Tuy nhiêntrong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu nông sản trên thị trường trên thế giới khôngđồng nhất hoàn toàn qua các năm mà đã có sự thay đổi một cách căn bản đánga kể cùng với sự thay đổi v
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
- Nền nông nghiệp thế giới trong thế kỷ XX đã đạt được những thành tựuđáng kể về nhiều mặt, tạo đà lớn cho nền nông nghiệp hiện nay: diện tích gieotrồng, số đầu gia súc, năng suất cây trồng, vật nuôi, tổng sản lượng nông sản cácloại, đặc biệt là nông sản hàng hóa đều tăng lên rõ rệt Sản xuất nông nghiệp tăng
đã thúc đẩy mậu dịch nông sản trên thị trường quốc tế phát triển Tuy nhiêntrong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu nông sản trên thị trường trên thế giới khôngđồng nhất hoàn toàn qua các năm mà đã có sự thay đổi một cách căn bản đánga
kể cùng với sự thay đổi về nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay Đâychính là vấn đề luôn được quan tâm, đánh giá cao của các chuyên gia kinh tế cácnước
- Nước ta đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp, nên hoạt động nông nghiệp có
ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước Cho đến nayvai trò, ý nghĩa đó vẫn còn nguyên giá trị Mặc dù nứoc ta đang thực hiện côngcuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng hoạt động nông nghiệp vẫn luôn đượccoi trọng và quan tâm hàng đầu
- Hoạt động nông nghiệp đã đóng góp giá trị lớn trong sản phẩm quóc dân.Trong những năm qua mặt hàng nông sản của nước ta đã được xuất khẩu ra thịtruờng thế giới ngày càng nhiều và đem lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên cùngvới xu thế thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu nông sản trên thế giới hiện nay,Việt Nam cần phải có sự thay đổi để phù hợp với nhu cầu thị hiếu của thế giới,phù hợp vơi xu thế hiện nay trên thị trường thế giới hiện nay Trước tình hình đó,trong sản xuất nông nghiệp, chúng ta không chỉ chú trọng đến việc đa dạng hóasản phẩm nông nghiệp mà còn chú trọng đến chất lượng sản phẩm để tăng tínhcạnh tranh trên thị trường thế giới
- Để cạnh tranh trên thị trường thế giới ta cần chú ý đến việc thay đổi mặthàng trên thị trường, vị đây là yếu tố vô cùng quan trọng khi tham gia vào thịtrường thế giới, chính yếu tố này đem lại một phần không nhỏ cho sự thành côngcủa mặt hàng
- Hiện nay, vấn đề xuất khẩu nông sản của nước ta tren thị trường thế gớituy bước đầu đã gặt hái được những thành công nhất định, nhưng vẫn còn một số
Trang 4vấn đề cần quan tâm, cầ xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo sự cạnh tranh trên thịtrường thế giới, đặc biệt là những thị trường khó tính.
Chính vì vậy mà “Những thay đổi căn bản trong cơ cấu mặt hàng xuấtkhẩu nông sản của Việt Nam trên thị trường thế giớia hiện nay” được chọn làm
đề tài nghiên cứu
II Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích thấy được sự phát triển mạnh mẽ vànhững thành tựu to lơn mà nền nông nghiệp thế giới đem lại Đồng thời nhậnthấy được sự thay đổi cơ cấu trong mặt hàng xuất khẩu nông sản của thế giới vànhững tác động của nó đến mặt hàng nông sản Việt Nam Song song với điều đó
ta cũng nhận thấy sự thát triển trong ngành nông nghiệp của nước ta, các thànhtựu của mặt hàng nông sản đem lại Mặt hàng nông sản của nước ta đã đạt đượcnhiều thành tựu to lớn, song không nằm ngoài quy luật, mặt hàng nông sản củanước ta chịu ảnh hưởng lón của mặt hàng nông sản thế giới Trước sự cạnh tranhgay gắt trên thị trường thế giới, mặt hàng nông sản chúng ta gặp không ít nhữngkhó khăn, làm cản trở sự phát triển của mặt hàng nông sản Việt Nam trên thịtrường thế giới
Do đó nghiên cứu đề tài để thấy được sự chuyển biến cơ cấu mặt hàngnông sản của ta trên thị trường nông sản thế giới, những thuận lợi, những khókhăn Từ đó đưa ra những giải pháp, những định hướng đúng đắn để đưa mặthàng nông sản chúng ta đi lên có đủ sứ cạnh tranh trên thị trường thế giới
III Giới hạn đề tài
Với đề tài này, chỉ tập trung nghiên cứu một vấn đề nhỏ trong nền nôngnghiệp nhưng không kém phần quan trọng Nội dung nghiên cứu của đề tài tậptrung vào những thay đổi căn bản trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu nông sản củaViệt Nam hyiện nay Tuy nhiên đề tài còn đề cập đến một số khía cạnh liên quannhư: khái niệm mặt hàng nông sản, vai trò đặc điểm và những nhân tố ảnh hưởngđến sản xuất mặt hàng nông sản, cơ cấu mặt hàng nông sản trên thị trường thếgìới và tác đọngcủa nó đến mặt hàng nông sản Việt Nam…Đây là nhừng khíacạnh tiền đề trong nghiên cứu đề tài
IV Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu
- Phương pháp sử dụng bản đồ
Trang 5- Phân tích số liệu thông kê.
- Phương pháp biểu đồ, dồ thị
PHẦN B: NỘI DUNG
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
I KHÁI NIỆM MẶT HÀNG NÔNG SẢN
Nói đến nông sản, trước hết đó là sản phẩm của ngàng nông nghiệp, làsản phẩm sự hợp thành của trồng trọt và chăn nuôi Theo nghĩa rộng bao gồm cảsản phẩm của lâm nghiệp và nge nghiệp
Các sản phẩm của nông nghiệp gồm lương thực thực phẩm, cây côngnghiệp, thủy hải sản Các sản phẩm này khi đem ra trao đổi trên thị trường lạ trởthành mặt hàng quan trọng đem lại hiệu quả kinh tế cao, đóng góp khong nhỏvào kim ngạch xuất khẩu của đất nước mà Việt Nam là một minh chứng
Như vậy, thực chất mặt hàng nông sản là những sản phẩm của ngànhnông nghiệp khi đem ra trao đổi trên thị trường trong va ngoài nước dưới mọihình thức
II VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA MẶT HÀNG NÔNG SẢN
1 Vai trò của mặt hàng nông sản
Từ khi ra đời đến nay, với tư cách là sản phẩm của ngành nông nghiệp,mặt hàng nông sản luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tếnói chung và đảm bảo sự sinh tồn của loài người nói riêng Ănghen đã khẳngđịnh: nông nghiệp là ngành có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ thế giới cổ đại
và hiện nay nông nghiệp lại càng có ý nghĩa to lớn
Nông nghiệp không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho conngười, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàngtiêu dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất ranhững mặt hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ Hiện tại cũngnhư trong tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triểncủa xã hội loài người, không ngành nào có thể thay thế được Trên 40% số laođộng trên thế giới đang tham gia vào hoạt động nông nghiệp Đảm bảo an ninhlương thực là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia, góp phần ổn định chính trị,phát triển nền kinh tế
Trang 6 Đối với Việt Nam,là đất nước xuất phát từ nền nông nghiệp lạc, lại lànước có dân số đông, hơn 80% dân số là nông nghiệp Việc giải quyết vấn đềlương thực thực phẩm cho số dân đông là vô cùng cần thiết và luôn được đặt lênhàng đầu Muốn pt kinh tế trước hết phải giải quyết tốt vấn đề lương thực, thựcphẩm và điều kiện sống cho nhân dân Đồng thời tỉ trọng ngành nông nghiệp vẫncòn chiếm phần lớn trong ngành kinh tế
Do vậy, mặt hàng nông sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự ptkinh tế đất nước
2 Đặc điểm của mặt hàng nông sản
- Là sản những phẩm của ngành nông nghiệp
- Sản xuất mặt hàng nông sản được tiến hành trên phạm vi khong gianrộng lớn, gắn chặt với môi trường tự nhiên Đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản,môi trường tự nhiên, đặc biệt là khí hậu , nguồn nước, thổ nhưỡng là những tàinguyên tác động mạnh và thường xuyên đến sự sản xuất và phân bố của nhữngmặt hàng nông sản Vì vậy, muốn phát triển và phân bố hợp lí hoạt động sản xuấtcũng như các mặt hàng nông sản tốt nhất
- Sản phẩm mặt hàng nông sản chịu tác động mạnh mẽ của thị trường
- Mặt hàng nông sản đồi hỏi phải có cơ sở kỹ thuật chế biến tốt cũng nhưquá trình bảo quản
- Là sản phẩm của ngành nông nghiêp nên nó cũng mang tính thời vụ
- Cần phải gắn với các ngành công nghiệp chế biến, và tiêu thụ nông sản
III NHỮNG NHHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT VÀ PHÂN BỐ
là đất, nước và khí hậu Chúng sẽ quyết định khả năng nuôi trồng các loại cây,con cụ thể trên từng lãnh thổ, khả năng áp dụng các quy trình sản xuất nôngnghiệp, đồng thời có ảnh hưởng lớn đền năng suất cây trồng, vật nuôi
Trang 7a Đất đai
Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng trọt, chănnuôi Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu,năng suất và sự phân bố cây trồng, vật nuôi Đất nào, cây ấy Kinh nghiệm dângian đã chỉ rõ vai trò của đất đối với sự phát triển và phân bố nông nghiệp
Nguồn tài nguyên đất nông nghiệp trên thế giới rất hạn chế, chỉ chiếm12% diện tích tự nhiên, trong khi số dân vẫn không ngừng tăng lên Tuy diệntích đất hoang hoá còn nhiều, nhưng việc khai hoang, mở rộng diện tích đất nôngnghiệp rất khó khăn, đòi hỏi nhiều công sức và tiền của Đó là chưa kể đến việcmất đất do nhiều nguyên nhân như xói mòn, rửa trôi, nhiễm mặn và chuyển đổimục đích sử dụng Vì vậy, con người cần phải sử dụng hợp lí diện tích đất nôngnghiệp hiện có và bảo vệ độ phì của đất
b Khí hậu và nguồn nước
Khí hậu và nguồn nước có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc xác định cơ cấucây trồng, thời vụ, khả năng xen canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp
ở từng địa phương Sự phân chia các đới trồng trọt chính trên thế giới như nhiệtđới, cận nhiệt, ôn đới và cận cực liên quan tới sự phân đới khí hậu Sự phân mùacủa khí hậu quy định tính mùa vụ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Các điều kiện thời tiết có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy sự phát sinh vàlan tràn dịch bệnh cho vật nuôi, các sâu bệnh có hại cho cây trồng Những taibiến thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán, bão… gây thiệt hại nghiêm trọng cho sảnxuất nông nghiệp Chính điều này làm cho ngành nông nghiệp có tính bấp bênh,không ổn định
c Sinh vật
Sinh vật với các loài cây con, đồng cỏ và nguồn thức ăn tự nhiên là cơ sở
để thuần dưỡng, tạo nên các giống cây trồng và vật nuôi, cơ sở thức ăn tự nhiêncho gia súc và tạo điều kiện cho phát triển chăn nuôi
2 Các nhân tố kinh tế - xã hội
Các nhân tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quan trọng tới phát triển vàphân bố nông nghiệp
a Dân cư và nguồn lao động
Trang 8Dân cư và nguồn lao động ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp ở haimặt: vừa là lực lượng sản xuất trực tiếp vừa là nguồn tiêu thụ các nông sản Cáccây trồng và vật nuôi cần nhiều công chăm sóc đều phải phân bố ở những nơiđông dân, có nhiều lao động Truyền thống sản xuất, tập quán ăn uống của cácdân tộc có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phân bố cây trồng, vật nuôi.
b Các quan hệ sở hữu ruộng đất
Các quan hệ sở hữu ruộng đất có ảnh hưởng rất lớn tới con đường pháttriển nông nghiệp và các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp Việc thay đổiquan hệ sở hữu ruộng đất ở mỗi quốc gia thường gây ra những tác động rất lớntới phát triển nông nghiệp
c Tiến bộ khoa học – kỹ thuật
Tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong nông nghiệp thể hiện tập trung ở cácbiện pháp cơ giới hoá (sử dụng máy móc trong các khâu làm đất, chăm sóc vàthu hoạch), thuỷ lợi hoá (xây dựng hệ thống kênh tưới tiêu, hoặc áp dụng tướitiêu theo khoa học), hóa học hoá (sử dụng rộng rãi phân hoá học, thuốc trừ sâu,diệt cỏ, chất kích thích cây trồng…), điện khí hoá (sử dụng điện trong nôngnghiệp), thực hiện cuộc cách mạng xanh (tạo ra và sử dụng các giống mới cónăng suất cao) và áp dụng công nghệ sinh học (lai giống, biến đổi gen, cấymô…)
Nhờ áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, con người hạn chếđược những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, chủ động hơn trong hoạt độngnông nghiệp, nâng cao năng suất và sản lượng
d Thị trường
Thị trường tiêu thụ có tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp và giá
cả nông sản Thị trường còn có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành và pháttriển các vùng chuyên môn hoá nông nghiệp Xung quanh các thành phố, cáctrung tâm công nghiệp lớn ở nhiều nước trên thế giới đều hình thành vành đainông nghiệp ngoại thành với hướng chuyên môn hoá sản xuất rau, thịt, sữa,trứng cung cấp cho nhu cầu của dân cư
Ngoài ra, đường lối chính sách phát triển kinh tế nói chung, phát triểnnông nghiệp nói riêng cũng có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp
Trang 9CHƯƠNG II
CƠ CẤU MẶT HÀNG NÔNG SẢN TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN MẶT HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM I.TÌNH HÌNH NÔNG SẢN TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
Thế giới hiện nay đang phát triển với mức độ chóng mặt Mỗi quốc gia,khu vực đều tìm cho mình hướng đi đúng đắn, phù hợp để vừa có thể nâng caotổng sản phẩm quốc dân, vừa nhanh chóng hòa nhập với bước đi chung của thờiđại Có lẽ nảy sinh từ yếu tố đó mà từ lâu, xu thế mở cửa, hội nhập đã trở thànhcon đường đi chung của các nước Các hoạt động về thị trường xuất nhập khẩutrong nước, thế giới hiện đang được khai thác một cách triệt để hơn bao giờ hết.Theo con số thống kê mới nhất chỉ trong khoảng 13 năm đầu thế kỷ, kim ngạchxuất nhập khẩu thế giới đã tăng lên 200 lần Đứng đầu là các quốc gia: Mĩ, NhậtBản, tiếp theo đó là quá trình bất phá ngoạn mục của các nước trong cộng đồngkinh tế ASEAN Tính đến cuối tháng 11 năm 1999 ASEAN đạt kim ngạch xuấtnhập khẩu lên tới 322.7 tỉ USD, trong đó Singapo là nướ dẫn đầu với 110 tỉUSD, tiếp theo là Malaixia với 76.9 tỉ USD Không chỉ dừng lại ở đó, các liênminh như: liên minh châu Âu EU, các tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á –Thái Bình Dương APEC, các khối mậu dịch tự do NAFTA được ra đời nhằmgắn chặt hơn nữa thị trường liên minh hợp tác quốc gia, khu vực Các mặt hàngtrên thị trường cũng hết sức phong phú, đa dạng, nâng dần về chất lượng, mẩu
mã sản phẩm nhờ áp dụng thành tựu khoa học một cách triệt để vào trong quytrình sản xuất Sự tăng giảm về tỷ trọng giữa các ngành hay bản thân mỗi ngànhđều thay đổi mà ngành nông nghiệp khômg thể lệch khỏi quỹ đạo chung của thịtrường Vốn được coi là thị trường truyền thống bởi lịch sử hình thành, phát triểnlâu đời gắn chặt với lịch sử phát triển của xã hội loài người Thịn trường nôngsản hiện nay đang thu được những thành tựu đáng kể Điều đó được chứng minhqua bảng số liệu sau:
Trang 10Bảng1: Chỉ số phát triển nông nghiệp thế giới (%)
Nông nghiệp thế giới có tăng và luông giữ mức ổn định qua các năm:91.3%(1985) đến 108.5%(1995) Điều này được giải thích bởi nguyên nhân nềnnông nghiệp luôn nhận được sự ưu đãi, quan tâm đầu tư thích đáng của nhànước, hơn nữa khi khoa học – kỹ thuật phát triển đã trở thành lực lượng sản xuấttrực tiếp, không thể thiếu, các biện pháp sinh học, hóa học, cơ điện nhằm đooirmới các đối tượng tác động của sản xuất nông nghiệp: đất đai, cây trồng, vậtnuôi, đổi mới các vật tư nông nghiệp như phân bón, thức ăn gia súc, các công cụ,máy móc, thiết bị kèm theo đổi mới công nghệ sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêuthụ nông sản làm cho năng xuất cây trồng, vật nuôi tăng nhanh Tuy nhiên, bêncạnh đó điều đáng quan tâm ở đây chính là những biến động về các mặt hàngnông nghiệp xuất khẩu hiện nay, bức tranh toàn cảnh về thị trường nông sản là
sự thể hiện của các đặc điểm xu hướng trong:
Trang 11II NHỮNG THAY ĐỔI CĂN BẢN TRONG CƠ CẤU MẶT HÀNG
NÔNG SẢN
1 Lương thực, thực phẩm
Sở dĩ đề cập đến vấn đề này đầu tiên bởi nhận thấy tầm quan trngj của nó,Enghel đã từng nói: “Trước hết con người cần phải sống và ở, mặc trước khinghĩ đến chuyên làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo” Thực tiễn lịch sử
đã chứng minh quan điểm đúng đắn trên Một quốc gia thực sự được coi là pháttriển khi đã đảm bảo được vấn đề an toàn về lương thực, con người muốn có sứckhẻ tốt, sức lao động bền bỉ, giúp cho quá trình tái sản xuất trí tuệ phất triển thìtrong cơ cấu bữa ăn cần đảm bảo chất và lượng cũng xuất phát từ tính chất đặcbiệt quan trọngcủa vấn đề lương thực, thực phẩm nên 4 tháng sau khi ra đời Liênhợp quốc đã thành lập tổ chức nông nghiệp thực phẩm FAO nhằm giải quyết vấn
đề ăn cho nhân lọai, đay chính là vấn đề mà bất cứ quốc gia nào cũng dành sự ưutiên về nguồn lực để tìm cách tổ chức sản xuất, sản lượng, diện tích, bình quânđầu người về lương thực, thực phẩm (Bảng)
Cơ cấu lương thực gồm:
- Cây lúa mì: là cây trồng cổ nhất của các dân tộc thuộc chủng tộcƠrôpêôit, vào thế kỷ XVI lúa mì trở thành cây lương thực của thế giới nên hiệnnay hầu như lúa mì được gieo trồng hầu như ở khắp các quốc gia trên thế giới vàthu hoạch quanh năm
Diện tích lúa mì dạt khoảng 230 triệu ha, sản lượng 582 triệu tấn (1999),các nước sản xuất luấ mì nhiều nhất trên thế giới la Trunhg Quốc, Hoa Kì, Ấn
Độ chiếm ½ sản lượng lúa mì trên thế giới
Năng suất bình quân trên toàn thế giới lá 2,5 triệu tấn/ha, nước cao nhất là8,003 tấn, Anh 7,2 tấn, Pháp đạt 6,4 tấn
- Cây lúa nước
Gắn liền với nền văn minh của một số cộng đồng người, là cây trồngthuộc miền khí hậu cận nhiệt và nhiệt đới Hiện nay, Châu Á gió mùa là vùngtrồng lúa quan trọng nhất Trong đó có một số nước sản xuất với sản lượng lớn,giữ vai trò quan trọng như: Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Việt Nam chiếm 9/10sản lượng lúa của thế giới
Diện tích lúa nước đạt khoảng 150 triệu ha, sản lượng hàng năm đạt 573triệu tấn (1999), năng suất bình quân 3,55 tấn/ha
Trang 12Các quốc gia xuất khẩu nhiều gạo trên thế giới như: Hoa Kì, Thái Lan,đặc biệt là Viẹt Nam từ một nước nhập khẩu gạo (trước 1975), đã trở thành mộttrong ba nước xuất khẩu gạo nhiều nhát trên thế giới, góp phần nâng cao tổngsản phảm quốc dân.
- Cây ngô
Là cây lương thực cổ nhất của người da đỏ, vào thế kỷ XV, ngôđược mang sang Tây Ban Nha, sau đó lan dần sang châu Âu, châu Á, châu Phi,ngô phát triển mạnh trong điều kiện nhiều nhiệt, nước của vùng khí hậu chítuyến và cận chí tuyến
Trên thế giới năm 1999 có khoảng 140 triệu ha trồng ngô, sản lượng đạt
595 triệu tấn, trong đó Hoa Kì chiếm đến 40,7%
Cùng với lương thực, thực phẩm trong những thập niên lại đay cũng gặthái được nhiều thành tựu, hàm lượng dinh dưỡng trong cơ cấu bữa ăn của ngườidân cũng nhờ đó mà tăng lên rõ rệt, điều đó được thể hiện như sau:
- Ngành chăn nuôi trâu bò
Tổng số trâu bò trên thế giới năm 1999 là 1320 triệu con, trong đó có 152triệucon trâu, Ấn Độ đứng đầu thế giới về số lượng trâu bò, chiếm 18% tổng sốđàn trâu bò thế giới, tiếp đó là Hoa Kì với hàm lượng khoa học kĩ thuật cao vàoloại bậc nhất, Hoa Kì đã tận dụng một cách triệt để vào các khâu chăn nuôi: thức
ăn, máy móc, kĩ thuật chế biến nên cũng thật dễ hiểu khi quốc gia này luôn đứngđầu thị trường thế giới sản phẩm chăn nuôi đặc biệt là sữa
- Ngành chăn nuôi lợn
Lợn là nguồn cung cấp chất đạm chủ yếu cho con người trong bữa ăn nhất
là đối với các nước phương đông, do đó nhu cầu về thịt lợn trên thị trường khácao Qua quá trình so sánh, người ta đã rút ra được rằng: nhu cầu thịt lợn đạtmức tương đương với nhu cầu thịt trâu bò Chăn nuôi lợn gắn liền với các vùngthâm canh cây lương thực, các xí nghiệp công nghiệp thực phẩm, vì vậy lợnđược nuôi chủ yếu ở vùng ngoại thành
Trung Quốc là nước nuôi nhiều lợn nhất thế giới, chiếm khoảng 39% đànlợn của thế giới, tiếp theo là các nứoc Chai na, Hoa Kì, Brazil, các nước tây Âu
- Ngành chăn nuôi gia cầm
Bên cạnh phát triển ngành chăn nuôi đại gia súc lớn, ngáy nay việc chănnuôi gia cầm theo hướng lấy thịt, trứng có tính chất thâm canh, chuyên môn hóa
Trang 13cũng được chú trọng Sự áp dụnh các kĩ thuật mới và sự nhất thể hóa theo chiềudọc giữa các ngành sản xuất thức ăn gia cầm là nguyên nhân chính khiến sảnlượng ngàng chăn nuôi gia cầm tăng đột biến trong vài năm trở lại đây, theo con
số ước tính mỗi năm ngành cung cấp cho thế giới khoảng 18 triệu tấn trứng, 41triệu tấn thịt, các quốc gia đứng đầu là: Hoa Kì, Đức, Anh, Pháp
Nếu xét một cách toàn diện, thì diện tích, sản lượng lương thực, thựcphẩm vẩn tăng nhưng nếu so sánh với các mặt hàng trong cơ cấu hàng hóa vậtchất trên thế giới thì tỉ trọng giảm mạnh
Đây chính là mâu thuẫn biện chứng trong ngành lương thực thực phẩm,giải thích nguyên nhân của hiện tượng này như sau:
Mức sống của thế giới tăng nhanh, nhu cầu của người dân càng trở nênkhắt khe đối với các mặt hàng, do vậy thị trường lương thực thực phẩm tăngchậm hơn so với các ngành khác
Bên cạnh đó chính sách coi trọng nông nghiệp ở các nước kinh tế pháttriển và đang phát triển được thực thi từ lâu, nên bản thân mỗi quốc gia có khẳnăng tự lo cho mình về lương thực , thực phẩm nên khiến nhu cầu buôn bán mặthàng này giảm Theo đánh giá sơ bộ bán gạo toàn cầu giảm 14% so với năm
1998, hơn thế nữa trong 10 năm trở lại đây, nông nghiệp của các nước Đông Âu,
EU phát triển rất nhanh, Pháp tự túc 100% nhu cầu nhiều loại thực phẩm, Anh
tự túc được 82% nhu cầu về thịt
Mặt khác do tình hình cung cấp lương thực, thực phẩm ở nhièu mặt hàngvượt cầu khiến giá cả nhiều loại lương thực, thực phẩm giảm, thạm chí mất giánên kim ngạch ngành này giảm rỏ rệt
Trên là 3 nguyên nhân cơ bản để lí giải dhiện tượng suy giảm của ngànhlương thực thực phẩm, đồng thời nó cũng là lời dự báo xu thế ngành trên thịtrường xuất khẩu trong những năm tiếp theo
2 Cây công nghiệp
Mặc dầu được phát hiện sau cây lương thực, nhưng những sản phẩm từcây công nghiệp ngay từ khi bó ra đời đã nhanh chóng tạo cho mình một thếđứng vững chắc trên thị trường Điều này càng được khẳng định đúng dần khihiện nay những nhu cầu trong đới sống sinh hoạt như đồ uống, may mặc trởthành nhu cầu không thể thiếu của người dân Lấy vídụ điển hình như khi mứctiêu thụ cà phê trên thế giới, các chuyên gia kinh tế trên thế giới đã thống kê cho
Trang 14tới 1980 nhật Bản đã có 46% dân số uống cà phê, một con số đáng kinh ngạchơn khi Thuụy Điển mức tiêu thụ cà phê trên đầu người/năm là 13,5kg, PhầnLan:12,8kg, Mĩ: 6,2kg, Đức: 5,5kg Do đó tại các nước song song với việc mởrộng diện tích, nâng cao sản lượng để một mặt có thể đáp ứng nhu cầu trongnước, một mặt đang không ngừng mở rộng phạm vi thị trường xuất khẩu ra cácnước khác để thu nguồn ngoại tệ lớn Đây là tiềm lực của các nước mà thiênnhiên ưu đãi luôn luôn đẩy mạnh khai thác Chúng ta sẽ xét một số thị trườngcủa một số loại cây công nghiệp sau:
Thị trường cà phê phải nói là rất biến động, sự kiện lớn nhất gần đây là sựđình chỉ của hệ thống Lôfa xuất khẩu của CIA 7.1989 đã làm cho giá cà phê thếgiới giảm từ 2230 USD/tấn (5.1989), xuống còn 1050 USD/tấn (1992), việcgiảm giá này làm giảm mạnh thu nhập xuấtkhẩu của các nước xuất khẩu cà phê.Riêng năm 1990 tổng mức giảm thu nhập từ xuất khẩu cà phê của các nước xuấtkhẩu cà phê vào khoảng 4 tỉ USD
Chuyển sang năm 1999, giá cà phê lại tăng mạnh 27.6.1994, giá cà phê
kỳ hạn trên thị trường luôn đạt mức kỉ lục trong vòng 7 năm Giá cà phê kì hạntháng 9 lúc đóng của là 2848 USD/tấn, tăng 595 USD/tấn so với tháng 5.1994
Sự dao động này được giải thích bằng nguyên nhân đó là do Brazil là nước xuấtkhẩu cà phê lớn nhất thế giới, sản lượng càphê Brazil chiếm 30% sản lượng càphê thế giới, nhu cầu của các nước công nghiệp đã và sẽ ổn định Vì vậy triểnvọng của trên thị trường cà phê thế giới sẽ phụ thuộc chặt chẽ vào cu hướngtrong tương lai và sự dao động của sản lượng cà phê của Brazil, và xu thế cầucủa Đông Âu và các nước đang phát triển Thương mại của thế giới đã dự đoántrong những năm sắp tới, mức tăng của cà phê chỉ ở một con số khá khiêm tốn là1,4%/năm
Trang 15Có thể nói những biến động đã, đang và sẽ diễn ra trên thị trường xuấtkhẩu cà phê thế giới, đã tác động khá mạnh đến cà phê Việt Nam, bởi cà phêđược coi là mặt hàng xuất khẩu chính, mạnh của nước ta – một trong 8 nước cómức xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới.
Bảng 4: Tỷ lên kim ngạch xuất khẩu cà phê so với tổng kim ngạch xuất
khẩu của cả nước
vệ môi trường dến năm 2000, 2010 mà Đảng, chính phủ cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam đề ra
- Cây cao su
Là một cây thân thuộc mọc nhiều ở lưu vực sông Amazôn như: Brazil,Côlômbia, Nêvêzuêla, Pêru Cuối thế kỷ XIX, dầu thế kỷ XX, cây cao su bắt đầuđược chú ý khi công nghiệp ôtô xuất hiện theo số liệu năm 1999 sản lượng cao
su 6.3 triệu tấn, trong đó khoảng 90% sản lượngn cao su thược các nước ĐôngNam Á, Maixia:1,9 triệu tấn, Inđônêxia: 1,4 triệu tấn, diện tích trồng cao su mởrộng đến 3 triệu ha Ngày nay, diễn ra xu hướng sản lượng cao su tổng hợp luônvượt cao su tự nhiên Điều này cũng thật dễ hiểu bởi trong thời đại máy móc,công nghệ thông tin bùng nổ, việc tìm ra các hợp chất tổng hợp như nhựa(platsti), số lượng ôtô bình quân trên đầu người tăng nhanh ( Mĩ gần 3 ôtô/người)
Trang 16khiến các công ty cao su lần lựot mọc lên như nấm, một số công ty còn mangtính chất xuyên quốc gia.
Ngoài ra, còn thị trường của một số loại cây như bông, mía,… sự thay đổimang phạm vi nhỏ hơn mang tầm quốc gia, khu vực, xu hướng tăng chung
3 Thủy hải sản
Thủy hải sản là nguồn prôtêin có vị trí đặc biệt trong thực phẩm của conngười, việc sản xuất và khai thác nguồn tài nguyên này được tiến hành dở sông
hồ, không tranh chấp với diện tích canh tác của đất trồng trọt
Biển chiếm 72% diện tích của trái đất nhưng đến nay nó mới chỉ cung cấp
1 -2% thức ăn cho con người thế nên đây được coi là tiềm năng lớn nhất của conngười trong tương lai
Từ năm1950 – 1970 sản lượng hải sản đánh bắt tăng 77%, đạt 75 triệutấn/năm
Sản lượng cá toàn thế giới năm 1986 đạt 86.6 triệu tấn, đến năm 1996 đạt112.9 triệu tấn Trông đó Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản lượng cá.1992: 15 triệu tấn
1993: 17.57 triệu tấn
1996: 24.42 triệu tấn
Nhưng sản lượng bình quân trên đầu người cao nhất là Pêru: 405kg/người.Năm 1995, sản lựong tôm của thế giới đạt 2.6 triệu tấn, trong đó Châu Á:
558000 tấn, Thái lan là nước đứng đầu thế giới về sản lượng tôm: 220800 tấn
Biển Đông Nam Á là một trong những khu vực giàu hải sản, hàng nămđánh bắt hơn 7 triệu tấn cá, trị giá 6.3 tỷ USD, nhờ đó mà tốc độ phát triển kinh
tế cao, taọp nên một cuộc bứt phá ngoạn mục trong năm 1999
Đi đôi với việc khai thác thủy hải sản, nhiều nước còn tận dụng diện tíchmặt nước để nuôi trồng vì đây là nguồn lợi lớn chưa được khai thác Những nướcdẫn đầu hiện nay là Nhật Bản, Pháp, Mĩ Dựa trên tính nămg linh hoạtcủa việcnuôi trồng, người ta đã thực hiện phép so sánh sau: nếu như trên một ha mặt đấtchỉ sản xuất được 300 kg thịt bò hoặc 2 tấn thịt gà trong vòng 1 năm, còn trênmột ha mặt nước sản xuất được 200 – 210 tấn thủy sản/ năm, nếu lấy chi phí đểsản xuất 1 tấn thịt lợn là một đơn vị thì một tấn nhuyễ thể biển như tôm chỉ cần0.24 đơn vị, cá hồi nước ngọt chỉ cần 0.43 đơn vị
Trang 17Bởi thế, chỉ ngay trong thập niên 80, 90 công nghiệp nuôi trồng thủy hảisản phát triển nhanh chóng chẳng thua kém gì công nghiệp điện tử, ddatj mứctăng trưởng trong thời kỳ 1985 -1990 là 15%/năm và giá trị tổng sản lượng thủyhải sản nuôi trồng tăng từ 12 đến 19 tỷ USD, đến năm nay giá trị mậu dịch cácsản phẩm hàng năm trên thị trường đạt 25tỷ USD.
Nếu so với lương thực, cây công nghiệp thì thủy hải sản có sự tăng đáng
kể về tỷ trọng nhất là các mặt hàng thông qua chế biến
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, thuận lợi của thị trường này, thì việcnảy sinh những mặt tiêu cực, khó khăn là điều không thể tránh khỏi Cụ thể làviệc thị trường giá cả, sự thống nhất giá cả giữa các nước chưa được xử lí hòntất,… dẫn đến việc bất đồng mà các nước yếu thế luôn phải nhận sự thiệt thòi,điển hình như năm 2003, với vụ kiện cá tra, cá basa giữa Mĩ, Việt Nam Mĩ chorằng Việt Nam đã bán phá giá trên thị trường buộc Việt Nam phải ngừng ngayviệc xuất khẩu loại cá này sang thị trường của Mĩ, cũng như thị trường thế giới,khiến giá cá basa Việt Nam trượt dốc nghiêm trọng, nhà nước thiệt hại hàngchục tỷ đồng Do đó, cần có một tổ chức quốc tế can thiệp đưa ra những quyếtđịnh về việc thống nhất thị trường giá cả để giữa các nước có sự bình đẳng trongquan hệ hiệp thương với nhau Đây cũng là mang muốn kỳ vọng không chỉ củangười dân Việt Nam mà còn của các nước trên thế giới
III ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN THẾ GIỚI VÀ
NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM
1 Ưu điểm
Nhìn chung thị trường nông sản là thị trường truyền thống, thuần nhất, nênmặc dù trong khi thị trường đầy rẩy những khó khăn, biến động thì thị trườngnày vẫn giữ được vị trí nhất định
Gắn liền với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, nên khi đời sống của
xã hội ngày càng nâng cao, thì mặt hàng này đòi hỏi phải không ngừng đổi mớitheo bề ngang, sâu
2 Nhược điểm
Vấn đề nổi cộm nhất trong thị trường xuất khẩu nông sản đó là giá cả, tuynhiên điều đáng mừng khi vấn đề này phần lớn được giải quyết
3.Tác động đến Việt Nam
Trang 18Với xu thế thị trường nông sản của thế giới hiên nay, sẽ có tác đông rất lớnđến thị trường nông sản Việt Nam.
a Tác đông tích cực
Đây là điều kiện để Việt Nam gia nhập thị trường thế giới, hàng nông sảnViệt Nam sẽ đựơc quảng bá rộng rãi Tạo điều kiện cho Việt Nam đa dạng hóasản phẩm mặt hàng nông sản, có cơ cấu mặt hàng thống nhất, đem lại hiệu quảkinh tế cao Đồng thời tạo điều kiện cho Việt Nam quan hệ với các nước trên thếgiới, quen với các thị trường lớn đặc biệt là các thi trường khó tinh như: TrungQuốc, Nhật Bản, Pháp…
b Tác động tiêu cực
Trong thế cạnh tranh của thị trường công với sự thay đổi của cơ cấu mặthàng nông sản thế giới, sẽ đem lai cho ta không ít khó khăn: Hàng của ta chủ yếuvẫn còn ở loại chưa tinh chế, kỹ thuật chưa cao, nên dễ bị lép vế trên thị trường,thực tế trong những năm qua giá mặt hàng nông sản của nước ta đã có sự giảmsút, trong nhiều mặt hang Thay đổi theo thị trừong thế giới vẫn còn là điểmnóng đối với chúng ta Do đó ta không ngừng thay đổi để đi kịp với xu thế củathế giới
CHƯƠNG III NHỮNG THAY ĐỔI CĂN BẢN TRONG CƠ CẤU MẶT HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI HIỆN NAY
I NHỮNG CƠ SỞ NỀN TẢNG
Thứ nhất, sự gia tăng dân số là một thách thức lớn đối với nền kinh tế thế
giới và đối với vấn đề an ninh lương thực toàn cầu nói riêng Theo dự báo củaLiên Hợp Quốc, dân số thế giới sẽ tăng thêm 2,5 tỷ người vào năm 2020, trong
đó riêng Châu á là 1,5 tỷ Điều này sẽ làm tăng đáng kể khối lượng nhu cầu tiêudùng các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là các sản phẩm lương thực, thựcphẩm Do đó, có thể thấy rằng, thị trường thế giới đang tạo ra cơ hội lớn cho cácnông sản VN, nhất là các sản phẩm lương thực-đang là thế mạnh của nôngnghiệp VN trong giai đoạn hiện nay
Thứ hai, thị trường hàng nông sản thế giới vẫn đang có xu hướng chuyển
dần về khu vực các nước đang phát triển, nhất là các nước ở khu vực Châu á
Trang 19Nhóm các nước này ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong giá trị thương mại quốc
tế về các sản phẩm nông nghiệp, nhất là giá trị nhập khẩu Xu hướng chuyểndịch này của thị trường hàng nông sản thế giới sẽ tác động đến các sản phẩmnông nghiệp VN, theo cả hai khả năng tích cực và tiêu cực
Theo khả năng tích cực:
- VN sẽ nằm trong khu vực sôi động của thị trường hàng nông sản thếgiới, do đó có điều kiện để tiếp cận thị trường và tăng cường buôn bán các sảnphẩm nông nghiệp với các thị trường khác;
- Thị trường các nước đang phát triển không phải là những thị trường khótính và mức bảo hộ thấp sẽ mang lại những cơ hội tiếp cận thị trường tốt cho cácsản phẩm nông nghiệp VN;
- Đồng thời với quá trình phát triển thị trường các sản phẩm nông sảnsẽ làviệc hình thành và phát triển thị trường công nghệ đáp ứng yêu cầu nâng caonăng suất, chất lượng và hiệu quả các sản phẩm nông nghiệp của các nước đangphát triển Điều này sẽ tạo điều kiện cho VN tham gia thị trường công nghệ phục
vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong môi trường có nhiều điểm tương đồnggiữa các nước trong khu vực
Theo hướng tiêu cực:
- Thị trường các nước đang phát triển là thị trường có thu nhập thấp có thể
sẽ làm giảm lợiích xuất khẩu hàng nông sản VN;
- Các lợi thế tương đối của sản xuất nông nghiệp VN sẽ bị hạn chế do tínhchất tương đồng của các sản phẩm trong cùng một khu vực tự nhiên, mức chênhlệch về giá lao động;
- Đồng thời với khả năng tăng xuất khẩu là sức ép về tăng nhập khẩu hàngnông sản nước ta
Trang 20- Nếu không tiếp cận được các thị trường tiêu thụ trực tiếp và xây dựngchiến lược sản phẩm thích hợp thì VN có nguy cơ trở thành nước xuất khẩunguyên liệu thô, ít qua chế biến sang các nước khác trong khu vực.
Thứ ba, trên thị trường thế giới đang diễn ra hướng gia tăng nhanh chóng
giá trị xuất nhập khẩu các sản phẩm như thịt chế biến, dầu mỡ, sữa của nhóm cácnước đang phát triển Đây là cơ hội lớn để thúc đẩy ngành chăn nuôi trong nước,cải thiện cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng nông sản VN, đồng thời tạo ra khả năngchống lại sự dao động cao của giá cả các sản phẩm trồng trọt, mang lại sự ổnđịnh hơn cho sản xuất nông nghiệp trong nước Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thịtrường nước ngoài của các sản phẩm thịt chế biến của VN còn ở mức độ thấp sovới yêu cầu thị trường thế giới và so với sản phẩm của các nước khác trong khuvực, do đó, sẽ bất lợi lớn nếu không có chiến lược phát triển sản phẩm này mộtcách thận trọng
Thứ tư, xu hướng phát triển của thị trường nông sản thế giới sẽ chịu tác
động lớn của các cuộc thương lượng mậu dịch mang tầm quốc tế VN sẽ phải đốimặt với sản phẩm nông nghiệp của các nước thành viên trong tổ chức WTO cả ởthị trường trong nước và nước ngoài Những khó khăn về cạnh tranh thị trườngxuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp VN sẽ lớn hơn khi mà sản xuất nôngnghiệp vẫn trong tình trạng lạc hậu, năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, chi phícao và nhất là sự yếu kém của ngành công nghiệp chế biến
Thứ năm, là sự dao động về giá cả các sản phẩm nông nghiệp trên thị
trường thế giới luôn ở mức độ cao và xảy ra thường xuyên, bởi nguyên nhân chủyếu là sự bất ổn định của sản xuất nông nghiệp (sự phụ thuộc vào thiên nhiên).Các sản phẩm trồng trọt và sản phẩm thô có biên độ dao động cao hơn các sảnphẩm chăn nuôi và sản phẩm chế biến Trong hoàn cảnh nông nghiệp VN vẫncòn nặng về các sản phẩm trồng trọt, xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm thô, ítqua chế biến,sự tác động của tính chất giá cả các sản phẩm nông nghiệp trên thịtrường thế giới và các xu hướng thứ sinh đối với sản xuất các sản phẩm nôngnghiệp VN có phần không thuận lợi Xu hướng giảm giá diễn ra phổ biến ở hầuhết các mặt hàng nông sản chủ yếu của nước ta như lúa, gạo, cà phê, hạt tiêu, hạtđiều và một số mặt hàng khác đã gây ra tác động tiêu cực, đó là nông sản tồn