DINH DƯỠNG VỚI BỆNH ALZHEIMER Bệnh Alzheimer là tình trạng rối loạn não bộ gây ra sự sa sút dần dần và không thể hồi phục cho trí nhớ và khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng nhận thức về
Trang 1DINH DƯỠNG VỚI BỆNH ALZHEIMER
Bệnh Alzheimer là tình trạng rối loạn não bộ gây ra
sự sa sút dần dần và không thể hồi phục cho trí nhớ và khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng nhận thức về không gian, thời gian, và cuối cùng dẫn đến tình trạng mất khả năng tự chăm sóc trong các nhu cầu hằng ngày
Năm 1906, bác sĩ người Đức Alois Alzheimer lần đầu tiên
xác định và mô tả căn bệnh này Ngày nay, bệnh Alzheimer được thừa nhận là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra sự sa sút năng lực tinh thần và trí tuệ ở những người từ 65 tuổi trở lên Bệnh hiếm khi xuất hiện ở độ tuổi từ 30 – 60 Tại Hoa Kỳ, số bệnh nhân trong độ tuổi này chỉ chiếm không đến 10% trong tổng số 4 triệu người mắc bệnh Alzheimer.
Nói một cách dễ hiểu, bệnh Alzheimer làm cho bệnh
nhân dần dần trở nên lú lẫn, nhưng nghiêm trọng hơn nhiều so với trạng thái lú lẫn thông thường do kém minh mẫn ở tuổi già Lú là trạng thái suy kém, hầu như không
còn trí nhớ, trí khôn, còn lẫn là không phân biệt được
sự việc, nhận lầm sự việc này ra sự việc khác Lú lẫn là
nói chung tình trạng suy kém trí nhớ, hay lẫn, hay quên Nhưng lú lẫn trong bệnh Alzheimer là một sự suy kém
nghiêm trọng đến mức làm cho người bệnh ngoài các rối loạn về nhận thức và suy xét còn có sự thay đổi về hành
vi, nhân cách và nhất là không còn khả năng tự chăm sóc
Trang 2Tuy nhiên, tìm hiểu y sử và quan sát một số triệu chứng dấu hiệu cũng giúp định bệnh sơ khởi, trong giai đoạn đầu của bệnh
Người mắc bệnh Alzheimer thường có những biểu hiện sau:
– Hay quên, thậm chí quên cả tên các con vật nuôi trong nhà hoặc các đồ vật rất thường dùng
– Mất định hướng trong không gian
– Có những nghi ngờ hoang tưởng
– Tính tình bướng bỉnh, phá phách và thay đổi trong dáng điệu đi đứng
Bệnh thường kéo dài cả năm, mười năm, qua nhiều diễn tiến khác nhau tùy từng người bệnh Cuối cùng, vì suy nhược toàn bộ, người bệnh đi đến tình trạng nằm liệt giường liệt chiếu, không kiểm soát được đại tiểu tiện, suy dinh dưỡng, và thường ra đi vĩnh viễn vì nhiễm trùng hoặc sưng phổi Mọi biện pháp can thiệp đều chỉ tập trung vào việc hỗ trợ, chăm sóc người bệnh, vì thực ra chưa có dược phẩm hay phương thức nào để điều trị bệnh này Đã có nhiều thử nghiệm một số dược phẩm, nhưng đa số chỉ cải thiện được đôi chút về rối loạn tri thức mà thôi
Một vài nghiên cứu cho rằng niacin có thể có công dụng
tăng máu lưu thông lên não
Gần đây, một số nghiên cứu cho thấy acetylcholine,
một chất có chức năng dẫn truyền tín hiệu thần kinh (neurotransmitter) có vẻ như giảm rất nhiều ở người bệnh Alzheimer Acetylcholine có nhiều ảnh hưởng tới sự học
hỏi và trí nhớ, nên nhiều nhà khoa học cho là thực phẩm có
acetylcholine sẽ giúp ích cho người bệnh một phần nào.
Trang 3là thực phẩm mà họ nhặt ở đâu đó Với hành vi của một trẻ thơ, họ cũng giấu hoặc ném thực phẩm đi
Nhiều khi người bệnh không nhận ra thức ăn là gì, đưa vào miệng mà không nhai nuốt
Người bệnh cũng nghịch với thực phẩm như đồ chơi; không biết thìa đũa dùng để làm gì, hoặc không nhớ cả cách đưa thức ăn vào miệng
Bệnh nhân hay giẫy giụa, chuyển động cơ thể nên việc tự ăn hoặc nuôi ăn cũng trở ngại
Trung tâm thần kinh điều hành cảm giác đói và khát bị suy hao nên người bệnh không thấy đói khát
Kém vệ sinh răng miệng nên người bệnh nhai nuốt khó khăn, nhất là khi miệng khô không có nước bọt
Mùi hôi của nước tiểu, phân trong người làm người bệnh mất hứng thú ăn uống
Việc dinh dưỡng hầu như lệ thuộc vào người chăm sóc Nhu cầu dinh dưỡng vẫn là sự cân bằng của những nhóm thực phẩm cơ bản hợp với sở thích và tình trạng sức khỏe người bệnh Nên để ý tới những món ăn mà người bệnh thích hoặc không thích, hoặc phải kiêng cữ vì đang mắc vài bệnh mạn tính nào khác
2 Một số vấn đề mà người chăm sóc cần lưu ý
a Lưu ý xem bệnh nhân có còn mắc phải những bệnh
nào khác, hoặc do ảnh hưởng dược phẩm nào khiến họ không ăn ngon miệng Đôi khi chỉ vì buồn rầu mà người bệnh biếng ăn
b Đưa người bệnh đi khám nha sĩ để kiểm tra tình trạng
răng miệng, nếu có thể cần xử lý thích hợp để giúp
Trang 4k Dành nhiều thời gian đủ để người bệnh ăn cũng như
để giúp người bệnh ăn Nhắc nhở người bệnh nhai, nuốt khi thấy họ lơ đãng
l Một số bệnh nhân thường đi lang thang nên tiêu hao
nhiều năng lượng mà lại không ngồi yên để ăn, do đó rất dễ bị suy dinh dưỡng Cần có sẵn một số thực phẩm dễ ăn, làm sẵn để tiện đâu cho ăn đó
m Với bệnh nhân không tự ăn uống được, người chăm
sóc cần kiên nhẫn giúp họ ăn, khích lệ họ nhai, nuốt; tạo không khí vui nhẹ để bệnh nhân khỏi phân tâm, bối rối
n Lưu ý nhiều nếu bệnh nhân hay bị nghẹn vì thực
phẩm, nước uống, nhất là người đang uống các loại thuốc thần kinh, an thần Những người này rất dễ bị khó khăn về hô hấp, đưa đến thức ăn đi lầm đường vào khí quản, gây ra sưng phổi
Sự chăm sóc thường kéo dài nhiều năm Nên người chăm sóc cần được sự giúp đỡ, hỗ trợ của thân nhân, bạn bè
Khi cần, cũng không nên ngần ngại nhờ đến cơ quan y tế xã hội vì các nơi này đã thấu hiểu vấn đề nên có sẵn các phương tiện trợ giúp
Trang 5– Tiểu cầu (platelet) tạo nút bít chỗ hở ở mạch máu và
kích thích sự đông máu để chống lại tình trạng chảy máu khi cơ thể bị thương tích, băng huyết
Thiếu hoặc thừa dinh dưỡng đều gây ra nhiều rối loạn cho cả tế bào máu lẫn huyết tương Huyết tương có quá nhiều chất béo sẽ đưa tới các bệnh tim mạch Hồng cầu là thành phần của máu chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chế độ dinh dưỡng Thiếu dinh dưỡng dẫn đến bệnh thiếu máu (anemia) là trường hợp rất thường xảy ra.
Thiếu máu
Thiếu máu là tình trạng giảm kích thước hồng cầu và lượng huyết cầu tố (hemoglobin).
Nguyên nhân thiếu máu có thể là do chảy máu, xuất huyết nội tạng, băng huyết hoặc do mất cân đối khi cơ thể tạo ra ít hồng cầu hơn số lượng bị mất đi, do một số bệnh mạn tính, do tiêu hủy hồng cầu trong một số bệnh bẩm sinh, do độc tính của một số dược phẩm, hóa chất, do thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sản xuất hồng cầu như sắt, vitamin B12, E, folacin hoặc do tập hợp của tất cả các
nguyên nhân này
Như vậy, thiếu máu tự nó không phải là một chứng bệnh, mà là biểu hiện của nhiều bệnh khác nhau Hậu quả của thiếu máu là giới hạn sự trao đổi dưỡng khí và thán khí giữa máu và các tế bào cơ thể, cũng như cung cấp không đủ lượng dinh dưỡng cần thiết cho sự hoạt động của các tế bào, cơ quan
Có nhiều loại thiếu máu, nhưng dựa vào nguyên nhân có thể phân thành hai nhóm chính:
Trang 6Cơ thể hấp thụ sắt nhiều hơn khi lượng dự trữ của cơ thể xuống thấp và ít hơn khi lượng dự trữ đầy đủ
Trong thực phẩm có hai dạng sắt: sắt heme có nhiều trong
thịt đỏ (thịt heo, bò, cừu ), thịt gà, cá và sắt nonheme có
nhiều trong thực vật và lòng đỏ trứng
Sắt heme được hấp thụ dễ dàng hơn nên cơ thể hấp thụ
nhanh và nhiều dạng sắt này hơn so với sắt nonheme
Nhưng khi ăn chung thực phẩm gốc thực vật với thịt cá hoặc dùng thêm vitamin C thì sự hấp thụ sắt nonheme
cũng trở nên dễ hơn
Thí dụ ăn sáng với trứng tráng mà có thêm ít thịt nạc sẽ giúp hấp thụ sắt dễ hơn; thịt gà giúp hấp thụ sắt có trong gạo; thịt heo giúp hấp thụ sắt có trong đậu Gan bò có nhiều sắt hơn thịt bò, thịt gà, thịt heo, cá
Trong thiếu máu do thiếu sắt, hồng cầu thường nhỏ và lượng hemoglobin cũng thấp Đây là bệnh thiếu dinh dưỡng
thông thường nhất trên thế giới và cũng là bệnh thiếu máu thường thấy ở phụ nữ có thai và trẻ em
Nhu cầu sắt
Nhu cầu sắt cao ở trẻ sinh thiếu tháng: mỗi ngày 1mg sắt, so với trẻ sinh bình thường chỉ cần một phần ba số lượng này
Trẻ 2 tuổi cần 1mg /ngày, và tăng lên 2mg/ngày ở tuổi đang lớn để rồi trở lại mức trung bình là 1,2mg/ngày
Phụ nữ trong tuổi sinh đẻ thì cần khoảng 2mg/ngày để bù lại lượng sắt thất thoát vào mỗi kỳ kinh Khi có thai, nhu cầu sắt tăng gấp đôi vào khoảng tháng thứ 6, gấp ba vào tháng thứ 9 để cung ứng đủ máu cho thai nhi và cho tử cung lớn rộng
Trang 7Định bệnh
Thường thường, xét nghiệm kích thước, hình dáng và màu của hồng cầu cho ta một khái niệm cơ bản về loại thiếu máu
Để chính xác hơn, có thể đo lượng ferritin trong huyết
tương để biết kho dự trữ sắt có thiếu hay không; đo lượng
transferin được chuyển cho hồng cầu; đo lượng erythrocyte protoporphyrin tự do, một chất mà khi hợp với sắt sẽ trở
thành hemoglobin Nếu chất này có nhiều trong máu là dấu
hiệu của thiếu sắt
Vì thế, không phải cứ thấy sắt trong máu thấp là uống sắt, mà phải căn cứ vào mức độ ferririn và transferin.
Điều trị
Điều trị căn cứ vào việc xác định nguyên nhân gây bệnh rồi trị nguyên nhân Ngoài ra, cũng cần bổ sung cho kho dự trữ sắt bằng cách cho người bệnh dùng sắt dưới dạng
ferrous sulfat từ 200–300mg/lần, mỗi ngày ba lần Có 2
dạng thuốc viên và thuốc nước
Sắt được hấp thụ dễ dàng khi bụng đói, nhưng lại gây ra kích thích niêm mạc Để tránh khó chịu dạ dày và táo bón, có thể uống khi no bụng Khi không uống được như là rối loạn tiêu hóa thì có thể tiêm dung dịch thuốc bổ có sắt Về thực phẩm thì thịt bò, cá, gà, gan, trứng, đậu, sữa, đều có nhiều sắt Sắt trong các thực phẩm động vật (dạng sắt heme) được hấp thụ nhiều hơn sắt trong thực vật (dạng
sắt nonheme).
Trang 8Thiếu vitamin này thường là do:
a Không ăn đầy đủ thực phẩm có B12 như thịt, pho mát, trứng, sữa bò, sữa chua Bệnh thường gặp ở người ăn chay thuần túy, chỉ ăn rau trái Trẻ em bú sữa của người mẹ ăn chay hoặc áp dụng chế độ dinh dưỡng sai, thường là do kiêng khem, và đôi khi bệnh cũng xuất hiện ở người nghiện rượu Vì gan dự trữ nhiều vitamin
B12, nên bệnh chỉ xảy ra sau khoảng vài năm liên tục không ăn thực phẩm có vitamin này.
b Không hấp thụ được vitamin B12 là nguyên nhân chính gây bệnh Sự hấp thụ này xảy ra ở đoạn cuối của hồi tràng (ileum) với sự hiện diện của một nhân tố nội tại
(intrinsic factor) do dạ dày tiết ra B12 bám vào nhân tố này để được hấp thụ vào ruột Bệnh xảy ra trước khi kho dự trữ cạn hẳn vitamin này Những lý do
đưa tới kém hấp thụ là: bệnh dạ dày tiết ra không đủ nhân tố nội tại; cắt bỏ một phần dạ dày; bệnh ở hồi tràng (ileum) như trong bệnh Crohn; ký sinh trùng
trong ruột sử dụng hết vitamin B12 Hấp thụ cũng giảm dần khi cao tuổi, vì dịch vị dạ dày ít dần đi Vì thế, sau 60 tuổi nên kiểm tra mức độ B12 hằng năm để phát hiện những trường hợp thiếu vitamin này và bổ sung bằng cách tiêm B12
c Không sử dụng được B12 trong các bệnh thận, gan, suy dinh dưỡng, ung thư
Diễn tiến của bệnh rất âm thầm Người bệnh ăn mất ngon, đại tiện khi bón khi lỏng, đau ngầm ở bụng dưới, lưỡi đỏ rát, sút cân, rối loạn chức năng dây thần kinh ngoại vi Khi bệnh đã được chẩn đoán thì bệnh nhân cần được tiêm B12 Ban đầu tiêm mỗi tuần một mũi, cho tới khi hồng