Tinh sạch Protein
Trang 1Tinh sạch protein
(tt)
V Phân tách protein bằng điện
di trên gel
Để đánh giá quá trình tinh sạch
protein có hiệu quả hay không, ngoài cách xác định hoạt tính đặc trưng của protein có tăng lên sau mỗi bước tinh sạch, còn một cách là làm hiện hình các protein hiện diện trong mẫu sau mỗi bước; điều này được thực hiện
nhờ kỹ thuật điện di
V.1Điện di một chiều
Trang 2Một phân tử có mang điện tích sẽ di chuyển trong điện trường Hiện tượng này, được đặt tên là điện di, giúp
hướng tới một kỹ thuật rất mạnh để phân tách protein và các đại phân tử khác như DNA và RNA Vận tốc di chuyển (v) của một protein (hay bất
kỳ phân tử nào) trong điện trường phụ thuộc vào lực điện trường (E), điện
tích thực của protein (z) và hệ số ma sát (f)
Lực điện Ez kéo phân tử mang điện tích tới điện cực trái dấu bị cản trở bởi lực kéo của độ nhớt fv tăng lên do sự
ma sát giữa phân tử đang chuyển
động với môi trường Lực ma sát phụ thuộc vào cả khối lượng, hình dạng
của phân tử đang di chuyển lẫn độ
Trang 3nhớt (η) của môi trường Với một
khối cầu có bán kính là r, ta có
Điện di luôn được thực hiện trên gel (hay trên vật thể rắn như giấy) bởi vì gel giống như một cái ray phân tử sẽ làm tăng sự phân tách Những phân tử nhỏ hơn kích thước lỗ gel sẽ có thể di chuyển xuyên qua gel, trong khi đó
những phân tử lớn hơn lỗ gel thì gần như không di chuyển Những phân tử
có kích thước trung bình di chuyển
trong gel với nhiều vận tốc khác nhau điện di được thực hiện trên một bảng polyacrylamide mỏng, thẳng đứng
Hướng của dòng điện từ trên xuống Gel polyacrylamide, được tạo thành
từ sự polymer hóa acrylamide và sự liên kết chéo của
methylenebisacrylamide, được chọn làm môi trường cho điện di vì nó có
Trang 4tính trơ về mặt hóa học và được tạo
hình nhanh chóng Điện di là một
cách lọc qua gel mà theo đó tất cả các phân tử, không xét về kích thước, sẽ
bị tác động một lực để di chuyển
trong cùng một chất nền Gel ở đây có thể xem tương đương với một hạt
trong cột lọc gel
Các protein có thể được phân tách dựa trên khối lượng bằng điện di trên
acrylamide dưới điều kiện đã bị biến tính Hỗn hợp protein được hòa tan
trong dung dịch sodium dodecyl
sulfate (SDS), một chất tẩy mang điện tích âm sẽ phá tất cả các nối không
cộng hóa trị của protein ban đầu
Mercaptoethanol (2-thioethanol) hay dithiothreitol cũng có thể được thêm vào để làm giảm số nối disulfide
Phức hợp SDS với protein đã bị biến
Trang 5tính có một điện tích thực âm tỉ lệ
thuận với khối lượng của protein
Điện tích âm có được do gắn với SDS lớn hơn rất nhiều điện tích của bản
thân protein ban đầu; vì thế, điện tích ban đầu của protein không ảnh hưởng đáng kể đến điện tích của phức hợp Phức hợp SDS-protein sau đó sẽ là
mẫu để chạy điện di Khi điện di kết thúc, những protein trên gel sẽ được nhìn thấy là một dãy các băng bằng cách nhuộm với bạc hay một chất
nhuộm màu như Coomassie blue
Những đánh dấu phóng xạ có thể
được phát hiện bằng cách đặt một tấm phim chụp x quang lên miếng gel, quá trình này gọi là phóng xạ tự ghi
Những protein nhỏ di chuyển nhanh trong gel, trong khi những protein lớn
ở phía đầu, gần vị trí nạp mẫu Tính di
Trang 6động của phần lớn các chuỗi
polypeptide dưới những điều kiện như thế tỉ lệ với khối lượng của chúng
Tuy nhiên, cũng có vài protein giàu carbohydrate và protein màng không tuân theo mối tương quan này SDS-PAGE có độ phân tách cao, cho kết quả nhanh và độ nhạy cao Chỉ với
lượng nhỏ khoảng 0.1ug (~2pmol)
protein đã cho vạch rất rõ khi nhuộm với Coomassie blue và thậm chí ít hơn (~0.02ug) vẫn có thể được phát hiện khi nhuộm bằng bạc Những protein chênh lệch về khối lượng khoảng 2% (ví dụ: 40 kD và 41 kD hay khác nhau khoảng 10 acid amin) có thể phân biệt được bằng SDS-PAGE
Vì vậy, SDS-PAGE giúp chúng ta
đánh giá kết quả của quá trình tinh
sạch Với những phân đoạn đầu tiên,
Trang 7kết quả là dãy gồm rất nhiều protein Nhưng qua mỗi bước tinh sạch, số
lượng protein sẽ giảm và sẽ có một
băng ngày càng đậm Vạch đó tương ứng với protein mục tiêu
V.2 Điện di dựa vào điểm đẳng điện
Các protein còn có thể được phân tách bằng điện dựa vào tỉ lệ giữa số acid
amin có tính acid và số acid amin có tính base của chúng Điểm đẳng điện của một protein (pI) là điểm pH mà ở
đó điện tích thực của nó bằng 0 Tại điểm pH này, tính di động của protein trong điện trường cũng bằng 0 bởi vì
z trong công thức (1) bằng 0 Mỗi một
protein có một pI riêng; ví dụ như pI của cytochrome C, một protein vận
chuyển ion có tính base cao, là 10.6, trong khi pI của albumin huyết thanh,
Trang 8một protein có tính acid trong máu, là 4.8 Giả định cho một hỗn hợp protein chạy trong điện trường trong một
miếng gel với một khuynh độ pH,
không có sự hiện diện của SDS Mỗi protein sẽ di chuyển cho đến khi nó đến vị trí mà tại đó pH bằng pI của
nó Dựa vào hiện tượng này, ta có
phương pháp phân tách protein dựa vào điểm đẳng điện của protein để
tạo Khuynh độ pH, trước hết là cho vào gel một hỗn hợp polyampholyte (những polymer nhỏ đa điện tích) có nhiều giá trị pI, sau đó điện di hỗn
hợp này Điện di dựa vào điểm đẳng điện phân tách protein nhanh với khả năng phân biệt được sự chênh lệch pI khoảng 0.01 hay những protein khác nhau chỉ một đơn vị điện tích cũng có
Trang 9thể được phân tách bằng phương pháp này
V.3 Điện di hai chiều
Đây là một phương pháp có khả năng phân tách cao do sư kết hợp
SDS-PAGE với điện di dựa vào điểm đẳng điện Mẫu protein đầu tiên sẽ được
chạy điện di dựa vào điểm đẳng điện sau đó, đặt khoảng gel có chứa protein vừa được điện di lên tấm gel
SDS-polyacrylamide theo phương nằm
ngang Protein sẽ chịu một điện
trường theo chiều dọc Kết quả là một
mô hình các điểm được phân tách hai chiều, chiều ngang theo điểm đẳng
điện, chiều dọc theo khối lượng Khả năng phân tách của phương pháp này được chứng minh khi hơn một ngàn protein của vi khuẩn E coli có thể
Trang 10được phân tách trong một lần chạy
điện di
Những protein được phân tách từ tế bào ở các điều kiện sinh lý khác nhau
có thể phân tách được bằng phương pháp này, sau đó cường độ của tính
hiệu sẽ được xác định Với cách này, những protein cụ thể sẽ được thấy ở dạng mạnh hay yếu tùy vào tình trạng sinh lý Tuy nhiên, phương pháp này
có một hạn chế là có rất nhiều protein được phân tách nhưng lại phân biệt
rõ Để khắc phục hạn chế này, người
ta kết hợp điện di hai chiều với kỹ
thuật khối phổi
V.4 Đánh giá kết quả tinh sạch protein
Trang 11Sau mỗi bước tinh sạch, những thông
số sau cần được ghi nhận để có thể
đánh giá quá trình tinh sạch protein:
- Protein tổng số: lượng protein có trong một phân đoạn Thông số này tính bằng cách nhân nồng độ một phần của phân đoạn với tổng thể tích của phân đoạn đó
- Hoạt tính tổng: hoạt tính của enzyme trong phân đoạn đó Thông số này được tính bằng cách nhân hoạt tính của enzyme có trong lượng mẫu được xét nghiệm với tổng thể tích của phân đoạn đó
- Hoạt tính riêng: bằng hoạt tính tổng chia cho protein tổng số
- Yield: hoạt tính còn lại sau mỗi bước tinh sạch được thể hiện bằng phần trăm hoạt tính của dịch chiết thô
Trang 12với hoạt tính trong dịch chiết khởi đầu
là 100%
- Mức tinh sạch: chỉ mức độ tinh sạch, được tính bằng cách chia hoạt tính riêng, được tính sau mỗi bước tinh sạch, với hoạt tính riêng của dịch chiết ban đầu
Qua theo nghiên cứu khảo nghiệm,
người ta thấy rằng sau mỗi bước tinh sạch, mức độ tinh sạch tăng lên trong khi yield lại giảm Thật vậy, với kỹ
thuật SDS-PAGE, nếu ta nạp một
lượng mẫu nhất định vào mỗi giếng trên bản gel ứng với một bước tinh
sạch, ta sẽ thấy số băng sẽ giảm tỉ lệ với mức độ tinh sạch trong khi tỉ lệ
lượng protein mục tiêu với tổng số
protein hiện diện sẽ tăng
Vì vậy, đánh giá quá trình tinh sạch phải dựa cả vào 2 thông số mức độ
Trang 13tinh sạch và yield Một quá trình tinh sạch tốt sẽ có mức độ tinh sạch cao và chỉ số yield thấp Nếu chỉ số yield cao còn mức độ tinh sạch thấp có nghĩa là còn nhiều tạp nhiễm trong mẫu (nhiều protein ngoài protein mục tiêu) và làm phức tạp việc giải thích thí nghiệm
VI Xác định khối lượng của protein
Phép ghi phổ khối lượng là một kỹ
thuật dùng để phân tích trong hóa học hữu cơ trong nhiều năm Tuy nhiên, cho đến gần đây, khả năng bay hơi
quá thấp của protein đã làm mất tác dụng của phép ghi phổ khối lượng
trong việc nghiên cứu các phân tử
này Khó khăn này đã được khắc phục khi có những kỹ thuật chuyển protein
và những đại phân tử khác thành dạng
Trang 14khí được đưa vào ứng dụng là matrix-assisted laser desorption-ionization (MALDI) và electrospray
spectrometry Ở đây tập trung vào kỹ thuật MALDI Trong kỹ thuật này,
những ion protein được phóng ra và sau đó được tăng tốc qua một điện
trường Những ion này sẽ di chuyển qua một đường ống dài được hút chân không (flight tube), ion nhỏ nhất sẽ di chuyển nhanh nhất và đến đầu đọc
trước nhất Vì vậy, dựa vào thời gian bay (time of flight - TOF) trong điện trường ta có thể biết khối lượng của protein (hay chính xác hơn là tỉ lệ
giữa khối lượng với điện tích) Với một lượng nhỏ phân tử sinh học, dù nhỏ đến khoảng vài picomole đến vài femtomole, vẫn có thể phân tích được với cách này Một máy phổ ghi khối
Trang 15lượng dạng MALDI-TOF dược dùng phân tích hỗn hợp insulin và
β-lactoglobulin kết quả khối lượng của
2 protein này lần lượt là 5733.9 và
18,364, so với kết quả tính toán la
5733.5 và 18,388 Thí nghiệm này
cho thấy MALDI-TOF thật sự là một
kỹ thuật chính xác để xác định khối lượng protein Kỹ thuật này còn được ứng dụng trong việc xác định dựa vào khối lượng của peptide (peptide mass fingerprinting) kỹ thuật này đã mở
rộng khả năng ứng dụng của điện di hai chiều Mẫu cần nghiên cứu được chiết và phân ra một cách riêng biệt bằng các phương pháp hóa học hay
enzyme học Khối lượng của các phân đoạn protein được xác định bằng
phương pháp khối phổ Cuối cùng,
khối lượng của peptide được so với
Trang 16những số liệu đã có được tính trên
máy vi tính Kỹ thuật này cho kết quả khá tốt Ví dụ, trong số 150 protein
của nấm men được phân tách bằng
điện di 2 chiều, kỹ thuật này đã giúp xác định được 80% protein
VII Siêu ly tâm
Siêu ly tâm không chỉ là một phương pháp có thể phân tách một hỗn hợp
thô các thành phần của tế bào mà còn rất hiệu quả trong việc phân tách và phân tích những phân tử sinh học Với phương pháp này, chúng ta không chỉ xác định được khối lượng và tỉ trọng
mà còn biết được cả hình dạng của
một phân tử cũng như phân tích
những tương tác giữa các phân tử Để
có được những điểm này, chúng ta
cần một diễn tả một cách toán học là
Trang 17một phân tử bị tác động bởi lực ly tâm như thế nào Dưới tác động của lực ly tâm, một phân tử sẽ di chuyển qua
một môi trường lỏng Để biết được
tốc độ di chuyển của phân tử ta cần
phải tính hệ số lắng (s) theo công
thức
với m là khối lượng phân tử, v là thể tích từng phần (nghịch đảo của tỉ
trọng phân tử), p là tỉ trọng của môi trường và f là hằng số lắng thường
được biểu hiện là đơn vị Svedberg (S) bằng 10-3 s Giá trị S càng nhỏ, phân
tử di chuyển càng chậm
Vận tốc lắng của một phân tử phụ
thuộc vào khối lượng của nó Một
phân tử có cùng hình dạng cũng như tỉ trọng với các phân tử khác nhưng
nặng hơn sẽ lắng nhanh hơn
Trang 18Hình dạng cũng ảnh hưởng đến vận tốc lắng vì nó tác động đến độ nhớt
Hệ số ma sát của một phân tử cuộn lại thì nhỏ hơn những phân tử cồng kềnh
dù chúng có cùng khối lượng Vì vậy, một phần tử dạng thẳng lắng chậm
hơn những phân tử hình cầu dù chúng
có cùng khối lượng
Một phân tử đặc di chuyển mau hơn một phân tử ít đặc hơn bởi vì nghịch đảo của lực đẩy đối với phân tử đặc nhỏ hơn
Vận tốc lắng còn phụ thuộc vào tỉ
trọng của dung dịch (p) các phân tử lằng khi p < 1, nổi khi p > 1 và không
di chuyển khi p = 1
Một kỹ thuật tách protein dựa vào hệ
số lắng khác nhau của các protein là
kỹ thuật ly tâm phân đoạn đầu tiên là tạo khuynh độ tỉ trọng trong một ống
Trang 19ly tâm bằng cách trộn 2 dung dịch có
tỉ trọng khác nhau, một có tỉ trọng
cao, một có tỉ trọng thấp Ví dụ, hỗn hợp sucrose 20% và sucrose 5% có
khuynh độ tỉ trọng từ 5% ở phía trên đến 20% ở đáy tube một lượng nhỏ dung dịch hổn hợp protein được nạp vào phía trên của khuynh độ về tỉ
trọng khi máy quay, protein sẽ di
chuyển theo khuynh độ và tách ra dựa trên hệ số lắng của chúng thời gian
và tốc độ ly tâm có được qua thực
nghiệm Ta tạo một lỗ ở đáy ống ly
tâm để thu nhận các phân đoạn của
protein
Khối lượng protein được xác định
trực tiếp bằng trạng thái lắng cân bằng
có nghĩa là mẫu được ly tâm ở vận tốc thấp đủ để sự lắng cân bằng với sự
khuếch tán kỹ thuật này xác định
Trang 20khối lượng protein rất chính xác và có thể sử dụng cho protein không qua
biến tính vì vậy cấu trúc bậc bốn của protein vẫn được bảo tồn Đây là điểm lợi thế của phương pháp này so với
SDS-PAGE, chỉ định được khối lượng của protein khi đã bị biến tính Với
hai phương pháp này, SDS-PAGE cho
ta biết khối lượng từng đơn phân, siêu
ly tâm phân đoạn cho ta biết khối
lượng của dạng đa phân, ta có thể kết hợp để biết có bao nhiêu đơn phân
trong một protein đa phân