IV.3 Sắc ký Sắc ký là một phương pháp phân tách quan trọng nhất trong sinh học phân tử vì nó thích hợp với nhiều loại hợp chất và sản phẩm tinh sạch có thể được sử dụng ngay cho việc đị
Trang 1Tinh sạch protein
(tt)
IV Thu nhận protein mục tiêu dựa trên độ hoà tan, kích thước, điện tích, và liên kết ái lực
Hàng ngàn protein đã được tinh sạch
ở dạng có hoạt tính dựa trên những
đặc tính căn bản như độ hòa tan, kích thước, điện tích và liên kết ái lực
Thông thường, một hỗn hợp protein
sẽ trải qua nhiều giai đoạn phân tách,
Trang 2mỗi giai đoạn dựa trên một đặc tính nhất định, để cuối cùng là một protein tinh sạch Ở mỗi bước phân tách, thử nghiệm xác định hoạt tính và xác định nồng độ protein đều được thực hiện Lượng đáng kể protein tinh sạch,
khoảng vài miligram, có thể giúp ta biết được cấu trúc không gian ba
chiều và cơ chế phản ứng của nó Vì vậy, sản lượng toàn phần là một điểm quan trọng của quá trình tinh sạch
Các kỹ thuật tinh sạch thường dùng: tủa bằng muối, màng bán dẫn, sắc ký
IV.1 Tủa bằng muối
Ở nồng độ muối cao, phần lớn protein
sẽ giảm tính hòa tan, hiện tượng này gọi là tủa bằng muối (salting out)
Mỗi loại protein sẽ kết tủa ở một nồng
độ muối nhất định Vì vậy, hiện tượng
Trang 3tủa bởi muối có thể được dùng để
phân đoạn protein Ví dụ như
fibrinogen tủa ở nồng độ muối
ammonium sulfate 0.8 M trong khi
phải đến nồng độ 2.4 M, albumin mới kết tủa Hiện tượng này được sử dụng
để tăng nồng độ của một dung dịch
protein loãng chứa các phân đoạn có hoạt tính của các bước tinh sạch
trước Nếu cần thiết, lượng muối có thể được loại bỏ bằng sự thẩm tách
IV.2 Sự thẩm tách
Protein có thể được phân tách bằng sự thẩm tách thông qua màng bán dẫn, chẳng hạn màng cellulose với nhiều
lỗ Những phân tử có cấu trức không gian nhất định lớn hơn dường kính
của lỗ sẽ bị giữ lại bên trong túi thẩm tách, trong khi đó, những phân tử nhỏ
Trang 4hơn và các ion sẽ đi qua các lỗ đó ra ngoài túi Kỹ thuật này dùng để loại
bỏ muối hay tách những phân tử nhỏ, nhưng với kỹ thuật này không phân biệt được các loại protein với nhau
IV.3 Sắc ký
Sắc ký là một phương pháp phân tách quan trọng nhất trong sinh học phân
tử vì nó thích hợp với nhiều loại hợp chất và sản phẩm tinh sạch có thể
được sử dụng ngay cho việc định
lượng và định danh
Một hệ sắc ký gồm pha tĩnh, pha động
và mẫu cần phân tách Trong đó, tùy vào loại mẫu cần phân tách ta có thể lựa chọn loại sắc ký cũng như nguyên liệu cho pha cố định và pha di động Trong tinh sạch protein, có bốn
phương pháp được ứng dụng nhiều
Trang 5nhất là sắc ký lọc gel dựa vào kích
thước của phân tử (size exclusion
chromagraphy), sắc ký trao đổi ion
dựa vào điện tích của phân tử (ion
exchange chromagraphy), sắc ký ái
lực dựa vào ái lực của phân tử với
một loại phân tử khác (affinity
chromagraphy) và sắc ký lỏng cao áp dựa vào kích thước của phân tử nhưng
có độ phân giải cao nhờ vào áp suất (high pressure liquid chromagraphy)
IV.3.1 Sắc ký lọc gel
Phương pháp này tốt hơn các phương pháp trên vì nó dựa vào kích thước
phân tử Mẫu sẽ được nạp vào đầu
một cột chứa nhiều hạt có lỗ làm từ
polymer không tan nhưng có tính
hydrate hóa cao như dextran, agarose (những dạng cabohydrate) hay
Trang 6polyacrylamide Sephadex,
Sepharose, và Bio-gel là những loại gel phổ biến trên thị trường có sẵn
những hạt có lỗ với đường kính chuẩn
là 100µm (0.1mm) Những phân tử
nhỏ có thể ở cả bên trong lẫn giữa các hạt, trong khi đó những phân tử lớn hơn chỉ có thể ở bên ngoài các hạt Vì vậy, những phân tử có kích thước lớn trong cột sẽ chảy nhanh hơn và ra
ngoài trước Phân tử có kích thước trung bình, có thể thỉnh thoảng vào
được bên trong hạt sẽ rời khỏi cột ở vị trí giữa; còn những phân tử nhỏ sẽ
phải đi qua đoạn đường dài hơn,
quanh co nên sẽ ra sau cùng
IV.3.2 Sắc ký trao đổi ion
Tại bất kỳ một điểm pH nào trừ điểm đẳng điện, các protein đều có mang
Trang 7một điện tích tương ứng với điểm pH
đó Dựa vào điện tích thực của chúng tại một điểm pH nhất định, ta có thể phân tách hỗn hợp protein Phương
pháp này gọi là phương pháp sắc ký trao đổi ion Trong phương pháp này, pha tĩnh là những hạt mang sẵn một điện tích nhất định, những hạt này sẽ tương tác với các phân tử (protein)
mang điện tích trái dấu với chúng Cụ thể, nếu hạt mang điện âm (như cột carboxymethyl-cellulose
(CM-cellulose)), tiến trình được gọi là sắc
ký trao đổi ion dương, thì sẽ tương tác với những phân tử mang điện tích
dương Ngược lại, nếu hạt mang điện tích dương (như cột
diethylaminoethyl-cellulose (DEAE-cellulose)), gọi là sắc ký trao đổi ion
âm, thì tương tác với phân tử mang
Trang 8điện tích âm Vì thế, những protein
cùng dấu với cột sẽ chạy ra khỏi cột trong khi những protein trái dấu bị giữ lại cột Để phóng thích những protein này, ta tăng nồng độ ion của pha
động, những ion này sẽ thế phân tử
protein tương tác với các hạt mang
điện tích Ví dụ, trong sắc ký trao đổi ion dương, ta thêm muối natri clorua hay muối khác trong dung dịch tách giải bởi vì ion natri sẽ tranh bám vào cột với các protein có điện tích dương,
do đó, những protein mang điện tích dương được phóng thích ra ngoài cột lần lượt theo độ lớn về điện tích
Trang 10
Hình 1: minh họa sắc ký trao đổi ion
Hình 2: minh họa cơ chế giữa
protein trong hệ sắc ký trao đổi ion (a) Những hạt mang điện tích dương
sẽ trao đổi ion âm với dung dịch đệm Protein tích điện âm cũng ion dương tương tác với nó
(b) Khi protein gắn với hạt, protein thay thế những ion âm tương tác với
Trang 11hạt cũng như hạt thay thế những ion dương tương tác với protein
IV.3.3 Sắc ký ái lực
Đây là một phương pháp rất hiệu quả
và được ứng dụng rộng rãi trong việc tinh sạch protein Kỹ thuật này dựa
trên ái lực cao của nhiều protein với những nhóm hóa học chuyên biệt Ví
dụ, concanavalin A, một loại protein thực vật, có thể được tinh sạch khi
cho qua cột mang những phân tử
glucose bằng liên kết cộng hóa trị
Concanavalin A gắn vào cột bởi vì nó
có ái lực cao với glucose, trong khi đó những protein khác thì không
Concanavalin A có thể được tách giải khỏi cột khi ta cho thêm dung dịch
glucose đậm đặc vào Phân tử đường trong dung dịch sẽ gắn với
Trang 12Concanavalin A thay thế những phân
tử glucose nối với cột
Hình 3: minh họa cho cơ chế tinh sạch Concanavalin A bằng sắc ký ái
lực
Sắc ký ái lực còn là một công cụ hữu hiệu trong việc tách các yếu tố phiên
Trang 13mã, những protein điều hòa sự biểu hiện gen thông qua việc gắn đặc hiệu với trình tự DNA Hỗn hợp protein
thấm qua cột có chứa những trình tự DNA đặc hiệu được gắn vào thể
mang; những protein có ái lực cao với trình tự DNA sẽ bắt vào các trình tự
và được giữ lại Trong thí dụ này, yếu
tố phiên mã sẽ được phóng thích khi rửa cột với dung dịch có hàm lượng muối cao Ngoài ra, hiện nay người ta dựa vào tính đặc hiệu giữa kháng
nguyên và kháng thể để tinh sạch
kháng nguyên hay kháng thể Nhìn
chung, sắc ký ái lực có thể được dùng
để tách một protein vốn có khả năng nhận biết một nhóm X bằng nối cộng hóa với nhóm này hay những chất dẫn xuất của nó được gắn trên một cái cột, sau đó nạp hỗn hợp protein vào cột,
Trang 14cột này sẽ được rửa lại để loại bỏ
những protein không tạo được nối,
cuối cùng là tách giải protein mục tiêu bằng dung dịch X với nồng độ cao
hay thay đổi điều kiện để làm giảm
lực liên kết Sắc ký ái lực là phương pháp tinh sạch hiệu quả nhất khi
tương tác giữa protein và phân tử
được dùng như mồi bắt protein có độ chuyên biệt cao
IV.3.4 Sắc ký lỏng cao áp
Kỹ thuật sắc ký lỏng cao áp là một
dạng mở rộng của kỹ thuật sắc ký cột
có khả năng phân tách protein được cải thiện đáng kể Bản thân vật liệu
tạo cột vốn đã có sự phân chia rõ ràng
và như thế sẽ có nhiều vị trí tương tác dẫn đến khả năng phân tách được tăng lên đáng kể Bởi vì cột được làm từ
Trang 15vật liệu mịn hơn nên phải có một áp lực tác động lên cột để có được một tốc độ chảy thích hợp Kết quả thực
có sự phân giải cao và phân tách
nhanh