1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của các hiệp định thương mại tự do (FTA) đến xuất khẩu các mặt hàng nông sản của việt nam

128 509 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của các Hiệp định thương mại tự do lên xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam” là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa họ

Trang 1

LÊ QU ỲNH HOA

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH

THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) ĐẾN XUẤT KHẨU

Trang 3

LÊ QU ỲNH HOA

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH

THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) ĐẾN XUẤT KHẨU

Mã số: 60340121

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Võ Thanh Thu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của các Hiệp định thương mại tự do lên xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam” là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc của bản thân Các số liệu trong luận văn được thu thập

từ thực tế và có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được xử lý trung thực khách quan và chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác trước đây

Tác giả: Lê Quỳnh Hoa

Trang 5

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC ĐỒ THỊ

DANH MỤC PHỤ LỤC

TÓM TẮT LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Điểm mới của luận văn 4

1.6 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1 Các khái niệm liên quan 7

2.1.1 Khái niệm về nông sản 7

2.1.2 Những khái niệm và đặc điểm của các hiệp định thương mại tự do 8

2.2 Nền tảng lý thuyết về thương mại quốc tế 10

2.2.1 Lý thuyết về thương mại quốc tế và lợi thế cạnh tranh 10

2.2.2 Các mô hình đánh giá tác động của các FTA đến nền kinh tế 13

Trang 6

2.2.3 Lý thuyết lực hấp dẫn trong thương mại song phương 15

2.3 Tổng quan của các FTA mà Việt Nam tham gia và cam kết về nông sản 17

2.3.1 Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) 20

2.3.2 Hiệp định đối tác kinh tế ASEAN –Trung Quốc (ACFTA) 21

2.3.3 Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) 22

2.3.4 Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) 23

2.3.5 Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Ấn Độ (AITIG) 24

2.3.6 Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Úc -New Zealand (AANZFTA) 24

2.3.7 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Nhật Bản (VJEPA) 25

2.4 Lược khảo các nghiên cứu về mô hình lực hấp dẫn và kết quả nghiên cứu 26

2.4.1 Các nghiên cứu tại nước ngoài 26

2.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 27

2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 29

2.5.1 Khoảng trống nghiên cứu 29

2.5.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 31

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Quy trình nghiên cứu 32

3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 32

3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 34

3.3.1 Phương pháp thống kê mô tả 34

3.3.2 Phân tích các chỉ số thương mại 34

3.3.3 Phương pháp phân tích tương quan 35

3.3.4 Phương pháp ước lượng tối đa hóa khả năng- PPML 36

3.4 Mô hình nghiên cứu 37

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45

Trang 7

4.1 Tổng quan về thực trạng xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam 45

4.1.1 Tình hình xuất nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam 45

4.1.2 Tình hình xuất khẩu theo ngành hàng của Việt Nam 46

4.1.3 Tình hình xuất khẩu theo thị trường của Việt Nam 47

4.2 Thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam 49

4.2.1 Tổng quan về xuất khẩu nông sản của Việt Nam 49

4.2.2 Thực trạng xuất khẩu theo từng nhóm nông sản của Việt Nam 51

4.2.3 Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang các thị trường 52

4.3 Phân tích lợi thế cạnh tranh của xuất khẩu nông sản Việt Nam 54

4.3.1 Sự tương đồng trong xuất khẩu nông sản 54

4.3.2 Lợi thế so sánh bộc lộ của các mặt hàng nông sản 56

4.4 Kết quả phân tích định lượng và mô hình lực hấp dẫn 60

4.4.1 Phân tích thống kê mô tả 60

4.4.2 Phân tích tương quan 62

4.4.3 Ước lượng tác động theo PPML 63

4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 65

4.5.1 Phân tích các nhân tố tác động đến giá trị nông sản xuất khẩu VN: 65

4.5.2 Tác động của các FTA đến xuất khẩu nông sản Việt Nam 67

4.5.3 Tác động của chất lượng nông sản 75

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 79

5.1 Kết luận 79

5.2 Hàm ý chính sách 80

5.2.1 Đối với chủ trương và chính sách của nhà nước 80

5.2.2 Đối với doanh nghiệp xuất khẩu và nông dân 82

5.2.3 Đối với từng FTA 83

Trang 8

5.3 Hạn chế của luận văn 845.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Giải thích

AANZFTA Hiệp định thành lập Khu vực thương mại tự do

ASEAN-Australia-New Zealand ACFTA Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN- Trung Quốc AFTA Hiệp định thương mại tự do ASEAN

AIFTA Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN-Ấn Độ

AJCEP Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN-Nhật Bản

AKFTA Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN-Hàn Quốc ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

EAEU Liên minh Kinh tế Á Âu

FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc

FTA Hiệp định thương mại tự do

KN XNK Kim ngạch xuất nhập khẩu

RCEP Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực giữa ASEAN và 6 đối

tác đã có FTA với ASEAN TPP Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương

VCFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Chile

VJEPA Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản

VKFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2-1 Sơ lược các FTA mà Việt Nam tham gia 19

Bảng 2-2 Bảng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu về nông nghiệp từ các nghiên cứu trước đây 29

Bảng 3-1 Nguồn thu thập dữ liệu tính toán 33

Bảng 3-2 Tóm tắt các biến độc lập trong mô hình lực hấp dẫn 43

Bảng 4-1 Cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam theo Châu lục từ 1997-2015 48

Bảng 4-2: Các thị trường nhập khẩu nông sản từ Việt Nam lớn nhất từ năm 1997 đến 2015 53

Bảng 4-3 Chỉ số tương đồng xuất khẩu (ES) ngành nông sản của Việt Nam với các đối tác của ASEAN+1 55

Bảng 4-4 Chỉ số lợi thế so sánh bộc lộ (RCA) theo các mặt hàng nông sản của các quốc gia ASEAN và ASEAN+1 trong năm 2015 57

Bảng 4-5 Thống kê mô tả các biến quan sát 60

Bảng 4-6 Hệ số tương quan từng cặp theo Pearson 62

Bảng 4-7 Kết quả tác động của các biến theo PPML 64

Trang 11

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 2-1 Số lượng các Hiệp định khu vực toàn thế giới giai đoạn 1948-2017 9

Đồ thị 2-2 Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả 31

Đồ thị 4-1 Kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam từ 1997 đến 2015 45

Đồ thị 4-2 Giá trị xuất khẩu nông sản của thế giới và Việt Nam 49

Đồ thị 4-3 Cán cân thương mại nông sản Việt Nam giai đoạn 1997-2015 50

Trang 12

DANH MỤC PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1 Các quốc gia có KN XNK lớn nhất với Việt Nam năm 2015

PHỤ LỤC 2 Tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp của Việt Nam

PHỤ LỤC 3 Khung thời gian trong CEPT dành cho các nước thành viên

PHỤ LỤC 4 Các cam kết của đối tác trong FTA mà Việt Nam tham gia

PHỤ LỤC 5 KN XNK theo mặt hàng của Việt Nam theo SITC phiên bản 3

PHỤ LỤC 6 Cơ cấu xuất khẩu nông sản theo mặt hàng trong SITC phiên bản 3

PHỤ LỤC 7 Tổng giá trị nhập khẩu nông sản từ Việt Nam của các quốc gia

PHỤ LỤC 8 Trung bình GDP của các quốc gia giai đoạn 1997-2015

PHỤ LỤC 9 Quy mô GDP của Việt Nam qua các năm

PHỤ LỤC 10 Quy mô dân số trung bình của các quốc gia giai đoạn 1997-2015

PHỤ LỤC 11 Quy mô dân số của Việt Nam qua các năm

PHỤ LỤC 12 Khoảng cách trung bình giữa Việt Nam và quốc gia

PHỤ LỤC 13 Diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam qua các năm

PHỤ LỤC 14 Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam sang các thị trường trước và sau FTA có hiệu lực

PHỤ LỤC 15 Giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam sang ASEAN (1997-2015)

PHỤ LỤC 16 Giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam sang Hàn Quốc (1997-2015)

PHỤ LỤC 17 Giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam sang Nhật Bản (1997-2015)

PHỤ LỤC 18 Giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam sang Trung Quốc (1997-2015)PHỤ LỤC 19 Giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam sang Ấn Độ (1997-2015)

Trang 13

PHỤ LỤC 20 Giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam sang New Zealand (1997-2015)PHỤ LỤC 21 Giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam sang Úc (1997-2015)

PHỤ LỤC 22 Kết quả ước lượng của Mô hình 1 trong STATA

PHỤ LỤC 23 Kết quả ước lượng của Mô hình 2 trong STATA

PHỤ LỤC 24 Kết quả ước lượng của Mô hình 3 trong STATA

PHỤ LỤC 25 Kết quả ước lượng của Mô hình 4 trong STATA

PHỤ LỤC 26 Kết quả ước lượng của Mô hình 5 trong STATA

PHỤ LỤC 27 Kết quả ước lượng của Mô hình 6 trong STATA

PHỤ LỤC 28 Kết quả ước lượng của Mô hình 7 trong STATA

PHỤ LỤC 29 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình

Trang 14

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm ra mức độ tác động của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đến hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam và đưa ra các hàm ý chính sách để nâng cao hiệu quả của việc tận dụng các ưu đãi từ Hiệp định đó

Trên cơ sở lý thuyết về thương mại quốc tế cũng như kết quả lược khảo các nghiên cứu trước đây, tác giả đã sử dụng mô hình lực hấp dẫn với phương pháp ước lượng tối đa hóa khả năng Poisson (PPML) nhằm đạt được mục tiêu đề ra Để kiểm định mô hình nghiên cứu và đo lường kiểm định, nghiên cứu đã được thực hiện với dữ liệu bảng gồm

212 quốc gia từ năm 1997 đến 2015 Kết quả kiểm định cho thấy trong các biến thuộc về nền kinh tế thì GDP và dân số của quốc gia nhập khẩu nông sản từ Việt Nam, số dân của Việt Nam có tác động thuận chiều đến kim ngạch xuất khẩu nông sản Ngược lại, GDP của Việt Nam, khoảng cách vật lý và rào cản hải quan có tác động ngược chiều đến việc xuất khẩu mặt hàng này Cuối cùng, các biến về tỷ giá hối đoái và biến giả của việc có chung biên giới lại không có ý nghĩa thống kê trong mô hình này

Kết quả ước lượng tác động của các Hiệp định khu vực chỉ ra rằng các FTA không phải lúc nào cũng đem lại lợi ích cho nền kinh tế như kỳ vọng ban đầu và mức

độ tác động của nó đến việc xuất khẩu nông sản cũng khác nhau Cụ thể, AFTA và WTO có tác động thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu nông sản nhưng còn ở mức thấp Ngược lại, các Hiệp định thương mại giữa ASEAN với Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc và New Zealand, và VJEPA (Hiệp định đối tác toàn diện Việt Nam - Nhật Bản) lại làm giảm giá trị xuất khẩu nông sản do có cạnh tranh giữa nông sản Việt Nam với các sản phẩm của quốc gia đó và các thành viên của ASEAN Bên cạnh đó, các nước ngày càng đưa ra nhiều yêu cầu nghiêm ngặt hơn về chất lượng sản phẩm trong khi nông sản Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu thô và giá trị gia tăng không cao

Vì vậy, phải có sự phối hợp giữa chính phủ, người nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu để nông sản Việt đáp ứng các điều kiện hưởng các ưu đãi từ những FTA này

Trang 15

Tuy nhiên, doanh nghiệp và nông dân vẫn giữ vai trò chủ yếu và quan trọng nhất trong việc cải tiến chất lượng, nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu và tìm kiếm các thị trường phù hợp để tăng khả năng tận dụng ưu đãi của các FTA mà Việt Nam tham gia

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài

Thế kỉ 21 đã và đang mở ra một làn sóng ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mạnh mẽ trên khắp thế giới và không nằm ngoài xu thế hội nhập đó, trong những năm qua Việt Nam đã rất nỗ lực, tích cực tham gia ký kết nhiều FTA, nhằm

mở ra nhiều cơ hội phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam Trong đó, có thể nói, nông sản - sản phẩm xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam là nội dung được quan tâm nhiều và chịu tác động mạnh mẽ nhất từ các Hiệp định này Cụ thể, theo số liệu báo cáo của Tổng cục Hải quan Việt Nam năm 2016, giá trị nông sản xuất khẩu của Việt Nam đạt mức cao kỷ lục lên đến 32.1 tỷ USD và những sản phẩm xuất khẩu nông sản chủ lực của Việt Nam đã có vị thế cao trên trường quốc tế Nhiều mặt hàng nông nghiệp của Việt Nam được các quốc gia trên thế giới ưa chuộng như: Cà phê Tây Nguyên, gạo Cần Thơ, tiêu Phú Quốc, chuối Lào Cai, chôm chôm Java, chè Shan Tuyết, Ô Long, Tân Cương đã và đang được xuất khẩu sang các thị trường trọng điểm bao gồm Hoa Kỳ, thị trường Châu Âu, Nga, ASEAN, Trung Quốc và các nước Đông Âu, Châu Phi…

Nông sản được đánh giá là sản phẩm được nhiều quốc gia bảo hộ mạnh mẽ trong thương mại giữa các nước và việc đạt được thoả thuận về mở cửa thị trường và xóa

bỏ trợ cấp cho loại hàng hoá này là điều không dễ dàng Do đó, các lý thuyết kinh tế

và nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng thương mại tự do sẽ tạo nền tảng để phát triển nền kinh tế và các quốc gia cũng kỳ vọng các FTA sẽ đem lại hiệu quả tích cực khi

họ tham gia vào bàn đàm phán Nhưng bằng chứng về sự tác động của các Hiệp định khu vực đến từng ngành hàng cụ thể lại không rõ ràng, nhất là khi nội dung ưu đãi trong các FTA là dành cho một số mặt hàng thế mạnh chứ không phải tất cả các đối tượng thương mại Bên cạnh đó, FTA yêu cầu các quốc gia giảm hàng rào thuế quan và tự do hóa thương mại nhiều hơn nhưng thực tế, các nước lại tăng sử dụng những biện pháp phi thuế quan “tinh vi” hơn như quy tắc xuất xứ, yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật hay an toàn vệ sinh thực phẩm, Vì vậy, việc xác định hiệu quả thật

sự của các FTA là rất phức tạp và thách thức đặt ra cho các nhà nghiên cứu là làm

Trang 17

sao xác định được mức độ tác động của các FTA đã thực thi đến kim ngạch xuất khẩu nông sản

Hiện nay, dù rất nhiều chuyên gia đã đưa ra những đánh giá khác nhau về mức

độ tác động của các Hiệp định đến nền kinh tế Việt Nam; nhưng, có rất ít nghiên cứu chuyên sâu và đo lường định lượng các yếu tố ảnh hưởng và mức độ tác động của các FTA này đến sản lượng nông sản xuất khẩu Trên thế giới, mô hình lực hấp dẫn (gravity model) đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng như là một công cụ hiệu quả để đo lường sự ảnh hưởng của các FTA đến dòng chảy thương mại quốc gia và mỗi tác giả đã đưa vào các biến độc lập khác nhau tùy thuộc vào điều kiện thương mại của từng quốc gia Trong bài nghiên cứu, mô hình lực hấp dẫn được dùng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các FTA đến giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam từ năm 1997 đến 2015 Do vậy, nghiên cứu “Ảnh hưởng của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) lên xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam” sẽ được chọn làm nghiên cứu trong đề tài này

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu nghiên cứu như sau:

- Xác định các FTA có tác động đến giá trị xuất khẩu của nông sản Việt Nam

- Xác định mức độ tác động của các Hiệp định này đến giá trị xuất khẩu của nông sản Việt Nam

- Đưa ra hàm ý chính sách chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của việc tận dụng các

ưu đãi trong FTA

Nghiên cứu này sẽ trả lời các câu hỏi sau:

- Các FTA nào tác động đến giá trị nông sản xuất khẩu? Trong đó, FTA nào tác động mạnh mẽ nhất và ít tác động nhất đến xuất khẩu nông sản?

- Hàm ý chính sách nào được đề xuất để nâng cao hiệu quả của việc tận dụng các ưu đãi trong FTA?

Trang 18

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia có hiệu lực thực thi trên 2 năm

- Giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam

- Về thời gian: từ năm 1997 đến 2015 (19 năm)

Trong phạm vi của bài luận văn, những Hiệp định thương mại tự do có hiệu lực trên 2 năm sẽ được đánh giá tác động bao gồm: AFTA, ASEAN+1(ASEAN với Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand, Hàn Quốc), VJEPA và WTO Các FTA chưa có hiệu lực và trong quá trình đàm phán sẽ không được phân tích và đưa vào mô hình (gồm: TPP, RCEP, ASEAN -Hồng Kông, EVFTA, VN – EFTA, VN- Israel) Bên cạnh đó, FTA giữa Việt Nam và EAEU bắt đầu thực thi từ năm

2016, FTA Việt Nam và Hàn Quốc mới chỉ có hiệu lực từ năm 2015 và Việt Nam- Chi Lê năm 2014 vì vậy chưa đủ dữ liệu về giá trị nông sản xuất khẩu để đo lường tác động của hai Hiệp định này

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các nguồn thứ cấp uy tín bao gồm Cơ sở dữ liệu thương mại của Liên Hợp Quốc (UN Comtrade- https://wits.worldbank.org/), dữ liệu của Ngân hàng thế giới (Worldbank- http://data.worldbank.org/), dữ liệu của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF’s International Finance Statistics (IFS)), bản đồ thế giới (World map- http://geology.com/world/world-map.shtml); chỉ số về phát triển của Ngân hàng thế giới (Worldbank’s World Development Indicators (WDI)), website của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO-https://www.wto.org/), Tổng cục Thống

kê Việt Nam và Tổng cục Hải quan Việt Nam

Trang 19

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã tiến hành lược khảo lý thuyết và các bài nghiên cứu có liên quan để xác định, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam Tiếp đó, tác giả sử dụng phân tích định lượng bằng mô hình lực hấp dẫn (Gravity model) để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các FTA đến giá trị nông sản xuất khẩu của Việt Nam

Việc thu thập số liệu cho nghiên cứu này được lấy từ số liệu xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang 212 quốc gia trên thế giới từ năm 1997 đến 2015 Đề tài sử dụng phần mềm STATA để phân tích dữ liệu bảng qua các năm và ước lượng tối đa hóa khả năng (Poisson pseudo maximum likelihood - PPML) thay cho ước lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) vì ước lượng PPML khắc phục được nhược điểm nếu giá trị thương mại nông sản của Việt Nam với một quốc gia bằng không Bên cạnh đó, nhằm khắc phục các vấn đề tiềm ẩn do tính liên kết theo thời gian và đặc trưng quốc gia, tác giả sử dụng phương pháp ước lượng vững với trọng số từ quốc gia và thời gian

1.5 Điểm mới của luận văn

Thứ nhất, đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu định lượng về đánh giá tác động của các FTA đến hoạt động xuất khẩu một nhóm ngành hàng của Việt Nam,

cụ thể là nông sản Trong đó, mô hình lực hấp dẫn (gravity model) đã được kiểm chứng trên thế giới là mô hình hiệu quả nhất để đo lường xu hướng thương mại, ở Việt Nam, có nhiều tác giả đã sử dụng mô hình này nhưng chỉ dừng lại đo lường ảnh hưởng của các Hiệp định đến nền kinh tế và kim ngạch xuất nhập khẩu nói chung

Thứ hai, phương pháp ước lượng tối đa hóa khả năng Poisson (PPML) theo ước lượng vững được tác giả sử dụng để khắc phục nhược điểm quan sát bằng không của phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) và những vấn đề liên quan đến liên kết về thời gian và đặc trưng của quốc gia Đây là phương pháp phân tích còn khá mới đối với các nghiên cứu ở Việt Nam

Trang 20

Thứ ba, dữ liệu đo lường được lấy từ năm 1997 đến 2015 (19 năm) từ các nguồn uy tín và giai đoạn đủ dài để mang tính tổng quát, đo lường đầy đủ giá trị xuất khẩu ngành nông nghiệp Việt Nam

Cuối cùng, trong nghiên cứu này tác giả thực hiện đánh giá đồng thời và toàn diện tác động của các FTA đã có hiệu lực thực thi trước 2015, trong khi những nghiên cứu trước chỉ đánh giá tác động riêng biệt của một số Hiệp định thương mại đến nền kinh tế Đây cũng chính là điểm mới nổi bật của đề tài này

1.6 Kết cấu luận văn

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 1 trình bày tổng quan về nghiên cứu, tính cấp thiết và mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu để đưa ra cái nhìn ban đầu về đề tài Từ đó, nêu lên những điểm mới của luận văn và phương pháp sử dụng sẽ đánh giá hiệu quả tác động của Hiệp định

Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày những khái niệm liên quan đến nông sản, các Hiệp định thương mại tự do và lý thuyết về thương mại quốc tế Bên cạnh đó, chương này còn nêu lên các phương pháp khác nhau để xác định ảnh hưởng của FTAs đến xuất khẩu nông sản, và chọn ra phương pháp tối ưu nhất Từ

mô hình lựa chọn, tác giả lược khảo các nghiên cứu liên quan để tìm ra những khoảng trống trong nghiên cứu và đề xuất các biến đưa vào nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 đi sâu vào việc thiết kế mô hình,

mô tả và diễn giải biến phụ thuộc và các biến độc lập trong nghiên cứu, phân tích định lượng để đo lường các FTA của Việt Nam tác động như thế nào đến nông sản xuất khẩu bằng mô hình lực hấp dẫn theo phương pháp phân tích PPML

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này, tác giả đánh giá thực trạng xuất khẩu nói chung và tình hình nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang các nước từ 1997 đến 2015 theo từng nhóm mặt hàng và theo quốc gia Dựa vào kết quả ước lượng PPML để đo lường mức độ tác động của các FTA và tìm ra hiệp định nào có tác động mạnh nhất và yếu nhất đến giá trị nông sản xuất khẩu và phân tích các nguyên nhân

Trang 21

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Chương này tóm tắt lại kết quả nghiên cứu của đề tài, qua đó đề xuất một số chính sách nhằm tăng hiệu quả tác động của các Hiệp định lên xuất khẩu nông sản Việt Nam

Trang 22

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Các khái niệm liên quan

2.1.1 Khái niệm về nông sản

Mặt hàng nông sản được định nghĩa khác nhau và chưa có sự thống nhất về khái niệm giữa Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hợp Quốc, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

- Định nghĩa của Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc1

Sản phẩm nông nghiệp bao gồm các loại cây trồng, vật nuôi và những sản phẩm từ chúng giúp ích cho con người được chia thành 4 nhóm chính như sau:

• Thức ăn: các loại hạt, ngũ cốc như lúa, gạo, lúa mỳ, ngô, các loại đậu, củ, rau, quả, thịt và các sản phẩm từ sữa, mật ong

• Nhóm cung cấp xơ, sợi: các loại cây bông, len, tơ tằm, hoặc làm từ tre nứa

• Nhóm nguyên liệu như: rượu từ gạo, ngô, đường mía và các sản phẩm phụ

• Các nguyên liệu thô: gồm những sản phẩm nông nghiệp dùng để tạo ra sản phẩm nông nghiệp khác như thức ăn gia súc,

- Quan điểm về nông sản trong Hiệp định nông nghiệp (AOA) của WTO: Trong quy định của WTO, sản phẩm nông nghiệp được định nghĩa trong phụ lục 1 của Hiệp định Nông nghiệp của WTO (AOA) gồm: Tất cả sản phẩm thuộc hệ thống thuế mã HS (hệ thống hài hòa theo mã số thuế) từ chương I đến chương XXIV, trừ các sản phẩm từ cá và rải rác ở các chương khác2, không gồm các sản phẩm lâm nghiệp Định nghĩa sản phẩm nông nghiệp được chia thành các nhóm như sau:

• Nhóm nông sản cơ bản như bột mỳ, lúa, gạo, động vật sống, sữa, cà phê, hồ tiêu, chè, hạt điều, rau quả tươi, …

• Nhóm mặt hàng đã qua chế biến từ nông sản như sản phẩm từ sữa, bánh kẹo,

xúc xích, thức uống, thuốc lá, bia, rượu, bông xơ, da động vật thô…

• Các sản phẩm phái sinh gồm bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt, …

Trang 23

- Khái niệm của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam:

Định nghĩa về nông sản của Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với quy định trong WTO và các tổ chức khác Trong đó, theo cách phân loại này chỉ có tính chất tương đối, nông nghiệp bao gồm cả hoạt động nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt), thủy sản và lâm nghiệp, trong khi những ngành liên quan đến chế biến nông lâm thủy sản lại thuộc vào ngành công nghiệp chế biến.3

Từ các quan điểm về nông sản trên, có thể kết luận mỗi tổ chức và quốc gia

có định nghĩa khác nhau Vì vậy, để thuận tiện cho việc thu thập dữ liệu nghiên cứu, sản phẩm nông sản được định nghĩa theo phân loại của danh mục tiêu chuẩn ngoại thương – SITC, là những sản phẩm thu được từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, bao gồm cả hoạt động chế biến những sản phẩm này (bao gồm cả ngư nghiệp và lâm nghiệp) Đây là khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu này

Theo SITC phiên bản thứ 3, nhóm hàng nông sản (theo phân loại 1 chữ số) được đưa vào trong mô hình nghiên cứu bao gồm:

• SITC 0: lương thực, thực phẩm và thực phẩm sống;

• SITC 1: thuốc lá và đồ uống;

• SITC 2: nguyên vật liệu thô, không dùng để ăn, trừ nhiên liệu Trong nhóm này, nông sản sẽ không bao gồm nhóm SITC 27 (phân bón thô, khoáng sản) và SITC 28 (quặng kim loại và kim loại phế liệu);

• SITC 4: sáp động vật, sáp thực vật, và dầu mỡ

2.1.2 Những khái niệm và đặc điểm của các hiệp định thương mại tự do

Trong WTO, Hiệp định thương mại tự do được định nghĩa là “Hiệp định được ký kết giữa hai hay nhiều quốc gia để tạo ra một khu vực thương mại tự do mà

ở đó hàng hóa, dịch vụ và các nguồn lực được lưu thông qua biên giới mà không bị rào cản về thuế quan và phi thuế quan”4

Hiệp định thương mại tự do yêu cầu các quốc gia thành viên phải cam kết loại bỏ hoặc cắt giảm các hàng rào về thuế quan, phi thuế quan trong tất cả lĩnh vực

3 Tóm tắt Hiệp định nông nghiệp trong WTO, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI (2010)

4 Website của Trung tâm WTO -VCCI: tu-do-fta” - đăng ngày 1/12/2015

Trang 24

“http://trungtamwto.vn/tin-tuc/hoi-dap-ve-cac-hiep-dinh-thuong-mai-về hàng hóa và dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, môi trường, lao động và sở hữu nhà nước Các nước tham gia vào các Hiệp định mậu dịch tự do nhằm thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa, từ đó cải thiện hiệu quả phân phối nguồn lực, giảm chi phí và tăng năng suất lao động Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh của quốc gia thuận lợi hơn sẽ giúp thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp, tạo ra nhiều việc làm, đem lại nguồn thu cho đất nước và được chuyển giao các công nghệ tiến bộ Hay nói cách khác, FTA được xem là bước đầu tiên trong tiến trình hội nhập toàn cầu và là hình thức liên kết phổ biến nhất trên thế giới

Tính đến tháng 7 năm 2017, trên thế giới có đến 659 FTA đã và đang được

ký kết từ năm 1948 (trong đó 455 FTA đã có hiệu lực)5 Trong đó, số lượng các Hiệp định chỉ thật sự tăng mạnh khi Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập vào năm 1994

Nguồn: Ban thư ký WTO

5 Website của WTO: “ https://www.wto.org/english/tratop_e/region_e/regfac_e.htm ” cập nhật ngày 10/7/2017

Đồ thị 2-1 Số lượng các Hiệp định khu vực toàn thế giới giai đoạn 1948-2017

Trang 25

Đồ thị 2-1 cho thấy ở giai đoạn từ năm 1948-1994, theo số liệu của GATT thì chỉ có 124 Hiệp định thương mại khu vực (RTA) được ký kết và chỉ liên quan đến lĩnh vực hàng hóa, giai đoạn sau năm 1994 đến nay đã chứng kiến hơn 500 Hiệp định được đàm phán và ký kết, nội dung các RTA cũng mở rộng ra cả lĩnh vực về hàng hóa và dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ

Trong quá trình đàm phán FTA, nông nghiệp là một trong những ngành sẽ chịu tác động lớn vì sản phẩm nông nghiệp có tính chất nhạy cảm, phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của một bộ phận người dân có thu nhập thấp (người nông dân ở các nước đang phát triển) và được các quốc gia (đặc biệt là nhóm các nước phát triển) bảo hộ để đảm bảo an ninh lương thực trong khi thế giới luôn biến động và nạn đói vẫn luôn rình rập Khi các Hiệp định này được ký kết, ngành nông nghiệp sẽ được tạo nhiều điều kiện thuận lợi để xuất khẩu sang các thị trường, tuy nhiên cũng tồn tại nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện

2.2 Nền tảng lý thuyết về thương mại quốc tế

2.2.1 Lý thuyết về thương mại quốc tế và lợi thế cạnh tranh

Thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân phối, sử dụng tài nguyên và nguồn lực kinh tế giữa các nước thông qua trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nguồn lực nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng đa dạng một cách hiệu quả nhất Sự phát triển của thương mại quốc tế bắt đầu từ rất lâu, nhưng đến những năm cuối của thế kỷ XV, bắt đầu với sự ra đời của chủ nghĩa trọng thương, nguồn gốc và những lợi ích từ hoạt động thương mại quốc tế mới được giải thích

Các quan điểm cơ bản trong chủ nghĩa trọng thương chính là việc xem tiền tệ (vàng, bạc) làm nên sự giàu có của các quốc gia và một nước có thể thu được nhiều kim loại quý từ việc xuất khẩu; ngược lại, hoạt động nhập khẩu chính là đem vàng, bạc của nước mình cho quốc gia khác Do vậy, việc duy trì xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu mới đem lại lợi ích cho quốc gia (Coleman, 1969) Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng thương phạm phải một sai lầm chính là cho rằng thương mại giữa các nước là trò chơi có tổng bằng 0 (sero-sum game), nghĩa là thương mại chỉ là để phân chia lại tài

Trang 26

sản vì tổng số của cải trên thế giới là không đổi Kết quả là các nước ngày càng có

xu hướng thực hiện các chính sách bảo hộ nội địa và hạn chế nhập khẩu bằng nhiều cách khác nhau như hạn ngạch và thuế quan… Nhược điểm chủ nghĩa trọng thương này đã được lý thuyết của Adam Smith và Ricardo chứng minh và khẳng định thương mại là trò chơi mà tổng lợi ích là số dương (positive-sum game), tức là tất cả các nước đều thu được lợi ích

A.Smith (1776) với lý thuyết về “Lợi thế tuyệt đối” cho rằng các quốc gia nên tiến hành trao đổi tự do trên cơ sở đẩy mạnh phân công lao động giữa các nước với nhau và các quốc gia nên thực hiện chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm có lợi thế tuyệt đối (chi phí sản xuất thấp) để xuất khẩu và nhập khẩu những sản phẩm không có lợi thế tuyệt đối Ưu điểm của lý thuyết này chính là Smith đã nhận thức được vai trò của việc chuyên môn hóa, cũng như phân công lao động quốc tế và quan hệ thương mại phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi Tuy nhiên,

lý thuyết lợi thế tuyệt đối lại chưa giải thích được việc tại sao có sự tồn tại trao đổi thương mại giữa một nước lớn (có các lợi thế tuyệt đối) và một nước nhỏ (hầu như không có lợi thế)

Trên nền tảng của Adam Smith, hai lý thuyết khác được xây dựng và phát triển chính là “Lý thuyết về lợi thế so sánh” của Ricardo vào thế kỷ XIX và lý thuyết của Eli Heckscher và Bertil Ohlin (H-O) ở thế kỷ XX

Lý thuyết của Ricardo (1817) khẳng định một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia, tức là dựa trên

sự khác biệt giữa các nước về năng suất lao động Ưu điểm của lý thuyết lợi thế so sánh chính là bất kỳ quốc gia nào đều có lợi ích khi tham gia thương mại quốc tế và trả lời được câu hỏi còn bỏ ngỏ trong lý thuyết của Adam Smith Tuy nhiên, hạn chế của lý thuyết này chính là chưa xem xét các yếu tố như hàng rào thương mại, chi phí vận chuyển, tỷ giá và chưa giải thích được sự khác biệt về năng suất lao động giữa các quốc gia

Chi tiết hơn so với quan điểm của Ricardo, lý thuyết của Heckscher-Ohlin giải thích nguồn gốc của lợi thế so sánh dựa trên sản phẩm khác nhau ở mức độ (tỷ

Trang 27

lệ) thâm dụng yếu tố sản xuất và các quốc gia có nguồn lực sản xuất sẵn có khác nhau (Leamer, 1995)

Trong các lý thuyết cổ điển, lý thuyết của Adam Smith, Ricardo và Ohlin giúp giải thích mô hình thương mại quốc tế đã diễn ra trong nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, mỗi lý thuyết đều tồn tại những hạn chế và phụ thuộc từng điều kiện cụ thể mới giải thích được

Heckscher-Với sự phát triển của thương mại quốc tế, Michael Porter đã đưa ra lý thuyết về “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” vào năm 1979, trong đó mô hình kim cương được dùng để giải thích những nhân tố cơ bản cho phép quốc gia (doanh nghiệp) sáng tạo

và duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong điều kiện hiện nay Trong khi quan điểm theo lợi thế so sánh chỉ bao gồm hai yếu tố là chất lượng và giá thành, lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào 4 nhân tố: chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và cạnh tranh nội bộ ngành, các điều kiện về cầu, ngành công nghiệp liên quan và bổ trợ, điều kiện về yếu tố sản xuất Tuy có nhiều quan điểm khác nhau trong đánh giá lợi thế cạnh tranh, song các lý thuyết đều dựa trên những nhân tố chính để phân loại như: nguồn nhân lực, Chính phủ, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý,

Từ các lý thuyết trên có thể đưa ra kết luận rằng: thương mại quốc tế là xu hướng tất yếu và mang lại lợi ích cho tất cả các nước khi mở cửa giao lưu kinh tế với bên ngoài dù các nguồn lực sản xuất của quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối hay không Mỗi lý thuyết đưa ra chỉ phù hợp trong từng điều kiện cụ thể và không có lý thuyết nào có thể giải thích đúng trong mọi trường hợp

Để phân tích lợi thế xuất khẩu, các chỉ số thương mại quốc tế như chỉ số tương đồng xuất khẩu và lợi thế so sánh bộc lộ…được nhiều nhà nghiên cứu tính toán và phân tích Trong xuất khẩu hàng hóa, chỉ số sự tương đồng xuất khẩu đo lường mức độ giống nhau về tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng giữa hai quốc gia và được phát triển bởi Finger và Kreinin (1979) Tính toán chỉ số tương đồng xuất khẩu tăng theo thời gian cho thấy sự hội tụ về cấu trúc xuất khẩu giữa hai thị trường

và cũng làm tăng mức độ cạnh tranh quốc gia Mặt khác, khi chỉ số này giảm phản

Trang 28

ánh sự khác nhau trong cơ cấu xuất khẩu các mặt hàng giữa các quốc gia Một chỉ

số khác được nhiều nghiên cứu thực nghiệm đo lường chính là lợi thế so sánh bộc

lộ, được Balassa (1965) xây dựng và phát triển để tính toán lợi thế so sánh quốc gia theo lý thuyết nền của Ricardo Công thức tính toán và ý nghĩa của các chỉ số được thể hiện trong phần thiết kế nghiên cứu của chương 3

2.2.2 Các mô hình đánh giá tác động của các FTA đến nền kinh tế

Việc xác định hiệu quả thật sự của các FTA là rất phức tạp vì bên cạnh nhân tố FTA thì sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố của nền kinh tế như GDP, dân số, chính sách xuất khẩu hay thậm chí là điều kiện khí hậu Cho đến nay, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về ảnh hưởng của Hiệp định khu vực đến nền kinh tế trên thế giới và tại các quốc gia cụ thể Trong đó, những mô hình nghiên cứu sau đây được đánh giá là đo lường hiệu quả tác động của FTA và có ý nghĩa kinh tế cao

2.2.2.1 Mô hình cân bằng tổng thể (CGE)

Mô hình cân bằng tổng thể được tính toán bằng hệ các phương trình nhiều ẩn được giải đồng thời dựa vào ma trận đầu vào và đầu ra của toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia với tất cả các nước đối tác theo luồng thương mại Mô hình này đã được nhiều tác giả sử dụng để dự báo hay đánh giá tác động “ngoại biên” của các Hiệp định thương mại tự do trong hiện tại và tương lai theo kịch bản có thể xảy ra

Ưu điểm của mô hình này là xem xét mối tương tác qua lại phức tạp giữa các nhân tố trong nền kinh tế và giữa các quốc gia trên thế giới với nhau Tuy nhiên, kết quả ước lượng trong mô hình này thường thấp hơn so với mô hình lực hấp dẫn (sẽ được phân tích ở phần dưới) do không phải ngành nào cũng đem lại tác động tích cực khi một Hiệp định được ký kết Vì nếu một ngành được mở rộng bằng những cơ hội xuất khẩu thì cũng đòi hỏi các nguồn lực phải chuyển từ các ngành khác sang để đáp ứng, kết quả làm giảm sản lượng của ngành đó Hay nguồn lực về đất đai, vốn

và lao động luôn bị giới hạn, do đó tăng việc sử dụng nguồn tài nguyên trong ngành này sẽ dẫn đến sử dụng giảm đi ở ngành khác Vì vậy, mô hình cân bằng tổng thể chỉ phù hợp cho việc đánh giá tác động lên toàn bộ nền kinh tế, trong khi phân tích

Trang 29

theo từng ngành hàng nhỏ sẽ không thể phản ánh được điều này Ngoài ra, mô hình cân bằng tổng thể còn tồn tại một số hạn chế nhất định như:

+ Giả định không phản ánh đầy đủ và đúng tính chất của nền kinh tế, ví dụ như trong mô hình này yêu cầu giả định tỷ giá xuất nhập khẩu là cố định (Claudio Dordi, 2010)

+ Sử dụng các tham số được lựa chọn chứ không ước lượng trong mô hình, dẫn đến đặc tính thống kê của kết quả không rõ ràng (Ngân hàng thế giới, 2005)

+ Đòi hỏi số liệu cho ma trận đầu ra - đầu vào và kỹ thuật tính toán rất phức tạp (Phạm Lan Hương, 2005)

+ Kết quả của việc cải thiện thể chế và hệ thống pháp luật không được đưa vào mô hình và không xem xét mối quan hệ với các FTA khác đang được đàm phán (Claudio Dordi, 2010)

Từ những phân tích trên và mục tiêu của bài nghiên cứu là để đánh giá tác động của các FTA đến giá trị xuất khẩu của một ngành cụ thể là nông sản Việt Nam, do đó tác giả không lựa chọn mô hình này để nghiên cứu trong luận văn

2.2.2.2 Mô hình phân tích ngành

Mô hình phân tích ngành thường được sử dụng trong các nghiên cứu vi mô

đo lường các tác động của các FTA trong một thị trường Tuy nhiên, mô hình này lại xem xét theo từng bộ phận trong thị trường riêng lẻ chứ không kết nối với các thị trường khác (Ngân hàng thế giới, 2006)

Mô hình phân tích ngành được phân tích theo các chỉ số thương mại về tiềm năng, tổng thu thuế và cân bằng từng phần theo mô hình SMART Do đó, mô hình đòi hỏi nhiều số liệu rất chi tiết và để tính toán được các chỉ số, mô hình phải đặt ra nhiều giả định trong mỗi hệ số đưa vào làm cho kết quả của mô hình không phản ánh đúng thực tế Bên cạnh đó, kết quả của mô hình SMART cũng giả định rằng thay đổi giá không ảnh hưởng đến thu nhập Điều này trái với lý thuyết trong nền kinh tế vì giá sản phẩm tăng dẫn đến thu nhập cũng cao hơn, sức mua nhiều hơn và nhờ vậy làm tăng nhu cầu (Claudio Dordi, 2010)

Trang 30

Qua đánh giá của các nghiên cứu trước, mô hình phân tích ngành nên được thực hiện như là phần bổ sung sau khi thực hiện phân tích tổng thể và dùng để kiểm tra mức độ chính xác của mô hình cân bằng tổng thể, chứ bản thân nó không phải là phân tích định lượng

2.2.2.3 Mô hình lực hấp dẫn (Gravity model)

Mô hình lực hấp dẫn dựa vào giả định theo định luật hấp dẫn của Newton và

sử dụng số liệu quá khứ để đo lường tác động của các FTA đã có hiệu lực với cách tiếp cận thông qua các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại, gồm cả việc thực thi các FTA Đây là mô hình kinh tế lượng được các nhà nghiên cứu dùng để giải thích khối lượng và xu hướng thương mại song phương và đa phương giữa các quốc gia

Mô hình lực hấp dẫn được đánh giá là có nhiều ưu điểm hơn so với các mô hình khác vì thuận lợi hơn trong việc thu thập số liệu Hầu hết dữ liệu mang tính chất vĩ

mô và tổng quát, có thể dễ dàng thu thập từ các tổ chức uy tín như Ngân hàng thế giới (Worldbank), UN Comtrade, Một ưu điểm khác chính là hàm số trong mô hình này là hàm log tuyến tính, được tính toán rõ ràng, có thể diễn đạt và có ý nghĩa về kinh tế Do đó, các nhà nghiên cứu dễ dàng giải thích được mô hình và có tính thuyết phục cao Dữ liệu được tính toán trong mô hình này là dựa trên số liệu thực

tế và có tính chất sự kiện, phản ánh đúng những tác động đã xảy ra trong hiện tại và tạo ra một thông lệ chuẩn (ARTNeT 2008)

Vì vậy, khi thực hiện nghiên cứu về một ngành cụ thể trong nền kinh tế, mô hình lực hấp dẫn được đánh giá là phù hợp và đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới Đây cũng là mô hình sẽ được tác giả sử dụng trong bài luận văn này

2.2.3 Lý thuyết lực hấp dẫn trong thương mại song phương

Thuyết vạn vật hấp dẫn được Isaac Newton khám phá ra vào thế kỷ XVII và trở thành một định luật vững chắc trong các lý thuyết về khoa học tự nhiên Công thức của định luật này chỉ ra lực hấp dẫn bằng tích hai khối lượng và chia cho bình phương của khoảng cách giữa hai vật theo phương trình chuẩn:

Xij= G(Mi*Mj/D2 ij)

Trang 31

Trong đó: +Xij: lực hấp dẫn; +G: hằng số;

+M: khối lượng của vật; +D: khoảng cách giữa hai vật;

Trên nền tảng này, nhiều nhà khoa học xã hội đã bổ sung vào lý thuyết này để

dự báo về hiện tượng nhập cư, xu hướng du lịch, thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữa các quốc gia và các lục địa với nhau Mô hình này cũng được dùng trong những quan hệ quốc tế để đo lường ảnh hưởng các hiệp ước và sự liên kết về thương mại, dòng chảy FDI và nó cũng được dùng để đánh giá tính hiệu quả của các Hiệp định khu vực và Tổ chức quốc tế như NAFTA hay WTO (Hoang Chi Cuong, 2015)

Trong mô hình lực hấp dẫn cơ bản, có hai nhân tố bắt buộc phải có để xem xét xu hướng thương mại giữa hai quốc gia là dựa trên quy mô của nền kinh tế (thường đo bằng GDP hay GDP bình quân, GNP hay GNP bình quân đầu người và không gian kinh tế đo bằng tổng GDP của hai quốc gia) và khoảng cách giữa chúng Trong đó, mô hình lực hấp dẫn xem xét đến “kích thước” của hai vật và khoảng cách giữa chúng, nghĩa là quốc gia nào có “kích thước” lớn hơn và có “khoảng cách” gần hơn sẽ thu hút con người, dòng vốn, hàng hóa hơn so với nơi có kích thước nhỏ và xa hơn “Kích thước” và “khoảng cách” trong mô hình không chỉ là diện tích quốc gia hay khoảng cách địa lý thông thường, mà “kích thước” của quốc gia được đo bằng độ lớn của GDP, dân số hay các yếu tố tương tự phản ánh quy mô của quốc gia, và khoảng cách còn bao gồm những yếu tố cản trở trao đổi thương mại giữa các nước như khoảng cách vật lý, rào cản về hải quan, tỷ giá, chính sách của quốc gia,…

Với những nghiên cứu sau này, nhiều biến quan sát khác cũng được đưa vào mô hình như:

▪ Chính sách tỷ giá của quốc gia;

▪ Những khác biệt về văn hóa: vấn đề về thuộc địa, sự đa dạng ngôn ngữ hay

tỷ lệ nghèo đói;

Trang 32

▪ Thể chế, sự không chắc chắn (xung đột mật độ, du lịch và khủng hoảng…), những nút thắt cổ chai khác nhau (các chỉ số phản ánh nền kinh tế vĩ mô, sự ổn định về chính trị, quản lý của chính phủ,…)

Mô hình lực hấp dẫn trong kinh tế được xem là công cụ phân tích về thương mại thành công nhất trong suốt hai mươi lăm năm qua (Anderson,1979) và được Tinbergen (1962) lần đầu tiên đưa vào phân tích các Hiệp định thương mại tự do (FTA) ảnh hưởng đến xu hướng thương mại Sau đó, đã có rất nhiều tác giả cũng sử dụng mô hình lực hấp dẫn này để thực hiện các nghiên cứu về dòng chảy thương mại quốc tế góp phần chứng minh về tính hiệu quả của mô hình này, có thể kể đến Bergstrand (1989), Baier và Bergstrand (2002), Carrere (2006), Grant và Lambert (2008), Lin Sun và Michael R.Reed (2010), Sampath Jayasinghe và Sarker (2016)…

2.3 Tổng quan của các FTA mà Việt Nam tham gia và cam kết về nông sản

Tính đến tháng 12 năm 2016, Việt Nam đã ký kết và đang trong quá trình đàm phán với 16 Hiệp định thương mại tự do6, cụ thể trong bảng 2-1 bao gồm:

+ 10 Hiệp định đã được ký và có hiệu lực thực thi, gồm: AFTA và 5 FTA ký kết theo thành viên của ASEAN với các đối tác (gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn

Độ, Hàn Quốc, Úc và New Zealand) và 4 FTA với tư cách độc lập (Việt Nam với Nhật Bản, Chi lê, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á Âu);

+ 2 Hiệp định được đàm phán xong nhưng chưa có hiệu lực gồm : TPP, Việt Nam với liên minh Châu Âu (EU);

+ 4 FTA vẫn trong quá trình đàm phán (RCEP, Việt Nam và Israel, ASEAN với Hồng Kong, Khối thương mại tự do Châu Âu với Việt Nam)

Trong phạm vi của bài luận văn, mô hình lực hấp dẫn (gravity model) được

sử dụng để đánh giá hiệu quả tác động của FTA dựa trên số liệu của quá khứ (từ năm 1997 đến 2015) Do đó, những Hiệp định khu vực chưa có hiệu lực và trong quá trình đàm phán sẽ không được phân tích và đánh giá tác động Bên cạnh đó FTA giữa Việt Nam và EAEU có hiệu lực năm 2016, Việt Nam và Hàn Quốc có

6 Website của trung tâm WTO: http://www.trungtamwto.vn/tin-tuc/viet-nam-da-va-dang-tham-gia-16-fta

Trang 33

hiệu lực từ năm 2015 và Việt Nam- Chi Lê có hiệu lực từ năm 2014 vì vậy chưa đủ dữ liệu về giá trị xuất khẩu để đo lường tác động của hai Hiệp định này

Trong 5 FTA mà Việt Nam tham gia theo tư cách là thành viên của ASEAN (ASEAN với Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và New Zealand, Hàn Quốc, Trung Quốc) tác giả đã nhóm 5 Hiệp định này vào một biến giải thích chung là ASEAN với các đối tác (ASEAN+1) để đưa vào mô hình phân tích

Tóm lại, những Hiệp định sẽ được đưa vào mô hình để phân tích tác động bao gồm: AFTA, ASEAN+1, VJEPA và đồng thời tác giả cũng đánh giá tác động khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Trang 34

Bảng 2-1 Sơ lược các FTA mà Việt Nam tham gia

1 Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) Đã được ký kết và có hiệu

lực

CEPT có hiệu lực từ ngày 1/1/1993

2 Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện

ASEAN- Trung Quốc (ACFTA)

Đã được ký kết và có hiệu lực

Hiệp định về “Thương mại Hàng hóa” được thực thi từ tháng 7/2005

3 Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN-Nhật

Bản (AJCEP)

Đã được ký kết và có hiệu lực

Từ ngày 1/12/2008

4 Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện

ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA)

Đã được ký kết và có hiệu lực

Hiệp định về Thương mại Hàng hóa có hiệu lực từ tháng 6/2007

5 Hiệp định thành lập Khu vực thương mại tự do

ASEAN-Australia-New Zealand (AANZFTA)

Đã được ký kết và có hiệu lực

Từ ngày 1/1/2010

6 Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện

ASEAN-Ấn Độ (AIFTA)

Đã được ký kết và có hiệu lực

Hiệp định về Hàng hóa có hiệu lực 1/1/2010

7 Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản

(VJEPA)

Đã được ký kết và có hiệu lực

Có hiệu lực từ ngày 1/10/2009

8 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Chile

(VCFTA)

Đã được ký kết và có hiệu lực

Có hiệu lực từ ngày 1/1/2014

9 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc

(VKFTA)

Đã được ký kết và có hiệu lực

Có hiệu lực từ ngày 20/12/2015

10 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và Liên minh

Kinh tế Á Âu (VN-EAEU FTA)

Đã được ký kết và có hiệu lực

Có hiệu lực từ ngày 05/10/2016

11 Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) Đã được ký kết năm 2016

nhưng chưa có hiệu lực

12 Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực

(RCEP) giữa ASEAN và 6 đối tác đã có FTA với

15 Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Khối

EFTA (Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland, Liechtenstein)

Đang trong quá trình đàm phán (bắt đầu từ năm 5/2012)

16 Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và

Israel

Đang trong quá trình đàm phán (bắt đầu từ năm 12/2012)

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ trung tâm WTO

Trang 35

2.3.1 Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) 7

Trong Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 4 của ASEAN, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) được thành lập tại Singapore vào năm 1992 Trong đó, để thực hiện mục tiêu biến ASEAN thành khu mậu dịch tự do AFTA, các bên tham gia đã thông qua Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) từ ngày 1 tháng

1 năm 1993

Nội dung của CEPT quy định thuế quan chung sẽ cắt giảm xuống còn từ 5% và xóa bỏ tất cả những hạn chế về thương mại khác trong vòng 10 năm, nghĩa là AFTA sẽ được hình thành vào năm 2003 Trong đó, 6 nước thành viên đầu tiên (gồm: Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) sẽ hoàn thành CEPT vào năm 2003 Đối với Việt Nam gia nhập ASEAN vào năm 1995, vì vậy sẽ kết thúc chương trình này muộn hơn vào năm 2006

0-Chương trình CEPT được thực hiện theo 4 danh mục chính như sau:

• Danh mục cắt giảm thuế nhập khẩu (IL) : mức thuế sẽ giảm còn 0-5% trong vòng 10 năm theo các danh mục cắt giảm thông thường và danh mục cắt giảm nhanh sẽ là 7 năm;

• Danh mục loại trừ tạm thời (TEL): thuế suất hàng hóa sẽ còn 0-5% với lộ trình tương tự như IL nhưng thời điểm bắt đầu có thể được lùi lại sau một khoảng thời gian nhất định;

• Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL): Không nằm trong nội dung của CEPT và phải thuộc những sản phẩm có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia

• Danh mục sản phẩm Nông nghiệp nhạy cảm và chưa qua chế biến: Trong đó những nông sản chưa qua chế biến sẽ được chia thành các danh mục khác nhau tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia và không đưa vào diện phải cắt giảm ngay Tuy nhiên, tất cả những dòng thuế thuộc danh mục này phải được cắt giảm theo lộ trình tại phụ lục 3

7 Trích từ Toàn văn “Hiệp định Thương mại tự do ASEAN” trên website của Trung tâm WTO

Trang 36

Tháng 2/2009, Hiệp định thương mại về hàng hóa của ASEAN (ATIGA) được

ký kết và thực thi vào 17/5/2010 Theo ATIGA, thuế suất cuối cùng trong danh mục nhạy cảm sẽ giảm xuống còn 5% theo tiêu chuẩn chung

Trong lĩnh vực nông nghiệp, những nông sản chưa qua chế biến của Việt Nam thuộc danh mục nhạy cảm như : động vật sống, các loại thịt, cá, trứng gia cầm, ngũ cốc, thóc, gạo lức, chè, đường mía, sẽ vẫn còn áp dụng biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch, giấy phép…

Trong CEPT Việt Nam đã cam kết cắt giảm những nông sản nhạy cảm xuống còn 0-5% trong năm 2013, riêng sản phẩm đường được thực hiện vào năm

2010 và sử dụng hạn ngạch thuế quan theo quy định trong WTO

Cụ thể mức thuế suất cam kết của các nước ASEAN theo các mặt hàng được thể hiện trong phụ lục 4

2.3.2 Hiệp định đối tác kinh tế ASEAN –Trung Quốc (ACFTA) 8

Vào tháng 12 năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện và được xem là khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới (vì RCEP và TPP chưa có hiệu lực) Trong đó, Hiệp định về “Thương mại hàng hóa” bắt đầu từ tháng 7 năm 2005 và nội dung đưa ra bao gồm hầu hết tất cả các lĩnh vực từ lộ trình cắt giảm thuế quan, biện pháp phi thuế, điều kiện hưởng ưu đãi, các biện pháp nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh như chống trợ cấp, chống bán phá giá và tự vệ khẩn cấp, đến các quy định liên quan về cơ cấu thể chế chính sách thương mại

Lộ trình cắt giảm thuế quan trong hiệp định này được chia thành 4 nhóm như sau:

- Chương trình “Thu hoạch sớm” (EHP);

- Danh mục cắt giảm thuế thông thường (NT);

- Danh mục mặt hàng nhạy cảm (SL);

- Danh mục nhạy cảm cao (HSL)

Cụ thể mức thuế suất cam kết được thể hiện trong phụ lục 4

8 Trích từ Toàn văn “Hiệp định Thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc” trên website của Trung tâm WTO

Trang 37

Theo nội dung của ACFTA, chương trình “Thu hoạch sớm” (EHP) cho phép hầu hết các mặt hàng nông nghiệp thô và chưa qua chế biến của Việt Nam sẽ được

áp dụng mức thuế suất bằng 0%, thực hiện từ năm 2004 và cắt giảm theo lộ trình trong 3 năm (đến hết năm 2006)

Về lý thuyết, EHP được đánh giá là có lợi hơn cho Việt Nam vì nông sản thô

là một trong những mặt hàng có lợi thế của nước ta và chiếm tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất trong tổng cơ cấu xuất sang Trung Quốc Tuy nhiên, trên thực tế, giá trị hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường này đang ngày càng giảm vì phải cạnh tranh với Thái Lan, quốc gia này có lợi thế hơn khi được Trung Quốc cam kết tự do hoá hoàn toàn các dòng thuế liên quan đến rau quả, trong khi chất lượng nông sản của Thái Lan cũng được đánh giá cao hơn và hưởng các ưu đãi tương tự như chúng ta

2.3.3 Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) 9

ASEAN và Nhật Bản từ lâu đã là đối tác thương mại quan trọng với nhau Được ký kết vào tháng 4 năm 2008, Hiệp định AJCEP chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 12 năm 2008 Đây được xem là Hiệp định mang tính toàn diện vì bao gồm cả lĩnh vực thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư Mục tiêu của Hiệp định này là xây dựng khu vực mậu dịch chung và tạo chuỗi liên kết giữa ASEAN với Nhật Bản thành một khu vực sản xuất chung

Những ưu đãi mà Việt Nam được hưởng theo cam kết của Nhật Bản trong Hiệp định AJCEP bao gồm:

- Ngay khi có hiệu lực, 7264/9111 dòng thuế của Việt Nam vào Nhật Bản sẽ được hưởng ưu đãi thuế bằng 0% và các dòng thuế còn lại sẽ được cắt giảm theo lộ trình đến hết năm 2025

- Từ năm 2008, các sản phẩm công nghiệp như máy tính, máy móc, cơ khí, linh kiện điện tử, điện thoại, thiết bị, đồ gỗ, dệt may, … sẽ không phải chịu thuế, chiếm 88% giá trị thương mại, và con số này tăng lên 92% vào năm

2018 Cho đến năm 2018, bình quân thuế suất của 97% giá trị hàng công nghiệp của Việt Nam chỉ còn từ 0-5% khi qua thị trường Nhật

9 Trích từ Toàn văn “Hiệp định Thương mại tự do ASEAN- Nhật Bản” trên website của Trung tâm WTO

Trang 38

Xét về ngành nông nghiệp, Nhật Bản cam kết bỏ thuế tương ứng 83.8% giá trị thương mại cho các sản phẩm nông sản Việt Nam Trong đó, có 23/30 mặt hàng nông sản có giá trị xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sẽ được ưu đãi cắt giảm thuế quan từng bước trong vòng 10 năm Các sản phẩm như : gừng, tỏi, sầu riêng, mơ, chôm chôm, nấm, khoai tây…sẽ được hưởng ngay thuế 0% từ khi Hiệp định có hiệu lực Tính đến năm 2015, 923 dòng thuế của sản phẩm nông nghiệp từ Việt Nam đã được xóa bỏ thuế quan và đến 2019, sẽ có 1261 dòng thuế nông sản của Việt Nam được hưởng ưu đãi từ cam kết của Nhật Bản

Đây là Hiệp định được đánh giá là đem lại nhiều lợi ích cho các mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam, vì Nhật Bản luôn là một trong năm thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất của Việt Nam Tuy nhiên, cơ hội lớn nhưng cũng kèm theo là những thách thức về yêu cầu và cam kết quy tắc xuất xứ và tiêu chuẩn cơ bản về an toàn vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm nông nghiệp

Cụ thể mức thuế suất cam kết của Nhật Bản trong AJCEP theo các mặt hàng được thể hiện trong phụ lục 4

2.3.4 Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) 10

Được ký kết năm 2005, Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế Toàn diện ASEAN

- Hàn Quốc được xem là một bước tiến vượt bậc và nâng cao vị thế của ASEAN trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Từ Hiệp định khung, Hiệp định về Thương mại hàng hóa (bắt đầu có hiệu lực từ 6/2007) đã được đàm phán dựa trên

cơ sở nội dung của Hiệp định trước đó giữa ASEAN và Trung Quốc và có phạm vi tương tự ACFTA

Về cắt giảm thuế quan, theo lộ trình đến ngày 1 tháng 1 năm 2010, sẽ có 90% dòng thuế, tương ứng với 75% kim ngạch thương mại của Việt Nam khi tiếp cận thị trường Hàn Quốc được hưởng ưu đãi thuế suất 0% Đối với danh mục hàng nhạy cảm như nông sản thô và chưa chế biến (SL) của Việt Nam thì thuế áp dụng sẽ giảm xuống 0-5% từ ngày 1 tháng 1 năm 2021 Ngoài ra, các quốc gia thành viên sẽ

10 Trích từ Toàn văn “Hiệp định Thương mại tự do ASEAN- Hàn Quốc” trên website của Trung tâm WTO

Trang 39

được lựa chọn các mặt hàng nhạy cảm cao (HSL) để đưa vào cam kết trong Hiệp định này

Cụ thể mức thuế cam kết của Hàn Quốc trong AKFTA xem thêm trong phụ lục 4

2.3.5 Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Ấn Độ (AITIG) 11

Với hơn 1.2 tỷ dân, Ấn Độ là thị trường có sức mua lớn và đầy tiềm năng cho hàng hóa xuất khẩu của ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng Năm 2003,

Ấn Độ đã ký kết Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện với ASEAN (AIFTA) nhưng phải đến năm 2010, Hiệp định về hàng hóa (AITIG) mới có hiệu lực Trong đó, Ấn Độ cam kết xóa bỏ 80% tổng số dòng thuế (khoảng 8000 dòng) trong 6 năm (với 71% cắt giảm trong năm 2013 và thêm 9% năm 2016) Trong tổng

số dòng thuế còn lại thì có 10% sẽ được cắt giảm cho đến năm 2019 và 10% thuộc danh mục loại trừ

Tuy nhiên, Ấn Độ là quốc gia có chính sách bảo hộ cao nên AITIG được đánh giá là có mức độ cắt giảm thuế thấp hơn và có nhiều điểm khác biệt so với các Hiệp định ASEAN+1 khác

Đối với Việt Nam, nhiều sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế xuất khẩu như sản phẩm may mặc, giày dép, thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ, than đá, cao su, sắt thép… được hưởng thuế suất 0% theo Ấn Độ cam kết trong AITIG Trong đó, có các mặt hàng thế mạnh thuộc ngành nông nghiệp như thịt, cá, động vật sống, sữa, rau quả, nước hoa quả, dầu mỡ, bánh kẹo,

Cụ thể mức thuế suất cam kết của Ấn Độ theo các mặt hàng được thể hiện trong phụ lục 4

2.3.6 Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Úc -New Zealand (AANZFTA) 12

Hiệp định ASEAN -Úc và Newzealand có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm

2010 và là Hiệp định thương mại tự do thứ tư được ASEAN ký kết với các đối tác Đối với Việt Nam, khoảng 90% tổng số dòng thuế sẽ được xóa bỏ trong Hiệp định, trong đó 563 dòng thuế bằng 0 ngay khi AANZFTA có hiệu lực Mặc dù vậy,

11 Trích từ Toàn văn “Hiệp định Thương mại tự do ASEAN- Ấn Độ” trên website của Trung tâm WTO

12 Trích từ Toàn văn “Hiệp định Thương mại tự do ASEAN-Úc-New Zealand” trên website của Trung tâm WTO

Trang 40

nếu không có Hiệp định này thì thuế suất qua hai thị trường Úc và New Zealand vốn khá thấp nên tác động của AANZFTA về cắt giảm thuế được đánh giá là không lớn Phụ lục 4 cho thấy có sự chênh lệch thấp giữa mức thuế mà Việt Nam được hưởng trong hiệp định này so với thuế suất cơ sở (thuế MFN của WTO trong năm 2007)

2.3.7 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Nhật Bản (VJEPA) 13

Trong những năm gần đây, Nhật Bản luôn là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam cả về kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu Được ký kết ngày 25/12/2008, Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2009 Đây là đối tác song phương đầu tiên về mậu dịch tự do của Việt Nam vì các FTA trước đó đều với tư cách là thành viên của ASEAN và là FTA thứ mười của Nhật Bản

Trong FTA này cả Việt Nam và Nhật Bản đều cam kết dành nhiều ưu đãi cho nhau hơn so với FTA ASEAN – Nhật Bản và các cam kết trong khuôn khổ WTO

Ngay sau khi VJEPA có hiệu lực, mức thuế xuất khẩu trung bình mà hàng hóa Việt Nam được hưởng khi vào thị trường Nhật sẽ giảm từ 5.05% xuống còn 2.8% vào năm 2019 Theo đó, 2586/9390 dòng thuế (tương ứng với 28%) từ năm

2009 sẽ được Nhật Bản cam kết xóa bỏ Đến năm 2019, tổng số dòng thuế được ưu đãi (mức thuế suất 0%) trong Hiệp định lên 6302 mặt hàng (thêm 3717 dòng) chiếm 67% biểu thuế

Đối với nông sản, đây là lĩnh vực thế mạnh của Việt Nam khi xuất khẩu nhưng cũng là ngành hàng mà Nhật Bản bảo hộ mạnh mẽ nhất Theo cam kết, từ mức 8.1% trong năm 2008, thuế suất bình quân của mặt hàng nông sản sẽ giảm xuống còn 4.74% cho đến năm 2019 Với tổng số 2020 dòng thuế về nông sản, VJEPA được đánh giá là có ưu đãi cao hơn về các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu so với AJCEP Cụ thể về cam kết cắt giảm thuế của Nhật Bản được thể hiện tại phụ lục 4

13 Trích từ Toàn văn “Hiệp định Thương mại tự do ASEAN- Nhật Bản” trên website của Trung tâm WTO

Ngày đăng: 17/06/2018, 19:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w