1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới giáo dục Trường trung học cơ sở

117 326 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới giáo dục Trường trung học cơ sở
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 5,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới giáo dục Trường trung học cơ sở

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUÁ

BĂNG HÌNH, ĐĨA HÌNH GIÁO KHOA

GÓP PHẦN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

Đề tài cấp Bộ B2002- 49 - 33

Chủ nhiệm đề tài: 7S Ngô Quang Sơn

Hà Nội, 2005

937

Trang 2

MUC LUC

PHAN A NHUNG VAN DE CHUNG

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Kinh phí và thời gian nghiên cứu

6 Sản phẩm nghiên cứu

7 Ban Chủ nhiệm đẻ tài và các thành viên

PHẨNB KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU

1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CUA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG

BĂNG HÌNH, ĐĨA HÌNH GIÁO KHOA

1.Téng quan

2.Những vấn đề cơ bản về phương tiện dạy học và băng

hình, đĩa hình giáo khoa

3.Thực trạng sử dụng băng hình, đĩa hình trong dạy học ở

trường THCS

II XÂY DỰNG BĂNG HÌNH, ĐĨA HÌNH GIÁO KHOA

1.Những nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu thiết kế

băng hình và đĩa hình giáo khoa

2.Các loại băng hình, đĩa hình sử dụng trong quá trình dạy học

3.Quy trình xây dựng băng hình, đĩa hình

4.Quy trình xây dựng băng hình, đĩa hình giáo khoa

5.Xây dựng băng hình, đĩa hình đơn giản phục vụ dạy học

II ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG BĂNG HÌNH, ĐĨA HÌNH GIÁO

KHOA TRONG DẠY HỌC TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.Những nguyên tắc khi sử dụng băng hình giáo khoa và

đĩa hình giáo khoa

2.Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng băng hình giáo

khoa, đĩa hình giáo khoa ở trường Trung học cơ sở

3.Phương pháp hướng dẫn học sinh Trung học cơ sở khai

thác kiến thức qua băng hình, đĩa hình giáo khoa

4.Những điều kiện cần thiết để sử dụng băng hình, đĩa hình giáo khoa

3.Đánh giá hiệu quả sử dụng băng hình, đĩa hình giáo khoa ở các trường trung

IV THU NGHIEM DANH GIA VA DIEU CHINH

PHANC KET LUAN VA KIEN NGHI

Trang 3

BANG KE CAC CHU VIET TAT

Trang 4

PHAN A NHUNG VAN DE CHUNG

L LY DO CHON DE TAI

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra từ những năm 50 của thế kỉ XX cho đến nay được đánh dấu bởi một loạt cuộc cách mạng nối tiếp nhau như cách mạng công nghệ mới, cách mạng thông tin, công nghệ sinh hoc, Đặc biệt cuộc cách mạng trong

lĩnh vực thông tin bao gồm các lĩnh vực tin học, truyền thông đang tác động sâu sắc tới

mọi mặt của đời sống xã hội nói chưng và quá trình giáo dục nói riêng Cuộc cách mạng này đang tạo ra những khả năng to lớn của việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CT) vào quá trình dạy học, những ứng dụng đã và đang làm thay đổi vị trí của thiết bị giáo dục (TBGD) Thiết bị giáo dục hỗ trợ tích cực việc thực hiện rnục tiêu, nội dung và phương pháp

Hiện nay nên giáo dục nước ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp Nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp này

là nguồn nhân lực Điều này đã đặt lên vai của ngành giáo dục một nhiệm vụ nặng nề là phải chăm lo phát triển nguôn lực con người, chuẩn bị đội ngũ lao động có phẩm chất, năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới Phải đào tạo

ra những con người mới năng động, sáng tạo có khả năng tự mình tiếp thu kiến thức mới, giải quyết được mọi tình huống xây ra Dé thực hiện được nhiệm vụ này, nền giáo đục nước †a đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp dạy học Định hướng cơ bản của công cuộc đổi mới giáo dục đã được chỉ

rõ trong các Nghị quyết của Trung ương Đảng về vẫn đề giáo dục và đào tạo Đó

là:“Phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng

năng lực tự học, lòng say mê học tập -và ý chí vươn lên” “Đổi mới mạnh mẽ phương

pháp giáo dục và dao tao, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng

tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện đạy học hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của

nay, việc nghiên cứu này đã trở thành vần đề mang tính thời sự của lý luận dạy học hiện

đại, được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu nhằm tìm kiếm thêm những phương hướng và những biện pháp thực hiện một cách có hiệu quả nhiệm vụ quan trọng này

Van dé đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông đã được pháp chế hoá

trong “Luật giáo dục” Với bậc học trung học cở sở (THCS), “Phương pháp giáo dục

phải phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, coi trọng bồi đưỡng phương

pháp thực hành khoa học, kĩ năng van dụng những điều đã học vào thực tiễn” Vấn để

này đã thu hút được sự quan tâm của các Viện Nghiên cứu, các Trường đại học và các

Trường phổ thông Nhưng trong thực tế dạy học ở các Trường THCS thì vấn đề đổi mới phương pháp dạy học còn chuyển biến rất chậm Điều này có nhiều nguyên nhân mà

3

Trang 5

một nguyên nhân quan trọng chính là việc thiếu TBGD, đặc biệt là những thiết bị hiện

đại, phương tiện nghe — nhìn hiện đại; những thiết bị có thể làm thay đổi cách dạy của

GV, cách học của HV

Những hạn chế này dẫn tới một thực trạng: số lượng HŠ ngày một tăng, đội ngũ

GV ngày một đông đảo, cơ sở vật chất của nhà trường, của các lớp đã được cải thiện

đáng kể, nhưng thiết bị đạy học lại quá nghèo nàn Phương pháp dạy học nặng về thuyết trình Trong quá trình học tập, học sinh rất ít được liên hệ với thực tiễn cuộc sống, chưa vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn, xa lạ với những thành tựu khoa học và công nghệ đang diễn ra trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay

Đáp ứng yêu cầu đổi mới về nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy cần thiết phải đưa vào các phương tiện dạy học, nhất là các phương tiện dạy học hiện đại Người ta nhận thấy các phương tiện đạy học có khả năng to lớn trong việc giúp cho GV tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát huy tính tích cực của HS, góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học Trong số các phương tiện dạy học hiện đại được đưa vào sử dụng trong dạy học, băng hình, đĩa hình chiếm một vị trí rất quan

GV tế chức và điều khiển các hoạt động nhận thức của HS

Băng hình, đĩa hình được thiết kế nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường Vai trò và tác dụng chính của băng hình, đĩa hình trong quá trình dạy

học như là phương tiện góp phần đổi mới PPDH :

+ Giúp cho HS hiểu được những nguyên tắc và khái niệm cơ bản, phát triển

được kĩ năng phán đoán, phân tích

+ Góp phần hình thành và nâng cao khả năng quan sát, nghiên cứu khoa học cho HS

+ Góp phan nang cao hiéu qua day va hoc

+ Giúp cho HS nắm vững và ghi nhớ kiến thức lâu bền hơn

+ Phát huy được tác dụng trong mọi hình thức tổ chức dạy học

Vi trí của bảng hình, đĩa hình trong nhà trường phổ thông nước ta cũng đã được chính thức khẳng định thông qua các bản danh mục TBDH theo chương tình đã được ban hành trong những năm gần đây Sử dụng hiệu quả băng hình, đĩa hình như là một bộ phận quan trọng của chiến lược ứng dụng công nghệ, thông tin và truyền thông (ICTS) trong dạy — học có chất lượng ở trường THCS

Song hiện nay ở các trường THCS còn thiếu băng hình, đĩa hình giáo khoa để phục vụ tốt công tác dạy - học Việc trang bị băng hình, đĩa hình ở các trường THCS lại không đồng bộ như là : có nơi có vô tuyến, đầu Video lại không có băng hình giáo khoa,

có nơi khi được cấp băng Video giáo khoa thì đầu Video đã hỏng: Có các trường phổ

thông đã được trang bị máy tính song lại chưa có đĩa CD-ROM giáo khoa

Trang 6

Hơn nữa, Giáo viên các bộ môn cũng gặp phải một số khó khăn trong quá trình sử dụng bảng Video, đĩa CD-ROM giáo khoa như chưa có hướng dẫn để có những biện pháp sư phạm thích hợp làm tăng hiệu quả sử dụng băng, đĩa hình đối với học sinh

Nội dung băng Video, đĩa CD-ROM giáo khoa còn chưa phù hợp hoãc phương pháp sử dụng không hợp lí sẽ làm cho HS phân tán chú ý, mạch tiếp nhận kiến thức của

HS trong giờ học bị gián đoạn, hiệu quả giờ học sẽ không cao Như vậy có 2 điểm cần quan tâm : cách xây dựng các băng hình và đĩa hình (thiên về khía cạnh sư phạm ) và đặc biệt là phương pháp sử dụng chúng như thế nào cho có hiệu quả

Với những lý do chính đã phân tích ở trên, Trung tâm nghiên cứu phát triển học

liệu và thiết bị đạy học (trước là Trung tâm Nghiên cứu CSVC &TBDH) đã triển khai nghiên cứu đề tài cấp Bộ B2002-49-33 về "Nghiên cứu xây dựng và sử dụng hiệu quả băng hình, đĩa ghi hình giáo khoa góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở trường

THCS"

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, xác định một số nguyên tắc và định hướng một số giải pháp nhằm xây dựng và nâng cao hiệu quả sử dụng băng hình, đĩa hình giáo

khoa góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS

II NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Tìm hiểu cơ sở lý luận xây dựng và sử dụng băng hình, đĩa hình giáo khoa ở các trường THCS

2 Tìm hiểu kinh nghiệm các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về việc nghiên cứu, trang bị, sử dụng băng hình, đĩa ghi hình giáo khoa ở các trường THCS

3 Điều tra khảo sát về thực trạng nghiên cứu, trang bị, sử dụng băng hình, đĩa ghi

hình giáo khoa ở các trường THCS trong cả nước hiện nay

4 Xác định nguyên tắc xây dựng và sử dụng hiệu quả băng hình, đĩa ghi hình giáo khoa góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS

1V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Nghiên cứu lý luận

2 Điều tra thực tế

3 Hội thảo khoa học

4 Tổ chức thử nghiệm, rút kinh nghiệm, điều chỉnh hoàn thiện

V KINH PHI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện trong 32 tháng (4/2002 - 12/2004)

với tổng số kinh phí được cấp là : 38 triệu đồng

VI SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU

1 Báo cáo tổng kết đề tài

2 Báo cáo tóm tắt

Trang 7

3 Các báo cáo khoa học trong các hội thảo

4 Các bài báo trên các tạp chí Giáo dục

5 Các băng hình, đĩa hình

VI TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG NGHIÊN CỨU

TS Ngô Quang Sơn

Cử nhân Nguyễn Đăng Khơn

Cử nhân Nguyễn Thị Huỳnh Liễu

Cử nhân Lê Ngọc Thu

Thành viên

Thành viên

Trang 8

PHANB KET QUA NGHIEN COU

I CO SO LY LUAN VA THUC TIEN CUA VIEC SAN XUAT VA SU DUNG BANG

HINH, DIA HINH GIAO KHOA

1.Téng quan

Phương pháp đạy học ở nước ta hiện nay được thay đổi theo hướng “khác phục lối

truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp

dụng những phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học” Hiện nay, trong thực tế dạy học đang tồn tại phương pháp truyền thụ kiến thức có sắn GV lên lớp chủ yếu là giảng giải, thuyết trình HS chủ yếu là nghe, ghi trả lời một số câu hỏi của

thầy và học thuộc lòng những điều thầy truyền thụ Trường THCS mới sẽ thực hiện rộng

rãi thường xuyên phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của HS Chủ yếu GV tổ chức cho HS tự mình phát hiện, tìm kiếm cách thức giải

quyết vấn đề qua các hoạt động học tập thích hợp

Đổi mới phương pháp dạy học là HS được làm việc nhiều hơn (làm thí nghiệm, làm việc trực tiếp với tranh, ảnh, bản đồ, các văn bản ) được nghĩ nhiều hơn (quan sát, so sánh, phân tích rút ra các kết luận về bản chất các sự kiện, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và con người), được thảo luận nhiều hơn GV là người thiết kế trên giáo án các hoạt động của thầy và trò ở trên lớp, là người thông báo thông tin mới, tổ chức hướng dẫn cho

HS thu thập thông tin, xử lý thông tin (thông qua hoạt động cá nhân hoặc nhóm) và vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống, là trọng tài trong khi HS tranh luận với nhau, giúp

HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ bọc tập Hình thức tổ chức học tập sẽ đa dạng hơn

Ngoài sự đánh giá của thầy còn có hình thức HS tự đánh giá kết quả học tập của bản

thân và của bạn Không khí học tập trên lớp sôi nổi, HS hứng thú, tích cực làm việc dưới

sự tổ chức và hướng dẫn của thầy Đổi mới phương pháp dạy học yêu cầu có phương

tiện, thiết bị dạy học

Phim ảnh được đưa vào sứ dụng trong nhà trường từ những năm 1910 và đã trở thành một phương tiện dạy học mang lại hiệu quả to lớn trong giáo dục, làm thay đổi bộ mặt của nhà trường và cũng từ đó xuất hiện khái niệm “Giáo dục thính thị" trong nên

giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới

Đến những năm 1970, khi kĩ thuật Video ra đời đã cung cấp cho giáo dục một

phương tiện dạy học tiện lợi hơn và Video dần dần đã thay chỗ cho các loại phim ảnh khác nhờ tính năng ưu việt của nó

Nhưng những công trình nghiên cứu vẻ lý luận và phương pháp xây dựng sử dụng băng hình Video trong các trường học nói chung và ở trường THCS nói riêng vẫn còn quá ít Về phương pháp sử đụng băng hình Video trong dạy học phải kế tới hai cuốn sách cùng tên của hai nhà giáo dục Xô Viết cũ M.B Vextiski, L.P Precxmana:“Phương tiện kỹ thuật dạy học ở trường phổ thông trung học” xuất bản năm 1972 và 1977 tại Cộng hòa liên bang Nga Tuy nhiên, phương pháp sử dụng băng hình Video để dạy học theo hai cuốn sách này chỉ nhằm mục đích minh họa lời giảng của GV trong một tiết

Trang 9

học, việc sử dụng băng hình Video như một nguồn kiến thức để dạy học chưa được chú

ý nghiên cứu

Các nước ở Châu Á - Thái Bình Dương vào những năm 80 của thế kỷ XX đã thực hiện những kế hoạch sử dụng phim Video để đào tạo từ xa cho giáo viên Vai trò chính của việc sử dụng Video theo hướng này được xác định như là nguôn bổ sung, cung cấp tài liệu trực quan Irong những năm gân đây, các nước nay rất quan tâm đến việc trang

bị cho các trường phổ thông các phương tiện nghe - nhìn nhằm áp dụng công nghệ giáo dục

Ở Malaixia từ năm 1986 tất cả các trường phế thông đã được cung cấp Tivi, đầu Video

Ở Inđônêxia, việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn hiện đại được đặc biệt chú ý trong các kế hoạch được thực hiện ở thời kỳ 1984 - 1985 đến 1988 - 1989 hướng vào việc: sản xuất, sao chép, phân phối, sử đụng chương trình phim (băng hình), băng ghi

âm cho các trường trung học phổ thông, mở rộng các dịch vụ đảo tạo GV THCS, GV

tiểu học, có sự hỗ trợ của Radio, Tivi, Video

Ở Thái Lan, việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn được xác định là nhóm PTDH quan trọng trong bến nhóm phương tiện truyền thông dạy học: nhóm không chiếu hình, nhóm có chiếu hình, nhóm phương tiện nghe nhìn, nhóm các phương tiện trợ giúp dạy học

Có thể nhận thấy rằng: việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn hiện đại nói chung và phim Video nói riêng đã sớm được phát triển và có vai trò tích cực trong việc nâng cao chất lượng đạy học ở các nước Các nước đang phát triển ở Châu Á - Thái Bình Dương đang trong quá trình hoàn thiện việc sử dụng các phương tiện dạy học này gắn liền với việc ứng dụng công nghệ giáo dục

Ở các nước, việc xây dựng, sử dụng phim Video đạy học ở tit cả các bộ môn trong nhà trường là một nội dung quan trọng của việc ứng dụng CNTT và TT Một số nước

phát triển còn xây dựng được một chương trình phim Video nhằm mở rộng sự hiểu biết

về thiên nhiên, xã hội cho HS, SV và quần chúng nhân dân Những nguồn phim ngày

càng phong phú này và được Đài truyền hình Việt Nam phát trong chương trình VTV2

và VTV3 Nhiều tài liệu nghiên cứu về Video và phương pháp sử dụng Video trong dạy học đã được xuất bản Tuy nhiên, trong các tài liệu này, Video thường được trình bày chung với các phương tiện nghe nhìn khác và chủ yếu giới thiệu về mặt kỹ thuật và quy trình xây dựng băng Video, còn phương pháp sử dụng trong dạy học chỉ được trình bày một cách khái quát về ý nghĩa, tính năng và một số hướng dẫn có tính chất nguyên tắc

Ở nước ta việc xây dựng và sử dụng phim Video (băng hình Video) dạy học mới ở giai đoạn bước đầu nghiên cứu, ứng dụng.Trong việc nghiên cứu và xây dựng băng hình dạy học trước hết phải kể đến Trung tâm học liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm nghe - nhìn giáo dục của Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh Đây là

những nơi cho ra đời những "băng hình dạy học đầu tiên

Có thể đánh giá chung về các bộ phim Video như sau:

- Ưu điểm:

+ Nội dung phim thê hiện được hệ thống kiến thức của bài học được sắp xếp phù

hợp với nội dung của bài hoặc một phần của bài theo chương trình cũ

+ Những hình ảnh đưa lên phim có sự lựa chọn nhằm thể hiện đúng các nội dung môn học

+ Mỗi bộ phim được chiếu trong khoảng từ 10 phút đến 20 phút phù hợp với việc

Trang 10

tổ chức một tiết học ở trường phố thông

+ Các bộ phim được xây dựng kế trên chủ yếu là những phim phục vụ cho các bài truyền thụ kiến thức mới, hay sử dụng trong tiết học ôn tập, tổng kết

+ Số lượng phim Video cho dạy học các bộ môn còn tất ít

+ Ngoài ra, vê mặt kỹ thuật, việc lưu giữ các bộ phim này chủ yếu trên băng từ

nên dễ ầm, mốc, hư hỏng và chưa thật tiện lợi khi sử dụng

Khai thác nguồn phim Video phỗ biến kiến thức vật lý, hoá học, sinh học, địa lý

Nguồn phim này hết sức phong phú và được phát trên truyền hình Các bộ phim của các chương trình: Phim khoa học; Phim tài liệu; Chân dung cuộc sống: Khoa học và Đời sống: Vòng quanh thế giới Đây không phải là những bộ phim giáo khoa, nhưng nội dung của các bộ phim này có thể sử đụng làm tài liệu cho việc dạy học các bộ môn

ở bậc THCS Nguồn phim này lại được thường xuyên đổi mới và cập nhập tạo điều kiện không những cung cấp nguôn tài liệu phong phú nhiều hình ảnh trực quan mà còn tạo điều kiện để liên hệ thực tế và thời sự hóa kiến thức, Nội dung của phim có ý nghĩa lớn trong việc phổ biến khoa học và dạy học các bộ môn , cần phải được khai thác sử dung

Đến cuối năm 2000 cả nước có trên 18 triệu Tivi các loại Ở các thành phố, thị

xã, huyện, Tivi đã rất phổ biến Cuối năm 1992 ở nội thành Hà Nội 100% số hộ gia đình

có Tivi, có trên 10000 hộ gia đình có Video Ở thành phố Hồ Chí Minh cứ khoảng 10 hộ

gia đình thì có một hộ gia đình có Video

Trong những năm gần đây các số liệu này đã tăng lên nhiều Theo tong diéu tra năm 1999 vệ tình hình phủ sóng truyền hình ở một sô địa phương như sau: sô xã đã phủ sóng truyền hình chiếm tỷ lệ cao nhất là Đồng bằng Sông Hồng 97,9%, thấp nhất ở Tây Nguyên, tỉ lệ này là 80,8% Tỷ lệ trung bình cả nước là 96,2%

Công nghệ chiếu phim Video cũng có những tiến bộ với việc sử dụng rộng rãi đầu VCD, đĩa CD-ROM, đĩa DVD và các chương trình máy tính với chất lượng hình ảnh, sự tiện lợi, hơn hắn sử dụng đầu video (VCR) và băng từ l

Trong việc trang bị và sử dụng phim Video và các phương tiện nghe nhìn nói chung, trường học đã tỏ ra rất yếu kém và lạc hậu so với xã hội Mức trang bị các phương tiện phục vụ chiếu phim Video dạy học trong nhà trường THCS ở nước ta còn rất thập Phần lớn các trường ở khu vực nông thôn chưa được trang bị các loại phương tiện dạy hoc nay

Cũng đã có một số tải liệu nghiên cứu về Video, trong đó Video được giới thiệu với tư cách là một phương tiện dạy học hiện đại:

- Cuén “Phuong tiện dạy học” của Tô Xuân Giáp, xuất bản năm 1997 chủ yếu giới thiệu về vai trò, tính năng và quy trình xây dựng băng video giáo khoa

- Đề tài nghiên cứu “Đưa phương tiện nghe nhìn hiện đại vào nhà trường trong điều kiện kinh tế Việt nam từ năm 1990 đến năm 2000” của Ngô Thế Phong và Từ Văn

9

Trang 11

Son (1993) Dé tai này chỉ nghiên cứu về vai trò, tình trạng và đề xuất phương án đưa các phương tiện nghe nhìn hiện đại, trong đó có Video vào sử dụng trong nhà trường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, không nghiên cứu về phương pháp sử dụng các phương tiện này trong dạy học Tuy nhiên, từ dé tài này hàng loạt băng Video giáo khoa của tất cả các bộ môn được xây dựng và xuất bản

Trong dạy học ở trường THCS, PTDH truyén thong tuy được sử dụng rộng rãi nhưng có những hạn chế nhất định Để nâng cao chất lượng dạy học, cần kết hợp sử dụng các loại PTDH này với các phương tiện nghe nhìn hiện đại Trong hệ thống phương tiện nghe nhìn hiện đại hiện nay, băng hình, đĩa hình là một trong những PTDH

có nhiều ưu thế trong dạy học Cần phải nhanh chóng nghiên cứu việc xây dựng, sử dụng băng hình, đĩa hình và các phương tiện nghe nhìn khác vào dạy học đáp ứng yêu câu đổi mới và hiện đại hóa các PTDH

2 Những vấn đề cơ bản về phương tiện dạy học, băng hình và đĩa hình giáo khoa

2.1 Vai trò của phương tiện nghe nhìn (PTNN) trong quá trình dạy học

Sự phát triển của PTNN luôn gắn liền với sự biến đổi, sự tiến bộ của khoa học và

công nghệ Có thể phân chia thành 3 giai đoạn phát triển sau:

2.1.1 Giai doan I

Dùng phim nhựa để ghi lại hình ảnh và âm thanh một cách đồng bộ Song

phim rất khó bảo quản (bị mốc, xước phim, quay xong phải qua khâu ¡in tráng, phương tiện kỹ thuật cổng kẻnh, phức tạp phải có phòng kín, có màn ảnh, kích thước phim bị hạn chế 16 - 35 ly) do đó ít được phố biến Tuy vậy vì tính ưu việt của loại hình TBDH này nên cũng được phổ biến và phát triển mạnh để phục vụ công tác giảng dạy vào những

năm 60 - 80 của thế kỷ trước ở các nước Nga, Anh, Pháp, Đức ngay ở Việt Nam ta

những năm 80 của thế kỷ trước có năm cung cấp tới 140 - 150 đầu phim nhựa, phục vụ công tác giảng đạy trong trường học

2.1.2 Giai đoạn II

Dùng băng từ tính để ghi lại hình ảnh, âm thanh một cách đồng bộ Băng ghi

hình quay xong có thể sử dụng ngay không cần khâu ¡in tráng, dé bảo quản, chất lượng

tốt hơn phim nhựa Phương tiện kỹ thuật gọn nhẹ, phổ thông không cần phòng tối và màn ảnh chỉ cần tivi và đầu video là có thể sử dụng được do đó nó được dùng phổ biến ngay ở nhà học sinh Đầu Video, Tivi và với thiết bị điều khiển bằng tay ta có khả năng

điều khiển băng ghi hình tạm dừng hoặc tua lại một cách tuỳ ý dễ dàng hoặc ta có thể ghi lại hình ảnh, âm thanh của chương trình truyền hình học đường VTV2, TV để phục

vụ cho việc giảng dạy.Với những ưu điểm vượt trội của băng hình (BH) so với phim nhựa do đó băng ghi hình đã dần dần lấn át và thay thế cho loại hình phim nhựa không những trong trường học mà ngay cả các lĩnh vực khác trong hoạt động của xã hội

2.1.3 Giai doan ITI

Với sự xuất hiện máy vi tính, mạng máy tính, bộ đa phương tiện Cùng với các phương tiện chứa dung thông tin: đĩa CD-ROM; VCD; DVD đã giúp con người nâng cao tri thức, phát triển khả năng sáng tạo Các chuyên gia giáo dục có thể thiết kế được các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng (các thí nghiệm độc hại, nguy hiểm các

thí nghiệm không thể thực hiện được ) để phục vụ công tác giảng dạy Những phần

mềm đạy học có nhiều ưu điểm so với các loại hình TBDH truyền thống

Trang 12

Các PTNN là một loại hình TBDH nhưng có các đặc điểm và ưu thế riêng Đặc điểm chung của chúng là có khả năng tạo cơ sở cho sự nhận thức của HS thông qua tác

động trực tiếp đối với các giác quan - thính giác, thị giác, hoặc cả thính giác và thị giác

(1) PTNN tác động đối với nhận thức của HS vì chúng đem lại các nguồn cảm thụ

mạnh, phong phú và do đó HS đạt được nhận thức và tư duy cao Với các PTNN, các thông tin phong phú tác động đa dạng mang tính kĩ thuật và nghệ thuật có sức kích thích,

gợi cảm cao HS tiếp nhận các hình ảnh trực quan, thu được nhận thức cảm tính một cách nhẹ nhàng, để từ đó chuyển sang 1ư duy lôgíc và tư duy trìu tượng một cách thuận

lợi, sâu sắc

- Khi sử dụng các PTNN xuất hiện một tình huống đặc biệt "hiệu ứng tham dự”

Từ quan sát, HS trở thành người trong cuộc, các em cũng tìm kiếm, nêu lên những giả thuyết và khao khát tìm giải đáp Bằng "hiệu ứng tham dự” các PTNN có tác dụng kích

thích hứng thú mạnh mẽ, gây ấn tượng sâu sắc và hướng dẫn hành động mau lẹ cho HS

- Các PTNN mang trong mình những ưu thế đặc biệt của "tính động" Cơ sở khoa

học của tính động này không chỉ ở sự chuyển động của các đối tượng xuất hiện trên

màn ảnh mà còn nhiều đặc tính điễn cảm của ngôn ngữ nghe - nhìn - sự thay đổi cơ học, thay đổi âm thanh, thay đổi kích thước của hình ảnh, sự khác nhau về màu sắc, sự thay đổi về cường độ ánh sáng và dàn dựng hình và cảnh theo tiến trình nội dung Tính động

không những gây hứng thú đặc biệt cho HS mà còn giúp giải quyết một loạt vấn đề trong

quá trình dạy và học: dẫn dắt kiến thức theo một trình tự lôgíc, nhấn mạnh khắc sâu những điểm cần thiết hoặc thu hút suy nghĩ của các em vào những vấn đề cần giải đáp

trình bày

(2) Các PTNN có thể đem đến cho HS nhiều thông tin, kiến thức phong phú, vượt

qua giới hạn thời gian và không gian Nhờ PTNN trong khoảnh khắc HS có thể quan sát

từ đối tượng này sang đối tượng khác Nhờ PTNN, HS có thể quan sát được các thí nghiệm mà các em không thể đến gần được như các phản ứng của các hoá chất độc hại, các vụ nổ hạt nhân, núi lửa

BHGK va DHGK 1a hai trong nhiều loại hình của nhóm các phương tiện nghe nhìn giáo dục (PTNNGD) trong hệ thông TBDH Chúng là những phương tiện vật chất cần thiết mà bằng tác động hình ảnh và âm thanh của mình có thể giúp cho GV và HS tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dưỡng và giáo dục ở các cập học, các lĩnh vực, các môn học để có thể góp phần thực hiên được những yêu cầu của chương trình giảng đạy Cụ thể, nhóm các PTNNGD này gồm có:

- Máy chiếu Diafilm và Diafilm (thường còn được gọi là phim đèn chiếu)

- Máy quay đĩa và đĩa ghi âm

- Máy ghi âm và băng ghi âm

- Máy thu thanh (Rađio) hoặc máy thu thanh có ghi âm (Radio Cassette) và

bang ghi 4m Cassette

- Máy chiêu phim điện ảnh và phim dién anh (cdc loai phim 35 mm, 16mm,

8mm )

- Máy chiếu tranh, ảnh, tài liệu in (Espiscope) và tranh ảnh, tài liệu in ding

cho Espiscope

- Máy quay đĩa ghi hình và đĩa ghi hình

- Tivi (máy thu hình)

- Đầu Video và băng Video (băng ghi hình)

- Máy chiếu qua đầu (Overhead Projector) và bản trong (Transparency)

- Máy chiếu vật thể (Digital Presenter)

Trang 13

- May chiéu da nang (LCD Projector), may chiếu đa năng chức năng hình trong hình

- Bảng thông minh (Smart Board)

Chúng cũng là những loại hình TBDH nhưng có các đặc điểm và ưu thế riêng Đặc điểm chung của chúng lả có khả năng gây nhận thức của con người thông qua tác động trực tiếp đôi với các giác quan - thính giác (nghe) như Radio, băng và đĩa ghi âm hoặc thị giác (nhìn) như máy chiều qua đầu và bản trong, máy Espiscope chiếu tranh ảnh và tài liệu in, hoặc cả thính giác và thị giác (nghe - nhìn) như Tivi, BHGK và ĐHGK Chúng ta quan niệm: đĩa hình, băng hình là cái giá mang théng tin Phim Video là nội dung thông tin được chúa đựng trong cái giá mang thông tin do (đĩa hình, băng hình)

2.2 Băng hình giáo khoa

2.2.1 Khái niệm băng hình

Băng hình là các hình ảnh được ghi lại theo các tín hiệu hình ảnh chuyển động

và âm thanh trên băng từ tính bằng phương tiện kỹ thuật máy quay (Camera) và được phát lại bằng đầu máy Video (đầu Video) và máy thu hình (TV) Băng Video (Video Tape) có phủ một lớp mỏng chất từ tính

Băng hình có nhiều lợi thế khi sử dụng như: người học có thể đừng băng lại, có

ý kiến, ghi chép; Người học có thể xem lại nội dung; Bài giảng có thể có độ đài khác

nhau; Bài giảng có thể được chia nhỏ thành các phần phù hợp với các hoạt động xen kế; Giúp ích cho thảo luận nhóm

Trong hệ thống phân loại phương tiện dạy học, người ta xếp băng hình thuộc loại phương tiện nghe nhìn hiện đại bao hàm các tính năng nghe, nhìn và động Sự kết hợp các tính năng này tạo hiệu quả cao trong quá trình truyền thông Ngoài ra, băng hình là một phương tiện hội tụ được các tính năng của phim đèn chiếu, điện ảnh, truyền hình Vì vậy băng hình là một phương tiện dạy học được sử dụng rộng rãi trong các trường học

Đầu Video là loại máy đa hệ dùng để ghi - đọc hình ảnh và âm thanh thường được viết tắt là VCD (Video Cassette Recorder), được coi như phần cứng, là cơ sở để thực hiện các nguyên lý thiết kế theo các yêu cầu biểu diễn nội dung bài học

2.2.2 Khái niệm băng hình giáo khoa

Băng hình GK là một thể loại trong băng hình nhưng mang chức năng của một TBDH, thể hiện tính trực quan sinh động, có nội dung biên soạn phù hợp với chương trình, sách GK

2.2.3 Đặc điểm băng hình giáo khoa

a) Đặc điểm của băng hình (BH)

BH cũng có những đặc điểm chung tương tự như phim Xi-nê, đĩa ghi hình

- BH là một dạng đặc biệt của nghệ thuật, trong đó nó tổng hợp đặc điểm của các thể loại phim: phim khoa học, phim thời sự phim tài liệu, phim truyện

- BH có khả năng trình bảy tất cả các giai đoạn phát triển của đối tượng nghiên cứu ở dạng động, trong quá trình biến đổi liên tục Tính động biểu hiện ở sự di chuyển cơ học của đối tượng nghiên cứu, sự lắp dần những chỉ tiết mới vào những hình

Trang 14

tượng đơn giản ban đầu kỹ thuật ghi hình có khả năng làm cho những mô hình, dụng

cụ, những hình ảnh minh họa “tnh” cũng trở nên “động” Sự tiếp thu kiến thức dưới dạng “động” phản ánh được những giai đoạn kế tiếp nhau của sự nhận thức đối tượng nghiên cứu Tính động ở đây không chỉ là sự vận động bên ngoài của đối tượng nghiên cứu mà còn là sự động của nhận thức, sự động của câu trúc lôgíc, sự động của phát triển

nội dung

- BH thé hiện các sự vật, hiện tượng bằng hình ảnh động (ngôn ngữ tạo hình)

và âm thanh (lời nói, tiếng động, âm nhạc ) nhằm tác động đồng thời vào thị giác của người xem Vì vậy BH có sức truyền cảm rất mạnh

- Nhờ các phương tiện kỹ thuật hiện đại (kính biển vi điện tử, kỹ thuật điện

tử, kỹ thuật vi tính, kỹ thuật quay tốc độ chậm — nhanh, vệ tỉnh nhân tạo ) BH có thể ghi lại cả những hình ảnh của sự vật, hiện tượng mà ta không có điều kiện quan sát trực tiếp (sinh vật sông đưới đáy đại đương, địa hình trên mặt trăng, sao hoả, cầu trúc tế bào,

đời sống của khủng long )

- BH được quay phối hợp bằng nhiều thủ pháp khác nhau: toản cảnh, trung cảnh, cận cảnh, sử dụng kỹ thuật hoạt hình, kỹ thuật vi tính

- BH vừa được ghi xong có thể phát lại ngay trực tiếp trên máy quay (Camera) hoặc hệ thống Video mà không cần phải qua các hệ thống in tráng như phim Xi-nê; đoạn nào không đạt có thể quay lại ngay Điều đó rất có lợi, nhất là khi phải ghi lại các hình ảnh ở xa, mất nhiều công dàn dựng, bố trí hoặc những sự kiện chi xây ra

trong ngày

- Sử dụng BH trên màn hình TV có độ rọi, độ tương phản tốt, độ nét cao, giúp cho HS có thể quan sát hình ảnh trong phòng có ánh sáng bình thường mà không cần các màn che tối như chiếu phim Xi-nê

- Điều khiển đầu máy Video và TV bảng thiết bị cầm tay có khả năng tua

băng đi hoặc lùi lại một cách thuận tiện Ngoài ra chúng ta có thể điều khiển hình ảnh chuyển động chậm lại hoặc dừng hình ảnh Nhờ vận dụng tính năng tua băng lùi - tiến, điều khiển băng chuyển động chậm lại, các đạo diễn truyền hình các trận bóng đá có thể cho khán giải xem lại tường tận các quả làm bàn ở nhiều góc độ khác nhau, những lỗi dẫn đến phạt thẻ vàng, thẻ đỏ, phạt đến, Các buổi tường thuật thi đấu điền kinh, quyền anh, đua xe máy, đua ôtô cũng có thể vận dụng tính năng này, giúp cho việc theo dõi chương trình càng trở nên hấp dẫn, lí thú

- BH được ghi đồng thời cả kênh hình và kênh âm thanh Song, do yêu cầu

sử dụng với mục đích khác nhau ta có thể cắt bỏ phan tiếng, hoặc phân lời ca chỉ giữ lại phần nhạc đệm (Băng hát Karaoke)

b) Ngoài những đặc điểm của băng hình nói chung, băng hình giáo khoa

còn có những đặc điểm riêng của một loại thiết bị dạy học:

- Băng hình GK ghi được những hình ảnh chuyển động và âm thanh nhằm

tác động trực tiếp vào thị giác và thính giác của học sinh Băng hình GK thu hình ảnh và

âm thanh có thể một cách đồng bộ

- Băng hình GK có khả năng thu được hình ảnh nhờ máy quay (Camera) và

các phương tiện kỹ thuật đặc biệt như quang tuyến X, kính hiển vi điện tử v,v có thể thu được nhiều hình ảnh mà mắt thường ta không thể có điều kiện quan sát được

- Quy trình sản xuất băng hình GK có quy trình thuận tiện và tiết kiệm thời

gian, kinh phí so với sản xuất phim điện ảnh Băng hình GK đựng trong hộp gọn nhẹ, dễ

sử dụng và bảo quản

Trang 15

- Thu xong băng hình GK có thể phát lại ngay một cách trực tiếp nhờ các phương tiện kỹ thuật, viễn thông

- Băng ghi hình thể hiện trên màn hình Tivi với độ rọi, độ tương phản tốt, độ nét

cao, giúp HS xem rõ trong phòng học ánh sáng bình thường mà không cần các màn che

tối như chiếu phim điện ảnh

- Sử dụng đầu máy Video và Tivi bằng thiết bị điều khiển cầm tay có khả năng điều khiển băng ghi hình tạm dừng, tua lại một cách thuận tiện

- Sử dụng đầu máy Video, Tivi có khả năng ghi lại hình ảnh và âm thanh của chương trình truyền hình học đường Giáo viên sử dụng băng hình này để dạy học một cách chủ động trong lớp

- Kết hợp với phương pháp hoạt hình, quay băng toàn cảnh, trung cảnh, cận

cảnh, đặc tả; phương pháp dựng hình Băng hình GK là những ánh xạ tự nhiên (như thật),

đo đó có đặc điểm hấp dẫn học sinh học tập

- Băng hình hỗ trợ quá trình nhận thức của học sinh (từ trực quan sinh động đến

tư duy trìu tượng, từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn khách quan)

- Nâng cao hiệu quả dạy học, trong giới hạn nhất định của thời gian lên lớp băng

hình giáo khoa đã tăng nhịp độ trình bày tài liệu, tiết kiệm thời gian, dành thời gian cho giáo viên và học sinh luyện tập, thực hành Băng ghi hình nhằm minh hoạ các ý tưởng bằng hình ảnh cụ thể nên khuyến khích hứng thú học tập Thôi thúc người xem có hành động: khuyến khích người xem tham gia, thực hiện các hành động Tính hệ thống giàu

hình ảnh của băng hình tức là hình ảnh chuyển động, hình ảnh thật hoặc đồ hoạ với

những tác động âm thanh và hình ảnh đồng thời, cự l¡ hình ảnh, cận cảnh, các tác động

về mặt thị giác, tiến trình thời gian, ẩn dụ hình ảnh Thuộc tính này khiến băng hình trở

lên hiệu quả hơn các hình thức truyền thông khác Người học có thể dừng lại, có ý kiến, ghi chép Có thể xem lại nội dung nhiều lần

Băng Video (phim Video) là phim được ghi trên băng từ, không ghi trên phim nhựa như phim điện ảnh Băng từ là những băng nhựa PVC (Polyvinyl Clorua) trên có

lớp bột nhiễm từ như Ôxít sắt từ (FeO¿) hay Bioxyt crôm (CrO¿) Các hạt sắt của lớp

bột này bị nhiễm từ khi chịu tác đụng của môi trường và khí ra khỏi môi trường chúng còn giữ lại một mức từ dư Ghi tín hiệu trên băng từ là phương pháp dùng dòng điện tín hiệu (âm tần hay thị tần) tạo thành điện môi trường Điện môi trường của tín hiệu tác động lên băng từ và để lại trên băng từ những độ từ dư theo quy luật của tín hiệu ghi Đọc tín hiệu trên băng là những bộ từ dư đi qua đầu từ đọc lại biến đối thành đòng tín hiệu (âm tần hay thị tân) ban đầu

So với phim điện ảnh thì phim Video có nhiều tính chất ưu việt về nhiều phương diện như phương pháp quay phim, ráp nối điện từ cho phép tiếp nhận được sự phối hợp những cảnh phức tạp bất kỳ, cho phép quay đi quay lại nhiều lần

c) Băng hình (Băng Video) có những tính chất cơ bản sau đây:

- Tính động: Phim Video kết hợp giữa hình ảnh động (Video) và âm thanh

(Sound)

- Tỉnh lưu giữ: Phim Video có thé ghi chép, bảo tỒn và tái tạo một sự việc, hiện

tượng hoặc một quá trình Khi một cảnh vật đã được quay, một âm thanh đã được thu thì

những thông tin đó được lưu giữ và có thể in thành nhiều bản để sử đụng bất cứ lúc nào

và ở đâu cần tới Tính lưu giữ cho phép Video chuyến tải một sự việc vượt thời gian

- Tính gia công: Phim Video có thể biên tập lại, cắt nối các đoạn phim theo mục đích yêu cầu đề ra Từ những đoạn phim được lưu trữ từ nhiều năm có thể lựa chọn, sắp

Trang 16

xếp các đoạn trích dé dựng thành cuốn phim cần thiết cho việc dạy học Trong quá trình

sử dụng có thể thúc đây, gia tốc, kìm hãm, quay ngược lại hoặc tạm đừng lại khi cần

thiết

- Tính phân phối: Tính lưu trữ cho phép phim Video chuyển tải một sự việc vượt thời gian, còn tính chất phân phối cho phép chuyển tải một sự việc vượt không gian Có thê nhân bản cùng một băng Video để phân phối cho nhiều trường hoặc có thể cho HS nhiều lớp cùng một lúc xem một nội dung trên một băng Video nhờ hệ thống truyền hình mạch kín

Với nhiều tính năng ưu việt, băng Video dược sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy các thể loại băng Video rất phong phú và đa dạng, bao gồm băng Video sử dụng trong đời sống xã hội, băng Video sử dụng trong nghiên cứu khoa học và băng Video sử dụng trong giáo dục

Trong giáo dục chúng ta có một hệ thống băng Viđeo giáo khoa với những đặc điểm và yêu cầu riêng Băng Video giáo khoa là những băng Video được xây dựng dé phục vu cho việc dạy học Nội dung cia bang gan liền với nội dung của môn học, bai học Câu trúc của băng gắn liền với nội dung, PPDH và đảm bảo những yêu cầu sư phạm cần thiết Băng Video giáo khoa ngày càng được sử dụng rộng rãi và dan dan thay thế vị trí của phim điện ảnh và phim đèn chiếu, trở thành một phương tiện nghe nhìn hiện đại, mang lại hiệu quả cao trong giáo dục và đảo tạo

Ngày nay với sự hỗ trợ của máy vỉ tính với các phần mềm hữu dụng đã cung cấp cho GV nhiều Videoclip có thể sử dụng trong dạy học, ví dụ như phần mềm Encarta World Atlas có thể cung cấp rất, nhiều các Videoclip về các môn học đưới các hình thức phim tư liệu, phim hoạt hình ngắn Ngoài ra, kỹ thuật vi tính còn giúp cho việc xây dựng các loại băng Video giáo khoa trở nên đễ dàng, nhanh chóng và đa dạng hơn rất nhiều

Kỹ thuật vi tính còn có thể giúp chuyển nội dung phim từ băng từ qua đĩa VCD dùng trên đầu VCD hoặc trên máy vì tính giúp cho GV chọn lựa nội dụng trình chiếu một cách nhanh chóng và chính xác hơn rất nhiều so với dùng băng Video chạy trên đầu máy Video

Với nhiều tính năng truyền thông ưu việt, băng Video có nhiều vai trò to lớn trong dạy học Để hiểu được một đối tượng, không những cần phải nắm được các đặc tính của đối tượng mà còn phải hiểu ý nghĩa, khái niệm và những nguyên tắc nằm sau đối tượng đó Băng Video giúp trình bày nội dung có tính khái niệm ây dưới hình thức phôi hợp giữa âm thanh và hình ảnh theo một trình tự liên kết hữu cơ, đo đó HS có thể

tự mình hiểu được những nguyên tắc và khái niệm cơ bản, cũng như phát triển được các

kỹ năng phân tích, tổng hợp, phán đoán ⁄

- Băng hình giáo khoa góp phần làm gia tăng, khắc sâu những kinh nghiệm trực tiếp, giúp cho việc học tập thêm phong phú và sâu rộng hơn

Kinh nghiệm trực tiếp có được nhờ quá trình quan sát, nghiên cứu, làm thí nghiệm Nhưng những kinh nghiệm HS trực tiếp lĩnh hội được ở trường còn nhiều hạn chế Do đó băng Video có thể bổ sung cho sự thiểu hụt của kinh nghiệm trực tiếp bằng kinh nghiệm gián tiếp Nhờ băng Video HS được quan sát những hình ảnh, được nghe

những âm thanh vượt không gian và thời gian, nghiên cứu, khám phá được cả những sự

kiện, hiện tượng mà các em không có điều kiện trực tiếp tiếp cận

- Băng hình giáo khoa giúp cho học sinh nắm vững và ghi nhớ kiến thức lâu bền hơn

Trang 17

Băng hình (Băng Video) tác dụng trực tiếp đồng thời vào thị giác và thính giác trong quá trình lĩnh hội kiến thức sẽ giúp cho HS năm vững và ghi nhớ kiến thức lâu bền hơn Từ thực nghiệm khoa học, các chuyên gia đã tổng kết các mức độ tiếp nhận kiến thức của học sinh trong quá trình học tập qua con đường cảm giác với sự hỗ trợ của phương tiện dạy học như sau:

1% qua nếm 1,5% qua sờ 3,5% qua ngửi 11% qua nghe

và 83% qua nhin Như vậy tỷ lệ tiếp nhận kiến thức từ ngoài vào óc người qua nghe và nhìn lớn nhất, chiếm đến 94%

Người ta cũng tống kết được mức độ ghỉ nhớ kiến thức như sau:

20% qua nghe được

30% qua nhìn được 50% qua nghe và nhìn được

§0% qua nói được

90% qua nói và làm được

Các nhà giáo dục Án Độ cũng chỉ ra rằng: Tôi nghe - Tôi quên; Tôi nhìn - Tôi nhớ, Tôi làm - Tôi hiểu

Điều này nói lên tác dụng của BHGK đối với sự ghi nhớ kiến thức của HS:

- Góp phần nâng cao hiệu suất dạy và học, hợp lý hóa lao động của GV và HS, phát huy tác dụng trong mọi hình thức dạy học

Với thời lượng nhất định, băng Video trình bày nội đung kiến thức một cách tối ưu

thông qua những hình ảnh, với các cảnh thật người thật, các biểu bảng, sơ đổ, bản đỏ,

chữ viết và những lời thuyết minh sống động, những tiếng động thật kết hợp với âm nhạc sẽ giúp nhịp độ giới thiệu tài liệu được gia tăng, giành thêm nhiều thời gian cho

GV tổ chức các hoạt động nhận thức của HS, đồng thời cũng phát huy tác dụng trong hình thức dạy học khác nhau

- Góp phần bồi dưỡng tình cảm cho học sinh

Nội dung băng hình giáo khoa không chỉ giới thiệu các đối tượng nghiên cứu một cách hữu hiệu mà còn thông qua các hình ảnh về đất nước và con người với các hoạt động sản xuất và sinh hoạt kèm theo những lời giải thích, bình luận giúp HS có thé

tự mình khám phá ra những giá trị về văn hóa, xã hội của các quốc gia, dân tộc trên thế

Như vậy, có thể thấy phương tiện nghe nhìn có vị trí rất quan trọng trong đạy học Trong đó, băng hình là một phương tiện có vị trí quan trọng đã được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đánh giá:

- Phương tiện băng hình có thé ghi lai những hình ảnh tại những địa điểm, thời điểm xảy ra sự kiện nào đó mà người học không thể quan sát được rồi phát lại lúc cần thiết

- Bài giảng sử dụng băng hình có thể chia nhỏ thành các phần phù hợp, xen kẽ

vào các hoạt động học tập (hoạt động học tập cá nhân, thảo luận nhóm ) Sử dụng băng hình hợp lý có thể giúp GV dạy học phân hóa với từng đối tượng hoặc từng nhóm đối tượng

Trang 18

~ Bang hinh tao điều kiện tiêu chuẩn hóa, thống nhất hóa về một nội dung thông

tin nào đó, với tất cả các đối tượng có cùng nhu câu

- Băng hình với tốc độ chuyển động nhanh có thể cung cấp một lượng thông tin chính và phụ lớn gấp nhiều lần so với lời giảng của GV trong giờ lên lớp Lượng thông

tin này có thể sử dụng lặp lại nhiều lần Những khả năng này tạo điều kiện trình bảy

bài giảng kết hợp các phương pháp, hình thức đạy học, phát huy tính tích cực của HS nâng cao chất lượng dạy học

- Người học có thể lựa chọn thời gian thích hợp cho việc tự học, có thể dừng phim, ghi chép do đó có thể chuyển tải nhiều kiến thức chỉ tiết giúp người học hiểu sâu kiến thức

- Hình ảnh, âm thanh trong băng hình đến với người học trực quan, sinh động, gần gũi thực tiễn, dễ nhận thức hơn việc thể hiện bằng chữ viết hay các phương tiện dạy học truyền thống khác như tranh, ảnh, hình vẽ, bản đồ, biểu đồ, Các hình ảnh từ băng hình có thể minh họa cho nội dung các phần mềm đạy hoc

- Trong băng hình có thể đưa thêm hệ thống câu hỏi bài tập, bài thực hành dưới

nhiều hình thức tự luận hoặc trắc nghiệm GV cũng có thể đặt câu hỏi cho HS cuối mỗi

- Trong các giờ học thực hành băng hình có thể làm nhiệm vụ ' đẫn đường" giúp người học năm vững các thao tác, các kỹ năng ban đầu trước khi tiến hành công việc Các hoạt động này sẽ được thực hiện chuẩn xác, kết quả sẽ tốt hơn, tiết kiệm được thời gian và chi phí

Tóm lại, hiệu quả dạy học với băng hình trước hết là ở việc cung cấp một nguồn thông tin trực quan, trung thực, hấp dẫn, phong phú để HS có thé tiếp nhận thông tin qua nghe và nhìn Ngoài ra, việc sử đụng băng hình còn giúp GV và HS tổ chức thuận lợi các hoạt động học tập với nhiều hình thức khác nhau

So với phim nhựa, băng hình dễ xây dựng và sử dụng hơn (có thể sử dụng qua đầu Video, một số phần mềm của máy tính điện tử, hoặc hệ thống truyền hình) Đây là một điều kiện thuận lợi giúp người dạy có thé tự học hỏi để xây dựng phim, còn người học có thể học tập ở mọi nơi, mọi lúc Như vậy, trong dạy học, băng hình có thể vừa đâm bảo được tính đại chúng lại vừa tạo điều kiện thuận lợi cho đạy học cá nhân

Sử dụng băng hình phản ánh trung thực những hình ảnh, âm thanh của thực tiễn khách quan là một giải pháp có hiệu quả với nhiều đối tượng Băng hình cung cấp các hình ảnh trực quan cho bài học Đây là phương thức rất gần gũi với quá trình nhận thức cảm tính

- phản ánh sự vật trực tiếp bằng các giác quan HS được tiếp xúc với các đối tượng gần gũi với hiện thực mà ít phải dùng hệ thống ký hiệu nào Trong dạy học ở trường THCS, nếu xây dựng được các băng hình có chất lượng sẽ làm cho người học cudn hut vào các hoạt động học tập: quan sát, thảo luận, tự lực giải quyết vẫn đề theo cách hiểu của mình

Mặt khác, GV bớt được thời gian mô tả hay giải thích kí hiệu như việc sử dụng nhiều

phương tiện dạy học truyền thống, có thời gian hơn trong việc tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS Đảm bảo được nguyên tắc trực quan trong dạy học sẽ giúp HS lĩnh hội tri thức một cách dễ đàng, tự giác, có ý thức và vững chắc hơn

Sử dụng băng hình cũng chỉ ra những đặc điểm của sự vật, hiện tượng có sự phát

triển theo thời gian, qua đó giúp HS hiểu được bản chất nhiều quá trình Ưu điểm này

được thực hiện trong quá trình xây dựng phim bằng kỹ thuật quay nhanh hay quay chậm

nhiều lần, bằng Các SƠ đồ hoạt động, hình ảnh tượng trưng, mô phỏng hoặc băng những

kỹ xảo điện ảnh lồng ghép so sánh các tình huống đối lập hoặc tương tự nhau

17

Trang 19

Các hình ảnh đẹp, trung thực, âm thanh sống động của băng hình sẽ gây ấn tượng sâu sắc cho HS khi quan sát, làm cho HS ghi nhớ sâu, lưu giữ lâu đài trong trí nhớ và dé

tái hiện trở lại Đây là cơ sở cho tư duy và tưởng tượng

Băng hình còn có thể phản ánh tổng hợp hay chỉ tiết các sự vật hiện tượng ở cả

không, gian rộng và không gian hẹp Do vậy, sử dụng băng hình có thể phản ánh được các mỗi liên hệ trong cuộc sông

Từ sự phân tích trên có thể kết luận: băng hình là một phương tiện dạy học hiệu quả, hấp dẫn có ưu thế nỗi trội về khả năng định tính các sự vật, hiện tượng Sử dụng băng hình, phương tiện nghe - nhìn động vừa hiệu quả lại dễ trang bị và sử dụng hơn các phương tiện nghe - nhìn hiện đại khác, sẽ góp phần khắc phục được những hạn chế

trong dạy học hiện nay

Tuy vậy trong dạy học băng hình nếu xây dựng và sử dụng không hợp lý cũng có những hạn chế nhất định:

- Băng hình chỉ có thể ghi lại những hình ảnh, những đặc điểm đặc trưng của các đối tượng chứ không thể ghi lại toàn bộ các đặc điểm của chúng Vì thế, trong việc xây dựng phim, nếu lựa chọn các hình ảnh không điển hình, thiếu chính xác, có thể làm cho

HS hiểu sai hoặc không đầy đủ các kiến thức môn học

` - Do tốc độ di chuyển nhanh của các hình ảnh nên sử dụng băng hình để rèn luyện kỹ năng cho HS sẽ gặp khó khăn HS không thể đo tính các đối tượng trên màn

hình được Băng hình không thể thay thế hoàn toàn các phương tiện dạy học truyền

thống mà chỉ phát huy những ưu thế của mình trong những trường hợp nhất định

- Những hạn chế này của băng hình cho thấy rằng không phải tình huống dạy học nào sử dụng băng hình cũng đem lại hiệu quả tốt được Quá trình sử dụng đòi hỏi phải

có sự kết hợp với các phương tiện dạy học khác

BHGK là băng hình được biên soạn nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học

trong nhà trường Vị trí của BHGK trong nhà trường phổ thông nước ta đã được chính thức khẳng định thông qua các bản danh mục TBDH theo chương trình và đã được ban hành vào những năm gần đây:

- Số BHGK của trường tiểu học: 4 băng

- Số BHGK của trường THCS: 56 băng

- Số BHGK của trường PITH: 77băng

2.2.4 Những yêu cầu về chất lượng của băng hình giáo khoa

BHGK với hệ thống kênh hình và kênh tiếng tác động đồng thời vào thị giác

(nhìn) và thính giác (nghe) thông qua các PTKT đầu máy video và màn hình TV

Nội dung BHGK cung câp kiến thức đến người học bằng hai nguồn thông tin chủ yếu:

- Nguồn thông tin trực quan hình tượng: hình ảnh hoạt động của người, sự vật,

các sự kiện xã hội, trong tự nhiên, bảng chữ, biểu đồ, lược đồ, được chiếu trên màn

hình

Trang 20

- Nguồn thông tin, âm thanh: lời nói trực tiếp của nhân vật, lời thuyết minh,

giảng giải, tiêng động, âm nhạc,

Dé phat huy tốt tác dụng, BHGK cần đám bảo đầy đủ các yêu cầu sau:

a Những yêu cần chung

- BHGK phải đảm bảo những yêu cầu chung của một TBDH (yêu cầu khoa học sư phạm, yêu câu lao động có khoa học, yêu câu mĩ thuật, yêu cầu kinh tế) Nội dung BHGK phải phù hợp với chương trình SGK, phù hợp với PPDH từng môn học, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi từng lớp học, cấp học

- Nội dung BHGK phải thực hiện một nhiệm vụ dạy học nhất định: Cung cấp

kiến thức để chứng minh, biểu diễn, giảng giải hay luyện tập, thực hành, bồi dưỡng

nghiệp vụ chuyên môn: dùng trong nội khóa hay ngoại khóa

- Cần xác định rõ mối quan hệ hữu cơ giữa nội dung BHGK với nội dung các TBDH cùng nội dung kiến thức Cân nhắc thế mạnh của mỗi loại hình TBDH để lựa chọn được phương án tối ưu khi đàn dựng BHGK tránh sự chồng chéo, gây lãng phí

- Đối tượng được ghi hình phải có sự thống nhất, đồng bộ với kênh hình trong SGK, cũng như những tài liệu phân phát cho học sinh (các tranh tờ rơi, các vở bài tập ) Trong băng có thể có những nội dung mở rộng, phát triển so với nội dung SGK,

` song cần có sự tính toán, cân nhắc thận trọng, tránh đưa nhiều nội dung quá rộng hoặc quá cao, ảnh hưởng tới sự tiếp thu kiến thức cơ bắn của học sinh

- Thời lượng của BHGK tuỳ thuộc vào từng nội dung của bài học, môn học, cấp học, phù hợp với PPDH bộ môn Có những băng chỉ chiếu trong khoảng 2-3 phút (hoạt động của núi lửa, động đất, đọc một bài hịch, hát đơn ca một bài, ) Những băng

có tính chất tổng kết, những băng trích đoạn kịch, chèo, tuồng, băng hướng đẫn nghiệp

vụ sư phạm, hướng dẫn tiến hành thí nghiệm (lý, hóa, sinh) thời lượng có thể đải hơn: 20-30 phút; có thể sử dụng trích đoạn trong nội khóa và sử dụng toàn bộ băng trong ngoại khóa

- Trên mỗi BHGK cần ghi rõ đối tượng sử dụng, như băng dùng cho môn học nào, lớp nào để giáo viên tiện sử dụng

b Những yêu cầu về chất lượng hình ánh

- Hình ảnh được chiếu trên màn hình phải có độ nét cao, đảm bảo độ mịn, không bị bóng, không bị rung, không bị méo Độ tương phản của hình ảnh vừa phải, có

- Déi tượng chủ yếu phải được bố trí vào trung tâm khuôn hình để học sinh

dễ quan sát, nhận biết Các đối tượng thứ yếu phải được làm mờ đi (bằng kỹ thuật, kĩ xảo quay, bằng hệ thống ánh sáng yếu hơn, bằng sắp xếp bố trí ở xa hơn ) nhằm khắc họa đối tượng chủ yêu rõ nét hơn

- Những đối tượng nghiên cứu có kích thước quá nhỏ, học sinh không thể quan sát trực tiếp (nguyên tử, tế bào sinh vật, ) cần quay cận cảnh phối hợp với sử dụng kỹ thuật vi tính, kính hiển vi điện tử giúp cho học sinh có thể gián tiếp tiếp cận đổi tượng để quan sát, nghiên cứu, khám phá, năm vững kiến thức

- Màu sắc của hình ảnh phải phản ánh trung thực với màu tự nhiên của đối tượng gốc cần nghiên cứu Những màu sắc có tính chất qui ước trên sơ đồ, biểu

Trang 21

đồ được ghi hình trong băng cần đảm bảo các yêu cầu về thẩm mĩ, nhất quán với những qui định trên các loại hình TBDH tương ứng

- BHGK có thể có những phụ đề, bảng chỉ đẫn nhằm giải thích, hướng dẫn

để HS hiểu rõ hơn những thông tin hình tượng tương ứng Những phụ đề cần biên soạn ngắn gon, đặt trên nên có độ tương phản rõ ràng, không làm nặng nê thị giác của HS Chẳng hạn hàng chữ có màu nhạt (màu vàng, màu trắng ) nên đặt trên nền có màu đậm (màu xanh công nhân, màu tím Huế ) Độ tương phản giữa hàng chữ và nền càng cao thì việc đọc chữ càng thuận lợi Kích thước hàng chữ khi chiếu trên màn hình có độ lớn đảm bảo cho HS cuôi lớp vẫn đọc được rõ ràng Các mẫu chữ, mẫu sé, Các c ký hiệu

về toán học, địa lý phải dễ đọc, dễ quan sát, không dùng các mẫu chữ, mẫu số có đường nét phức tạp khó nhận biết Những hàng chữ di động cần tính toán thời gian lưu hình trên màn ảnh sao cho HS có đủ điều kiện đọc trọn vẹn nội dung thông tin trong kênh chữ Những hàng chữ di động ở phần đầu hoặc cuối băng giới thiệu những người thực hiện, đơn vị sản xuất không phải là nội dung thông tin bài học, có thể cho

chuyển động lướt nhanh hơn

- Hình ảnh trên BHGK là hình ảnh động Có những hoạt động diễn ra rất nhanh,

có những HS chưa đủ điều kiện trí giác từng thao tác để ứng dụng thực hành (kỹ thuật

nhảy cao, nhảy xa ) Có những vận động lại diễn ra quá chậm không đủ thời gian dé

HS quan sát quá trình vận động ấy tại lớp học (hạt nảy mâm, quá trình quang hợp, hoa nở ) Do đó, khi dàn dựng băng cần tính toán "phối hợp giữa điều chỉnh các hình ảnh chuyển động bình thường, hình ảnh dịch chuyển chậm lại, nhanh lên, hoặc dừng hình ảnh ở những thời điểm quan trong nhất đảm báo cho tất cả HS đều có thể tiếp thu kiến

thức một cách thuận lợi, chắc chắn

Để tăng cường tính sư phạm, trong BHGK cần lưu ý có sự phối hợp chặt chẽ giữa hình ảnh quay thực và hình vẽ, đặc biệt là sử dụng hoạt hình Chang han, bén canh hinh ảnh các lò cao luyện gang của nhà máy gang thép can cé hinh vé bé doc lò cao để HS có thé nhìn rõ cầu tao trong của lò Có mũi tên chỉ nguyên liệu chuyến vận từ miệng lò

xuống và khí lò được dẫn từ phía dưới lên trên

c Những yêu cầu về chất lượng â âm thanh:

Âm thanh là một trong hai nguồn cung cấp nội dung thông tin quan trọng của bài học, Vì vậy việc dàn dựng âm thanh cũng cần tuân thủ những yêu cầu chất lượng của BH nói chung và BHGK nói riêng

- Âm lượng: Khi sử dụng, mở ở thang âm lượng trên trung bình, âm thanh được ghỉ trong băng phải đâm bảo cho HS toàn lớp nghe được rõ ràng, đầy đủ nội dung' của bài học

- Âm thanh được ghi phải đảm bảo độ trung thực với âm thanh thực tế đời sống nơi các nhân vật đang hoạt động, các sự kiện đang diễn ra; không ghi âm quá trầm, hoặc quá cao; không có tiếng én, tap âm, bị nghẹt, bị rè

- Âm chủ yếu và âm đệm:

Âm chủ yếu là âm thanh đóng vai trò chính (của kênh tiếng) trong việc cung cấp thông tin tới người nghe trong từng thời điểm nhất định Âm chủ yếu có thể là lời thoại (trong băng truyện) là lời ca (trong băng ca nhạc), là tiếng chim hót, vượn hú (trong băng sinh vật)

Âm đệm là những âm phụ họa nhằm làm cho âm chủ yếu cảng nổi bật hơn

Âm đệm có thể là âm nhạc (trong băng ca nhạc, phim truyện), là tiếng suỗi chảy, chim

Trang 22

hót nhằm khắc họa âm thanh nơi nhân vật đang hoạt động (trong băng phim truyén )

Am thanh trong băng có thể chỉ ghi âm thanh chủ yếu (đơn tuyến) không có

âm đệm hoặc có sự phối hợp giữa âm chủ yêu và âm đệm Song, âm chủ yếu phải được ghi với cường độ lớn hơn, âm đệm ghi với cường độ nhỏ hơn Tránh tình trạng âm đệm lại lắn át cả âm chủ yếu, vi phạm yêu cầu khoa học sư phạm của một TBDH

- Tốc độ trình bày lời thoại, lời thuyết minh: cần lựa chọn tốc độ trình bày phù hợp với đặc trưng nội dung từng môn học cụ thể, phù hợp với trình độ, tâm lý lứa tuổi từng lớp học tạo điều kiện để HS tiếp nhận trọn vẹn kiến thức bài học Những băng rèn luyện kỹ năng thực hành nghe nói (môn ngoại ngữ) cần có tốc độ phù hợp với trình

độ HŠ từ chậm rãi, tăng dẫn đến tốc độ bình thường như thực tế sử dụng ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày

d Sự đồng bộ giữa hình ảnh và âm thanh

- Trong BHGK hình ảnh và âm thanh cùng tác động đồng thời truyền tải nội dung thông tin đến HS Khi đàn dựng băng cần thể hiện một cách đông bộ giữa hình ảnh (kênh hình) và âm thanh (kênh tiếng)

- Trường hợp nhân vật trực tiếp nói hoặc ca hát phải đảm bảo sự đồng bộ cao giữa hình ảnh và âm thanh Các trường hợp lồng tiếng (trong phim truyện) càng đòi hỏi

sự đồng bộ ở mức độ nghệ thuật cao hơn Tránh tình trạng lời nói, lời ca đi trước (hoặc

đi sau) sự chuyển động của hình, gây ra cảm giác giả tạo, giá trị biểu cảm của băng bị

giảm sút

- Những lời thuyết minh, giảng giải, hướng dẫn sử dụng (trong băng hướng dẫn

nghiệp vụ) phải xuất hiện đồng bộ với hình ảnh tương ứng, với thao tác sử dụng của kỹ thuật viên giúp cho người xem tiếp nhận thông tin một cách thuận lợi

2.3 Đĩa hình giao khoa (CD-ROM, VCD,DVD)

2.3.1 Khai niém dia hinh

Đĩa hình (CD-ROM, VCD, DVD) ghi lại các tín hiệu hình ảnh chuyển

động và âm thanh trên đĩa bằng phương tiện kỹ thuật số và được phát lại bằng máy tính

hay đầu đĩa từ

2.3.2 Khái niệm đĩa hình giáo khoa

DHGK 14 mot thé loại trong đĩa hình nhưng mang chức năng của một TBDH, thể hiện tính trực quan sinh động, có nội dung biên soạn phù hợp với chương trình, sách GK nhằm mục đích để dạy học trong trường THCS Trong đĩa hình và đĩa hình giáo khoa có chứa các đoạn Video Clips

Năm 1982, Phillip và Sony giới thiệu trên thị trường đĩa CD-nghe nhìn kỹ thuật số (CD-DA).Trong hình thức kỹ thuật số, nó chứa đựng dấu hiệu âm thanh nổi chất lượng cao

Đĩa CD là một đĩa hợp chất cao phân tử Cácbonát có đường kính 120mm, day 1,2mm Tam chứa một lỗ có đường kính 15mm Phần bên trong cùng của đĩa không lưu giữ số liệu Vùng đữ liệu hoạt động bất đầu từ vị trí đường kính 46mm và cuối cùng

ở vị trí đường kính 117 mm Phạm vi 46-50 mm là vùng chính và phạm vi 116mm- 117mm là vùng ngoài Những đĩa này được viết từ trong ra ngoài 16.000 rãnh cho mỗi

Trang 23

insơ (TPI) (có nghĩa là có 16.000 rãnh trong 2,54 cm) chứa dữ liệu thông tin 1Mb/mm?

Tổng số chiều dài của ranh trên đĩa CD là 3 dặm ( tương đương 4,5 km) Một lớp hợp

chất PC cao phân tử trong suốt có nhiều hốc được đúc trên bề mặt đĩa Những hốc này là những dữ liệu được mã hoá và chứa đựng thông tin Vùng giữa có những hố dài từ 0,9

mm tới 3,3 mm được gọi là " đất liền" Lớp dưới được tráng bằng một lớp nhôm mỏng

phản chiếu và chất làm bóng bảo vệ lớp dưới Phía trên đĩa CD dán một nhãn mác

Một đĩa CD bao gồm: - Mác

- Lớp bảo vệ

- Lớp phản chiếu

- Lớp đưới

Một tia Laze có bước sóng dài chừng 780 nm hội tụ lại trên mặt số liệu của đĩa thành

một điểm chấm có đường kính khoảng 1 microns Tia Laze nay di chuyén thang theo

bán kính của đĩa đang chạy và quét qua rãnh đữ liệu

VCD- Video CD

VCD là một dạng đĩa Compact dùng lưu giữ các hình Video được nến lại với MPEG- 1(chất lượng VHS) cùng với âm thanh chất lượng CD Một đĩa CD video (VCD) 1a một đĩa chứa đựng những đoạn video được dùng lâu đài và không chóng hỏng như những băng VHS nếu dùng thường xuyên Những đoạn phim Video được lưu giữ như những tệp MPEG -I( tiêu chuẩn ISO để nén Video) Một VCD có 74 phút của Video chất lượng VHS và chất lượng âm thanh CD VCD có thể được chạy trong đầu đĩa VCD, đầu đĩa

Compact, đầu DVD

DVD

DVD- đĩa kỹ thuật số linh hoạt

DVD là hình thức đa phương tiện thông thường lưu giữ hình ảnh, âm thanh và đữ liệu máy tính Công nghệ DVD cung cấp phim với chất lượng cao Tiêu chuẩn phân giải của VHS 14 210 dòng ngang Đĩa Laze cung cấp 425 dòng, DVD 540 dòng phân giải Dung lượng của đĩa DVD cao hơn nhiều so với đĩa CD Đĩa DVD chứa đựng 17 GB dữ liệu Hiện nay, một đĩa CD-ROM chỉ có thể chứa đựng 800 MB đữ liệu Nếu bạn so sánh một VCD phim với DVD bạn sẽ thấy rằng DVD có chất lượng Video/tiếng tốt hơn và hấp dẫn hơn, Chúng ta có thể nói rằng VCD_ để lưu giữ phim với chất lượng thông thường trong khi DVD lưu giữ phim với chất lượng cao

Băng hình giáo khoa (BHGK) và đĩa hình giáo khoa (DHGK) mang chức năng của một TBDH, thể hiện tính trực quan sinh động, có nội dung biên soạn phù hợp với chương trình, sách GK nhằm mục đích để dạy học trong các trường THCS

2.4 Phân loại băng hình giáo khoa (BHGK) và đĩa hình giáo khoa (ĐHGK)

Băng hình, đĩa hình (Phim Video là nội dung được hàm chứa trong băng hình, đĩa hình) có thể được phân loại theo đối tượng sử dụng:

- Theo cách phân loại này phim Video gồm: phim sử dụng trong đời sống xã hội, phim sử dụng trong nghiên cứu khoa học và phim dạy học

- Phim Video còn được phân loại dựa vào màu sắc: phim màu và phim đen trắng: phim cũng có thể được phân loại thành phim tài liệu và phim dàn cảnh dựa vào tính chất của đối tượng cần phản ánh

Trang 24

- Theo những tiêu chí đánh giá khác nhau, mỗi loại phim này còn được chia

nhỏ thành nhiều thể loại phim Sự phân loại phim Video đạy học còn dựa vào nội dung

dạy học và hình thức tổ chức đạy học

- Phim Video dạy học gôm: Phim sử dung cho day hoc ở trường đại học, cao

đẳng, phim dạy học ở trường phố thông, phim cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo, nhà trẻ

Mỗi loại phim dạy học này bao gồm nhiều thé loại khác nhau tuỳ theo mục đích và nhiệm vụ học tập Phim dạy học ở trường phổ thông bao gồm phim đạy học ở trường tiểu học, THCS và PTTH Phim đạy học ở ' trường THCS bao gôm phim dạy học ở từng môn với những phim theo từng hình thức tổ chức dạy học

Tuy nhiên, để thể hiện được định hướng đổi mới PPDH trong việc xây dựng phim giáo khoa cần lựa chọn hình thức thể hiện:

- Dựa vào hình thức thể hiện, phim video đạy học có thể được sắp xếp như

Sau:

+ Hình thức tư liệu

+ Hình thức điễn giảng + Hình thức phỏng vấn

+ Hình thức tương tác

+ Hình thức kịch và nửa kịch

- Hình thức phim tư liệu (VTV2) được thể hiện bằng hình thức đưa tin Toàn

bộ nội dung của phim được truyền tải bằng lời thuyết minh đi kèm hình ảnh Đây là hình

thức được sử dụng phổ biến hiện nay của các bản tin, các bộ phim Video có nội dung khoa học trên truyền hình và ở nhiều bộ phim giáo khoa được xây dựng trong thời gian qua Sử dụng hình thức này cho phép trong một thời gian ngắn cung cấp được một lượng thông tin lớn mà kinh phí thực hiện không nhiều Nhược điểm của nó trong đạy học là làm cho HS tiếp thu kiến thức thụ động, hạn chế khả năng phát huy tính tích cực

chủ động trong học tập của HS Hình thức này có thể thích hợp với hình thức học tập

ngoại khóa trong nhà trường Việc sử dụng đòi hỏi GV phải có PPDH thích hợp, sự

hướng dẫn cần thiết

- Hình thức tương tác giúp người học có thé tham gia trực tiếp hay gián tiếp khi xem phim và tự đánh giá được kết quả học tập của mình qua hệ thống câu hỏi trên phim Hình thức này sẽ phát huy được tính tích cực chủ động của HS trong học tập, giúp

người học có thể tự học Day là hình thức phim học tập có nhiều ưu điểm

- Hình thức kịch và nửa kịch (hình thức đóng vai) thuộc thể loại phim dàn cảnh thông qua sự diễn xuất của diễn viên hay của GV và HS trong một môi trường

giống như thật Hình thức này phù hợp với các bài dạy thực hành, khảo sát thực tế về tự

nhiên, giáo dục môi trường

- Hình thức diễn giảng được thể hiện trong phim Video do một diễn giả trình bày lại nội dung dạy học với một số thiết bị dạy học như máy chiếu qua đâu, biểu dé -hình thức này được sử dụng trong chương trình khoa học giáo dục của VTV2- Đài truyền hình Việt Nam, nhằm ôn tập cho HS chuẩn bị thi vào đại học _ Nhung han ché của phương pháp trình bày này là sự trình bày một chiều, không chú ý đến người học có tiếp thu được hay không Các bộ phim này nếu xây dựng tốt có thể cho HS và GV tham khảo trước hoặc sau bài dạy

- Hình thức phỏng vấn làm cho người xem như cảm thấy được tham gia vào chương trình, nhưng sự thành công của phim phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng của người phỏng vấn, người trả lời phỏng vấn, nguồn tư liệu phim dùng để mỉnh họa Hiệu quả của

Trang 25

việc xây dựng phim Video day học còn tuỳ thuộc rất nhiều vào phương pháp của người

sử dụng chúng Do vậy, khi làm một bộ phim Video dạy học phải căn cứ vào mục tiêu

và nội dung của dé tài, khả năng sử đụng PPDH để lựa chọn hình thức biểu hiện của phim nham dat hiéu qua cao trong day hoc

Các thể loại băng hình, đĩa hình giáo khoa (phim Video dạy học là nội dung chứa trong băng hình, đĩa hình giáo khoa) ở trường THCS

Dựa trên mục đích yêu cầu nghiên cứu, ta cé thể phân loại BHGK và ĐHGK theo chức năng dạy học của các bộ môn gôm: băng hình, đĩa hình cho dạy học nội khoá và băng hình, đĩa hình cho dạy học ngoại khóa

- Băng hình, đĩa hình giáo khoa cho dạy học nội khoá

+ Sử dụng BHGK và ĐHGK để giảng dạy bài mới (I tiết học, 1 bài học) + Sử dụng BHGK và ĐHGK hướng dẫn HS quan sát thí nghiệm biểu diễn, thí nghiệm thực hành, sử dụng các thiết bị kỹ thuật máy móc trong lao động hướng nghiệp

+ Sử dụng BHGK và ĐHGK rèn luyện kỹ năng

+ Sử dụng BHGK va DHGK để ôn tập hệ thống hóa kiến thức, tổng kết một - chương hay toàn bộ chương trình

Phim Video cho dạy học nội khóa

Các tiết học có thé phân thành 5 kiểu: Tiết học mở đầu, Tiết học nắm kiến thức

và kỹ năng mới; Tiết học vận dụng kiến thức, kĩ năng, kĩ xáo; Tiết học khái quát và hệ

thống hóa tri thức; Tiết học kiểm tra, đánh giá kiến thức và kỹ năng của HS

- Do đặc điểm chương trình, hình thức dạy học theo tiết lên lớp là hình thức dạy học chủ yếu, trong đó tiết học nắm kiến thức và kỹ năng mới chiếm ưu thế Vì thế, băng hình, đĩa hình sử dụng cho loại tiết học này cũng chiếm phần lớn chương trình băng hình, đĩa hình của môi lớp học

- Băng hình, đĩa hình sử dung cho tiết dạy năm kiến thức và kỹ năng mới gồm:

+ Sử dụng cho một tiết học với thời lượng không quá 15 phút

+ Sử dụng để trình bày một vài đề mục của bài học với thời lượng không

quá 10 phút

+ Phim được sử dụng nhằm phản ánh một, vài đơn vị kiến thức cơ bản của bài (Video Clip) với thời lượng không quá 5 phút cho mỗi Video Clip

+ Sử dụng cho tiết ôn tập và hệ thống hóa kiến thức Nội dung của phim thường bao quát qua nhiều bài học nhưng thời lượng không thể kéo dài, đo vậy cân khái quát theo từng vấn đề để sử dụng thích hợp cho thể loại này Các tiết ôn tập là những tiết học đành nhiều thời gian cho HS trình bày, thảo luận những kiến thức đã học nên việc xem phim chỉ có thể tiến hành bằng cách cho HS xem lại những doạn phim cần thiết (Video Clip), HS đã xem mà chưa rõ.Như vậy có thê thấy rằng việc xây dựng các bộ phim riêng cho các tiết ôn tập và

hệ thống hóa kiến thức trong tiết dạy học nội khóa sẽ khó phù hợp Loại phim này nếu được xây dựng chỉ thích hợp cho hình thức học tập theo nhóm, tự học

+ Sử dụng cho các tiết học kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS Các bộ phim sử dụng để trình bảy kiến thức và kĩ năng mới đều có thể

sử dụng để kiểm tra, đánh giá trình độ nhận thức của HS theo từng bài học Tuy nhiên,

Trang 26

các tiết kiểm tra còn tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức HS, khả năng ở từng địa phương khác nhau, do vậy việc xây dựng phim đề đánh giá trình độ nhận thức của HS là chưa

cần thiết

Phim Video sử dụng cho hình thức hoạt động ngoại khóa

Nội dung ngoại khóa trong quá trình dạy học có một ý nghĩa quan trọng Bổ sung,

mở rộng kiến thức cơ bản mà HS đã thu được qua hoạt động nội khóa, qua đó giúp HS nắm vững kiến thức:

- Tạo điều kiện để cập nhập kiến thức

- Giúp HS gần gũi với hoạt động nghiên cứu khoa học

- Qua hoạt động ngoại khóa, HS thêm hứng thú, tích cực hơn trong học tập

Cân phải quan tâm hơn nữa đến thể loại phim Video này vì:

- Nội dung kiến thức của chương trình THCS cô đọng, nên không thể phản ánh được hoàn chỉnh nhiều vân đề

- Không phải nội dung tiết học nào cũng có thể xây dựng thành phim được

Do vậy, các bộ phim Video phục vụ đạy học ngoại khóa có thể bổ sung nhiều vấn đề cho hình thức học tập theo tiết học

- Thông qua các bộ phim này, nhiều chuyên đề của các bộ môn cần thiết có thé thực hiện thuận lợi

- Việc tổ chức một buổi ngoại khóa bằng phim Video don gian hon

nhiều so với các hình thức ngoại khóa khác mà vẫn hiệu quả cao nêu được tổ chức tốt

Việc xây dựng các bộ phim cho hoạt động ngoại khóa có nhiều thuận lợi hơn việc xây dựng các bộ phim cho các tiết học vì:

+ Các vấn đề dễ được trình bày hoàn chỉnh, không phụ thuộc quá chặt chẽ vào

kiến thức cơ bản của bài hoc va dé thé hién qua phim Video

+ Dung lượng kiến thức không bị giới han trong một tiết học

+ Có thể xây dựng phim theo các hình thức khác nhau tuỳ khả năng

+ Cần tính đến việc sử dụng những hình ảnh đặc sắc của các bộ phim này cho

các tiết học nội khóa khi xây dựng phim

Có thể nhận thay rằng: trong các loại phim video day học thì phim cho các tiết day trình bày kiến thức, kỹ năng mới và phim cho hoạt động ngoại khóa là cần thiết và quan trọng nhật

2.5 Băng hình giáo khoa, đĩa hình giáo khoa đối với việc đổi mới phương pháp day

Vì BHGK, ĐHGK nói riêng và các PTNNGD đều là những TBDH cho nên chúng

ta hãy xem xét những vai trò chính của BHGK, ĐHGK trong dạy học theo quan điểm

nhận thức:

2.5.1 Vai trò của BHGK, ĐHGK nói riêng và TBDH nói chung trong day hoc xét

trên quan điểm nhận thức

Hoạt động nhận thức của HS - đó là sự phản ánh và sự lĩnh hội trực tiếp của HS

về thế giới khách quan và môi trường xung quanh thông qua việc nắm được những

thành tựu khoa học và thể hiện nó vào nhận thức của HS Phản ánh và nhận thức thể hiện tính biện chứng khách quan của các sự vật và hiện tượng tự nhiên trong biến đổi

Trang 27

thé giới Các bình thức phản ánh là: các tri thức, các khái niệm, các định luật, các luận

thuyét,

Theo quan điểm triết học đuy vật biện chứng, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguôn gôc của ý thức; thêm vào đó, giữa vật chất và ý thức có tác động qua lại rat mật thiết, không một chiều, luôn vận động và bổ trợ cho nhau Các Mác đã chỉ ra rằng: “Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất đã được chuyển vào bộ óc của con người và được cải biến trong đó” Còn ĂngGhen thì đã viết: “Bất kỳ một điều suy nghĩ và hiểu biết nào cũng đều xuất phát từ kinh nghiệm cảm giác, còn trong tinh thần thì trước đó không có gi cả về điều đó” Lê Nin cũng chỉ ra rằng: “Ngoài cảm glác tuyệt nhiên chúng

ta không thé nhận biết được gì về bất cứ một dạng nao cia vật chất và vận động” Đi sâu hơn, Lê Nin cũng đã xác định con đường biện chứng của nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng lại đến thực tiễn, đó là con đường, biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”

Rõ ràng là các PTNNGD, các TBDH cùng với những tác động trực quan, những

thí nghiệm giáo khoa có được từ chúng có khả năng gây nên những tác động vật chất và trực quan sinh động, gây nên những cảm giác cho HS để từ đó đem lại cho HS những tri giác, y niệm và tư duy trừu tượng (các khái niệm, định luật, luận thuyết khoa học, .)

Ta có thé làm sáng tỏ điều trình bày trên đây bằng vai vi du sau:

Ta tiễn hành một thi nghiệm đơn giản: Đốt cháy một cây nến rồi lẫy một cốc thuỷ

tỉnh úp kín lại Một lúc sau cây nên sẽ tắt

Ta cho một con chuột vào một cái chuông nhỏ rồi đậy kín lại Một lúc sau chuột

sẽ vật vã, ngạt thở dần và chết

Như vậy, bằng các thí nghiệm đơn giản này và trực quan sinh động có được, ta đã

dễ đàng đưa HS đến việc nhận thức các khái niệm rất trừu tượng: Không khí cần cho sự cháy, không khí cần cho sự sống Cũng từ đỏ trong quá trình dạy học, với việc sử dụng

TBDH, PTNNGD ta lại có thể đưa HS lên những tầng mức cao hơn về tư đuy trừu

tượng cũng như những hiểu biết phong phú hơn về thực tiễn: chữa cháy, trang bị cho

người thợ lặn và phi công du hành vũ trụ các bình ôxy

Tương tự, với việc sử dụng BHGK, ĐHGK ta cũng có thể đem dến cho HS

những tác động vật chất - các cảm xúc khả dĩ dẫn đến việc truyền thụ tri thức khoa học

và giáo dục nhân cách cho các em

2.5.2 Xem xét các căn cứ khoa học xác định vị trí của các PTNN nói chung và

a.Các PTNNGD nói chung và BHGK, ĐHGK nói riêng tạo cơ sở cho mọi cảm giác để đi đến nhận thức và tư duy cửa học sinh

Từ các quan điểm triết học, tâm lý và nhận thức của Mác, Ăngghen và Lê Nin ta

có thể làm rõ điều này như đã nêu ở mục l trên,

Đặc biệt, BHGK, ĐHGK đem đến cho HS cảm giác bằng tác động của cả hai nguồn ánh sáng và âm thanh nên cảm giác ấy mạnh mẽ, sâu sắc, phong phú và do đó nhận thức làm các em thu được cũng đạt mức cao hơn nhiều so với tác động của các loại

PTNNGD khác

b.Các PTNN nói chung và BHGK, ĐHGK nói riêng hỗ trợ quá trình nhận

thức học sinh

Trang 28

Các PTNNGD đặc biệt là BHGK, ĐHGK đem lại được các nguồn cảm thụ

mạnh, phong phú và do đó học sinh đạt được nhận thức và tư duy cao

Như trên đã nêu, nhận thức cảm tính là cơ sở của nhận thức lý tính Vì vậy trong quá trình dạy học, cần huy động đến mức tối đa các loại cảm Biac, cần đưa các giác quan khác nhau (nhìn, nghe, sờ, mó .) vào quá trình cảm thụ để có được mức cảm thụ

tốt

Các PTNN đặc biệt là BHGK, ĐHGK rõ ràng có tác dụng tích cực trong việc

giải quyết vấn đề này Với các PTNN này, các thông tin phong phú, tác động đa dạng

mang tính kỹ thuật và nghệ thuật của ánh sáng và âm thanh có sức kích thích gợi cảm cao Do đó HS tiếp nhận các hình ảnh trực quan, thu được các nhận thức cảm tính một cách nhẹ nhàng đề từ đó chuyển sang tư duy logic và tư duy trìu tượng một cách thuận

lợi và sâu sắc

Đặc biệt, đối với BHGK, ĐHGK khi sử dụng có xuất hiện một tình huống đặc

biệt -"Hiệu ứng tham dự" Khi đó người xem hình như bị tách khỏi thé giới bên ngoài, màn ảnh trở thành một phần của hiện thực khác quan của họ Từ quan sát, các em trở thành người trong cuộc; các em cũng tìm kiếm, cũng nêu lên những giả thiết và khao khát tìm giải đáp Bằng "Hiệu ứng tham dự” các PTNN đặc biệt BHGK, ĐHGK có tác dụng kích thích hứng thú mạnh mẽ, gây ấn tượng sâu sắc và hướng dẫn hành động mau

sự khác nhau về cường độ màu sắc, sự khác nhau và sự thay đổi về cường độ ánh sáng

và đặc biệt là về dàn dựng hình và cảnh theo tiến trình của nội dung Theo thời gian, đến nay tính động của các PTNN đặc biệt BHGK, ĐHGK đã đạt được những trình độ cao và

kỳ diệu

Thêm vào đó BHGK, ĐHGK có tính động phong phú và cao nhất so với các

loại PTNN khác.Tính động không chỉ mang lại hứng thú đặc biệt cho HS mọi lửa tuổi,

nhất là các lớp từ THCS trở xuông mà còn giúp giải quyết một loại yêu cầu về day va học: dẫn dắt kiến thức theo một trình tự lôgíc, nhân mạnh, khắc sâu những điểm cần thiết hoặc thu hút sự suy nghĩ của các em vào những van dé can giải đáp, trình bày” những nội dung liên quan đến tính động của đối tượng (người đi, cá lươn, nước chảy, mây bay, )

c.Các PTNN đặc biệt BHGK, ĐHGK có thể đem đến cho học sinh nhiều thông

tin, kiến thức lớn và phong phú, vượt qua giới hạn thời gian và không gian Nhờ các PTNN đặc biệt là BHGK, ĐHGK, các em có thể trong khoảng khắc

quan sát từ một đối tượng này sang một đối tượng khác, giới thiệu cho các em những sự

kiện, những phát sinh đã xảy ra cách đây hàng trăm, ngàn năm về trước Nhờ các PTNN

đặc biệt BHGK, ĐHGK giáo viên có thể đưa HS vào quan sát bí ấn của thế giới vat chat

bên trong, thăm những vùng đất xa lạ, đi xuống đáy đại dương hay bay vào vũ trụ xa xôi Cũng nhờ phim, băng ghỉ hình, đĩa ghi hình các em có thể được quan sát các thi

Trang 29

nghiệm mà các em không có thể đên gần được như các phản ứng của các chât độc hại, các vụ nô

d.Các PTNN đặc biệt là BHGK, DHGK lai khai thác được ưu điểm của nhiều

loại hình nghệ thuật, kỹ thuật khác nhau: văn học, hội họa, hoạt họa, sân khấu, điện ảnh, ánh sáng, âm nhạc, điện tử, vi tính, kỹ thuật số, kính hiển vi

điện tử

Do đó, về nguyên tắc, các sản phẩm nghe nhìn và BHGK, ĐHGK có hy vọng đạt chất lượng cao, phù hợp với các yêu câu dạy và học ở nhà trường Chẳng hạn ngôn ngữ trong các tác phẩm nghe nhìn rất súc tích Điều đó không chỉ có tác dụng nâng hiệu quả cảm thụ văn học nghệ thuật cho HŠ mà còn giúp nhiều trong học tập các môn khác, trong bồi dưỡng tư duy mạch lạc trong sáng cũng nhự giành thỏa đáng phần suy nghĩ riêng cho họ Nhờ ống kinh đặc biệt người ta có thể chụp, quay các đối tượng ở xa một cae tự nhiên như sinh hoạt của các loài cáo, kh, hoa xòe cánh ra và khép lại để bắt

Với camera và băng ghi hình ta có thể quay dựng các thí nghiệm đang diễn ra trên mặt phẳng nằm ngang lên mặt phẳng thắng đứng để HS cả lớp có thể ngồi tại chỗ quan sát được

Cũng với ưu thế của các thiết bị nghe nhìn, có thé quay cho một số hoạt động thể dục thể thao (chạy, nhảy, bơi, lội, ) hay nhảy múa chậm lại hay nhanh lên thuận lợi cho

HS theo dõi thực hành

Cùng với sách - nguồn tri thức và văn hóa chính, các BHGK, ĐHGK cũng có

tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tỉnh thần và trí tuệ của HS

Trong giai đoạn hiện nay BHGK, ĐHGK đã xâm nhập mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực của sản xuất, đời sống văn hóa, khoa học Chúng không còn chỉ là những phương tiện giải trí đơn thuần mà còn như là một bộ phận công cụ lao động mới của con người

để con người kịp nắm bắt lay kiến thức, kỹ thuật, mở rong tầm mắt và nâng nang luc tu duy để lao động và sống tốt hon, kịp với trình độ phát triển khoa học - công nghệ - kỹ thuật như vũ bão và thời đại bùng nô thông tin ngày nay

Do đó BHGK, ĐHGK cần được đưa vào nhà trường một cách đồng bộ tương ứng để không những nhà trường không bị lạc hậu so với xã hội mà còn có thé đi trước

xã hội về mặt này, đáp ứng yêu cầu đào tạo người lao động mới theo yêu cầu của xã hội

Thêm vào đó, lại cần tìm ra cách kết hợp có tính sư phạm quan hệ giữa những thông tin có được nhờ các BHGK, ĐHGK và thông tin mà các em thu nhận được trong quá trình học tập, đọc sách, làm thí nghiệm, tiếp xúc với xã hội, với thiên nhiên 2.5.3 Pham vi sir dung cia BHGK, DHGK theo yéu cau day hoc

a BHGK, ĐHGŒK có khả năng cung cấp cho học sinh những, thông tin khoa

học, sản xuẤt, xã hội để từ đó học sinh có thê được nâng lên về kiến thức, về hiểu

biết các khái niệm tương ứng

Chẳng hạn, Châu Nam Cực là một vùng đất, vùng trời mà các em chưa có điều kiện đến thăm Trong trường hợp này BHGK, ĐHGK có thể giới thiệu cho các em cảnh băng tuyết và bién ở đó cũng như cho các em xem về cá voi ở biển, cảnh săn cá voi và làm thịt cá voi, cảnh về những đàn chim cánh cụt cùng với tiếng kêu the thé của chúng Từ đó, HS cẽ có được hiểu biết, khái niệm khá cụ thể và đầy đủ về cảnh vật và cuộc sống ở lục địa xa xôi này với tỉnh thần hào hứng và phần khởi

Trang 30

b BHGK, DHGK có khả năng khai thác nhitng thong tin khoa hoc để xây dựng nên những định luật

Chang hạn, chuyển động rơi tự do của mọi vật là một chuyển động diễn ra rất nhanh mà mắt thường HS không thể thấy được Nhưng với BH, ĐH được quay chậm lại

fa có thé diễn tả rõ chuyển động này, đó là một chuyên động nhanh dần đều, và với một

số tính toán cần ghiết, các em còn có thể biết được gia tốc của vật rơi tự do này vào

khoảng 9, §m/sec” Nghĩa là các em không những biết được sự rơi tự đo là gì mà còn biết được quy luật rơi tu do, sự thay đổi vận tốc rơi sau những khoảng thời gian bằng nhau

Với sự hỗ trợ của máy tinh, BHGK va DHGK có thể được phân tích để ghi các quá trình vật lý thực, từ đó xây dựng được định luật vật lý tương ứng Một trong những ứng dụng hết sức quan trọng của may vi tinh trong dạy học vật lý là hỗ trợ cho việc phân tích băng video dé ghi các hiện tượng, quá trình vật lý thực cân nghiên cứu, chẳng hạn chuyển động của quả bóng rô được tung ném xiên lên

Với sự hỗ trợ của máy tính, có thể phân tích BHGK ghỉ các quả trình vật lý

thực, từ đó xây dựng được định luật vật lý tương ứng

Một trong những ứng dụng hết sức quan trọng của máy vi tính trong day hot vật lý là hỗ trợ cho việc phân tích băng video để ghỉ các hiện tượng, quá trình vật lý thực cần nghiên cứu, chẳng hạn chuyển động của quả bóng rỗ được tung ném xiên lên

Việc ghi quá trình vật lý thực vào băng hình và quay chậm lại tạo điều kiện hết

sức thuận lợi cho việc quan sát đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, khi sử dụng băng hình

này còn gặp một khó khăn, thường mắt nhiều thời gian nhất là trong khi nghiên cứu thực

nghiệm vật lý như thu tập số liệu đo, thực hiện các phép tính toán trong khi phân tích và

xử lý số liệu cũng như việc trình bày các kết quả xử lý đó

Để tạo điều kiện cho việc thu thập số liệu (đo đạc và ghi chép số liệu) và đặc biệt là việc thực hiện các phép tính toán trong khi phân tích và xử lý số liệu cũng như việc trình bày các kết quả xử lý đó một cách chính xác và cực nhanh, , Người ta đã đưa ra phương pháp phân tích các băng hình nhờ máy vi tính và các phần mềm tương ứng

c Sử dụng BHGK, ĐHGK để rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh

Như đã trình bày ở mục 2 trên, có một sô động tác thể duc thể thao (chạy, nhảy, bơi lội, đá bóng ) nhây múa cũng như về lao động sản xuất, học tập (sử dụng công cụ lao động, làm thí nghiệm ) thường diễn ra với tốc độ nhanh HS khó quan sát được đầy đủ Trong trường hợp này, BHGK, ĐHGK với kỹ xảo quay phát băng, đĩa của mình, có thể làm cho các chuyển động được diễn ra chậm lại, tạm dừng hay quay đi quay lại để người học có thể thấy rõ và thực hiện đúng

Cũng bằng kỹ xảo quay phát băng, có thể đựng các thí nghiệm diễn ra trên mặt phẳng nằm ngang lên mặt phăng thắng đứng dé HS có thể ngôi tai ban quan sát và

tiến hành các thí nghiệm của mình, từ đó kỹ năng thực hành thí nghiệm được nâng lên

Các kỹ năng thao tác tại xưởng trường cũng có thê được rèn luyện bằng cách này

d BHGK, ĐHGK giúp thực hiện quan điểm dạy học hiện đại đặc biệt là góp phần bồi dưỡng năng lực sáng tạo và rèn luyện nhân cách của người lao động mới cho học sinh -

- Quan điêm dạy học hiện đại

Trang 31

Trước khi có kiểu dạy học hiện đại đã có kiểu đạy học truyền thống Theo quan điểm dạy học truyền thống, quá trình dạy học là việc giáo viên "in" vào đầu óc HS những kiến thức có sẵn được cấu trúc hoàn toàn độc lập voi HS HS tiếp thu kiến thức một cách hoàn toàn thụ động và áp dụng máy móc kiến thức tiếp thu được Quan điểm này phiến điện và đã lỗi thời

Theo quan điểm dạy học hiện đại thì quá trình day học không chỉ đơn thuần nhằm một mục tiêu duy nhất là giúp cho HS có được một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

cụ thể mà điều quan trọng hơn là phải tổ chức quá trình dạy học sao cho HS phát huy đến mức tối đa tính tích cực chủ động, qua đó phát triển được năng lực sáng tạo và nhân cách của người lao động mới, đáp ứng được những đòi hỏi đa dạng và ngày cảng tang của xã hội không ngừng phát triển

Như vậy, GV không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người cố

vấn, tổ chức, hướng dẫn để HS trở thành chủ thể hoạt động Người học không chỉ là

khách thể bị động của những tác động sư phạm mà phải tích cực tiễn hành các hoạt động học tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân Nói gọn lại, GV phải

là người vừa thiết kế vừa góp phần thi công, còn HS thì phải là người vừa thi công vừa

- Vai tro cha BHGK, DHGK trong thực hiện quan diém day hoc hién dai

Để thực hiện quan điểm dạy học hiện đại, BHGK, ĐHGK không chỉ được sử dụng trong khuôn khổ chật hẹp trước đây với yêu cầu trực quan, minh họa bài giảng, thực hành thí nghiệm bình thường mà còn cần ở mức cao nhất có thể được, góp phần phát triển hứng thú, tính tích cực chủ động trong học tập, rèn luyện tư đuy độc lập sáng

tạo, giáo dục tư tưởng đạo đức, giáo dục lao động và nói chung là giáo dục nhân cách của con người lao động mới cho HS Như vậy, quá trình dạy học phải được tổ chức sao

cho HS được tham gia sử dụng BHGK, ĐHGK nhiều nhất không những với lao động chân tay mà chủ yếu với lao động trí tuệ, không những qua thí nghiệm, thực hành của

HS (thí nghiệm nghiên cứu trực diện đồng loạt, thí nghiệm thực hành, bài tập thí nghiệm, quan sát và thí nghiệm ở nhà, thực hành kỹ thuật) mà còn cả qua sử dụng thiết

bị của GV (khi giảng giải, đàm thoại gợi mở, tiến hành thí nghiệm biểu diễn )

BHGK, ĐHGK có thể góp phần thực hiện được các yêu cầu này Ta hãy phân tích cụ thể thêm vài điểm cơ bản:

+ Tư đuy độc lập sáng tạo của HS có thể được rèn luyện qua quá trình sử phạm với việc sử dụng có hiệu qua BHGK, DHGK vi rằng:

+ Việc sử dụng băng đĩa hình có thể giúp nhiều cho việc nâng cao hứng thú học tập của HS, mà với cơ sở lý luận của tâm lý học, hứng thú ham mê học tập là một ' trong các nguồn gốc chủ yếu nhất của việc học tập có kết quả cao, là con đường dẫn tới

sáng tạo và tài năng

+ Việc sử dụng BHGK, ĐHGK giúp H§ hiểu sâu kiến thức để từ đó HS có

thể tự suy nghĩ vận dụng, hiểu và nghĩ ra những cái mới với mức độ khác nhau

+ BHGK, ĐHGK có thể giúp thực hiện hiệu quả các PPDH mới đặc biệt là

PPDH nêu vấn đề mà với nó ta có thể đặt ra những tình huống bắt buộc và từng bước

hướng dẫn HS động não, tăng cường lao động trí tuệ, suy nghĩ, phán đoán, phân tích,

tổng hợp, giải đáp, vận dụng Trong nhiều trường hợp, BHGK, ĐHGK còn giúp thực hiện các thí nghiệm nghịch lý mà nhờ chúng phát huy được hứng thú học tập, độc lập suy nghĩ, trí tưởng tượng và phát triển trí tuệ sáng tạo của HS

Trang 32

+ Việc sử dụng BHGK, ĐHGK cũng có khả năng giúp ích nhiều cho việc giáo dục tư tưởng -~ đạo đức, giáo dục lao động, nói chung là giáo dục nhân cách của người lao động mới cho HS Lý do:

Đối với HS THCS, yếu tổ đạo đức chủ yếu nhất và trước nhất cần rèn luyện

cho họ ý thức bổn phận, ý thức trách nhiệm mà trước hết là bốn phận, trách nhiệm học tập tốt Giáo dục lao động cho các em cũng cần bắt đầu và chủ yếu thực hiện trong lao động chính nhất của các em: học tập, vượt khó học tập, học tập say mê, học tập sáng

tạo Đó cũng là những nét cần thiết bước đầu của nhân cách người lao động mới Và vì rằng BHGK, ĐHGK có thể gây hứng thú học tập cho các em, giúp các em nắm vững kiến thức, phát huy trí tuệ sáng tạo nên chúng có thể đem lại cho các em các yếu tố đạo đức nói trên

+ Sự nghiêm túc, tính trung thực cũng là nội dung rất quan trọng và chủ yếu của đạo đức con người nói chung và Hỗ nói riêng Ở đây, những đòi hỏi về sự nghiêm túc, ngăn nắp, cần thận, chu đáo, chính xác đối với HS khi theo đõi GV tiến

hành thí nghiệm cững như khi tự mình lắp đặt thiết bị, sử dụng các máy đo, từ tiến hành thí nghiệm, ghi chép và xử lý số liệu để rút ra các kết luận cần thiết hay kiểm chứng các

định luật khoa học cho đến việc sử dụng máy móc thiết bị ở xưởng trường để thực hành

kỹ thuật hay làm ra một sản phẩm niào đấy đều có tác dụng từng giờ, từng bài học,

từng bước bồi dưỡng các yếu tố đạo đức cho các em Những phép đo thận trọng chính xác, những số liệu thí nghiệm ghi chép thực, những kết quả xử lý số liệu khách quan đều dần dần theo thời gian rèn luyện cho HS tính trung thực một cách vững chắc không những trong khoa học, trong học tp, trong lao động mà cả trong cuộc sống nữa Không thể có người công nhân giỏi, người cán bộ kỹ thuật tốt trong tương lai mà ngay khi ngôi trên ghế nhà trường họ làm việc một cách tuỳ tiện, tác phong lao động đại khái, thiểu nghiêm túc trong thí nghiệm, họ không đọc và ghi chính xác các số chỉ ở nhiệt kế, điện

kế, ampe kế, vôn kế được phản ánh trong BHGK, ĐHGK và không để các con số hy nói

lên sự việc một cách khách quan

- Giáo dục tư tưởng cho HS là một việc khó nhưng việc sử dụng BHGK, ĐHGK

cũng có thể gop phan dang ké

Chang hạn, bằng cách sử dụng phim điện ảnh giáo khoa hay băng đi: a hình giáo khoa vé con người và xã hội thời cô, cô Hy Lạp, cỗ Ai Cập, cô La Mã về quá trình tiễn hóa của động thực vật, bằng cách tiến hành các phản ứng hóa học khác nhau có thể bồi dưỡng cho HS một thế giới quan một cách nhìn về thế giới vật chất vận động và phát triển chứ không do những đẳng thân linh hay thượng để sinh ra -

Bằng cách cho HS xem BHGK, ĐHGK về tia lửa điện (cho HS xem thí nghiệm: Trong phòng tối, khi tách hai vật nhiễm điện cọ sát với nhau thì giữa chúng có nhiều chớp sáng li ti và tiếng nỗ lép bép) trong phòng thí nghiệm, các em có thể giải

thích được hiện tượng chớp thường xảy ra trong thiên nhiên theo cách nhìn khoa học

Đó là các tỉa lửa điện không lồ xuất hiện khi có sự phóng điện giữa các phần nhiễm điện trái dấu ở trong lòng đám mây, giữa hai đám mây gân nhau hoặc giữa đám mây và vạt nhô cao trên mặt đất (nhà, cây ) chứ không phải là đo "ông Thiên lôi" gây ra để trừng phạt ma quỷ và những người có tội như quan niệm sai lầm thường có trong một bộ phận nhân dân còn kém hiểu biết và có đầu óc mê tín

Các bộ BHGK, ĐHGK về các cảnh giàu đẹp của non sông đất nước của các

địa phương, về các anh hùng liệt sĩ, các nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học, nhà sản xuất

31

Trang 33

giỏi đều có tác dụng mạnh mẽ bồi dưỡng cho các em tình yêu, lòng tự hào cũng như hoài bão góp phần gìn giữ tô điểm thêm truyền thống tốt đẹp của Tổ quốc quê hương

Những bộ băng hình, đĩa ghi hình giáo khoa tốt còn có thể ở mức đáng kế hạn chế những ảnh hưởng xấu của các phương tiện nghe nhìn độc hại và bồi đưỡng cho HS

tư tưởng tình cảm lành mạnh cần thiết

Như vậy, những lập luận ví dụ trên và rất nhiều ví dụ khác có thé cho thay kha năng to lớn của BHGK, ĐHGK trong giáo dục tư tưởng - đạo đức cho HS từ bồi dưỡng

thế giới quan, lòng yêu nước, yêu quê hương cho đến thái độ tác phong lao động học tập

hàng ngày đề họ có được những nét nhân cách của người lao động mới khi rời ghế nhà

trường

e BHGK, ĐHGK hỗ trợ việc đỗi mới PPDH

BHGK, ĐHGK có thể giúp nhiều cho việc thực hiện các PPDH, đặc biệt là

phương pháp trực quan, phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp dạy học giải quyết van dé, phương pháp sử dụng kết hợp BHGK với đầu video và TV

Nếu nghiên cứu rộng hơn ta thấy BHGK, ĐHGK có thể sử dụng cho việc thực hiện tất cả các PPDH khả dĩ được sử dụng trong nhà trường phổ thông, vấn để là tuỳ ở môn học, nội dung dạy học và cách làm cụ thể Chẳng hạn, đối với phương pháp thực nghiệm (PPTN) được cấu trúc trong day hoc vat ly nhu sau:

Sự kiện khởi đầu —> Gid thuyét—> Hé qué légic->Thi nghiém kiém tra Ung dung kién thite

thì BHGK, ĐHGK cũng có thể tham gia vào công đoạn I và công đoạn 4

BHGK, ĐHGK cũng có thể tham gia vào việc thực hiện phương pháp thí nghiệm tưởng tượng (thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng) Chẳng hạn, có thé xây dựng BHGK, DHGK về chuyén động của một xe lăn trên một mặt phẳng nhẫn nằm ngang (sử dụng hoạt họa) Tiếp đó lại cho xe chuyển động trên một mặt phẳng nhẫn hơn mặt phẳng trước và xe sẽ chuyển động được một quãng đường dài hơn lần trước mới dừng lại Với nhiều lần giảm ma sát của mặt phẳng va xe, xe sé chuyển động được rất lâu mới dừng lại.Từ đó, HS có thể tưởng tượng được rằng nếu ma sát tiễn tới không thì quãng đường đi của xe sẽ tiến tới vô tận và chính như thế là HS có thể hiểu được phương pháp thí nghiệm tưởng tượng và ứng dụng có thể của nó

Như vậy, BHGK, ĐHGK có thể được sử dụng để thực hiện nhiều PPDH khác

nhau và từ đó có ‘thé đổi mới PPDH, khả dĩ thay thế cho phương pháp dạy chay, PPDH

cổ truyền nặng về áp đặt, nhẹ về phát huy năng lực sáng tạo và bởi đưỡng nhân cách của „ người lao động mới cho HS

Str dung bang video, dia CD-ROM dé đối mới PPDH Điều này thể hiện trước

hết ở tính trực quan cao của các phương tiện dạy học này Băng Video, đĩa CD-ROM sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho HS quan sát, thảo luận, tự lực giải quyết vấn đề theo cách hiểu của mình GV có thời gian hơn trong việc tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS

Đảm bảo được nguyên tắc trực quan trong dạy học sẽ giúp HS lĩnh hội trị thức một cách

dé dang, tự giác, có ý thức và vững chắc hơn Trong băng video, địa CD-ROM: có thể

đưa thêm hệ thống câu hỏi bài tập, bài thực hành dưới nhiều hình thức Băng ghi hình, đĩa ghi hình được thiết kế nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường Những vai trò và tác dụng chính của băng hình, đĩa hình trong quá trình dạy

học như là phương tiện góp phần đổi mới PPDH :

Trang 34

+ Giúp cho HS hiểu được những nguyên tắc và khái niệm cơ bản, phát triển được

Kĩ năng phán đoán, phân tích

+ Góp phần hình thành và nâng cao khả năng quan sát, nghiên cứu khoa học cho

HS

+ Góp phần nâng cao hiệu suất dạy và học

+ Giúp cho HS nắm vững và ghi nhớ kiến thức lâu bền hơn

+ Phát huy được tác dụng trong mọi hình thức tổ chức dạy học

3 Thực trạng sử dụng băng hình, đĩa hình trong dạy học ở trường THCS

3.1 Tình hình trang bị băng hình, đĩa hình

Mặc dù từ nhiều năm nay ngành giáo dục đã thấy được tầm quan trọng của phương tiện nghe nhìn trong việc nâng cao chất lượng dạy học nên đã trang bị cho các trường nhiều loại phương tiện nghe nhìn hiện đại, đặc biệt là băng hình, đĩa hình một phương tiện truyền thông phổ biến và có nhiều tính năng, nhưng có thê nói tình hình trang bị băng hình, đĩa hình cho các trường còn quá ít, chưa đáp ứng được yêu cầu học tập bộ môn

Theo kết quả điều tra 65 trường THCS trong 17 tỉnh và thành phố thì:

- _ Các trường được trang bị băng hình, đĩa hình với số lượng rất hạn chế 47,5%

SỐ trường chỉ có từ 1 băng hình/đĩa hình trở lên

- _ 89% số trường có Tivi

- 62% số trường có cả Tivi và đầu Video trong đó có 27% số trường chỉ có

một 1-2 Tivi va 1 dau Video

- Sélugng dau Video it 6i nay duge str dung chung cho tat ca các bộ môn

- _ 78% các trường có từ l bộ máy tính trở lên

- 29% số trường trong một năm học không có môn học nào sử dụng băng hình, đĩa hình giáo khoa

Thực trạng này là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng băng hình, đĩa

hình trong dạy học ở trường THCS còn rất nhiêu hạn chê

3.2 Tình hình sản xuất băng hình, đĩa hình giáo khoa

+ Số lượng băng hình, đĩa hình giáo khoa

Cũng từ nhiều năm trước đây, khi ngành giáo dục có chủ trương đây mạnh

trang bị phương tiện nghe nhìn hiện đại cho các trường học và tiến hành xây dựng các phần mềm dạy học, một số băng video giáo khoa mới được xây dựng.Số lượng băng video giáo khoa được xây dựng và đưa vào sử dung tương đối it, chi co tinh chat tượng trưng Tuy nhiên số lượng băng hình, đĩa hình vẫn còn thiếu rất nhiều so với yêu cầu của các bộ môn

+ Chât lượng băng hình, đĩa hình giáo khoa

Qua nghiên cứu tất cả các băng hình, đĩa hình giáo khoa có thể rút ra được những nhận xét về chất lượng như sau:

- Nội dung của tât cả các băng hình, đĩa hình giáo khoa đều được thiết kế dựa

theo nội dung và dàn ý của bai học trong sách giáo khoa Tuy nhiên cầu trúc nội dung

trong băng hình, đĩa hình giáo khoa cũng được cầu tạo lại cho phù hợp với ý tưởng của bài học, đồng thời có thêm nhiều tư liệu liên quan được đưa vào làm phong phú vả mở

Trang 35

rộng sự hiểu biết của HS, giúp GV có thể dựa vào đó để hướng dẫn HS tự khai thác trí

thức theo hướng dạy học tích cực

- Chất lượng hình ảnh, âm thanh của tất cả các băng đều tương đối tốt, kể cả

những đoạn phim tư liệu được nỗi ráp, thu hút sự chú ý của HS

- Thể loại băng còn đơn điệu, các băng chỉ được xây dựng dưới hình thức hình ảnh hóa nội dung bài học, chưa có những băng video được thể hiện dưới các hình thức khác như điễn giảng, phỏng vấn, kịch Chính đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến phương pháp sử dụng băng video trong dạy học hiện nay ở trường phổ thông còn đơn điệu

Vị trí của BHGK cũng đã được khẳng định thông qua bản danh mục TBDH:

-_ Số BHGK của trường THCS là 56 băng

- _ Các bộ môn Văn, Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục Công dân đều được

trang bị BHGK

-_ Trong danh mục TBRDH trường THCS thí điểm, số BHGK là 100 băng

3.3 Tình hình sử dụng băng hình, đĩa hình giáo khoa trong day hoc

- Mức độ sử dụng

Cũng qua điều tra cho thấy vì nhiều lý do khách quan (co sé vật chất) và chủ quan (ý thức của GV) mức độ sử dụng Video trong dạy học cũng còn nhiều hạn chế

Thường xuyên sử dụng : 15/65 Thỉnh thoảng sửdụng : 38/65

Ít khi sử đụng : — 7⁄65

Không sử dụng : — 5⁄40

- Trường hợp sử dụng

Mặc đù điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế nhưng cũng có nhiều

GV sử dụng Video trong giờ học chính khoá cũng như ngoại khóa Cũng qua kết quả điều tra cho thấy:

Sử dụng giảng bài trên lớp: 60/65

Sử dụng ngoại khóa : 32/65

Tuy nhiên, một điều cần chú ý là đại đa số trường hợp, Video chỉ được sử

dụng trong những tiết thao giảng Kết quả điều tra này phản ánh một thực tế đáng buồn

cho tình hình sử dụng băng hình, đĩa hình giáo khoa trong dạy học ở trường THCS hiện

nay

Qua nghiên cứu bằng phiếu khảo sát và dự các giờ dạy có sử dựng băng hình, đĩa hình giáo khoa của nhiều GV, có thể rút ra một số nhận xét sau đây về phương pháp sử dụng băng hình, đĩa hình giáo khoa trong dạy học hiện nay như sau:

+ Việc sử dụng băng hình, đĩa hình giáo khoa của GV rất linh hoạt và

nhiều sáng tạo Có GV chỉ sử dụng băng hình, đĩa hình giáo khoa trong suốt tiết học có

GV sử dụng băng hình, đĩa hình giáo khoa kết hợp với các phương tiện dạy học khác như biểu bảng, máy chiếu qua đầu, máy vi tính Có GV chỉ sử dụng những băng hình, đĩa hình giáo khoa được xây dựng theo nội dụng bài học hiện có, có ŒV sử dụng thêm những băng hình, đĩa hình giáo khoa khác như những băng tư liệu được thu từ các chương trình trên đài truyền hình

Trang 36

- Mặc dù cách thức sử dụng có khác nhau nhưng tựu trung lại phương pháp

sử dụng băng hình, đĩa hình giáo khoa để dạy một tiết học được tiến hành theo hướng

chung như sau:

+ Trước hết, GV giới thiệu các đề mục của bài học lên bảng, thông qua dàn bài này GV định hướng cho HS những nội dung cần chú ý trong băng hình, đĩa hình

giáo khoa

+ Trình chiếu băng hình, đĩa hình giáo khoa cho HŠ xem Thường GV trình chiếu từng đoạn phim tương ứng với cấu trúc của bài học Sau mỗi đoạn trình chiếu, GV đặt câu hỏi về nội đung đoạn phim để HS trả lời Đó chính là nội dung của bài bọc GV ghi nội dung này lên bảng

- Với phương pháp dạy học như trên có thể rút ra những nhận xét sau đây: + Tiết học sinh động, thu hút sự chú ý của HS và tiết kiệm được thời gian lên lớp hơn

+ Băng hình, đĩa hình giáo khoa chỉ mới được sử dụng như một phương tiện truyền tải thông tin thay thế cho lời thuyết giảng của GV, thay thế cho các phương tiện khác mà HS đã quá quen thuộc

+ Phương pháp dạy học này chính là phương pháp dạy học mà lâu naỷ vẫn tổn tại, được thể hiện qua quá trình 4 bước: trình bày thông tin, giải thích thông tin cho HS hiểu, cho HS thực hành để củng cố thông tin và kiểm tra việc học của HS

Như vậy, Sử dụng phương tiện dạy học để tổ chức các hoạt động học tập nhằm

phát huy tính tích cực của HS là một trong những biện pháp được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu Trong các loại phương tiện dạy học, băng hình, đĩa hình giáo khoa là một phương tiện có nhiều tính năng ưu việt có khả năng giúp cho việc tổ chức các hoạt động nhận thức của HS Để sử dụng một cách có hiệu quả không những cần phải hiểu được tính năng của băng hình, đĩa hình giáo khoa mà còn cân phải năm được nội dung

và phương pháp sử dụng nó một cách khoa học

Tóm lại, với cơ sở Ù luận nhận thức rõ nét và tác dụng to lớn của BHGK,

ĐHGK đã trình bày ở trên ta có thể kết luận rằng việc đưa BHGK và ĐHGK vào nhà

trường là một đòi hỏi mang tinh qui luật, cẩn thiết được thực hiện sớm Đổi với HS trường THCS, đồi hỏi này lại càng cân thiết hon vì đối với lứa tuổi này, các em tuy đã bắt đầu có ý thức và mong muốn được thé hiện "tỉnh người lớn", tính ham hiểu biết hơn:

tự duy trừu tượng và năng lực sáng tạo đã bắt đẫu được xác lập nhưng về cơ ban tu duy

của lớp vị thành niên này chủ yếu vẫn là tư duy cu thé ma do dé cdc tác động gây cảm

Vì những lý do trên, việc đưa các PTNNGD đặc biệt là BHGK, ĐHGK đã được đưa vào nhà trường phổ thông của nhiều nước trên thế giới Ở Nhật Bản, máy ghi âm từ

và đầu Video đã được đưa vào trường tiểu học và tường trung học đệ nhất cấp từ năm

1967 Trong kế hoạch 1986 - 1991 nhà trường Malaysia đã được trang bị đầu máy Video với 365 trung tâm nghe nhìn cấp huyện và 4229 trung tâm nghe nhìn của trường tiểu học nông thôn, trong số 6795 trường tiêu học của cá nước Ở Thái Lan, đầu Video

và băng Video đã được trang bị cho các Trung tâm nghe nhìn của các tiểu vùng để dùng theo phương thức liên trường Ở Liên Xô (trước đây) từ năm 1945, đã có khẩu hiệu

“Điện ảnh hóa quá trình dạy học”, trước và sau năm 1980 số lượng HS xem phim giáo khoa trong nhà trường còn lớn hơn tổng số lượng người dân xem phim trong các rạp

chiếu bóng (trong cùng một năm) Ở Pháp từ những năm 70, 80 đã có khẩu hiệu "Tiến

Trang 37

hành một cuộc cách mạng trong các phương tiện nghe nhìn" Danh mục băng video giáo khoa cho nhà trường phổ thông Pháp trong năm học 1992 - 1993 là 650 tên đầu băng

Đó là những kinh nghiệm quốc tế chúng ta cần tham khảo học tập Một kinh nghiệm quí nữa của nhiều nước nhất là các nước đang phát triển là trong trang bị phát đảm bảo

cân đối và đồng bộ giữa phần cứng (đầu video, đầu đĩa hình) và phần mềm (băng, đi: ia)

tuy còn có khó khăn nhưng nêu có kinh phi thi việc mua săm phân cứng cũng có thể thực hiện tương đối thuận lợi và nhanh, trong khi đó để nghiên cứu và sản xuất BHGK, ĐHGK thì ngoài kinh phí ra còn đòi hỏi một lực lượng lớn các nhà khoa học - sư phạm, các nhà kỹ thuật lành nghề lao động sáng tạo trong thời gian dài và liên tục

II XÂY DỰNG BĂNG HÌNH, ĐĨA HÌNH GIÁO KHOA

1 Những nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu thiết kế băng hình và đĩa hình giáo

khoa

1.1 Quan điểm xây dựng BH, ĐHGK

Sự tiến bộ và phát triển của điện ảnh, với thế mạnh của loại hình nghệ thuật kết

hợp đồng bộ giữa hình ảnh âm thanh đã góp phần làm cho đời sống văn hoá tính thần

_ của con người thêm phong phú, đa dạng hơn Các nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà

"nghiên cứu thiết bị giáo dục (TBGD) đã vận dụng thế mạnh của loại hình nghệ thuật này làm phương tiện hỗ trợ cho việc giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho học sinh (HS) coi

đây là phương tiện vật chất cần thiết mà bằng tác động kênh hình (hình ảnh) và kênh

tiếng (âm thanh) có thể giúp cho giáo viên (GV) và học sinh (HS) tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình dạy - học ở các cấp học, các lĩnh vực, các môn học góp phần thực hiện được những yêu cầu của chương trình giảng đạy

Đặc điểm quan trọng nhất của loại TBGD này là có khả năng tạo nhận thức của

học sinh thông qua tác động trực tiếp đối với các giác quan - thính giác (nghe) và thị giác (nhìn) nên gây cảm giác mạnh mẽ, sâu sắc, phong phú và do đó mà nhận thức mà học sinh thu được cũng đạt được mức cao hơn nhiều so với tác động của các loại phương tiện nghe nhìn giáo dục khác Loại hình TBDH động kết hợp đồng bộ giữa kênh hình (nhìn) và kênh tiếng (nghe) một cách đồng bộ; đều phải xây dựng và biên tập kịch bản

trước khi thể hiện và khi sử dụng đều phải có các phương tiện kỹ thuật phụ trợ để truyền

nội dung thông tin

TBDH vừa là nguồn tri thức vừa là phương tiện chứa đựng truyền tải thông tin và

BHGK và ĐHGK giống nhau ở điểm rất cơ bản là chúng đều cho những tín hiệu

hình ảnh và âm thanh đồng thời, nghĩa là đối với yêu cầu dạy học chúng có tác dụng

giống nhau hoàn toàn (với cùng một nội dung dạy học)

Tuy vậy xét về mặt sản xuất (xây dựng) chúng có một số nét khác nhau Ngoài sự khác nhau về vật liệu chế tạo (băng khác đĩa) công nghệ chế tạo bằng ghi hình có khác (máy quay thường Video Recorder Camera, máy quay kĩ thuật sé Digital Video

Recorder Camera độ phân giải hình ảnh và âm thanh cao hơn có thể đưa hình ảnh và âm thanh vào máy tính) công nghệ chế tạo băng ghi hình có khác và đơn giản hơn so với

công nghệ chế tạo đĩa ghi hình

Để có được BH, chỉ cần quay (Camera + Băng) là được băng gốc Sau đó có thể

phát lại ngay cho người xem qua đầu Video + TV, không cần qua quá trình xử lí kĩ thuật (như in, tráng phim xinê) Có thể nối trực tiếp máy quay và máy thu hình qua Cable

Trang 38

Tiếp đó, nếu muốn nhân bản băng gốc này thì chỉ cần dùng thiết bị ghi băng Video (2

Video Recorder — l Play và 1 Record) nhân trực tiếp như nhân băng ghi âm là được Ngoài ra còn có máy chuyên dụng, ghi băng Video có thể nhân băng 1 lần được 4,8 băng

Nhưng để có được ĐH cần phải sử dụng nhiều thiết bị chuyên dụng hơn trong đó

có máy vi tính, Card sé hod (IEEE 1394 CardBus PC Card) va phần mềm tương ứng Qui trình tổng quát như sau: Tín hiệu từ máy Video Recorder nhờ máy vi tính và Card + phần mêm được chuyển sang tín hiệu số, trên cơ sở đó phần mềm sẽ cho phép thay đổi băng gốc để có tín hiệu số (vì máy vi tính chỉ làm việc với các tín hiệu số)—> Nhờ có Card + Phần mềm + Phần mềm khác mà có tệp có đuôi dat và từ đó —> Ghi sang đĩa VCD Cũng có thể nhờ CD Writer chuyên dùng mà nhân bản được 1 hay 10, 100 đĩa Như thế muốn có ĐH trước hết phải ghi tín hiệu qua bang rồi sau đó mới xử

lý tiếp bằng máy vi tính và các thiết bị phụ khác Tuy vậy, nhờ giá nguyên liệu sống rẻ, (đĩa sông rẻ hơn băng sống đến vài lần) và nhờ một vài lợi ích khác nữa như chất lượng hình và tiếng và khả năng dồn nhiều nội dung vào một đĩa (đĩa MP3) để có thé ding chi một đĩa mà ghi cả được một vở diễn, một vở tuồng, kịch đài nên xu thé thị trường hiện nay là người ta dùng đĩa ghi hình nhiều hơn băng ghi hình Băng để lâu không để trong

tủ sấy sẽ bị mốc và không phát được qua đầu Video và màn hình vô tuyến được Đĩa để

lâu vẫn không bị mốc, dung lượng của đĩa lớn 800MB là 80 phút

Nhưng theo yêu câu nghiên cứu, ta không di chỉ tiết vào kỹ thuật sản xuất mà dành phần này cho các chuyên gia kỹ thuật và đi sâu phân tích các vấn để sau: Các yêu cầu chất lượng của BHGK, ĐHGK; các nguyên tắc, những đòi hỏi trong xây dựng và sử dụng có hiệu quả BHGK, ĐHGK; các giải pháp cần được áp dụng để việc xây dựng và

sử dụng BHGK, ĐHGK đạt hiệu quả mong muốn

1.2 Các yêu cầu về chất lượng chế tạo TBDH và BHGK, ĐHGK

TEDH không chỉ mang tính minh hoa mà phải là công cụ giúp tổ chức quá trình nhận thức của học sinh một cách tích cực, chủ động Vì BHGK, ĐHGK là những TBDH nên các yêu cầu về chất lượng chế tạo đối với chúng cũng phải được thoả mãn

như 4 yêu cầu về chất lượng của một TBDH Đó là:

- Yêu câu khoa học - sư phạm

- Yêu cầu kỹ thuật và tổ chức lao động có khoa học

- Yêu cầu mỹ thuật

- Bốn yêu cầu này liên quan mật thiết với nhau và cũng có phần chứa đựng nhau, đó

là điểm cần lưu ý khi vận dụng Thêm vào đó, khi vận dụng cũng cần chiếu cô đến những nét đặc thù của loại phương tiện nghe nhìn nảy

1.2.1 Yêu cầu khoa học - sự phạm

Thực chất yêu câu này là yêu cầu về chất lượng kịch bản của BH, ĐH và một phần các yêu cầu kỹ thuật - tổ chức lao động có khoa học cũng như yêu cầu mỹ thuật Nếu kịch bản không tốt thì dù có tài thể hiện đến đâu về mặt kỹ thuật và mỹ thuật cũng

khó có một BH, ĐH có chất lượng cao

- Theo yêu cầu này, thông tin mà băng, đĩa ghi hình cung cấp phải phù hợp với nội dung đã được qui định trong chương trình, sách giáo khoa, không đưa vào kịch bản những thông tin khác với nội dung sách giáo khoa Tuy vậy, theo yêu cầu day hoc - giáo

Trang 39

dục - phát triển cũng cho phép mở rộng thêm nội dung của kịch bản với mức độ vừa

phải cân thiết và được coi như phần vận dụng và ngoại khóa của nội dung dạy học

- Kiến thức do băng, đĩa cung cấp phải chính xác, nghĩa là hình ảnh và âm thanh do đĩa, băng phát ra phải chuẩn xác về mặt khoa học và sát đúng với thực tế Chẳng hạn, các câu văn tiếng Việt và tiếng nước ngoài phải chính xác, bản đồ phải có địa hình chính xác; sông, núi, thành phố, đường giao thông, các sản vật và loài thú ở các vùng phải đúng như sách giáo khoa; y phục của nhân vật thuộc dân tộc nào phải đúng như y phục truyền thống của dân tộc ấy, không hiện đại hoá cảnh vật và y phục của nhân vật có trong băng, đĩa Đây là một yêu cầu quan trọng vì thực tế đã có nhiều bang, dia vi pham yéu cau nay

- Nội dung băng, đĩa phải phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi, đặc biệt là yêu cầu vừa sức, không tham lam Thêm vào đó đối với lứa tuổi HS trung học cơ sở ta phải chú ý rằng tuy các em đã bắt đầu có tư đuy độc lập, tư duy sáng tạo nhưng đó mới chỉ là bước đầu

Về cơ bản các em vẫn nặng nề tư duy cụ thể, vẫn chỉ là những cậu bé ở tuổi thành niên

hiểu động, ham tìm hiểu sự thật và không dễ dàng được thuyết phục Do đó trong dạy học, phải lựa chọn chế tạo và sử dụng các băng đĩa phù hợp với đặc điểm trên của các

em

- Nội dung băng, đĩa ghi hình giáo khoa phải phục vụ đắc lực cho các yêu cầu dạy

học hiện đại: Truyền thụ cho HS những kiến thức cơ bản vững chắc, gây hứng thú nhận

thức, phát huy tính tích cực, bồi dưỡng năng lực sáng tạo và giáo dục tư tưởng - chính trị đạo đức, giáo đục lao động và nói chung là giáo dục nhân cách mới cho các em

Tuyệt đối không chế tạo các băng, đĩa ghi hình có hình ảnh giật gân, âm thanh thiếu

lành mạnh, uỷ mị, sầu não, độc hại

Với các đặc điểm của phương tiện nghe nhìn, điều nảy cũng cần được lưu ý đặc biệt

vì hình ảnh và âm thanh có tác dụng mạnh mế, gây ấn tượng sâu sắc và hướng dẫn hành động mau lẹ cho các em

1.22 Yêu cầu kỹ thuật và tổ chức lao động có khoa học

- Trước hệt, BHGK, ĐHGK phải đảm bảo có yêu cầu chung của một sản phẩm công nghiệp, như sơ đồ cấu tạo của sản phẩm phải đơn giải , lắp ráp phải bền chắc, độ tin cậy phải cao

- Việc chế tạo sản phẩm phải tuân thủ các luật của hội họa, điện ảnh, âm thanh như luật xa gần, luật cân đối, luật hư cấu, luật tương phản, luật đồng bộ

- Hình ảnh phải phù hợp với thực tế, phải đẹp, hài hòa không bị lệch, bị méo _

Âm thanh phải trong sáng, trung thực với kịch bản và thực tế, phải hài hòa, không có tạp

âm, tiếng ôn, không bị um, bị rè, bị nghẹt, phải gây cảm xúc tốt và hào hứng cho người

dùng Âm thanh và hình ảnh phải có độ chói, độ tương phản hợp lý Trong trường hợp

âm thanh và hình ảnh không có trong thực tế, (như các nhân vật trong chuyện cễ tích,

thần thoại )có thể cách điệu, hư câu nhưng phải hợp lý Không sử dụng những âm thanh và hình ảnh giật gân xa thực tế, những hình ảnh quá chói hoặc qúa tối, những âm thanh quá cao hoặc quá thấp, gây cảm giác sợ hãi cho các em Âm lượng phải lấy sao cho khi mở máy ở mức trung bình là cả lớp có thể nghe được

Âm chủ yêu phải lẫy sao cho có cường độ lớn hơn các âm phụ và phải làm cho âm chủ yếu được nổi bật lên nhưng lại không được làm quá lu mờ các âm phụ

- Cần bố trí hình ảnh hợp lý, nhất là trường hợp trước ống kính xuất hiện nhiều đối tượng (người, vật, cây cối ) để làm nỗi bật đối tượng chủ yêu nhưng cũng không

Trang 40

làm quá lu mờ các đối tượng thứ yếu Nếu đối tượng ở xa hay có kích thước quá nhỏ,

cần sử dụng các ống kính hình ảnh đặc biệt hoặc nhờ sự hỗ trợ của kính hiển vi điện tử, máy vi tính

- Nếu cần dùng phụ đề hay lời thuyết minh, cần chọn mức thích hợp để khỏi lần

áp hình và tiếng của băng đĩa ghi hình Thêm vào đó, tốc độ chuyển dịch của hình và tiếng cũng nên vừa phải, bảo đảm cho HS kịp theo dõi hình ảnh và âm thanh

- Trong trường hợp đĩa ghi hình có nhiều nội dung đặc biệt là loại đĩa MP3, cần cấu tạo đĩa sao cho thuận tiện trong điều khiển tự động chọn các nội dung tuỳ ý

- Can bao dam tinh đồng bộ giữa kênh hình và kênh tiếng, tránh sự lệch pha

giưa hai kênh này, nếu không sẽ gây cảm giác thiếu thoải mái và buồn cười cho HS,

giảm độ tin cậy của sản phẩm nhiều Tuy vậy cũng cần chấp nhận và khuyến khích những đoạn băng đĩa có hình ảnh mà không có tiếng Điều này vừa hợp lý vừa có tác dụng kích thích suy nghĩ độc lập của các em khi xem phim tương tự như xem các phần của bản đồ trồng

- Cần có thiết bị tốt (Camera, đầu ghi đĩa hình, đầu Video, máy vi tính ) trong chế tạo băng, đĩa hình Chẳng hạn, nếu các núm điều khiển của máy được bố trí hợp lý thì khi điều khiển GV sẽ không che tầm nhìn của HS lên màn ảnh Đây là một yêu cầu cụ thê cân tô chức lao động có khoa học đã nêu trên đây

1.2.3 Yêu cầu mỹ thuật

- Như trên đã trình bày, yêu cầu này đã được thể hiện phần lớn trong yêu cầu

khoa học - sư phạm và nhất là yêu cầu kỹ thuật, ngoài ra còn có một vài nét riêng

„ - Việc dàn đựng phải cho những hình ảnh và cảnh vật đẹp về tính hợp lý và cân

đôi

- Màu sắc của hình ảnh phải phù hợp với kịch bản với thực tế và phải sáng sua,

hài hòa, hấp dẫn, có tác dụng gây hứng thú học tập của HS Nên tránh những màu chết đồng thời không đùng những hình ảnh, những màu lạ và âm thanh giật gân

- Màu sắc và hình ảnh phải phù hợp với tâm lý lứa tuổi: Ở tuổi tiểu học và các lớp đầu THCS, các em thường thích những màu sáng, mạnh như màu đỏ, màu xanh dương nhưng đối với các em ở những năm sau của THCS và PTTH thì các em lại

thích những màu dịu hơn Tất nhiên màu của hình ảnh phải sát với thực tế, nhưng nếu

khai thác được những cơ hội để sử dụng được các màu như trên thì tốt hơn

- Âm nhạc phải hay, âm thanh phải trong sáng đến mức tối đa có thể được để tô

thêm vẻ đẹp của băng và đĩa Không dùng những âm thanh lạ, giật gân gây hoảng sợ, cho các em trong trường hợp cần hư cấu để có âm thanh mới theo nội dung kịch bản

(tiếng gầm rú của thú dữ, tiếng bom đạn, âm thanh của các nhân vật trong các chuyện thần thoại, chuyện cổ tích )

Nói chung yêu cầu này đòi hỏi các hình ảnh và âm thanh của băng đĩa ghi hình giáo

khoa phải đẹp, có tác dụng gây hứng thú học tập cũng như góp phần giáo dục thẩm mỹ cho các em

1.2.4 Yêu cau kinh tễ

Yêu cầu này cũng đã có chứa đựng một phan trong ba yêu cầu trên vì nếu thoả mãn được các yêu cầu trên ở mức tối ưu thì rõ ràng là có thể giảm được giá thành sản phẩm Ngoài ra cần nhấn mạnh:

Ngày đăng: 23/02/2013, 17:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w