bản của xây dựng chương trình là quan điểm giao tiếp và quan điểm này được thể hiện khárõ trong SGK Tiếng Việt 1, nhất là sự xuất hiện của nội dung luyện nói được coi như mộtnội dung độc
Trang 1Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Giáo dục Tiểu học
- -Bài tập điều kiện
BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG SỬ DỤNG CÂU HỎI
TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO GIÁO VIÊN
Trang 2MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
1 Môn Tiếng Việt ở nhà trường phổ thông nói chung, ở nhà trường tiểu học nói riêng
có một vị trí vô cùng quan trọng Môn học này là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh (HS)học tốt các môn học khác Tiếng Việt vừa là một khoa học, vừa là công cụ, phương tiệngiúp HS lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và phát triển tư duy Việc dạy họcmôn Tiếng Việt ở nhà trường tiểu học với tư cách là dạy tiếng mẹ đẻ luôn là vấn đề đượcquan tâm chú ý Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới chủ trương: “Hình thành và pháttriển ở HS các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếptrong môi trường hoạt động của lứa tuổi” Đây cũng chính là mục tiêu cơ bản của mônTiếng Việt mục tiêu đó coi trọng tính thực hành, thực hành các kỹ năng sử dụng tiếngViệt trong những môi trường giao tiếp cụ thể Điều này góp phần chỉ đạo việc biên soạnnội dung chương trình, sách giáo khoa (SGK) và chi phối các nguyên tắc, phương phápdạy học môn Tiếng Việt nói chung và môn Tiếng Việt lớp 1 nói riêng
2 Quan điểm giao tiếp, nói cụ thể hơn là quan điểm phát triển lời nói định ra nguyêntắc, phương hướng xây dựng chương trình môn Tiếng Việt Mỗi phân môn, mỗi tiết học,mỗi nội dung dạy học đều hướng tới mục đích phát triển của lời nói Vấn đề phát triển lờinói cho HS không phải đến bây giờ mới được đề cập đến Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:
“Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phảigiữ gìn nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp” Cố thủ tướng Phạm Văn Đồngcũng đã nói: “Trường học có trách nhiệm lớn lao trong việc giữ gìn sự trong sáng củatiếng Việt Phải làm cho thế hệ trẻ nói và viết tốt hơn chúng ta.” Muốn thực hiện được lờidạy đó, trường tiểu học cần phải có cách tổ chức, phương pháp dạy học hợp lý và tích cựcnhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt, giúp HS sử dụng thành thạo tiếngViệt
3 Đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục, chương trình môn Tiếng Việt mới đã soạnthảo năm 1991 và đưa vào thử nghiệm năm 1996 Đến năm học 2002 – 2003, chương trìnhtiếng Việt 1 mới bắt đầu triển khai đại trà trên toàn quốc Một trong những quan điểm cơ
Trang 3bản của xây dựng chương trình là quan điểm giao tiếp và quan điểm này được thể hiện khá
rõ trong SGK Tiếng Việt 1, nhất là sự xuất hiện của nội dung luyện nói được coi như mộtnội dung độc lập Đây là một nội dung mới trong SGK Tiếng Việt 1 Việc dạy học nóibước đầu hình thành và rèn luyện cho HS kỹ năng nói – một trong những kỹ năng giaotiếp quan trọng của con người Trẻ lớp 1, trước khi đến trường đã “biết nghe, biết nói”tiếng Việt, song vẫn chưa thật sự thành thạo và thực tế hoạt động nói năng của các em vẫncòn nhiều hạn chế
Cho đến nay, việc triển khai chương trình Tiếng Việt 1 đã bước sang năm thứ 7nhưng phần lớn giáo viên (GV) vẫn tỏ ra lúng túng khi dạy luyện nói cho HS Bên cạnh đóvới vốn ngôn ngữ tiếp nhận được trước khi đến trường còn ít ỏi, HS lớp 1 rất khó khăn khihọc nội dung này Nhìn chung, việc dạy học nội dung này do đó vẫn chưa đạt hiệu quảcao
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Những khó khăn
học sinh lớp Một gặp khi luyện nói và một số giải pháp giúp học sinh khắc phục” làm
đề tài nghiên cứu của mình
II Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc phát triển ngôn ngữ, phát triển lời nói, nội dung, phương pháp phát triển ngônngữ cho trẻ em đã được đề cập đến nhiều Các tài liệu này đã và đang được sử dụng làmtài liệu tham khảo, nghiên cứu và giảng dạy về lĩnh vực ngôn ngữ trẻ em Tiêu biểu có thể
kể đến: Cuốn “Phát triển ngôn ngữ trẻ em” (Ê.I.Tikhêva, NXBGD 1977); “Dạy nói cho trẻtrước tuổi cấp I” (Phan Thiều, NXBGD, 1979); “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lờinói của trẻ” (Cao Đức Tiến, NXBGD, 1994); “Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ởtiểu học theo hướng giao tiếp” (Nguyễn Quang Ninh, Sách bồi dưỡng thường xuyên chu
Trang 4học (2 tập), luận văn thạc sĩ của Đỗ Thi Thanh Vân đã nghiên cứu đã làm sáng tỏ các vấn
đề về nội dung và phương pháp dạy học luyện nói với đê tài “Nội dung và phương phápdạy học luyện nói trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1”
III Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung luyện nói và quá trình học nội dung luyện nói trong môn Tiếng Việt 1 hiệnhành
2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung học luyện nói cho học sinh lớp Một ở phần Luyện nói tổng hợp
IV Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1 Mục đích nghiên cứu
Nhằm tìm hiểu những nguyên nhân, những đề tài luyện tập hội thoại HS gặp khókhăn khi học nội dung luyện nói tổng hợp để từ đó đề xuất một só giải pháp giúp HS nóitốt hơn
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Tìm hiểu nội dung luyện nói tổng hợp trong SGK Tiếng Việt 1
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc xây dựng nội dung luyện nói
- Phân loại hệ thống bài tập luyện nói
- Đánh giá hệ thống bài tập luyện nói
- Đánh giá hướng dẫn dạy luyện nói trong SGV
2.2 Tìm hiểu những khó khăn HS có thể gặp khi thực hành luyện nói phần Luyện nóitổng hợp
2.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả học luyện nói phần Luyện nóitổng hợp cho HS
V Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương phápnghiên cứu sau:
1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu các văn bản, tài liệu có liên quan đến đề tài để rút ranhững kết luận cần thiết Nghiên cứu riêng lẻ từng bộ phận của vấn đề từ các tài liệu, sau
đó liên kết thông tin đã thu được, tổng hợp khái quát thành các luận điểm
Trang 52 Thống kê, phân loại: Thống kê các bài tập luyện nói phần Luyện nói tổng hợp
trong SGK 1
Trang 6NỘI DUNG
Chương 1: Tổng quan về nội dung và chương trình SGK Tiếng Việt 1
hiện nay
I Mục tiêu của môn Tiếng Việt lớp 1
Mục tiêu chủ yếu của môn Tiếng Việt lớp 1 hiện nay là chú trọng dạy chữ trên cơ sởdạy âm và dạy âm để dạy chữ Xuất phát từ âm, tiếng có nghĩa mà dạy âm, dạy chữ mới.Các tác giả chủ trương dạy cả hai dạng: lời nói miệng và lời nói viết Tuy nhiên, vì chữviết là dạng hoạt động ngôn ngữ hoàn toàn mới mẻ nên các tác giả ưu tiên hơn cho việcdạy chữ, gắn việc học âm, học chữ với việc luyện thói quen viết đúng mặt chữ, viết đúngchính tả
Mục tiêu của môn Tiếng Việt 1 chương trình mới đã thể hiện được quan điểm mớitrong dạy học: quan điểm dạy giao tiếp Với mục tiêu này, chúng ta thấy được cái đích củaviệc dạy Tiếng Việt cho HS lớp 1 là dạy chữ trên cơ sở coi trọng mối quan hệ giữa ngữ âm
và chữ viết, phần nào theo sát đặc trưng loại hình ngôn ngữ đơn lập – âm tiết tính củatiếng Việt
II Quan điểm biên soạn chương trình
Từ mục tiêu giáo dục của môn Tiếng Việt, các soạn giả đã xác định được quan điểmbiên soạn bộ SGK Tiếng Việt tiểu học mới nói chung, SGK Tiếng Việt 1 nói riêng Đó là
3 quan điểm cơ bản sau:
1 Quan điểm dạy giao tiếp
Thuật ngữ “giao tiếp” dùng ở đây để chỉ hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảmxúc, … bằng ngôn ngữ nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác,… giữa cácthành viên trong xã hội
Dạy học theo quan điểm giao tiếp là xu hướng phổ biến trong các tài liệu dạy tiếng
mẹ đẻ cũng như dạy ngoại ngữ ở các nước tiên tiến hiện nay Khác với xu hướng dạy họctheo cấu trúc, nó có tác dụng rõ rệt trong việc hình thành và phát triển ở HS kỹ năng sửdụng ngôn ngữ (các kỹ năng giao tiếp) SGK lấy nguyên tắc giao tiếp làm định hướng cơ
Trang 7bản để góp phần thực hiện một cách nhanh nhất và vững chắc nhất mục tiêu của chươngtrình Tiếng Việt tiểu học: “hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe,nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động phù hợp lứa tuổi”.Quan điểm này thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp học Vềnội dung, SGK Tiếng VIệt 1 dành một phần độc lập cho việc luyện nói cho HS; đồng thờithông qua việc dạy Học vần, Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập viết, Tiếng Việt 1 tạo ranhững môi trường giao tiếp có chọn lọc, từ đó giúp HS mở rộng vốn từ theo định hướng,trang bị những tri thức nền và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp Vềphương pháp dạy học các kỹ năng nói trên được dạy thông qua nhiều bài tập mang tìnhhuống giao tiếp tự nhiên
Ví dụ: Để dạy về Nghi thức lời nói, SGK Tiếng Việt 1 đã xây dựng bài tập: “Tập nóilời chào của bé với mẹ trước khi vào lớp, lời chào của bé với cô giáo trước khi bé ra về”[32; 74] Chính việc đặt HS vào tình huống giao tiếp sẽ làm nảy sinh nhu cầu tìm hiểu,phân tích sự kiện và bộc lộ ý kiến cá nhân của các em, tạo nên nét mới trong dạy học
2 Quan điểm tích hợp
Tích hợp được hiểu là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí là một tiết học haymột bài tập nhiều mảng kiến thức và kỹ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệuquả giáo dục và tiết kiệm thời gian cho người học Có thể tích hợp theo hai hướng: chiềungang và chiều dọc
Hướng tích hợp theo chiều ngang được SGK tiểu học triển khai thông qua hệ thốngcác chủ điểm học tập Các phân môn của Tiếng Việt nếu như trước đây ít gắn bó với nhauthì nay được tập hợp lại xung quanh chủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụ cung cấp kiếnthức và rèn kỹ năng cũng gắn bó chặt chẽ hơn trước
Ví dụ: Trong tuần 27 (SGK TV1), HS học chủ điểm “Gia đình” thì các bài Tập đọccũng nói về gia đình: Ngôi nhà, Quà của bố, Vì bây giờ mẹ mới về; bài Kể chuyện yêu cầu
HS kể lại câu chuyện Bông hoa cúc trắng (nói về tình cảm mẹ con); bài Chính tả cũng tập
trung chủ điểm; bài Tập viết yêu cầu HS viết các từ hiếu thảo, yêu mến, ngoan ngoãn, đoạt giải.
Trang 8Bằng việc tổ chức bài đọc, bài học theo chủ điểm, SGK Tiếng Việt 1 dẫn dắt HS vàocác lĩnh vực của đời sống, qua đó tăng cường vốn từ, vốn diễn đạt của các em về nhàtrường, gia đình và xã hội, đồng thời cũng mở cánh của cho các em bước vào thế giớixung quanh và soi vào thế giới tâm hồn của chính mình.
Tích hợp theo chiều dọc nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kỹ năng mớinhững kiến thức và kỹ năng đã được học trước đó Về chủ điểm học tập, SGK TV1 thựchiện mục tiêu tích hợp qua hệ thống các chủ điểm học tập và bài đọc gần gũi, thiết thựcvới đời sống của trẻ Mỗi chủ điểm ứng với mỗi đơn vị học Thời gian dành cho mỗi đơn
vị học là một tuần, các chủ điểm học tập lần lượt trở đi trở lại theo kiểu đồng tâm, mỗi lầntrở lại là mỗi lần khai thác sâu hơn Về kiến thức, kỹ năng cũng được đòi hỏi cao dần vềmức độ
3 Quan điểm tích cực hoá hoạt động của HS
Thông qua các hình thức luyện tập trong SGK và hướng dẫn hoạt động dạy học trongSGV, chương trình mới đã tạo điều kiện để GV và HS thực hiện phương pháp tích cực hoáhoạt động của người học, trong đó GV đóng vai trò người tổ chức hoạt động của HS Mỗi
HS đều được hoạt động, được bộc lộ mình và phát triển Hoạt động của HS được hiểu làhoạt động được hiểu là hoạt động giao tiếp hoạt động phân tích, tổng hợp và thực hành lýthuyết Đây là giải pháp tổng thể để thực hiện muc tiêu trang bị kiến thức, èn luyện kỹnăng, hoàn thiện nhân cách của các em
Thực hiện quan điểm tích cực hoá hoạt động của HS, SGK TV1 không dạy lý thuyếtnhư là cái có sẵn mà tiến hành tổ chức hoạt động để HS nắm được kiến thức sơ giản
và có kỹ năng sử dụng tiếng Việt tốt
Chương II: Nội dung luyện nói tổng hợp trong SGK Tiếng Việt 1
I Yêu cầu kỹ năng nói đối với HS lớp 1
- Phát âm
+ Phát âm đúng, rõ các âm, vần và tiếng được học (trừ các tiếng có vần khó ít dùng)
và chữa các lỗi về phát âm theo hướng dẫn của GV
+ Phát âm liền mạch một lời nói (không lặp, không thiếu tiếng), biết nói to đủ nghetrong giờ học tiếng Việt và các giờ học khác
Trang 9- Diễn đạt bằng lời nói:
+ Nói trong hội thoại
Trả lời các câu hỏi về vật, người, hành động, tính chất: tập trả lời các câu hỏi
ai, cái gì, việc gì, làm gì, làm sao, như thế nào,… thuộc phạm vi trường, lớp, gia đình và
môi trường xung quanh
Đặt câu hỏi có sử dụng từ để hỏi: ai, cái gì, làm gì, như thế nào
Dùng đúng từ xưng hô khi xưng hô với người trong gia đình, với thầy cô giáo,bạn bè và những người gần gũi: luyện tập xưng hô với các đối tượng ở lớp, trường trongkhi học và chơi
Chào, hỏi, mời, nhờ, yêu cầu bằng một vài cách theo nghi thức lời nói
Các bài học trong tuần đều tập trung vào chủ điểm của tuần đó nhằm tạo ra sự tíchhợp Việc quay vòng chủ điểm này không phải là sự lặp lại y hệt mà vòng sau phát triển,
mở rộng hơn vòng trước Cụ thể như sau:
- Loại I: Luyện nói câu có chứa tiếng có vần cần luyện:
+ Kiểu 1: Nói câu chứa tiếng có vần cho trước Kiểu này có 14 bài
Trang 10Ví dụ 1: Nói câu chứa tiếng có vần uôn hoặc uông
M: - Bé đưa cho mẹ cuộn len.
- Bé lắc chuông
(Tiếng Việt 1, tập hai - tr 71)Kiểu 2: Nhìn tranh nói câu chứa tiếng có vần cho trước Kiểu này có 1 bài Ví dụ:
Nhìn tranh nói câu chứa tiếng có vần ăt, ăc (tr 101)
- Loại II: Luyện nói theo đề tài
+ Kiểu 1: Bài tập nói theo bài
Dạng 1: Trả lời câu hỏi theo tranh: Dạng này có 1 bài Ví dụ: Trả lời câu hỏitheo tranh
M: Tranh 1: Ai nấu cơm cho bạn ăn?
- Mẹ tôi nấu cơm cho tôi ăn
Tranh 2: Ai mua quần áo cho bạn?
Tranh 3: Ai chăm sóc bạn khi ốm?
Tranh 4: Ai vui khi bạn được điểm 10?
(Tiếng Việt 1, tập 2 – tr 56)
Dạng 2: Nói về một sự vật, sự việc… có liên quan đến nội dung bài tập đọc.Dạng này có 11 bài Ví dụ: Ở nhà em làm gì giúp bố mẹ? (tr 59); Gọi tên các loài hoatrong ảnh (tr 65); Nói về quyển vở của em (tr 77);…
Dạng 3: Kể về một người, một việc,… có liên quan đến nội dung bài tập Dạngnày có 5 bài Ví dụ: Kể về người bạn tốt của em (tr 107)
+ Kiểu 2: Bài tập hỏi – đáp
Dạng 1: Hỏi – đáp về một sự việc, một người, một sự vật, hiện tượng… có liênquan đến bài tập đọc
Dạng này có 10 bài Ví dụ: Hỏi nhau về những việc làm buổi sáng (M: Sáng sớm bạnlàm việc gì? – Tôi tập thể dục Sau đó, đánh răng, rửa mặt… tr 68)
Dạng 2: Hỏi – đáp theo nội dung bài tập đọc Dạng này có 2 bài Ví dụ: Hỏi –đáp theo bài thơ (M: - Con gì hay nói ầm ĩ – con vịt bầu tr 113)
- Loại 3: Luyện nói theo nghi thức lời nói
Trang 11+ Kiểu 1: Nói lời chào theo tình huống giao tiếp tự nhiên: Kiểu này có 1 bài Ví dụ:Tập nói lời chào của bé với mẹ trược khi bé vào lớp, của bé với cô trước khi bé ra về (tr.74)
+ Kiểu 2: Nói lời chào của nhân vật theo tình huống trong bài học Kiểu này có 1 bài
Ví dụ: Nói lời chào hỏi của Minh: Khi gặp bác đưa thư, khi mời bác uống nước (tr 137)
Sau đây là Sơ đồ tóm tắt hệ thống bài tập luyện nói – phần luyện nói tổng hợp
trong SGK TV1
Bài tập luyện nói trong phần luyện nói tổng hợp
LN câu chứa tiếng có
vần cần luyện (15 bài)
LN theo đề tài(29 bài)
LN theo nghi thức lời nói (2 bài)
BT nói theo bài (17)
BT dạng hỏi – đáp (12)
nói câu chứa tiếng
có vần cho trước
(1 bài)
Trả lời câu hỏi theo tranh (1 bài)
Nói về một sự vật, sự việc có liên quan nội dung bài tập đọc (11 bài)
Kể về một người, một việc
… có liên quan đến nội dung bài tập đọc (5 bài)
Hỏi – đáp về một sự việc, một người,
… có liên quan đến nội dung bài tập đọc (10 bài)
Hỏi – đáp theo nội dung bài tập đọc (2 bài)
Nói lời chào theo tình huống giao tiếp cho trước (1 bài)
Nói lời chào của nhân vật theo tình huống trong bài học (1 bài)
Trang 12III Đánh giá hệ thống bài tập luyện nói trong phần Luyện tập tổng hợp
Trước đây, việc rèn luyện kỹ năng nói cho HS lớp 1 chỉ đơn thuần được rèn luyệntrong quá trình các em trả lời câu hỏi của GV trong giờ học So với chương trình cũ, nộidung luyện nói trong SGK TV1 ở chương trình mới được tách ra độc lập Việc đưa nộidung luyện nói độc lập dưới hình thức một hệ thống bài tập như vậy giúp HS được rènluyện kỹ năng nói một cách khoa học hơn, có hệ thống và bài bản hơn
Hệ thống bài tập luyện nói trong phần Luyện tập tổng hợp đa dạng, yêu cầu HS nóitrong hội thoại, nói độc thoại, nói thành đoạn, các câu có liên kết, mạch lạc hơn Bài tậpluyện nói được sắp xếp cuối bài Tập đọc, phong phú, đa dạng hơn so với phần Học vần Ởmỗi bài tập, ngoài tranh minh hoạ còn có các mẫu phát ngôn và nội dung cho trước làmchỗ dựa để HS tạo lập lời nói Hình thức bài tập và yêu cầu bài tập được trình bày rõ ràng,
cụ thể hơn Có bài tập để luyện tập âm – vần đã học (Nói câu chứa tiếng có vần cầnluyện), có bài rèn kỹ năng độc thoại ( Nói về một chủ đề cho trước), có bài tập rèn kỹ năngtrong hội thoại (trò chuyện, hỏi – đáp về nội dung cho trước), có bài tập rèn kỹ năng ứng
xử giao tiếp (các bài tập về nghi thức lời nói) Tuy nhiên, số lượng từng dạng bài tập chưahợp lý: bài tập về nghi thức lời nói còn ít (2 bài), chỉ xoay quanh vấn đề nói lời chào, lờichia tay; số lượng bài tập nói theo đề tài (17 bài) mà chủ yếu là dạng độc thoại – dạng độcthoại là mức độ cao của dạng thức lời nói, sẽ rất khó cho HS nhỏ nhất là HS lớp 1 Bêncạnh đó, chỉ có bài tập nói câu chứa tiếng có vần đã học, nhưng chưa có bài tập nói câuchứa tiếng có âm đã học
Chương III Những khó khăn HS gặp khi luyện nói phần Luyện nói tổng hợp và biện pháp khắc phục
I Những nguyên nhân HS gặp khó khăn khi luyện nói
1 Xuất phát từ bản thân HS
a Khả năng ngôn ngữ, vốn sống còn ít
HS lớp 1, lần đầu tiên được tiếp xúc với chữ cái, học âm – vần, luyện nói thành câu,đoạn, do đó vốn từ của HS còn rất ít, khả năng diễn đạt còn hạn chế nên khi luyện nói thìđây cũng là một trở ngại không nhỏ đối với các em