Trong giai đoạn đầu mỗi quốc gia phân chia cây cối theo cách khác nhau và người ta cũng chưa biết đề ra các nguyên tắc và phương pháp phân loại do đó phân loại thực vật cũng chưa thàn
Trang 2
Trong giai đoạn đầu mỗi quốc gia phân chia cây cối theo cách khác nhau và người ta cũng chưa biết đề ra các nguyên tắc và phương pháp phân loại do đó phân loại thực vật cũng chưa thành một môn khoa học nên việc xác định thực vật rất khó
khăn:
đã có rất nhiều nhà thực vật học cố tìm ra danh pháp chung cho các loài thực vật trên thế giới, cho đến năm 1753 Carolus Liaeus đưa ra cách đặt tên cây bằng 2 từ la tinh gép gọi là
danh pháp lưỡng tên
Trang 4CÁC QUY TẮC PHÂN LOẠI HỌC
Đơn vị phân loại và bậc phân loại
Cách gọi tên các bậc phân loại
Trang 5Các nhà phân lọai học đã chia giới(Regnum) thực
Trang 6• là đơn vị phân loại lớn
hơn, bao gồm nhiều lớp
• Ngành đại diện cho việc
Trang 7Lớp (Classis)
• Là một dạng phân loại
sinh học đặc biệt có tên
gọi đặc biệt để phân biệt
của chính nó (chứ không
phải chỉ là tên gọi chung
cho cái gọi là chi cao
Trang 8Bộ (Ordo)
• Là đơn vị phân loại
cao hơn, bao gồm
các họ gần nhau
Vd:
• Bộ thông: Pinales
• Bộ đậu: Fabales
Trang 9Họ (Familia)
• Bao gồm các giống có
đặc tính giống nhau nhất Vd: • Họ thông: Pinaceae
• Họ đậu: Fabaceae
Trang 11Loài (Species)
• Loài là một nhóm các cá thể
sinh vật có những đặc điểm
sinh học tương đối giống nhau
và có khả năng giao phối với
nhau và sinh sản ra thế hệ
tương lai với những dấu hiệu
sinh thái-sinh lý chung, sống
trong những khu phân bố nhất
định và có sự phân biệt giữa
loài nầy với loài khác nhờ tính
không lai tạo được
• Loài là đơn vị cơ bản nhất
Vd:
• Lúa: Ozyza
sativa
Trang 12Ngoài ra còn có các bậc phân loại sau
Trang 13• Trung gian giữa họ, chi va giữa chi, loài còn có:
Trang 14ĐƠN VỊ PHÂN LOẠI VÀ CÁC BẬC
PHÂN LOẠI
• Taxon:một nhóm cá thể thuộc bất kì một mức độ nào của thang chia bậc Hay taxon là nhóm sinh vật có thật được chấp nhận làm đơn vị phân loại
ở bất kỳ mức độ nào
Ví dụ : Loài là một bậc của bậc phân loại
Ngô (Zea mays) là một taxon
• Như vậy bậc của bậc phân loại xác định vị trí
của nó trong loạt bậc nối tiếp nhau, còn bậc của taxon là bậc phân loại nào đó mà nó là một
thành viên (takhtajan 1966)
Trang 15CÁCH GỌI TÊN CÁC BẬC PHÂN LOẠI
• 1753 Carolus Linnaeus (linne’) đưa ra cách đặt tên loài cây bằng 2 từ latin ghép lại gọi là danh pháp lưỡng nôm
• Từ đầu là danh từ chỉ tên chỉ luôn luôn viết hoa, từ sau
là tính từ chỉ loài, không viết hoa; in nghiêng
• Sau tên loài là tên tác giả; thường viết tắt hay nguyên họ của tác giả đã công bố tên đó đầu tiên, in thẳng đứng
Ví dụ : Oryza sativa L
• Tên họ : Tên chỉ điển hình + đuôi –aceae
• Tên bộ : Tên họ điển hình, đổi đuôi –aceae thành –ales
• Tên lớp : Tên bộ điển hình, đổi đuôi –ales thành –atae hoặc –opsida
• Tên ngành : Tên lớp điển hình, đổi đuôi – psida thành – phyts
Trang 16Sự phân chia giới thực vật
Nhóm thực vật ở dưới nước( tản thực vật): các nghành tảo
Trang 171) Nhóm thực vật ở dưới nước( tản
thực vật)
• Tảo là những thực vật bậc thấp, cơ thể có dạng tản Chưa phân hóa rễ, thân,lá
• Cấu trúc: đơn bào, đa bào hay tập đoàn
• Các dạng hình thái: đơn bào có
roi,hạt,sợi,bản…
• Cấu tạo tế bào: màng tế bào cấo tạo chủ yếu
bằng cellulose và pectin Tế bào có một hay
nhiều nhân Chất nguyên sinh có những bản
chứa chất màu( diệp lục và các chất màu phụ)
• Hình thức sinh sản: sinh dưỡng, vô tính, hữu
tính
Trang 18Phân loại tảo
• Dựa vào màu sắc và cấu trúc cơ thể
người ta chia tảo ra thành một số ngành riêng biệt
• Do dựa vào màu sắc và cấu tạo cơ mà ta
có thể phân biệt tảo bằng mắt thường Có thể phân chia nhóm tảo gồm 10 nghành:
Trang 19Tuy nhiên Cyanophyta(Tảo lam) có tính chất đặc biệt là chưa có
nhân và tế bào nên chúng được xếp vào nhóm Procaryote cùng với
vi khuẩn
Trang 212) Nhóm thực vật ở cạn không
mạch
Trang 23Nghành rêu(Bryophyta)
• Là một trong những thực vật bậc cao đầu tiên có cấu tạo rất đơn giản Các đại diện thấp còn ở dạng tản, các đại diện cao đã phân hóa thành thân, lá nhưng chưa có rể thật chỉ có rể giả tức là những lông hút để hút nước và giữ cây, chưa có mô dẩn.
• Thể giao tử chiếm ưu thế hơn thể bào tử
Sự thụ tinh hoàn toàn nhờ nước
Trang 24Phân loại nghành rêu( Brynophyra)
Chia làm 3 lớp
Lớp rêu sừng( Anthoceropsida): cơ thể dạng
tản, mặt dưới có rể giả để bám vào đất ẩm
Lớp rêu tản( Marchantioopsida): cơ thể sinh
dưởng củng có dạng tản cấu tạo lưng bụng khác nhau, chỉ một số ít phân hóa thành thân lá
Lớp rêu( Bryopsida): cơ thể đã phân hóa thành
thân lá
Trang 253) Nhóm thực vật ở cạn có mạch
Trang 26Ngành dương sĩ trần(Ryniophyta)
• Gồm những thực vật cổ thấp,
có tổ chức đơn giản, đó là
những cây có tổ tương đối bé,
thường sông ở đầm lầy.
• Thể bào tử dạng thân cây
phân nhánh đôi ít khi đơn
phân Không có lá và rể thật
• Hệ thống dẩn là trung trụ
nguyên sinh
• Những đại diện của nghành
này là những thưc vật đã hóa
Trang 27• Trung trụ nguyên sinh
• Túi bào tử có vách dày
Trang 28Nghành cỏ tháo bút(Equysetophyta)
• Cây có thân đốt, lá xếp thành
vòng, rễ thật
• Trung trụ nguyên sinh rắn có 1
ruột, 1 số có cấu tạo thứ cấp
Túi bào tử có vách dày , xếp
theo đường xoắn ốc, chứa bào
tử giống nhau hoặc ít khác
Trang 29Ngành thông đá( Lycopodiopphyta)
• Thế hệ bào tử chiếm ưu thế
• Cơ thể trưởng thành có thân lá
bông gọi là bông lá bào tử.
• Tinh trùng có 2 hay nhiều roi
• Chia làm 2 lớp, 6 bộ, hiện nay
chỉ còn một số ít đại diện thuộc
thảo ở 2 bộ: lycopodiales( Bộ
thông đất) và
Selaginellales( Bộ Quyển bá)
Trang 30• Túi bào tử có vách dày hay
mỏng chứa bào tử giống nhau
hay khác nhau
• Tinh trùng có nhiều roi
• Cơ quan sinh sản là túi tinh
hay túi trứng nằm trên nguyên
tản lưỡng tính hay đơn tính.
• Chia làm các lớp
Trang 32Ngành thông(pinophyta)
• Cây có thân gỗ, thân bụi, không có thân thảo, có cấu tạo thứ cấp
• Mô dẫn là hệ thống mạch ngăn, chưa có sợi gổ gỗ
• Cơ quan sinh sản gồm 2 loại bào tử:
Bào tử nhỏ là hạt phấn nằm trong túi bào tử nhỏ là tuí
phấn và nằm dưới lá bào tử nhỏ Lá bào tử nhỏ tập
trung lại thành nón đực ở đầu cành
Bào tử lớn là noãn nằm ở túi bào tử lớn, noãn nắm ở
bụng hay 2 bên sừơn của lá bào tử lớn Lá bào tử lớn tập chung thành nón cái, noãn về sau phát triển thành hạt Noãn chưa được lá noãn bao bọc nê gọi là hạt trần
• Sự thụ tinh không cần nước và có sự thụ tinh đơn
• Trong chu trình phát triển thể bào tử chiếm ưu thế
Trang 36Phân loại nghành ngọc lan( magnoliophyda)
• Lớp 2 lá mầm( Dicotyledoneae)
• Lớp 1 lá mầm(Monocotyledoneae)
Trang 37Phân loại nghành ngọc lan( magnoliophyda)
cuống, lá có gân song
song hay hình cung
• Hoa mẫu 3, đôi khi mẫu
4, không có mẫu 5
Lớp 1 lá mầm
• Phôi có 2 lá mần phát triển
• Hệ rễ trụ
• Bó mạch hở, thường xếp thành 1 vòng liên tục hay gián đoạn
• Thân chia làm 2 phần: võ
và trụ giưả
• Lá có cuống, gân lá mạng lưới
• Hoa mẫu 4,5 ít mẫu 3
Trang 38Phân loại lớp 2 lá mần
• Lớp 2 lá mầm có 7 phân lớp
o Phân lớp ngọc lan
o Phân lớp mao dương
o Phân lớp sau sau
o Phân lớp cẩm chướng
o Phân lớp sỗ
o Phân lớp hoa hồng
o Phân lớp cúc
Trang 39Phân lớp ngọc lan( Magnolidae)
• Gồm những đại diện nguyên thủy về cấu tạo cơ quan dinh dưởng cũng như cơ
quan sinh sản Chủ yếu là cây thân gỗ,
hoa có nhiều thành phần
• Có những bộ sau: ngọc lan, hồi long nảo,
hồ tiêu, mộc hương không lá,súng và sen
Trang 40Một số đại diện
Trang 41Một số đại diện
Trang 42Phân lớp mao dương(Ranunculidea)
• Tiế hóa hơn phân lớp ngọc lan ở chỗ các cây phần lớn thuộc dạng thân cỏ, không
có tế bào tiết trong thân và lá, lá thường ít khi nghuyên
• Gồm 7 bộ: ở ta gặp 2 đại diện của bộ:
Mao lương và a phiện
Trang 43Một số đại diện
Trang 44PHÂN LỚP SAU SAU (HAMAMELIDIDAE)
• Gồm chủ yếu các cây thân gỗ, ít khi thân
cỏ Hoa tiến hóa theo hướng thích nghi
với lối thụ phấn nhờ gió nên trở thành đơn tính, giảm thành phần, bao hoa đơn hay
thậm chí mất hẳn trở thành hoa trần
• Gồm 10 bộ, ở ta gặp đại diện của 8 bộ: Bộ gai (Urticales), Bộ phi lao (Casuarinales),
Bộ dẻ (Farales)
Trang 46PHÂN LỚP CẨM CHƯỚNG
(CARYOPHYLLIDAE)
• Gồm phần lớn các cây thân cỏ, ít khi là
cây bụi Hoa thường nhỏ, giảm, tiến tới
đơn tính, cánh rời hay không cánh, có khi cánh dính Tính chất đặc trưng của phân lớp là thường có nội nhũ phôi cong.
• Gồm 3 bộ đều gặp đại diện ở nước ta: Bộ Cẩm chướng (Caryophyllales), Bộ rau răm (Polygonales) và Bộ đuôi công
(Plumbaginales)
Trang 47Một số đại diện
Trang 48PHÂN LỚP SỖ (DILLENIIDAE)
• Phân lớp lớn, rất đa dạng, bao gồm đủ các dạng cây thân gỗ, thân bụi, thân cỏ Hoa chủ yếu tiến hóa theo hướng thụ phấn nhờ sâu bọ.
• Các bộ có tổ chức thấp vẫn còn có lá noãn rời, mạch có bản ngăn hình thang, biểu hiện tính
chất gần gũi với bộ Ngọc lan trong phân lớp
Trang 49Một số đại diện
Trang 50• Gồm 19 bộ đều có đại diện ở nước ta: Bộ Cỏ tai hổ
(Saxifragales), Bộ Hoa hồng ( Rosale), Bộ Đậu
(Fabales), Bộ Nắp ấm (Nepenthales), Bộ Sim (Myrtales),
Bộ Cam (Rutales), Bộ Bồ hòn (Sapindales), Bộ Nhân
Trang 51Một số đại diện
Trang 52• Gồm 8 bộ: Bộ Long đởm ( Bộ Trang – Gentianales), Bộ tục đoạn (Dipsacales), Bộ khoai lang (Convolvulales), Bộ Hoa mõm chó (Serophulariales), Bộ Hoa môi (Lamiales),
Bộ Cúc (Asterales)…
• Bộ Cúc là bộ đạt tới đỉnh tiến hóa cao nhất trong lớp
Ngọc lan
Trang 53Một số đại diện
Trang 54PHÂN LOẠI LỚP 1 LÁ MẦM (MONOCOTYLEDONEAE)
HAY LỚP HÀNH (LILIOPSIDA)
Lớp 1 lá mầm có 3 phân lớp:
•Phân lớp Trạch tả (Alismadae)
•Phân lớp Hành (Liliidae): bao gồm cả các bộ mà trước
đây Takhtajan xếp vào một phân lớp riêng – phân lớp Thái lài (Commelinidae)
•Phân lớp Cau (Arecidae)
Trang 55PHÂN LỚP TRẠCH TẢ
(ALISMIDAE)
• Gồm những thực vật 1 lá mầm nguyên thủy nhất hiện nay, đó là những cây thân
cỏ sống ở nước hoặc đầm lầy Mạch
thông chưa có hoặc chỉ có ở rễ Thành phần hoa còn nhiều, chưa cố định, xếp xoắn, các lá noãn rời.
• Gồm 2 bộ: Trạch tả (Alismales) và Rong
từ (Najadales)
Trang 56PHÂN LỚP HÀNH (LILIIDAE)
• Gồm những cây thân cỏ, một số lớn có dạng cây thân hành, 1 số ít có dạng thân gỗ đặc biệt Hoa cấu tạo thích nghi với lối thụ phấn nhờ côn trùng
(Bromeliales), Bộ gừng (Zingiberales), Bộ lan
(Orchidales), Bộ cói (Cyperales), Bộ lúa (Poales)
Trang 57Một số đại diện
Trang 58PHÂN LỚP CAU (ARECIDAE)
• Làm thành 1 nhóm riêng biệt của lớp 1 lá mầm
Nó đi theo hướng tiêu giảm thành phần của hoa
và được bù đắp bởi kiểu cụm hoa bông mo, có
mo bảo vệ hoa quả và hấp dẫn côn trùng thay thế cho bao hoa tiêu giảm, có khi mất hẳn Nét đặc trưng về tiến hóa cơ quan sinh dưỡng là
xuất hiện dạng cây thân gỗ giả (hay dạng thân
gỗ cau dừa)
• Gồm 5 bộ đều có ở nước ta: Bộ Cau (Arecales),
Bộ Ráy (Arales)
Trang 59Một số đại diện
Trang 60Tóm lại
Trong quá trình phát triển, ngành hạt kín đã hình thành rất nhiều nhánh tiến hóa khác
nhau, tạo nên nhiều phân lớp, nhiều bộ
Chúng rất đa dạng, biểu hiện ở đặc tính
thích nghi với điều kiện môi trường, do đó
có thể duy trì và phát triển nòi giống –
Ngành hạt kín đã trở thành kẻ chiếm ưu thế trong giới thực vật.