1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu tập huấn giáo viên THCS

32 519 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài liệu tập huấn giáo viên THCS
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở Nghệ An
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Tài liệu tập huấn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 206,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời với sự thay đổi nội dung chương trình CT, việc thể hiện nội dung chươngtrình trong sách giáo khoa SGK Địa lý của các lớp cũng có sự đổi mới, SGK không chỉ còn là tài liệu trình

Trang 1

Tài liệu tập huấn giáo viên THCS ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

VÀ ĐỔI MỚI ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

MÔN ĐỊA LÍ

(Tài liệu lưu hành nội bộ)

Nghệ An, tháng 8 năm 2009.

PHẦN LÝ LUẬN CHUNG:

Trang 2

-ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ.

I ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ TRƯỜNG THCS.

1 Vì sao phải đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lý và mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) môn Địa lý THCS.

1.1 Vì sao phải đổi mới phương pháp dạy học Địa lý.

Trước những yêu cầu của xã hội, thời đại và sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, mụctiêu dạy học của môn Địa lý ngày nay không đơn thuần chỉ là cung cấp kiến thức và rènluyện kỹ năng địa lý cho học sinh (HS), mà qua đó phải góp phần cùng với các môn họckhác đào tạo ra những con người có năng lực hành động; tính sáng tạo, năng động, tính tựlực và trách nhiệm; năng lực cộng tác làm việc, năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng để giảiquyết những tình húông, vấn đề của cuộc sống, xã hội

Để đạt được mục tiêu nói trên, nội dung dạy học Địa lý ở trường THCS cũng đã có sựthay đổi, một số nội dung mới được đưa vào chương trình, vì vậy chương trình hiện hànhtoàn diện và cập nhật hơn so với chương trình cũ

Đồng thời với sự thay đổi nội dung chương trình (CT), việc thể hiện nội dung chươngtrình trong sách giáo khoa (SGK) Địa lý của các lớp cũng có sự đổi mới, SGK không chỉ còn

là tài liệu trình bày kiến thức để HS dựa vào đó mà trả lời các câu hỏi của GV nêu ra trênlớp, ghi nhớ, kiểm tra, thi cử, mà được biên soạn theo hướng tạo điều kiện để GV tổ chức cáchoạt động học tập tự giác, tích cực, độc lập của HS Bên cạnh việc cung cấp kiến thức, SGKcũng chú trọng đến cách thức làm việc để HS có thể tự khám phá, lĩnh hội kiến thức

Sự thay đổi mục tiêu và nội dung dạy học đòi hỏi PPDH cũng phải thay đổi cho phùhợp, chỉ khi người GV địa lý chuyển tự dạy học theo kiểu liệt kê, mô tả và thông báo – táihiện sang một theo kiểu dạy học mới đòi hỏi HS phải làm việc nhiều hơn, suy nghĩ nhiềuhơn thì khi đó mới có thể phát triển ở HS các năng lực tư duy, sáng tạo và năng lực hànhđộng như mục tiêu dạy học đã xác định, đồng thời mới đảm bảo được nội dung dạy học

1.2 Mục tiêu của đổi mới PPDH Địa lý.

Đổi mới PPDH Địa lý nhằm nângc ao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học Địa lý ởcác trường THCS

Chất lượng dạy học Địa lý được nâng cao thể hiện ở chỗ HS tiếp thu nội dung bài họctốt hơn, nắm vững kiến thức địa lý hơn, các kỹ năng thực hành và trí tuệ được hình thành vàphát triển tốt hơn, các phẩm chất mới của HS được hình thành, củng cố và phát triển mộtcách mạnh mẽ hơn

Trang 3

Việc đổi mới PPDH thực sự sẽ tạo cho quá trình dạy học địa lý một chất lượng tốt hơn

-và một hiệu quả cao hơn so với dạy học theo kiểu cũ Vì vậy, chất lượng tốt, hiệu quả caocủa dạy học là hai tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá thành công của quá trình đổi mới PPDHcủa GV địa lý

2 Quan điểm đổi mới PPDH Địa lý.

2.1 Đổi mới PPDH Địa lý theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HSkhông có nghĩa là loại bỏ PPDH hiện có (hay còn gọi là các PPDH truyền thống) và thay vào

đó là các PPDH mới (hay còn gọi là PPDH hiện đại) bởi các PPDH hiện có như phươngpháp giảng dạy dùng lời, phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan… vẫn rất cần thiếttrong quá trình dạy học, mà phải tìm ra cách vận dụng và phối hợp các PPDH một cách linhhoạt nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập Cần kế thừa, pháttriển những mặt tích cực của các PPDH hiện đang dùng, đồng thời phải học hỏi, vận dụngmột số PPDH mới phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta hiện nay

2.2 Đổi mới PPDH không chỉ là đổi mới phương pháp dạy(cách dạy) của thầy mà cònphải quan tâm đến phương pháp học (cách học) của trò, phải “dạy cách tự học” cho HS Từ

đó, từng bước hình thành cho HS năng lực tự học để họ có thể tự bổ sung kiến thức và họcthường xuyên suốt đời

2.3 Cần đa dạng hoá các hình thức dạy – học (cá nhân, theo nhóm, theo lớp: học tronglớp và trên thực địa…) nhằm hình thành và phát triển ở HS khả năng sáng tạo, năng lực hợptác, năng lực giao tiếp…

2.4 Đổi mới PPDH phải chú ý tới đặc trưng về nội dung và phương pháp của môn học.PPDH có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, vì vậy bên cạnh những phươngpháp chung có thể sử dụng cho nhềiu bộ môn khác nhau thì việc sử dụng các PPDH đặc thù

có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn

2.5 Đổi mới PPDH phải đi đôi với đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS, bởi đánhgiá kết quả hộc tập của HS là một thành tố của quá trình dạy học, có mối quan hệ mật thiếtvới các thành tố khác của quá trình dạy học, đặc biệt với PPDH, sự đổi mới đánh giá sẽ cótác dụng thúc đẩy đổi mới PPDH

3 Định hướng và giải pháp đổi mới PPDH Địa lý.

3.1 Định hướng chung.

Trang 4

Định hướng đổi mới PPDH đã được khẳng định trong Nghị quyết trung ương 4 khoáVII, Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII và được pháp chế hoá trong Luật giáo dục.

-Luật giáo dục, Điều 28.2 đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính

tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.

Theo đó, định hướng chung của đổi mới PPDH là “Tích cực hoá hoạt động học tập của

HS” Tích cực ở đây là tích cực trong hoạt động nhận thức, tích cực trong tư duy, tích cực

một cách chủ động Điều đó có nghĩa là HS chủ động trong toàn bộ quá trình phát hiện, tìmhiểu và giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV

Như vậy, cốt lõi của đổi mới PPDH là giúp HS hướng tới hoạt động học tập chủ dộng, chống lại thói quen học tập thụ động.

3.2 Định hướng và giải pháp đổi mới PPDH địa lý.

3.2.1 Định hướng.

Từ định hướng chung của đổi mới PPDH nêu trên, định hướng đổi mới PPDH địa lý là

“Tích cực hoá hoạt động học tập của HS nhằm phát huy tính tích cực chủ động của HS

trong học tập” Cụ thể: Đổi mới PPDH Địa lý cần tạo điều kiện để HS trở thành chủ thể

nhận thức, tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo trong hoạt động để kiến tạo kiến thức HScần phải thực sự hoạt động để đạt được không chỉ những tri thức và kỹ năng của bộ môn,màquan trọgn hơn là tiếp thu được cách học, cách tự học Do đó, người thầy phải là người tổchức, chỉ đạo, điều khiển các hoạt động học tập tự giác, chủ động và sáng tạo của HS Ngườithầy sẽ không còn là “nguồn phát thông tin duy nhất”, không phải là người hoạt động chủyếu ở trên lớp như trước đây mà sẽ là người tổ chức và điều khiển quá trình học tập của HS

3.2.2 Một số giải pháp.

Đổi mới PPDH địa lý là một quá trình phức tạp vì nó đòi hỏi phải tác động đén nhiềuyếu tố khác nhau Để đổi mới thành công PPDH đại lý ở các trường THCS theo định hướngtrên, cần đổi mới một cách toàn diện, đồng bộ các bộ phận cấu thành của quá trình dạy họcĐịa lý, từ việc đổi mới cách soạn giáo án, tổ chức dạy học,đổi mới việc sử dụng các PPDHđến việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS

a) Đổi mới trong việc soạn giáo án:

Để có thể phát huy được tính tích cực, chủ động của HS trong hoạt động học tập, việcsoạn giáo án hiện nay không đơn thuần chỉ là việc tóm tắt những nội dung chính của SGK,

mà giáo án phải là một bản thiết kế các hoạt động của GV và HS trên lớp Vì vậy việc soạngiáo án còn được gọi là thiết kế giáo án

Trang 5

-* Nội dung cơ bản, cốt lõi của một giáo án bao gồm hai thành phần cơ bản có quan hệchặc chẽ với nhau Một là những tình huống học tập, những vấn đề , những bài tập nhận thứcđược đặt ra từ nội dung bài học phù hợp với trình độ tiếp thu của HS Hai là, ứng với mỗitình huống học tập, vấn đề, bài tậplà một hệ thống các hoạt động, các thao tác được GV sắpxếp hợp lý, nhằm hướng dẫn HS từng bước tự tiếp cận và chiếm lĩnh kiến thức một cách chủđộng, sáng tạo

Như vậy, thiết kế giáo án là thiết kế những tình huống học tập, vấn đề, bài tập và hệthống các hoạt động, thao tác tương ứng, chứ không phải là thiết kế những việc làm của GVtrên lớp để truyền thụ một chiều cho HS Tiến trình giờ học do vậy là tiến trình hoạt độngthực sự của bản thân chủ thể HS và thời gian chủ yếu phải dành cho hoạt động của HS

*Các bước thiết kế giáo án

Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học:

Xác định mục tiêu của bài là bước đầu tiên, cũng là bước quan trọng nhất khi thiết kếgiáo án Mục tiêu cần chỉ ra chính xác và cụ thể những gì mà HS phải đạt được sau bài học

đó, mục tiêu cũng cần được diễn đạt như thế nào để dễ dàng xác định được rằng mục tiêu đãđạt được hay chưa Trên cơ sở nội dung của mỗi bài, GV cần nêu lên một cách cụ thể về cácmặt kiến thức, kỹ năng, thái độ mà HS cần có được sau bài học đó

Mục tiêu của dạy học địa lý hiện nay không chỉ nhằm làm cho HS hiểu và ghi nhớ kiếnthức, mà còn phải biết vận dụng kiến thức, biết cách làm việc (các thao tác) với các phươngtiện học tập và biết vận dụng các thao tác tư duy để phát hiện và giải quyết vấn đề, để tựchiếm lĩnh kiến thức Do đó, GV cần sử dụng các động từ khi xác định mục tiêu bài học(động từ hoá mục tiêu) Như vậy mục tiêu bài học phải vừa phản ánh quá trình nhận thức bàihọc của HS, vừa thể hiện cả kết quả của quá trình đó

Bước 2: Xác định kiến thức trọng tâm, các nội dung chính của bài

Những nội dung đó cần được nêu lên thành các vấn đề, các câu hỏi, bài tập (hoặc sửdụng các câu hỏi, bài tập có sẵn trong bài)

Bước 3: Thiết kế các hoạt động của GV và HS

Căn cứ vào mục tiêu của bài, cùng với các vấn đề, các câu hỏi, bài tập đã xác định vàcác phương tiện dạy học có thể có được GV cần nhắc và thiết kế các hoạt động của HV và

HS Các hoạt động này cần được sắp xếp một cách hợp lý theo tiến trình của bài dạy

Trang 6

Sau khi thiết kế các hoạt động, GVcần dự kiến hình thức hoạt động của HS (theo cánhân, theo cặp hay theo nhóm…) và thời gian dành cho mỗi hoạt động Tuỳ theo nội dungcủa các vấn đề, câu hỏi, bài tập đặt ra dễ hay khó, đơn giản hay phức tạp mà GV yêu cầu HS

-sẽ làm việc cá nhân hay theo nhóm và thời gian dành cho mỗi hoạt động nhiều hay ít

Kết quả của bước này là GV lập được kế hoạch chi tiết về hoạt động của GV và HStrong quá trình dạy học trên lớp, bao gồm: Các hoạt động, hình thức hoạt động và thời giancủa mỗi hoạt động

- Mỗi GV có thể thiết kế và trình bày giáo án dưới các hình thức khác nhau, tuỳ thuộcvào điều kiện dạy học, vào đối tượng HS Tuy vậy, trong khi thiết kế giáo án, cần lưu ý một

số điểm quan trọng:

+ Xác định rõ mục tiêu của bài học

+ Bài giảng phải có cấu trúc logic

+ Cần có nhiều hoạt động của HS

+ Có nhiều PPDH khác nhau

b) Đổi mới trong tổ chức dạy học trên lớp

Lý luận dạy học hiện đại đã khẳng định con người phát triển trong hoạt động và bằnghoạt động Vì vậy, đổi mới PPDH địa lý phải làm sao phát huy mạnh mẽ các hoạt động tíchcực, tự giác, sáng tạo của HS bằng việc tăng cường các hoạt động học tập, các hoạt độngtương tác, hợp tác của HS Điều này chỉ có thể thực hiện được khi việc dạy học trên lớp đượctiến hành thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS

*Tổ chức và hướng dẫn HS hoạt động và các phương tiện dạy học (PTDH) địa lý

Do đặc trưng về nội dung, phương pháp nghiên cứu và PTDH địa lý, nên việc tổ chức

và hướng dẫn các hoạt động học tập của HS trước hết là hướng dẫn HS khai thác kiến thức từcác PTDH đại lý như bản đồ, mô hình, tranh ảnh địa lý, băng đĩa hình… các PTDH này cũngchính là những nguồn kiến thức địa lý

Từ đó, HS vừa có kiến thức, vừa được rèn luyện các kỹ năng và phương pháp học tậpđịa lý

* Tổ chức, hướng dẫn HS thu thập, xử lý thông tin trong SGK và trình bày lại

SGK Địa lý mới được biên soạn theo tinh thần cung cấp các tình huống, các thông tin

đã được lựa chọn kỹ để GV có thể tổ chức, hướng dẫn HS thu thập, phân tích và xử lý cácthông tin Vì vậy, trong quá trình dạy học ở trên lớp, GV cần hướng dẫn HS thu thập và xử lýthông tin trong SGK Địa lý

- Thu thập thông tin: hoạt động thu thập thông tin của HS được tiến hành qua việc quansát các hình vẽ, tranh ảnh, bản đồ, lược đồ (kênh hình) và qua bài viết (kênh chữ) trong SGK

Trang 7

- Xử lý thông tin và trình bày lại: Thông qua các câu hỏi, bài tập trong mỗi bài, GVhướng dẫn HS căn cứ vào các thông tin đã thu thập để rút ra những kết luận cần thiết về mộthiện tượng, sự vật địa lý hoặc nêu các biểu tượng, khái niệm, các mối quan hệ địa lý…Thông qua hoạt động thu thập và xử lý thông tin để khai thác, lĩnh hội kiến thức, HS sẽ

có được phương pháp học tập, biết cách thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn tài liệu địa

lý khác, từ đó hình thành năng lực tự học

* Tổ chức hoạt động của HS theo những hình thức học tập khác nhau

Để có thể tích cực hoá hoạt động học tập của HS thì ngoài hình thức tổ chức học tậpchung theo lớp như hiện nay, nên tổ chức cho HS học tập cá nhân và học tập theo nhóm ngaytại lớp

- Hình thức học tập cá nhân:

Dạy học theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS đòi hỏi sự cố gắng trítuệ và nghị lực cao của mỗi HS trong quá trình tự lực giành lấy kiến thức mới Do đó, hìnhthức học tập cá nhân là hình thức học tập cơ bản nhất vì nó tạo điều kiện cho mỗi HS tronglớp được suy nghĩ, được tự làm việc một cách tích cực để khai thác và lĩnh hội kiến thứcmới Đồng thời, hình thức này cũng tạo điều kiện để HS bộ lộ khả năng tự học của mỗingười

- Hình thức học tập theo nhóm

Trong học tập, không phải bất kỳ một nhiệm vụ học tập nào cũng có thể được hoànthành bởi những hoạt động thuần tuý cá nhân Có những bài tập, câu hỏi, những vấn đề đặt rakhó và phức tạp, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các cá nhân mới có thể hoàn thành nhiệm

vụ Vì vậy, bên cạnh hình thức học tập cá nhân, cần tổ chức cho HS học tập hợp tác trongnhóm nhỏ

Trong nhóm nhỏ, mỗi cá nhân đều phải nỗ lực, bởi mỗi cá nhân được phân công thựchiện một phần công việc và toàn nhóm phải phối hợp với nhau hoàn thành nhiệm vụ chung

Do đó, hình thức này không chỉ phát huy cao độ suy nghĩ của mỗi cá nhân, mà còn tạo điềukiện để HS được nói, được trao đổi nhiều hơn, hình thành nên mối quan hệ giao tiếp trò –trò, ngoài mối quan hệ giao tiếp thầy – trò Thông qua sự hợp tác tìm tòi, nghiên cứu, thảoluận, tranh luận trong nhóm, ý kiến của mỗi cá nhân được bộ lộ, được điều chỉnh, khẳng địnhhay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới, hứng thú và tự tin hơn tronghọc tập

Hình thức học tập hợp tác theo nhóm nhỏ còn tạo điều kiện rèn luyện cho HS năng lựchợp tác, một năng lực quan trọng của người lao động trong thời đại này

Trang 8

- Các PPDH truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các PPDH truyềnthống cần kết hợp sử dụng các PPDH mới, đặc biệt là những PPDH phát huy tính tích cực vàsáng tạo của HS Các PPDH mới (hay còn gọi là các PPDH hiện đại) đã được sử dụng ởnhiều nước trong khu vực và trên thế giới; có thể kể ra một số phương pháp như PPDH giảiquyết vấn đề, PPDH hợp tác, phương pháp thảo luận, phương pháp nghiên cứu trườngtrường hợp, phương pháp đóng vi… Việc các phương pháp này được gọi là các PPDH mớihay PPDH hiện đại chỉ mang tính tương đối, bởi vì chúng được đề cấp đến ở một số tài liệu

về PPDH trong những năm gần đây, chỉ có điều từ trước đến nay còn ít được sử dụng hoặcchưa được sử dụng thường xuyên trong dạy học ở các nhà trường phổ thông Việt Nam

II VẬN DỤNG CÁC PPDH ĐỊA LÝ THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI.

1 Cải tiến các PPDH truyền thống theo định hướng đổi mới.

HS không dễ dàng tự tìm hiểu, đi sâu vào chi tiết và giải thích nội dung vấn đề đặt ra

a Bản chất:

Bản chất của phương pháp là thông báo – tái hiện Điều đó có nghĩa là khi sử dụngphương pháp này, GV tác động đến đối tượng nghiên cứu, lần lượt thông báo cho HS các kếtquả tấc động và HS tiếp nhận những thông tin của GV trên cơ sở nghe, nhìn, ghi chép và tưduy theo vấn đề mà GV đưa ra Như vậy, đặc trưng nổi bật của phương pháp này là thầy chủđộng thông báo những kiến thức đã “chuẩn bị sẵn” và HS thụ động tái hiện kiến thức

b Quy trình thực hiện:

Trang 9

Khi thuyết trình một vấn đề, thông thường GV phải thực hiện các bước cơ bản sau đây:

Có thể mở đầu bằng cách nêu một vấn đề hoặc một tình huống nào đó từ thực tế, từ báochí hoặc từ những chương trình truyền hình

- Bước 2: Làm việc với tài liệu mới

+ GV nêu rõ những điểm cơ bản cần nắm được trong bài (hoặc trong một phần của bài),nội dung phải tìm hiểu (dàn bài) hoặc một loạt câu hỏi, đồng thời bằng các thủ pháp sư phạmtạo cho HS nhu cầu, hứng thú và động cơ tìm hiểu vấn đề do GV đặt ra

+ Khi thuyết trình về một biểu tượng, khái niệm, mối quan hệ hoặc một quy luật địa lý,

GV có thể thực hiện hai con đường phổ biến là quy nạp hoặc diễn dịch Theo logic quy nạp,trước hết GV đưa ra các dấu hiệu, đặc điểm của các hiện tượng, sự vật địa lý, các biểu hiệncủa quy luật địa lý…, sau đó khái quát thành biểu tượng, khái niệm quy luật địa lí Theologic diễn dịch, GV đưa những kết luật sơ bộ, khái quát (khái niệm, quy luật địa lý…) sau đótiến hành phân tích từng phần, phát triển hoặc so sánh, đối chiếu để làm sáng tỏ các đặc điểmchung khái quát đã đưa ra

Để HS hiểu và nắm chắc được khái niệm quy luật địa lý… GV cầnđưa ra các ví dụ đểminh hoạ cho khái niệm, quy luật…

+ Cuối cùng, GV đưa những kết luận khái quát, cô đọng, chính xác về các biểu tượng,kháI niệm, quy luật đía lý…Kết luận phải là câu trả lời cô đọng, xác đáng nhất cho nhữngcâu hỏi lớn đã được đặt ra ở bước 1

- Bước 3: Luyện tập/củng cố

Sau khi thuyết trình, GV có thể:

+ Nhắc lại những điểm chính trong bài (hoặc trong một phần của bài)

+ Khuyến khích HS đặt câu hỏi hoặc tự mình đặt câu hỏi cho HS, tạo điều kiện cho

HS hiểu và nhớ bài hơn

+ Yêu cầu một, hai HS tóm tắt bài học hoặc tất cả HS viết một bản tóm tắt các ýchính trong vòng 3 đến 5 phút và vào cuối tiết học Cả hai cách này đều hỗ trợ HS làm bật ranhững điều đáng nhớ

Trang 10

+ Là một phương pháp rất tiện cho giải thích.

+ Trong thời gian hạn chế, GV có thể truyền đạt cùng một lúc, một cách có hệ thống,cho nhiều HS một khối lượng lớn những kiến thức điạ lý, phù hợp với trình độ của lớp học

và nội dung của bài học…

+ Tạo được cảm hứng cho người học

- Nhược điểm:

Hiện nay, nhiều người cho rằng phương pháp thuyết trình là phương pháp lấy GVlàm trung tâm và vì vậy nó ít có tác dụng trong việc phát huy tình chủ động, tích cực và độclập nhận thức của HS Phương pháp thuyết trình chỉ đỏi hỏi ở HS quá trình nhận thức thụđộng (Nghe và tiếp nhận thông tin từ GV), ít tạo ra cơ hội để HS được nói và phát triển ngônngữ; chỉ cho phép HS đưa tới trình độ tái hiện trong lĩnh hội kiến thức

- Trước khi thuyết trình về một biểu tượng, khái niệm… địa lý, cần nêu lên nhữngvấn đề, tình huống nào đó hoặc nêu một vài câu hỏi có liên quan đến nội dung sẽ thuyết trìnhnhằm kích thích tư duy, định hướng hoạt động nhanạ thức của HS và tạo ở HS tâm lý có nhucầu, hứng thú tìm hiểu vấn đề để GV nêu ra Mặt khác, trong khi thuyết trình cũng nên đưa

ra những câu hỏi không cần HS phải trả lời, nhưng buộc họ phải động não, suy nghĩ (thuyếttrình nêu vấn đề)

- Việc yêu cầu HS nhắc lại những ý chính, trình bày một biểu tượng, khái niệm địa lýsau khi GV thuyết trình buộc HS không chỉ tư duy, mà còn phải hoạt động để kiểm tra lạiviệc hiểu và ghi nhớ bài của mình

- Nếu một bài dạy mà sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ yếu thì trước hết cầnghi lên bảng một dàn ý (cấu trúc nội dung bài thuyết trình) những điểm chính hoặc một loạt

Trang 11

các câu hỏi để định hướng hoạt động nhận thức của HS Trong khi thuyết trình, có thể diễncác nội dung chính vào dàn bài, sử dụng sơ đồ, biểu đồ… để giúp HS nắm bài tốt hơn, vì nó

-là phần trình bày trực quan để bổ sung vào phần trình bày bằng miệng của GV

- Hiệu quả của phương pháp thuyết trình không chỉ phụ thuộc vào việc GV nắm vữngcác yêu cầu của việc thực hiện phương pháp thuyết trình mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc

GV sử dụng thành thạo đến mức độ nào đó một kỹ thuật rất cần thiết cho thuyết trình Lờikhuyên bổ ích từ những nhà lí luận dạy học có kinh nghiệm là: Đừng nói quá nhanh và quánhiều; không nên đứng một chỗ khi thuyết trình; nên thay đổi cường độ, âm lượng giọng nói

e Ví dụ:

Bài 17 Lớp vỏ khí (địa lý lớp 6)

Sử dụng phương pháp thuyết trình để dạy học mục 3: các khối khí

- Bước 1 Mở đầu:

Định hướng nhận thức cho HS về nội dung thuyết trình bằng một số câu hỏi nêu vấn

đề như: Khối khí là gì? Vì sao các khối khí lại hình thành ở tầng đối lưu? các khối khí này cónhững điểm gì khác nhau?

- Bước 2: GV thuyết trình nội dung về các khối khí

+ Giáo viên nêu khái niệm khối khí và nguyên nhân hình thành các khối khí ở tầngđối lưu

+ Bằng con đường quy nạp, GV trình bày những điểm khác nhau của các khối khí vàgiải thích nguyên nhân:

Các khối khí trong tầng đối lưu được chia ra thành: Khối khí nóng, khối khí lạnh,khối khí đại dương và khối khí lục địa

* Các khối khí nóng được hình thành ở các vùng vĩ độ thấp, có nhiệt độ tương đốicao

* Các khối khí lạnh được hình thành ở các vùng vĩ độ cao, có nhiệt độ tương đối thấp

* Các khối khí đại dương được hình thành trên các biển và đại dương, có độ ẩm lớn

* Các khối khí lục địa được hình thành trên các vùng đất liền, có tính chất tương đốikhô

Sau khi nêu tính chất và nơi hình thành của từng loại khối khí, GV khái quát: nhưvậy, các khối khí có sự khác nhau về nhiệt độ và độ ẩm; nguyên nhân là do các khối khíđược hình thành ở những vùng vĩ độ khác nhau và bề mặt đệm bên dưới các khối khí là lụcđại hay đại dương

+ GV nêu câu hỏi để kích thích HS suy nghĩ trước khi tiếp tục thuyết trình nội dungkhác: Vậy các khối khí được hình thành ở các vùng vĩ độ thấp (hoặc vĩ độ cao) và trên lục

Trang 12

địa (hay trên đại dương) sẽ có tính chất như thế nào? các khối khí có quan hệ gì với thời tiết?tính chất của các khối khí có thay đổi hay không?

-GV tiếp tục thuyết trình và lần lượt giải quyết các vấn đề nêu ra Sau đó -GV lấy ví dụ

về ảnh hưởng của các khối khí đến thời tiết nước ta và sự biến tính của các khối khí để làmsáng tỏ mối quan hệ của các khối khí với thời tiết và cho thấy tính chất của các khối khí cóthể thay đổi so lúc ban đầu mới hình thành

- Bước 3: GV nếu yêu cầu HS đặt câu hỏi sau khi thuyết trình

Nếu HS không có câu hỏi ngược trở lại cho thấy, GV yêu cầu HS nêu những điểmchính trong nội dung phần thuyết trình

Căn cứ vào mức độ nhận thức của người học, có thể phân ra 3 loại đàm thoại: đàmthoại tái hiện, đàm thoại giải thích, minh họa và đàm thoại gợi mở (còn gọi là đàm thoạiorixtic hay đàm thoại tìm tòi - tái hiện)

Theo định hướng đổi mới PPDH nêu trên, trong quá trình sử dụng phương pháp đàmthoại, GV cần tăng cường sử dụng loại đàm thoại gợi mở và nâng cao chất lượng việc đặt câuhỏi

- Phương pháp đàm thoại gợi mở

Phương pháp này được sử dụng trong các giờ học nhằm dẫn HS đi tới những kiếnthức mới trên cơ sở tìm tòi, phát hiện với sự trợ giúp của hệ thống câu hỏi định hướng GVđưa ra

b Quy trình thực hiện:

- Bước 1: GV nêu mục đích và HS ý thức được mục đích của cuộc đàm thoại (hay nộidung cần tìm hiểu)

Trang 13

- Bước 2: GV nêu câu hỏi và HS tìm câu trả lời

- Bước 3: GV tóm tắt, uốn nắn các câu trả lời của HS và chốt kiến thức

c Ưu, nhược điểm:

- Ưu điểm:

+ Do hệ thống câu hỏi có trật tự lôgic chặt chẽ, có tác dụng hướng dẫn HS từng bướckhám phá, phát hiện ra bản chất của sự vật, hiện tượng nên phương pháp đàm thoại tìm tòi -phát hiện có ý nghĩa tích cực trong việc gaya hứng thú nhanạ thức và lôi cuốn sự tham giatích cực, tự lực vào việc giải quyết vấn đề đặt ra, HS được chủ động tham gia bài giảng chứkhông chỉ thụ động ngồi nghe từ đó nắm bài khá vững

+ Phương pháp này có khả năng kích thích HS tìm tòi một cách độc lập những kiếnthức mới nhờ những câu hỏi mà GV đặt ra

+ Tạo cho HS cách học năng động: Rất hiệu quả trong việc phát triển hiểu biết củaHS

+ Cung cấp tín hiệu phản hồi tức thì (Cho cả GV và HS): cho biết HS có thể hiểuđược vấn đề không, từ đó GV có thể kiểm tra và sửa lỗi cho HS

+ Khuyến khích phát triển kĩ năng tư duy ở cấp độ cao

- Nhược điểm:

+ Sử dụng phương pháp này mất khá nhiều thời gian và đây là một phương pháp khóvận dụng, nếu GV không có sự chuẩn bị và suy nghĩ đầy đủ thì cuộc đàm thoại sẽ trở thànhmột cuộc đối đáp hình thức, làm giảm sút hiệu quả giờ dạy

+ Nếu các câu hỏi soạn không tốt thì HS sẽ bị rối, không biết phải làm gì lãng phíthời gian

+ HS phải có kiến thức nền và có kĩ năng học tập bộ môn thì PPDH này mới có thànhcông

d Một số lưu ý

- Thực hiện phương pháp đàm thoại gợi mở không phải là tiến hành các câu hỏi và trảlời nối tiếp nhau một cách đơn thuần theo trình tự mà là theo một hệ thống có lựa chọn vàđược sắp xếp hợp lý GV cần nêu một câu hỏi lớn trước (câu hỏi khái quát), sau đó chia câuhỏi lớn ra thành một câu hỏi nhỏ hơn có quan hệ lôgic với nhau, tạo ra những cái mốc trên

"con đường" trả lời câu hỏi lớn

- Phương pháp này thực chất là cách dạy học khám phá, tìm tòi kiến thức mới cóhướng dẫn; nếu các câu hỏi gợi ý quá nhìêu, quá cụ thể thì HS cảm thấy mất đi cơ hội tựmình khám phá, ngược lại nếu ít câu hỏi gợi ý hoặc gợi ý không cụ thể thì có thể HS lại cảm

Trang 14

thấy khó có thể tự khám phá kiến thức mới Vì thế phải nắm được khả năng của HS trước khi

-sử dụng phương pháp này

- Nội dung các câu hỏi phải được soạn thảo sao cho phù hợp với trình độ của HS, sốlượng và tính chất phức tạp của các câu hỏi cần căn cứ vào tính chất phức tạp của đối tượng(nội dung, vấn đề) tìm hiểu và trình độ kiến thức, kỹ năng của HS tham gia vào cuộc đàmthoại

e Ví dụ minh hoạ:

Bài 19: Môi trường hoang mạc (Địa lý lớp 7)

- Bước 1: Mục đích của cuộc đàm thoại nhằm tìm hiểu sự phân bổ của các hoang mạctrên thế giới và nguyên nhân của sự phân bổ đó

- Bước 2: GV nêu câu hỏi lớn: Quan sát lược đồ hình 19 (SGK), cho biết các hoangmạc trên thế giới thường phân bổ ở đâu? Vì sao?

Các câu hỏi nhỏ:

1 Các hoang mạc thường phân bổ ở khu vực Xích đạo hay chí tuyến? ở gần hay xabiển?

2 Nơi phân bổ các hoang mạc là các đai áp cho hay áp thấp?

Gần các hoang mạc thường có các dòng biển nóng hay lạnh chảy qua?

3 Khi áp và các dòng biển đó đã có tác động như thế nào đến sự hình thành cáchoang mạc trên thế giới?

- Bước 3: GV tóm tắt và chốt kiến thức (sau phần trả lời của HS): Các hoang mạc trênthế giới thường phân bổ ở khu vực chí tuyến, khu khí áp cao, sâu trong lục địa hoặc gần nơi

có dòng biển lạnh chảy qua

Nguyên nhân: Các hoang mạc phân bổ ở khu vực chí tuyến, khu vực có khí áp cao lànơi có ít mưa, sâu trong lục địa nên ít chịu ảnh hưởng của biển, hoặc ven biển có các dòngbiển lạnh nên ít mưa

- Nâng cao chất lượng của việc đặt câu hỏi

Trong phong trào đổi mới PPDH địa lý, rất nhiều GV đã tích cực sử dụng phươngpháp đàm thoại nhằm tạo điều kiện để HS tích cực nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn và làmviệc nhiều hơn Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả của việc sử dụng phương pháp đàm thoạitrong dạy học địa lý ở nhiều trường THCS hiện nay còn chưa cao Trong nhiều bài học ở trênlớp, nhiều GV chỉ đưa ra những câu hỏi đơn thuần yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã học hoặcchỉ cần đọc kênh chữ trong SGK để trả lời, mà còn ít câu hỏi yêu cầu HS tư duy Ngược lại,trong không ít trường hợp GV lại đưa những câu hỏi quá khó, chung chung nên HS khó cóthể trả lời được

Trang 15

độ nào còn phải căn cứ vào số lượng học sinh.

1.3 Nhóm phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan.

Trong dạy học địa lý, việc sử dụng các phương tiện trực quan có một ý nghĩa lớn, bởi

vì HS chỉ có thể quan sát được một phần nhỏ các sự vật, hiện tượng địa lý trong tự nhiên;còn với phần lớn các sự vật, hiện tượng địa lý, HS không có điều kiện quan sát trực tiếp màchỉ có thể hiểu biết chúng bằng con đường nhận thức trên cơ sở phương tiện trực quan

Phương tiện trực quan trong dạy học địa lý là mô hình, biểu đồ, tranh ảnh treo tường,phim ảnh, băng video…

- Bước 1: Giới thiệu/ tìm hiểu về phương tiện trực quan

+ Nêu tên gọi của phương tiện trực quan (mô hình Trái đất chuyển động quanh mặttrời, bản đồ tự nhiên Việt Nam, tranh cảnh quan Bắc Cực…)

+ Tìm hiểu đối tượng, hiện tượng địa lý và cách thể hiện đối tượng, hiện tượng địa lýtrên mô hình, bản đồ, tranh ảnh…

- Bước 2: Quan sát các phương tiện trực quan và rút ra những đặc điểm thuộc tính,dấu hiệu của các đối tượng, hiện tượng địa lý; xác lập mối quan hệ giữa các đối tượng, hiệntượng địa lý

Trang 16

- Bước 3: Vận dụng kiến thức để thực giải thích đặc điểm của các đối tượng hiệntượng địa lý hoặc nêu biểu tượng, khái niệm địa lý trên cơ sở các đặc điểm, dấu hiệu, thuộctính của đối tượng địa lý được thể hiện trên các phương tiện trực quan

c Ưu điểm và nhược điểm:

- Ưu điểm:

+ Phương tiện trực quan giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách cụ thể: HS dễ dàng nắmbắt, nắm chắc được kiến thức qua quan sát và thao tác với các phương tiện trực quan; đồngthời qua đó HS được rèn luyện các kĩ năng của môn học và có được phương pháp nhận thức

+ Tạo hứng thú học tập cho HS và phát huy tính tích cực học tập của HS

+ GV có thể đổi mới PPDH trên cơ sở sử dụng các phương tiện trực quan

- Vận dụng phương pháp trực quan theo định hướng đổi mới, GV cần :

+Coi trọng chức năng la " nguồn kiến thức " của các phương tiện trực quan, khôngchỉ sử dụng các phương tiện trực quan để minh họa cho nội dung bài giảng

+ GV không là người " độc quyền " sử dụngcác phương tiện trực quan, mà phải là

người tổ chức, hướng dẫn HS khai thác kiến thức từ các phương tiện trực quan, đồng thời

qua dó rèn luyện kĩ năng địa lývà phương pháp tự học cho HS

+ Hướng dẫn HS sử dụng các phương tiện trực quan cần theo một quy trình hợp lí để

có thể khai thác tối đa kiến thức từ các phương tiện trực quan

- Phương pháp trực quan đòi hỏi GV dùng lời nối hướng dẫn HS quan sát, tìm ra kiếnthức qua các phương tiện trực quan ; vì vậy GV cần chuẩn bị kĩ càng các câu hỏi, hệ thốngcâu hỏi dẫn dắt HS quan sát và tự khám phákiến thức

- Với những phương tiện trực quan tương đối phức tạp GV cần thực hành sử dụngtrước để tránh sự lúng túng hoặc sơ suất khi hướng dẫn HS

1.2.1 Phương pháp sử dụng bản đồ

Bản đồ là một phương tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lí quan trọng Qua bản

đồ, HS có thể nhìn một cách bao quát những khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ

xa xôi trên bề mặt đất mà HS không có điều kiện quan sát trực tiếp

Ngày đăng: 09/07/2014, 20:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w