hỏi của Giáo viên ởlớp kiểm tra đánh giá viêc ̣ hoc ̣ tâp̣ của hoc ̣ sinh” cuảNguyêñ Điknh Chinhl (NXB Giáo duc ̣ HàNôi,̣ 1995), tác giả
đa ̃nêu lên sư ̣cần thiết của viêc ̣ đăṭcâu hỏi trong quátriknh daỵ hoc,̣ nêu lênnhững yêu cầu khi GV đăṭcâu hỏi cho HS vànêu lên môṭsốloaịcâu hỏi có thểsửdung ̣ trong daỵ hoc ̣ kiểm tra đánh giá
Trần Thị Tuyết Oanh trong cuốn Giáo trình giáo dục học tập 1 (NXB
ĐHSPHN, Hà Nội, 2005) tác giảđa ̃đềcâp ̣ đến viêc ̣ daỵ hoc ̣ tiếp cận năng lựccho HS ởtrường THPT vàmôṭsốbiêṇ pháp nhằm nâng cao chất lương ̣ giáoduc ̣
Trong cuốn “Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học
lịch sử ở trường phổ thông” của Nguyễn Thị Côi, Nxb ĐHSP Hà Nội (2006)
tác giảcho rằng: Một trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học làviệc giúp HS trình bày, tái hiêṇ lịch sử trong dạy học lịch sửqua viêc ̣ hóa thânthành các nhân vâṭlicḥ sử
Cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, NXB Giáo dục
(2010), tác giả Thái Duy Tuyên tiếp tục đề cập đến phương pháp dạy học hiệnđại, trình bày những cơ sở lí luận và hệ thống các phương pháp dạy học hiện
đại Tác giả cũng dành một phần “Những vấn đề cấp thiết” trình bày về nội
dung đổi mới phương pháp dạy học- tái hiện và sáng tạo trong dạy học, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh và nhấn mạnh “Điều quan
Trang 12trọng nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học là Thầy dạy thế nào để học sinh động não, để làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệ của học sinh, làm phát triển trí thông minh, trí sáng tạo của họ Đó là bản chất của vấn đề,
là sự vận động nội tại của phương pháp giảng dạy” [6; tr.68].
Trong giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (2012), NXB ĐHSP
Hà Nội, (Phan Ngọc Liên chủ biên) “Việc phát triển năng lực nhận thức và
hành động cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử không chỉ làm cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn, mà còn luyện tập cho các em trở thành người
có tư duy độc lập, chủ động tích cực trong suy nghĩ và hành động”.[4;tr.59]
Trong luâṇ văn Thiết kếvà sử dung̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ licḥ sử ở
trường THPT (qua vídu ̣Licḥ sử Viêṭ Nam giai đoaṇ 1930-1945 ởlớp 12) của
Nguyêñ Thi ̣Duyên (2001), tác giảkhẳng đinḥ “…viêc ̣ sửdung̣ câu hỏi làm
phương tiêc ̣ kích thích tính tích cưc,̣ đôc ̣ lâp̣ trong nhâṇ thức, tư duy hoc ̣ sinh – cùng với kết hơp̣ đồng bô,̣ hơp̣ lícủa các phương pháp, biêṇ pháp sư phaṃ khác đãgóp phần nân cao hiêụ quảbài hoc ̣ licḥ sử.” [ 19;tr.125].
Trong luâṇ văn Sửdung̣ câu hỏi nêu vấn đềtrong daỵ hoc ̣ licḥ sửđể phát
huy tính tích cưc,̣ chủđông̣ của hoc ̣ sinh (2012) của Ma ̃Thi ̣Xuân Thu Tác
giảđa ̃nhấn manh:̣ “ Viêc ̣ đăṭ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ licḥ sửlà môṭ trong những
biêṇ pháp quan trong̣ đểphát triển tư duy hoc ̣ sinh Song sửdung̣ câu hỏi và hê
̣thống câu hỏi như thếnào đểphát huy tính tích cưc ̣ của hoc ̣ sinh là môṭ vấn đềkhóvàphức tap̣.” [21; tr.67]
Chương trinhk giáo duc ̣ phổthông tổng thể(Ban hành kèm theo Thông tư
số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo) đa ̃nêu : “Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp
học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc
Trang 13tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới.” [22;tr.6]
Khi tìm hiểu các nguồn tài liệu có thể thấy việc sử dung ̣ câu hỏi trongDHLS vàdaỵ hoc ̣ phát triển năng lưc ̣ nhâṇ được sư ̣quan tâm, nghiên cứu Tuynhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về việc sử dung ̣ câu hỏi trongdaỵ hoc ̣ nhằm phát triển NL THLS trong phần Licḥ sử ViêṭNam từ thế kỉX đếnnửa đầu thếkỉXIX (SGK lịch sử 10 chương trình chuẩn) do đótôi lưạ chọn đềtài này làm đề tài nghiên cứu của miknh
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ Xđến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử chohọc sinh ở trường THPT
Dựa vào việc nghiên cứu lý luận dạy học nói chung và thực tiễn sử
dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử ở trường THPT nói riêng đề tài nhằm mụcđích:
- Đề xuất một số biêṇ pháp sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ phần ViệtNam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 (chương trình chuẩn) nhằm phát triển năng lưc ̣ timk hiểu licḥ sử cho hoc ̣ sinh ởtrường THPT
Trang 14- Các câu hỏi có thể vận dụng vào dạy học phần Lịch sử Việt Nam từthế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (lớp 10, chương trình chuẩn) nhằm phát triểnnăng lực nhâṇ diêṇ vàsử dung ̣ tư liêụ licḥ sử.
- Các câu hỏi có thể vận dụng vào dạy học phần Lịch sử Việt Nam từthế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (lớp 10, chương trình chuẩn) nhằm phát triểnnăng lực tái hiêṇ vàtrinhk bày licḥ sử
- Nguyên tắc sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ Licḥ sử ởtrường THPT
- Quy triknh sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ Licḥ sử để phát triển nănglực tìm hiểu Licḥ sửcho HS ở trường THPT
- Môṭsốbiêṇ pháp sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ phần Licḥ sử ViệtNam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát triển năng lưc ̣ tikm hiểulicḥ sử cho hoc ̣ sinh ởtrường THPT
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính đúng đắn của những đề tài đưa ra
5 Cơ sởpháp luâṇ vàphương pháp nghiên cứu.
5.1 Phương pháp luận.
Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối củaĐảng ta về giáo dục
5.2 Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu lí thuyết: Tikm hiểu và phân tích, tổng hợp sách báo, tạp chí,khóa luận, bài nghiên cứu, internet… về tâm lý học, giáo dục học, phươngpháp dạy học LS, vấn đề sử dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử ở trườngtrung học phổ thông; phân tích nội dung chương trình, SGK lớp 10 hiện hành
Trang 15Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, dự giờ, trao đổi với giáo viên, học sinh,điều tra xã hội học để đánh giá về thực trạng sử dụng câu hỏi trong dạy họcLịch sử ở trường trung học phổ thông; Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra,đối chứng kết quả nghiên cứu của đề tài.
Thực nghiệm sư phạm: sử dụng câu hỏi nhằm phát huy năng lực tìmhiểu lịch sử của học sinh lớp 10 ở trường THPT Tiên Du số 1
6 Đóng góp của khóa luâṇ
Đề tài góp phần:
Khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng câu hỏi trong dạy họcLịch sử phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT
Đề xuất một số biện pháp sử dụng câu hỏi trong DH Lịch sử
7 Ý nghiã khoa hoc ̣ vàthưc ̣ tiêñ của đềtài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm đa dang ̣ lí luận dạy học bộmôn lịch sử
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp GV và HS tiếp nhâṇ kiến thức LS,kiến thức lí luận dạy học bộ môn, đặc biệt là việc sử dụng câu hỏi trong dạyhọc nhằm phát huy NL cho HS
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóaluận bao gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sởlíluâṇ vàthưc ̣ tiễn của viêc ̣ sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ phần licḥ sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát triển năng lưc ̣ tim̀ hiểu licḥ sửcho hoc ̣ sinh ởtrường THPT
Chương 2: Biện pháp sử dụng câu hỏi trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát huy năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC TÌM HIỂU
LỊCH SỬ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT.
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Môṭsốkhái niêṃ cơ bản
1.1.1.1 Năng lưc ̣
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học thì: “ năng lực là tổng hợp
các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao nhất.” [8;tr.62]
Theo chương trinhk giáo duc ̣ phổthông tổng thể: “năng lực là thuộc tính
cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” [22;tr.14 ]
Tóm lại, dựa trên nhiều ýkiến ở trên ta có thể đưa ra định nghĩa nhưsau: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bốicảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộctính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực của cá nhân đượcđánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giảiquyết các vấn đề của cuộc sống”
Năng lực được chia thành 2 loại là năng lực chung và năng lực chuyênbiệt
Trang 17Năng lực chung là những năng lực cốt lõi của các hoạt động trong cuộcsống, học tập và lao động vàđươc ̣ hình thành, phát triển dựa trên bản năng ditruyền của con người vàquá trình giáo dục Bao gồm các nhóm NL chung nhưsau:
- NL công cu:̣NL ngôn ngữ, NL tinh́ toán, NL ICT
- NL chung sống/ NL xa ̃hôi:̣ NL giao tiếp, NL hơp ̣ tác
- NL làm chủvàphát triển bản thân: NL thẩm mi,̃ NL tư ̣chủ
NL chuyên biệt đươc ̣ hiểu lànhững NL được hình thành và phát triểndưạ trên cơ sở các NL chung theo hướng chuyên sâu hơn, đăc ̣ thùtrong cácloại hình công việc hoặc tình huống, môi trường cu ̣thể
Trong quá trình dạy học Lịch sử, việc phát triển năng lực chuyên biệtrất được chú trọng Năng lực chuyên biệt được chia thành ba loại năng lực:
- NL THLS: “ học sinh cókhảnăng nhận diện được các tư liệu lịch sử,
khai thác và sử dụng được tư liệu lịch sử nhằm phuc ̣ vu ̣quá trình học tập của
mình Đồng thời tái hiện nội dung lịch sử thông qua hình thức nói hoặc viết từ đơn giản đến phức tạp; xác định được các sự kiện trong không gian và thời gian cụ thể” [23;tr.7]
- NL nhận thức và tư duy lịch sử: “ Hs cókhảnăng chỉra được quá trình phát triển của lịch sử; tìm hiểu được sự giống và khác nhau giữa các sự kiện; lí giải được mối quan hệ các sư ̣kiêṇ trong tiến trình của lịch sử Đưa ra đươc ̣ những đánh giá của bản thân về các sự kiện, nhân vật trên cơ sở nhận thức và tư duy; hiểu được sự tiếp nối và thay đổi của lịch sử, biết suy nghĩ theo những hướng khác nhau khi đánh giá về sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử” [23;tr.7]
- NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: “ rút ra được bài học và sử
dụng được kiến thức lịch sử để lí giải những tình huống thực tiễn; tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và
Trang 18xử lý thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý thức và năng lực tự học lịch
sử suốt đời.” [23;tr.7]
Nhâṇ thấy NLTHLS làmôṭnăng lưc ̣ quan trong ̣ vàcần thiết cho hoc ̣ sinhkhi hoc ̣ môn licḥ sử Bởi licḥ sử làquákhứ, ta chỉcóthểtiếp câṇ quá khứ qua tàiliêu,̣ sử liêu,̣… nhằm tái hiêṇ sư ̣kiêṇ trong quákhứ Trong daỵ hoc ̣ Licḥ sử GVkhông thểgiới thiêụ hết tất cảcác kiến thức LS cho HS mà chỉcóthểgiúp HSnắm những kiến thức cơ bản Hơn nữa muốn so sánh, sử dung ̣ kiến thức thikđầutiên ta phải nắm chắc bản chất của sư ̣kiêṇ ấy, vikvâỵ NLTHLS đóng vaitròlànền tảng cho sư ̣hiknh thành các NL chuyên biêṭkhác Do đó, tôi tâp ̣ trungnghiên cứu phát triển NL tikm hiểu licḥ sử cho HS
1.1.1.2 Câu hỏi
Thường ngày ta thường sử dụng và phải giải quyết các câu hỏi Nhưngkhông mấy ai hiểu rõ được khái niệm chung nhất về câu hỏi, có rất nhiều ýkiến và khái niệm khác nhau
Khi nhắc đến câu hỏi, ta phải xác định trên 2 khía cạnh
Về nội dung: câu hỏi là câu nói lên sự thắc mắc, hoài nghi về một vấn
đề nào đó và cần được làm rõ
Về hình thức: có dấu chấm hỏi “?” hoặc có từ để hỏi: “ tại sao”?, “ như
thế nào”?, “ở đâu”?,… Tuy nhiên trong một số trường hợp, câu hỏi chứa nộidung nghi vấn tuy nhiên không có dấu chấm hỏi hay có từ để hỏi nhưngchúng ta vẫn nhận biết qua ngữ điệu
Trong dạy học lịch sử, câu hỏi thường nêu lên mâu thuẫn giữa kiếnthức đã học với kiến thức mới, giữa kiến thức và cách giải quyết kiến thức
Có nhiều căn cứ để phân chia câu hỏi: theo các khâu, theo các giai đoạncủa bài học, theo nội dung, theo mục đích của câu hỏi, theo định hướng câutrả lời,theo không gian sử dụng…
Trang 19- Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh thì câu hỏi được chia thành: +Câu hỏi tái hiện: học sinh tái hiện những kiến thức đã được học + Câu hỏi phát hiện(câu hỏi tìm kiếm): học sinh đọc SGK, tư liệu là có
thể trả lời được, tạo hứng thú học tập, cung cấp kiến thức mới
+ Câu hỏi phát triển: Đòi hỏi học sinh phải độc lập suy nghĩ và có tínhsang tạo, không chỉ ghi nhớ mà còn nắm vững bản chất sự kiện,…
Nếu dựa vào thời điểm sử dụng, câu hỏi được chia thành các loại sau:
+ Câu hỏi nêu vấn đề: được dung vào đầu giờ, đầu mục để đặt ra nhiệm vụ nhận thức cho học sinh
+ Câu hỏi gợi mở: Dùng trong quá trình biễn tiến bài học, nhằm tìm hiểunội dung của bài học
+ Câu hỏi củng cố, kiểm tra: Sử dụng ở cuối bài học
Tuy nhiên, đa số mọi người thường chia câu hỏi theo mức độ nhâṇ thứccủa câu hỏi bao gồm:
+ Câu hỏi nhận biết: Yêu cầu học sinh nhớ hoặc nhận ra những kiến thức
cơ bản đa ̃biết, đa ̃đươc ̣ hoc ̣ Có nghĩa là học sinh phải nhắc lại một loạt các sư ̣kiên,̣từ các sự kiện đơn giản đến các khái niệm lí thuyết, tái hiện trong trí nhớ nhữngthông tin cần thiết Đây là mức độ thấp nhất đạt được trong lĩnh
vực nhận thức.Ví dụ như trình bày diễn biến, mốc thời gian, liêṭkê các sư ̣ kiêṇ chinh,́…
+ Câu hỏi thông hiểu: Yêu cầu học sinh giải thích được bản chất sựkiện, mối liên hệ giữa các sự kiện, diễn đạt được kiến thức đã học theo ý hiểucủa mình và trả lời được các câu hỏi tương tự Điều đó có thể được thể hiệnbằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạng khác (từ các số liệu sangngôn từ ), bằng cách giải thích được tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt), mô tảtheo ngôn từ của miknh Câu hỏi này ở mức độ này cao hơn so với mức độ nhận biết Vídu ̣như giải thich́ nguyên nhân, phân tích mối quan hê ̣của sư ̣ kiêṇ này với sư ̣kiêṇ kia,…
Trang 20+ Câu hỏi vận dụng: Yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức đãhọc để giải quyết một vấn đề nào đó của lịch sử như đánh giá sự kiện đã họcvới thưc ̣ taị Ở mức đô ̣này học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần màcó thể
sử dụng, xử lý các kiến thức licḥ sử của chủ đề trong các tình huống tương tự
Vídu ̣như: Đánh giásư ̣ảnh hưởng giữa 2 sư ̣kiên,̣ liên hê ̣sư ̣kiêṇ này với sư
̣kiêṇ kia,
1.1.2 Đăc ̣ trưng kiến thức licḥ sử
Thứ nhất là tính quá khứ: “ Lịch sử là một dòng chảy liên tục trên trục thời gian từ quá khứ, hiện tại đến tương lai Nhận thức lịch sử trong khoa học lịch sử là nhận thức phần quá khứ trên trục thời gian ấy, bởi vậy người ta không thể tận mắt chứng kiến mà chỉ tiếp cận được chúng thông qua các tài liệu lịch sử.” [1;tr104] Yêu cầu của GV làgiúp HS tiếp cận lịch sử một cách
khách quan, trung thực Đểđảm bảo đươc ̣ điều này, mỗi câu hỏi của GV đăṭ ra
phải giúp HS khai thác tài liêụ licḥ sử nhằm hiknh thành vàphát triển kiến thứccủa bản thân
Thứ hai là tính không lặp lại: “ Không có một sự kiện, hiện tượng Lịch
sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các thời kì khác nhau là hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, không lặp lại mà là sự kế thừa, phát triển, sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại” [1; tr105]
Do đókhi đăṭcâu hỏi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó trong lịch sửphải chúýđến thời gian và không gian làm xảy ra sự kiện, hiện tượng đó
Thứ ba là tính cụ thể: “ Các nước, các dân tộc khác nhau đều mang những nét đặc sắc riêng trong tiến trình lịch sử và quy luật của nó Mỗi sự kiện cụ thể đều có hoàn cảnh, diễn biến, kết quả, ý nghĩa cu ̣thể.” [1; tr110]
Vikvâỵ GV cần đăṭnhững câu hỏi giúp HS hướng tới viêc ̣ trinhk bày các
sự kiện lịch sử môṭcách chi tiết, sinh động càng trởnên cần thiết
Thứ tư là tính hệ thống (logic): “Nội dung tri thức trong môn Lịch sử rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người, bao
Trang 21gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - nghệ thuật, khoa học - kĩ thuật Nôị dung được nằm trong hệ thống, quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tìm hiểu kiến thức mới và nhắc laị kiến thức cũ cần làm rõ mối quan hệ giữa các sự kiện để thấy được tính logic của Lịch sử.” [1; tr141].
Các câu hỏi liên hê ̣các sư ̣kiêṇ với nhau se ̃giúp HS nhìn nhận lịch sửnhư một bức tranh toàn cảnh trên tất cả những lĩnh vực kinh tế, chính trị vănhóa – xã hội của từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử
Thứ năm là tính thống nhất giữa “sử” và “luận”: trước tiên ta hiểu phần
phần “sử” và phần “luận” như sau: “Phần sử là các sự kiện, hiện tượng đã
xảy ra trong xã hội loài người (Lịch sử thế giới) cũng như của dân tộc (Lịch
sử dân tộc Phần luận là cách giải thích, đánh giá, nhận xét, bình luận về các
sự kiện lịch sử đã sảy ra Hai phần sử và luận có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau” [1; tr.148].
Mọi sự kiện nếu muốn được sáng tỏ thì buộc phải giải thích, lý giải bảnchất của nó, ngược lại mọi sự lý giải, giải thích, chứng minh đều phải lấy cơ
sở từ sự kiện lịch sử cụ thể Từ đặc điểm này, trong quá trình giảng dạy giáoviên cần đảm bảo sự thống nhất vàliên kết giữa trình bày sự kiện với việc giảithích, bình luận sự kiện bằng cách đăṭcác câu hỏi dưạ vào thông tin sư ̣kiêṇ ởmức đô ̣thấp đểđánh giásư ̣kiêṇ ởmức đô ̣cao hơn
Việc xác định những điều này giúp chúng ta tìm ra phương pháp, con đường thích hơp,̣ có hiệu quả cho việc dạy học LS ở trường phổ thông
1.1.3 Đăc ̣ điểm tâm lívànhâṇ thức của hoc ̣ sinh lớp 10 ởtrường THPT * Đặc điểm tâm lý
Lứa tuổi này bắt đầu từ 16 đến 18 tuổi Trong tâm lý học, các nhà
nghiên cứu đã xếp HS THPT thuộc giai đoạn tuổi đầu thanh niên- độ tuổi có
Trang 22nhiều sự thay đổi mới trong quá trình phát triển Sự phát triển thể chất đãbước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối, hoàn chỉnh về chiềucao, cân nặng, Đồng thời, tâm lý ở tuổi HS THPT cũng thể hiện tính chấtphức tạp và không cố định chính vì vậy các nhà tâm lý học Macxit cho rằng:
“Khi nghiên cứu tuổi HS THPT thì cần phải kết hợp với quan điểm của tâm lý
học xã hội và phải tính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi”
Thứ nhất, nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe hơn tuổi HS
THPT Sự phát triển sẽ có tác đông ̣ đến nhân cách vàtới sự lựa chọn nghềnghiệp sau này của HS
Thứ hai là điều kiện sống và hoạt động (gia đình, trường học, xã hội):
Các em thấy được trách nhiệm của miknh đối với gia đình khi được tham giavào các vấn đề quan trọng Ở trường hoc,̣ hoạt động chủ đạo vâñ làhoc ̣ tâp ̣ vàđòi hỏi các em tích cực, chăm chỉ, cốgắng vận dụng tri thức một cách phù hơp ̣
Trong lứa tuổi này HS THPT phát triển rất nhiều so với HS THCSchính vì vậy cần phải thay đổi phương pháp dạy học nói chung và phươngpháp đặt câu hỏi nói riêng nhằm kích thích, khơi gợi hứng thú và hiệu quả họctập cho học sinh ở tất cả các môn học trong đó có môn Lịch sử
Ở lứa tuổi này HS có thể xác định mục đích, khuynh hướng học tập.Các em bắt đầu tập trung vào các môn học yêu thích của mình Đồng thời các
em cũng đã hiểu mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời và những mônhọc chính là điều kiện cần thiết để tham gia hiệu quả vào cuộc sống lao động
xã hội Do đó, thái độ học tập các môn học của HS THPT có những chuyểnbiến rõ rệt nhằm chuẩn bị cho nghề nghiệp trong tương lai
Sự phát triển tâm lí xã hội:
Thứ nhất là sự phát triển xúc cảm, tình cảm: Khả năng tự kiểm soát và
tự điều chỉnh cảm xúc của các em đã được ổn định hơn Nội dung, chất lượngcủa tình cảm dần trở nên phong phú , tình cảm đạo đức dần được hình thành
Trang 23Đặc biệt là sự xuất hiện của một loại tình cảm là tình cảm nam nữ, biểu hiệncủa loại tình cảm này khá phức tạp và nhảy cảm Chính vì vậy, giáo viên nên
có những thái độ và biện pháp thích hợp, tế nhị và không nên can thiệp mộtcách thô bạo tránh những phản ứng tiêu cực từ phía HS
Thứ hai là sự phát triển về nhu cầu: ở lứa tuổi này quan hệ bạn bè
chiếm vị trí quan trọng hơn hẳn Các em coi người bạn của mình như “ cáitôi” thứ 2 để giãi bày tâm sự Vì vậy GV cần tạo điều kiện cho HS phát triểnquan hệ giao tiếp, hợp tác trong tập thể nhằm tạo các mối quan hệ, tình bạn sựgắn bó tốt đẹp giữa các bạn học sinh với nhau Một đặc điểm nổi bật của lứatuổi này là cảm giác mình đã trở thành người lớn và mong muốn trưởng thànhcủa HS thể hiện rất rõ Do vậy HS có nhu cầu về tính độc lập, khao khát đượckhẳng định cái “tôi” của mình dẫn đến đôi khi các em ấm ức thậm trí là phảnkháng khi GV chưa nhìn nhận mình là một người lớn và không hiểu được tâm
tư nguyện vọng cùa mình Một điều kiện thuận lợi để phát triển năng lực của
HS là khuynh hướng học tập các môn học đã gần được hình thành rõ rệt Nhàtrường nên quan tâm tổ chức học tập cho thích hợp nhằm phát huy tối đã tiềmnăng và nhu cầu học tập của HS
Thứ ba là sự phát triển khả năng tự đánh giá, tự ý thức và tự giáo dục:Biểu hiện đặc trưng của khả năng tự ý thức ở độ tuổi này là khả năng tự đánhgiá bản thân theo chuẩn mực của xã hội Tuy nhiên lòng tự trọng ở lứa tuổinày phát triển mạnh, biểu hiện ở chỗ các em không chấp nhận mình kém coihay thua người khác Lòng tự trọng thường phát triển theo hai chiều hướng làtính tự trọng cao (đánh giá mình không thấp hơn người khác, biết bảo vệ nhâncách của mình) hoặc tính tự trọng thấp (không hài lòng về bản thân, xemthường chính mình, tự ti) Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhâncách của HS THPT
Do đó, với những đặc điểm riêng biệt vàsự trưởng thành về tư duy vànhu cầu về môn học định hướng nghề nghiệp đòi hỏi người GV cần phải biết
Trang 24thay đổi phương pháp phù hợp, có hiệu quả Hoc ̣ tâp ̣ nhờ khám phá luônmang lại sự những sư ̣thú vị nhất đinḥ cho HS, đặc biệt đặc trưng của Lịch sử
là tìm hiều về quá khứ, về những gì đã diễn ra từ đó yêu cầu GV cần phải sửdụng linh hoạt và có hiệu quả các câu hỏi nhằm giúp HS khai thác, ghi nhớ vàhiểu bản chất sự kiện một cách chính xác nhất
*) Đặc điểm nhận thức
Bao gồm những điểm chung và điểm riêng biệt đốivới quá trình nhậnthức của loài người
Thứ nhất (điểm chung): Trong học tập Lịch sử, quá trình nhận thức trải
qua các giai đoạn từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính Quá trình này
là kết quả của việc tiếp nhận và ghi nhớ kiến thức LS, tạo biểu tượng
Thứ hai (điểm riêng): Khác so với quá trình nhận thức chung của loài
người là sự nhận thức của HS mang tính gián tiếp, tính được hướng dẫn vàtính giáo dục
- Tính gián tiếp: HS tiếp câṇ licḥ sử thông qua tài liệu và GV Do đặctrưng tính quá khứ của Lịch sử nên HS không thểtrực tiếp tiếp câṇ với quákhứ mà phải thông qua tri giác với tư liệu, hiện vật LS
- Tính được hướng dẫn: quá trình hoc ̣ tâp ̣ của HS được tiến hành ởmôṭđiều kiện sư phạm nhất định và dưới sự hướng dẫn của GV Ở HS THPT, tư
duy trừu tượng đang phát triển, nên cần chú ý tăng cường các hoạt động kíchthích để hoàn thành giai đoạn nhận thức đó Tuy nhiên quá trình nhận thứccủa HS không tự diễn ra mà phải có sự kích thích; do đó việc sử dụng hệthống câu hỏi trong quá trình dạy học có ý nghĩa quan trọng và thiết thực đểkích thích quá trình hoc ̣ tâp ̣ của HS Vai trò định hướng của GV và sự chủđộng của HS là yếu tố quyết định đến kết quả của quá trình giảng dạy và họctập
- Tính giáo dục: Quá trình hoc ̣ tâp ̣ của học sinh là quá trình tiếp thu trithức để phát triển các năng lưc ̣ cần thiết Tính giáo dục trong dạy học phải
Trang 25được định hướng, kết hợp chặt chẽ với nội dung kiến thức Các câu hỏi sẽgiúp HS định hướng và đi đến kiến thức cần đạt.
Do đó, GV cần quan tâm đặc biệt đến phương pháp giảng dạy nóichung và các biện pháp sử dụng câu hỏi nói riêng nhằm góp phần phát triểnnăng lực cho HS Được tự mình khám phánhững vấn đề lịch sử giúp HS nhớlâu kiến thức, hiểu rõ bản chất Nếu GV sử dụng tốt các câu hỏi sẽ góp phầnnâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở trường phổ thông
Sự phát triển về nhận thức:
Thứ nhất về sự phát triển tri giác: việc học tập vàchỉsốtri giác của HS
THPT lớn so với lứa tuổi THCS HS bắt đầu tập trung quan sát để tìm ra “cáiriêng” của mỗi đối tượng khác nhau
Thứ hai về sự tập trung chú ý: được quy định bởi sự lựa chọn các môn
học yêu thích của mình Ở lứa tuổi này các em đã biết phối hợp giữa việc ghichép, nghe giảng, và tham gia tìm hiểu bài học một các chủ động hơn
Thứ ba là sự phát triển trí nhớ: nhờ sự phát triển của thể chất mà trí nhớ
cũng có sự phát triển Trong các giờ học các em đã biết ghi nhớ kiến thức cóchọn lọc và theo các phương pháp nhất định Vì vậy trong dạy học GV cầnchủ ý bồi dưỡng và định hướng cho các em khả năng ghi nhớ logic, hệ thốnghóa kiến thức
Thứ tư là về sự phát triển tư duy: đây là giai đoạn hoàn thiện của năng
lực trí tuệ Theo Piaget, ở độ tuổi này HS đã hình thức tư duy hình thức và tưduy logic Tư duy ở lứa tuổi này có tính chặt chẽ hơn và có căn cứ nhất quánhơn, phân biệt cái thực và cái còn nghi ngờ Đồng thời tính phê phán tư duy
cũng phát triển Thứ năm về sự phát triển tưởng tượng: sự tưởng tượng của
HS được xây dựng bằng những chất liệu do hiện thực cung cấp qua hệ thầnkinh, các giác quan được phối hợp giữa những yếu tố hiện thực và những hìnhtượng tưởng tượng Một biểu hiện rõ rệt nhất của tưởng tượng chính là sángtạo và sự sáng tạo ấy phụ thuộc vào sự phong phú của kinh nghiệm thực tiễn
Trang 26Kinh nghiệm càng phong phú thì sáng tạo càng đặc sắc Bởi vậy cần tăngcường hoạt động giáo dục kinh nghiệm cho HS đê các em được nghe, đượcthấy, được nhìn nhiều hơn.
1.1.4 Đinḥ hướng đổi mới PPDH trong daỵ hoc ̣ Licḥ sử ở trường THPT
Trong rất nhiều các giải pháp nhằm nâng cao chất lương ̣ đào taọ thikgiảipháp đổi mới phương pháp dạy học đươc ̣ xem làkhâu vô cùng quan trong ̣ ở tất
cả các cơ sở giáo dục Thực trạng phương pháp dạy học ngày nay vẫn làphương pháp thuyết trình với quan điểm: “Lấy người dạy làm trung tâm”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi
mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật
và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.” (27)
Trong chương trinhk giáo duc ̣ phổ thông tổng thể ban hành ngày
27/12/2018 đa ̃đềcâp ̣ đến viêc ̣ : “ đổi mới phương pháp dạy học nhằm thực
hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái
gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho học sinh.” [23;tr9]
Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phươngpháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phươngpháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thànhnhiệm vụ nhận thức(tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn củagiáo viên”.Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
Trang 27+ Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập
+ Chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu học tập
+Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở
thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS – HS
+ Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốttiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học)
Tóm lại, có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học vớinhững cách tiếp cận khác nhau, tuy thuôc ̣ vào đăc ̣ thùvàmuc ̣ tiêu của từng mônhoc ̣ Chương trình đổi mới môn Lịch sử quán triệt đầy đủ quan điểm, mục tiêu,định hướng chung về xây dựng và phát triển chương trình giáo dục phổ thông, đặc biệt là quan điểm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh Daỵ hoc ̣ Licḥ sử phải mang tinh́ khoa hoc,̣ hê ̣thống, chútrong ̣ đến viêc ̣ thưc ̣ hành, phát
triển năng lưc,̣ đồng thời giáo duc ̣ tư tưởng, tinhk cảm cho HS Viêc ̣ đổi mới cách thức vànâng cao hê ̣thống câu hỏi cóýnghiã quan trong ̣ đối với viêc ̣ đổi mới phương pháp daỵ hoc ̣ Licḥ sử với muc ̣ tiêu hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho HS Viêc ̣ đăṭcâu hỏi đóng vai tròchủ đaọ trong bất kikcác PPDH nào vànócàng trởnên quan trong ̣ khi thưc ̣ hiêṇ PPDH tích cưc ̣
1.1.5 Vai trò, ýnghiã của viêc ̣ sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ Licḥ sử nhằm phát triển năng lưc ̣ tim̀ hiểu licḥ sử cho hoc ̣ sinh ởtrường THPT 1.1.5.1 Vai trò
* Đối với GV
Các câu hỏi được cho là một trong những công cụ mạnh nhất trong kho
vũ khí của giáo viên Giáo viên luôn dựa vào các câu hỏi để khai thác, kiểmtra và đánh giá học sinh của họ Chỉ thông qua các đánh giá, giáo viên mới cóthể đo lường kiến thức và hiểu biết của học sinh về nội dung học tập Và trongmôi trường lớp học truyền thống, đánh giá thường chuyển thành các câu
Trang 28hỏi Bằng cách đặt câu hỏi đúng, giáo viên sẽ đánh giá đúng một học sinh đãhiểu các khái niệm và thông tin được dạy trong lớp hay chưa đồng thời câuhỏi còn giúp giáo viên xác định lỗ hổng kiến thức, hoặc HS đang gặp khókhăn với tài liệu nào và cần trợ giúp điều gì.
Các câu hỏi có sức mạnh làm tăng sự tương tác học tập giữa GV và HS
và giữa các HS với nhau Khi GV đặt câu hỏi thì buộc HS tham gia trả lời câuhỏi và đóng góp vào câu hỏi đó Các câu hỏi se ̃xóa bỏsự đơn điệu của lớp học
và khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập
* Đối với học sinh
Các câu hỏi đối với HS về cơ bản có thể được coi như là một hoạt độngcửa ngõ Nếu một câu hỏi không thể khơi dậy sự tò mò của mình, có lẽ bạn sẽkhông bao giờ muốn tìm ra câu trả lời Mặt khác, nếu một câu hỏi thú vị, kíchthích khiến bạn tò mò thì chắc chắn bạn sẽ theo dõi dấu vết của nó và đi đếncâu trả lời cuối cùng Và hơn thế nữa, bạn có thể hiểu nó và ghi nhớ nó mộtcách dễ dàng hơn
Tử Hạ đã nói: "Mỗi ngày biết thêm điều mình chưa biết, như vậy mới
đáng gọi là người ham học" Một học sinh biết cách học tốt là người biết cách
khai thác câu hỏi và tìm ra câu trả lời được chính xác cho câu hỏi đó Nếu câuhỏi càng được suy ngẫm lâu, càng tốn nhiều thời gian khám phá, tìm tòi câutrả lời thì kiến thức càng vững chắc, càng khó bị "vô ý"" xoá khỏi trí nhớ
Tóm lại việc sử dụng câu hỏi là một trong những con đường,phương pháp học tập hiệu quả nhằm phát huy năng lực tìm hiểu lịch sử cho
HS, góp phần thực hiện mục tiêu môn học
1.1.5.2 Ý nghĩa
“Garbage in, Garbage out” là một câu phổ biến trong lĩnh vực tin hoc:̣nếu bạn cung cấp thông tin đầu vào sai thì kết quả trả về sẽ bị sai Đây cũng làquy tắc phổ biến trong giao tiếp: nếu bạn đặt câu hỏi sai thì bạn sẽ nhận đượccâu trả lời sai hoặc một câu trả lời không như trông đợi
Trang 29Việc đặt câu hỏi không chỉ có ýnghiã đăc ̣ biêṭtrong việc kiểm tra đánhgiá mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện cho HS.
Về kiến thức: Sử dụng câu hỏi trong học tập giúp HS nắm vững kiến
thức lịch sử trên cả 3 mức độ biết, hiểu và vận dụng
Thứ nhất, việc sử dụng các câu hỏi trong học tập như câu hỏi gợi mở,
câu hỏi khai thác, câu hỏi kiểm tra đánh giá… giúp tích cực nghiên cứu bàihơn nữa HS ở trường THPT có thể phân hóa kiến thức và ghi nhớ thành: kiếnthức nào cần nhớ chi tiết kiến thức nào cần khái quát và vấn đề nào cần hiểusâu Đồng thời GV dễ dàng gợi mở, cung cấp kiến thức nâng cao, liên hệ thực
tế cho học sinh thông qua các câu hỏi mở, câu hỏi liên hệ
Ví dụ khi dạy Bài 24 Tiknh hiknh văn hóa ở các thếkỉXVI – XVIII GV sử
dụng câu hỏi: “Em hãy trình bày những thành tưụ tiêu biểu về
nghê ̣thuâṭ và khoa hoc ̣ – ki ̃thuâṭ ởcác thếkỉXVI – XVIII? ” để giúp học sinh
tìm hiểu về môṭsốcông triknh nghê ̣thuâṭvàthành tưụ khoa hoc ̣ thời kik này
Thứ hai, giúp HS tìm ra bản chất các vấn đề, sự kiện lịch sử GV định
hướng cho HS khám phá, nghiên cứu những sự kiện một cách sâu sắc để tìm
ra bản chất của sự kiện, nhân vật một giai đoạn lịch sử
Ví dụ khi dạy bài “ Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỷXVI – XVIII” phần “1 Sự sụp đổ của triều Lê sơ Nhà Mạc được thành lập”
GV sử dụng câu hỏi: “ Hiện nay việc đặt tên đường Mạc Thái Tổ và Mạc TháiTông ở Hà Nội đang gây tranh cãi bởi sự ra đời và những chính sách của nhàMạc trước kia Vậy em đánh giá như nào về vương triều này?” giúp HS hiểu
rõ bản chất của vương triều nhà Mạc đồng thời sử dụng những kiến thức đó
để giải quyết các vấn đề thực tế
Thứ ba, học tập thông qua các câu hỏi giúp HS lĩnh hội tổng hợp nhiều
kiến thức khác nhau Để trả lời đươc ̣ các câu hỏi thì đòi hỏi HS phải vận dụng
Trang 30liên hệ linh hoạt nhiều lĩnh vực kiến thức khác nhau như văn học, địa lý, nghê ̣ thuât,̣…
Ví dụ khi dạy bài 23 “ Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đấtnước, bảo vệ Tổ quốc cuối thế kỉ XVIII” GV sử dụng 2 câu thơ “ Mà nay áo vải
cờ đào/ Giúp dân dựng nước xiết bao công trình” trong bài thơ Ai tư vãn củaNgọc Hân công chúa và đặt câu hỏi: “ Hai câu thơ trên nhắc về nhân vật lịch sửnào?” giúp khơi gợi và xây dựng hình tượng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệcho HS thông qua việc vận dụng kiến thức văn học để trả lời câu hỏi
Về kĩ năng:
Thứ nhất, câu hỏi góp phần phát triển tư duy và rèn luyện cho HS khả
năng tiếp nhận, diễn đạt một vấn đề lịch sử các kỹ năng giao tiếp cá nhân khitrả lời như: tiếp nhận câu hỏi, phân tích, trình bày, thuyết trình, lập luận giúphọc sinh tự tin và nhận thức vấn đề sâu sắc hơn
Thứ hai, câu hỏi góp phần hình thành khả năng tự đánh giá, tự ý thức
và tự tìm hiểu cho HS Các câu hỏi giúp HS tự đánh giá quá trình học tập, tìmhiểu, khai thác tài liệu, thông tin của mình Từ đó có biện pháp tự điều chỉnhtrong quá trình học tập nhằm đạt kết quả cao nhất
Về thái độ: sử dụng câu hỏi góp phần bồi dưỡng, giáo dục tư tưởng,
tình cảm phẩm chất đạo đức cho HS THPT
Thứ nhất, giúp HS rèn luyện tinh thần kiên trì, cần cù trong học tập.
Khi gặp một câu hỏi khó, chưa thể dễ dàng tìm ra câu trả lời HS cần kiên trìtìm hiểu ở nhiều nguồn tài liệu khác nhau để tìm ra câu trả lời chính xác nhất
và quá trình này chắc chắn gặp rất nhiều khó khăn
Thứ hai, việc sử dụng các câu hỏi còn thể hiện thái độ hợp tác, tích cực
tham gia đóng góp vào tiết học của học sinh Khi câu hỏi được đặt ra, sự hàohứng và cách giải quyết câu hỏi đó của HS là những biểu hiện rõ ràng nhấtcho tinh thần học tập
Trang 31Thứ ba, đáp ứng mục tiêu bài học: Với các mục tiêu thái độ được đặt ra
trước mỗi bài học thông qua các câu hỏi HS có thểtrình bày, thể hiện quanđiểm của bản thân với những vấn đề LS
Về định hướng phát triển năng lực:
Thứ nhất, các câu hỏi góp phần hình thành và phát triển cho HS những
năng lực chung như: NL tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL giao tiếp,hợp tác
Thứ hai, ngoài việc hình thành và phát triển các NL chung các câu hỏi
còn góp phần phát triển các NL chuyên biệt trong môn lịch sử như:
+ Tìm hiểu lịch sử
+ Nhận thức và tư duy lịch sử
+ Vận dụng kiến thức kĩ năng đã học
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng dạy và học lịch sử ở trường THPT
Trong những năm qua, rất nhiều HS không mấy “mặn mà” với việc họctập và nghiên cứu sử học Học sinh chán môn Lịch sử, không thích học Lịch
sử biểu hiện trên nhiều phương diện Ví dụ như sự hiểu biết lịch sử của phầnlớn học sinh rất lờ mờ, thậm chí những sự kiện cơ bản hay nhân vật anh hùngtiêu biểu cũng nhớ sai Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng mônLịch sử ít được quan tâm Chẳng hạn như là do nhu cầu về việc làm và thunhập khi thời đại ngày càng phát triển, người ta chỉ chú trọng những mônkhoa học tự nhiên mà quên đi phải học tập Lịch sử dân tộc, chỉ coi Lịch sử làmôn phụ Nguyên nhân thứ hai do tính chất riêng của môn Sử: đối tượng củalịch sử là quá khứ , nên người giảng dạy khó có thể áp dụng các phương pháp
“trực quan sinh động” như các môn học khác, cũng không thể trực tiếp quansát được, cộng với việc phải nhớ nhiều sự kiện, ngày tháng làm cho nhiều họcsinh cảm thấy khó khăn trong những giờ học lịch sử Một nguyên
Trang 32nhân tiếp theo là do quan niệm không đúng về vị thế, chức năng, nhiệm vụcủa môn học trong việc giáo dục nền tảng đạo đức và tinh thần cho thế hệ trẻViệt Nam
Chúng ta có thể thấy một thực tế, hầu hết mỗi tiết học môn Lịch sử các
em thật nhàm chán, vô vị khi chỉ được tiếp nhận một chiều hay lối học đọcchép truyền thống đã ăm sâu vào cách học của chúng ta Trong kì thi tốtnghiệp Trung học phổ thông những năm gần đây, rất ít các em lựa chọn mônLịch sử trở thành môn thi tốt nghiệp, đã có trường hợp chỉ có duy nhất một thísinh dự thi môn Lịch sử Điều đó đã phản ánh một thực trạng học tập bộ mônLịch sử của học sinh ở trường phổ thông hiện nay
Bên cạnh sự thờ ơ của học sinh thì việc môn Lịch sử ngày càng bị xemnhẹ còn do một số giáo viên chưa thực hiện tốt vai trò của mình: còn chưathực sự hiểu sâu về phương pháp dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào sáchgiáo khoa, tức là chưa làm chủ được kiến thức dẫn đến giờ học khô khannhàm chán và nặng nề chính tình trạng này đã làm mất đi tính hấp dẫn củamôn lịch sử Một vấn đề cần phải xét tới là trong khi môn lịch sử được phân
bổ rất ít tiết nhưng chương trình SGK lại quá dài cho nên GV phải chạy đuổitheo chương trình cho kịp tránh tình trạng cháy giáo án; vì vậy giáo viênkhông có thời gian để phân tích, đặt câu hỏi, đánh giá còn học sinh cũng cóquá ít thời gian để tìm hiểu, nghiên cứu vì phải học nhiều môn Bài học se ̃trởnên đơn điệu với phần trình bày của giáo viên mà không có sự tương tác,tham gia đóng góp của HS
Môn lịch sử luôn luôn được khẳng định là quan trọng, nhưng trên thực
tế đã chưa được coi trọng Thực tế đã phản ánh một thực trạng khá buồn củaviệc dạy và học Lịch sử hiện nay ở trường THPT
1.2.2.Thưc ̣ trang ̣ sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ licḥ sử nhằm phát triển năng lưc ̣ tim̀ hiểu licḥ sử ởtrường THPT
Trang 33Để hiểu được thực trạng, tôi tiến hành phát phiếu điều tra nhiều GV vàhọc sinh trong quá trình thực tập sư phạm Bao gồm có 10 giáo viên ở cáctrường: THPT Tiên Du số 1 (Bắc Ninh), THPT Hàn Thuyên (Bắc Ninh),THPT Xuân Áng (Phú Thọ) và học sinh ở Trường THPT Tiên Du số 1 (lớp10ª2, lớp 10ª3), THPT Xuân Áng ( lớp 10H, lớp 10G,) với số phiếu phát ra là
120 phiếu thu về 120 phiếu
Nội dung điều tra gồm: Quan điểm nhận thức của GV và HS về bộ mônLịch sử và chất lượng dạy và học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay; Mức
độ, tần suất và hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi trong dạy và học trongDHLS; Hình thức, phương pháp sử dụng các câu hỏi
Hình thức, PP điều tra: Tôi tiến hành trao đổi với GV và HS của trường
thực nghiệm, phát phiếu điều tra cho GV và HS ở 3 trường THPT
Qua điều tra tổng hợp kết quả điều tra thực tiễn, tôi thu được kết quảnhư sau:
1.2.2.1 Vềphía hoc ̣ sinh
Mức độ yêu thích môn Lịch sử
Rất thích Thích
Bình thường
Không thích
Điều này cho thấy không phải hầu hết các em học sinh đều quay lưng lại với
Trang 34điều này đòi hỏi nhàtrường, giáo viên cần cónhững biêṇ pháp nhằm tăng sư ̣ hứng thúvàchất lương ̣ giáo duc ̣ cho HS đối với bô ̣môṇ Licḥ sử.
Khó khăn khi học môn Lịch sử
Ý kiến khác
Khó vận dụng vào thực tế
Phải nhớ nhiều sự kiện, mốc thời gian
Phương pháp giảng dạy nhàm chán
Từ kết quảthống kê cho thấy, nguyên nhân HS chưa yêu thích vàkhókhăn trong viêc ̣ tiếp thu môn LS có rất nhiều nguyên nhân và một trong nhữngnguyên nhân ấy là do PPDH của GV chưa thực sự cuốn hút Chính vì thế GVcần đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy năng lực, tính tích cực, chủđộng của HS
Mức độ sử dụng câu hỏi của giáo viên
Thường xuyên Thỉnh thoảng Rất ít
Chưa bao giờ
Trang 35Mức độ yêu thích các câu hỏi
Có Không
Từ sốliêụ kết quảcủa hai câu hỏi trên ta thấy, ởtrường THPT GV đa ̃thưc ̣ hiêṇviêc ̣ đăṭcâu hỏi trong quátrinhk giảng daỵ Tuy nhiên, viêc ̣ này laịkhông mang
laịhiêụ quảbiểu hiêṇ làđa sốcác em không hào hứng vàkhông thích cách đăṭcâuhỏi của GV Đây cũng làmôṭ trong những nguyên nhân khiến HS chưa thâṭsư
̣yêu thích môn LS vàđa sốHS đều nhâṇ thấy vai tròvàý nghiã của viêc ̣ sử dung ̣câu hỏi của giáo viên
Mẫu câu hỏi mong muốn
Tất cả các đáp án trên
Thú vị, hình thức bắt mắt
Phù hợp với khả năng
Ngắn gọn, rõ nghĩa
Từ viêc ̣ nhâṇ thức đươc ̣ vai trò của câu hỏi, số lương ̣ HS mong muốn thay đổi cách đăṭcâu hỏi theo hướng đảm bảo vềhiknh thức vànôịdung chiếm
Trang 36tỉlê ̣cao hơn hẳn Điều này đăṭra yêu cầu GV cần phải đổi mới cách đăṭcâu hỏiphùhơp ̣ nhu cầu vàsư ̣phát triển của người hoc ̣.
1.2.2.2 Vềphía giáo viên
Tác dụng của câu hỏi
Tất cả các phương án trên
Kiểm tra, đánh giá
Khơi gợi hứng thú học tập của học sinh
Nhằm tìm hiểu nội dung của bài học
Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy, các GV đều thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc sử dụng câu hỏi
Trang 37Nguyên nhân khó học môn Lịch sử
Do cơ sở vật chất
Do phương pháp dạy và học
Do thời lượng tiết học Ý kiến khác
Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy, các GV đều cho rằng trong xu thếhội nhập như hiện nay việc đổi mới cách học Tuy nhiên do tâm lí ngại thayđổi, chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và ý nghĩa của việc đổi mới nên vẫn cònýkiến cho rằng không nhất thiết phải thay đổi Một thực trạng đáng buồn ởcác trường THPT là việc dạy và học theo phát triển NL vẫn còn chưa đượcphổ biến và chưa được quan tâm, chú trọng
Mức độ tiếp nhận và trả lời câu hỏi
Rất tốt Tốt Không tốt
Trang 38Nhink vào bảng kết quảđiều tra trên ta thấy mức đô ̣tiếp nhâṇ vàtrảlờicâu hỏi của HS ởmức đô ̣thấp vâñ chiếm tỉlê ̣cao Điều này phản ánh chấtlương ̣ vàcách đăṭcâu hỏi của GV chưa thâṭsư ̣đaṭhiêụ quả Giáo viên thườngxuyên sử dụng các câu hỏi vào nhiều mục đích khác nhau tuy nhiên lại chưađem lại hiệu quả.
Ýnghia cua viêc ̣ phat triển năng lưc ̣ tim hiểu licḥ sư %
cho hoc ̣ sinh
Giúp học sinh nắm vững hiểu sâu, mở rộng vốn kiến 4
thức lịch sử của mình
Giúp học sinh phát triển khả năng tự học, khả năng sử 5
dụng, khai thác tư liệu
Rèn luyện kĩ năng trình bày, thuyết trình các vấn đề lịch 5
sử bằng lời nói hoặc viết
Điều này chứng tỏGV đa ̃bước đầu chúýđến viêc ̣ daỵ hoc ̣ phát triển NL
cho HS Tuy nhiên vâñ còn sốit́ GV vâñ chưa hiểu đầy đủvềphát triển NLTHLS môṭtrong sốnguyên nhân đólàviêc ̣ tâp ̣ huấn cho GV vềPPDH chưathâṭsư ̣hiêụ quả
Từ viêc ̣ điều tra thưc ̣ trang ̣ sử dung ̣ câu hỏi vàNL THLS của HS S ởtrường THPT Tiên Du số 1, THPT Xuân Áng tôi nhận thấy:
Việc đặt câu hỏi đóng vai trò quan trọng trong qua trình dạy và học ở trườngTHPT đối với cả học sinh và giáo viên Việc đặt câu hỏi đã được tiến hành từlâu tuy nhiên vẫn còn mang nhiều hạn chế như chưa khơi gợi được hứng thúhọc tập Từ đó, chưa đaṭđươc ̣ hiệu quả hoc,̣ chưa phát triển NL cho HS Do
đó, đặt câu hỏi phải được quan tâm và tiến hành trong các giờ học Lịch sửmột cách khoa học và đạt hiệu quả cao
Trang 39Tiểu kết chương 1
Cóthể khẳng định vai trò vàý nghĩa của việc sử dụng câu hỏi trong dạyhọc Lịch sử nhằm phát triển NL cho HS đặc biệt là NL THLS là vô cùng quantrọng và cần có sự quan tâm đặc biệt
Tuy nhiên, ở các trường phổ thông hiện nay, câu hỏi còn mang tínhkhuôn mẫu, thiếu tính hấp hẫn và chưa đạt được hiệu quả
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài , ở chương 2, tôi đề xuất biêṇpháp sử dung ̣ câu hỏi trong daỵ hoc ̣ phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đếnnửa đầu thế kỉ XIX nhằm phát triển NL THLS cho HS ởtrường THPT
Trang 40CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP SỬ DUNG̣ CÂU HỎI TRONG DAỴ HOC̣
N LICḤ SỬVIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ
KỈ XIX LƠP 10 NHĂM PHAT TRIÊN NĂNG LƯC̣ TIM HIÊU
LICḤ SỬ CHO HOC̣ SINH Ở TRƯỜNG THPT
2.1 Vi tṛí, muc ̣ tiêu, nôịdung phần licḥ sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (SGK Licḥ sử 10, chương trinh̀ chuẩn)
2.1.1 Vi tṛí
Chương trình lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn) là một phần củachương trình lịch sử THPT nhằm đi sâu hơn những nội dung đã được học ởtrường THCS Trong đề tài của mình tôi tập trung khai thác phần lịch sử ViệtNam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 (chương trình chuẩn) nhằmphát triển NL THLS cho học sinh THPT
Chương trình lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn) gồm 3 phần:
Phần một: Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung
đại Phần hai: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ
XIX Phần ba: Lịch sử thế giới cận đại
Trong SGK lớp 10 THPT (chương trình chuẩn) phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX gồm 4 chương:
- Chương I: Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thế kỉ X
- Chương 2: Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV
- Chương 3: Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII
- Chương 4: Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XIX
Trong phần hai lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX baogồm giai đoạn Việt Nam từ thế kỉ X đến đầu nửa đầu thế kỉ XIX ở chương 2,chương 3, chương 4 Giai đoạn này được coi là giai đoạn đầy biến động củacác triều đại phong kiến của Việt Nam Đồng thời các yếu tố xã hội, văn hóa,nghệ thuật cũng có rất nhiều nét đặc sắc qua đó giúp học sinh nhận thức đượcnội dung của một giai đoạn lịch sử Việt Nam