NGUYỄN DUY TÙNG NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG CÁC LOÀI THỰC VẬT QUÝ HIẾM TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN NHẰM ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LOÀI C u n n n : L m
Trang 1NGUYỄN DUY TÙNG
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG CÁC LOÀI THỰC VẬT QUÝ HIẾM TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN NHẰM ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2015
Trang 2NGUYỄN DUY TÙNG
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG CÁC LOÀI THỰC VẬT QUÝ HIẾM TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN NHẰM ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LOÀI
C u n n n : L m ọc
M số: 6 6
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
N ười ướn dẫn k oa ọc: GS TS Đặn Kim Vui Ths La Quan Độ
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tác giả tiến
hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng các loài thực vật quý hiếm tại
Vườn quốc gia Ba Bể - huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nhằm đề xuất các biện phát bảo tồn và phát triển loài”
Sau một thời gian làm việc đến nay bản luận văn của tác giả đã hoàn thành Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo hướng dẫn GS
TS Đặng Kim Vui, Giám đốc Đại học Thái Nguyên và Thầy giáo ThS La Quang
Độ là những người tận tâm hướng dẫn tác giả trong thời gian thực hiện đề tài
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo phòng Đào tạo, khoa Lâm nghiệp những người đã truyền thụ cho tác giả những kiến thức và phương pháp nghiên cứu quý báu trong thời gian tác giả theo học tại trường
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Bể đã nhiệt tình tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu
Và cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè
và những người luôn quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong thời gian tác giả học tập và nghiên cứu vừa qua
Do lần đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, nên luận văn không tránh được những thiếu sót Vì vậy, tác giả kính mong được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản luận văn của tác giả thêm phong phú và hoàn thiện hơn
Tác iả xin tr n trọn cảm ơn!
Thái Nguyên, 10 tháng 9 năm 2015
Tác iả luận văn
N u ễn Du Tùn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Tính khoa học 3
3.2 Tính thực tiễn 3
4 Đóng góp mới của luận văn 3
C ƣơn : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tính cấp thiết của đề tài và cơ sở khoa học của nghiên cứu 4
1.1.1 Khái niệm thực vật rừng quý hiếm 4
1.1.2 Tính cấp thiết và cơ sở nghiên cứu của vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học 6
1.1.3 Những nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới 10
1.1.3.1 Những nghiên cứu về đa dạng thành phần loài 10
1.1.3.2 Những nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống 10
1.1.3.3 Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm 12
1.1.4 Những nghiên cứu về đa dạng thực vật Ở Việt Nam 15
1.1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 15
1.1.4.2 Những nghiên cứu về phổ dạng sống 17
1.1.4.3 Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm ở Việt Nam 18
1.1.4.4 Hệ thống văn bản chính sách 21
Trang 51.1.4.5 Quy định của pháp luật về quản lý và bảo vệ các loài thực vật quý hiếm 21
1.1.4.6 Phân bố các loài thực vật nguy cấp quý hiếm ở Việt Nam 22
1.1.4.7 Tình hình quản lý bảo vệ và hoạt động buôn bán thực vật quý hiếm 24
1.1.4.8 Hoạt động khai thác buôn bán thực vật quý hiếm ở Việt Nam 25
1.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 26
1.2.1 Vị trí địa lý 26
1.2.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn 27
1.2.3 Đặc điểm đất đai 28
1.2.4 Đặc điểm hệ động thực vật 28
1.2.5 Điều kiện giao thông, thủy lợi 29
1.2.6 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội 30
1.2.7 Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương 31
C ươn : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
2.2.1 Nghiên cứu hiện trạng các loài cây quý hiếm trong vườn quốc gia 33
2.2.2 Nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH tại khu vực nghiên cứu 33
2.2.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển và bảo tồn các loài thực vật quý hiếm 33
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Công tác chuẩn bị 33
2.3.2 Phương pháp tiếp cận 34
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 34
2.3.4 Phương pháp điều tra 34
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 40
C ươn 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Hiện trạng các loài thực vật quý hiếm trong khu vực nghiên cứu 41
Trang 63.1.1 Danh lục và dạng sống của các loài thực vật quý hiếm tại
Vườn quốc gia Ba Bể 41
3.1.2 Tần suất xuất hiện của các loài thực vật quý hiếm 43
3.1.3 Đa dạng bậc phân loại 44
3.1.4 Mức độ nguy cấp của các loài thực vật quý hiếm 46
3.1.5 Phân bố của các loài thực vật quý hiếm 51
3.1.6 Tình hình tái sinh một số loài cây quý hiếm 55
3.1.7 Đa dạng các loài thực vật quý hiếm trong các sinh cảnh nghiên cứu 56
3.2 Nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH tại khu vực nghiên cứu 59
3.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển và bảo tồn các loài thực vật quý hiếm 64
3.3.1 Tăng cường thể chế về bảo vệ ĐDSH tại Vườn quốc gia Ba Bể 64
3.3.2 Nâng cao năng lực về quản lý đối với Vườn quốc gia Ba Bể 64
3.3.3 Nâng cao nhận thức về bảo vệ đa dạng sinh học Vườn quốc gia 65
3.3.4 Chính sách kinh tế 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tiếng Việt
II Tiếng Anh
III Tài liệu điện tử
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
IUCN : Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên
OTC : Ô tiêu chuẩn
ODB : Ô dạng bản
PRCF : Tổ chức Con người, tài nguyên và bảo tồn
TĐT : Tuyến điều tra
UNEP : Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
VU : Sắp nguy cấp
WWF : Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên thế giới
VQG : Vườn Quốc Gia
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Danh mục quý hiếm được ưu tiên bảo vệ 20
Bảng 1.2: Phân bố các loài thực vật nguy cấp quý hiếm ở Việt Nam 22
Bảng 1.3: Hiện trạng tài nguyên và tình hình sử dụng đất VQG Ba Bể 28
Bảng 1.4 Tổng hợp tài nguyên thực vật Vườn quốc gia Ba Bể 28
Bảng 1.5: Thống kê các lớp động vật Vườn quốc gia Ba Bể 29
Bảng 1.6 Dân số các xã vùng đệm và vùng lõi VQG Ba Bể 30
Bảng 3.1: Kết quả dạng sống của các loài thực vật quý hiếm 42
Bảng 3.2: Tỷ lệ thực vật quý hiếm giữa các ngành 44
Bảng 3.3: Kết quả tổng hợp số họ - chi - loài 45
Bảng 3.4: Kết quả tổng hợp các loài trong Sách đỏ Thế giới (IUCN - 2011) 47
Bảng 3.5: Kết quả tổng hợp các loài thực vật quý hiếm ở khu vực nghiên cứu theo Sách đỏ Việt Nam 48
Bảng 3.6: Kết quả tổng hợp các loài thực vật quý hiếm theo Sách đỏ Việt Nam 49
Bảng 3.7: Tỷ lệ mức độ nguy cấp của các loài thực vật trong Sách Đỏ Việt Nam 50
Bảng 3.8: Tỷ lệ mức độ nguy cấp của các loài thực vật trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP 50
Bảng 3.9: Phân bố các loài thực vật quý hiếm theo tuyến điều tra 52
Bảng 3.10: Phân bố các loài thực vật quý hiếm theo các trạng thái rừng 53
Bảng 3.11: Phân bố các loài thực vật quý hiếm theo độ cao 54
Bảng 3.12: Nguồn gốc và chất lượng các loài cây tái sinh quý hiếm 56
Bảng 3.13 Thống kê các loài thực vật quý hiếm trong các sinh cảnh 57
Bảng 3.14: Kết quả mức độ tác động của con người và vật nuôi đến hệ thực vật rừng trong VQG Ba Bể 59
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Biểu đồ phân cấp mức độ đe dọa trong IUCN 9
Trang 10MỞ ĐẦU Đặt vấn đề
Việt Nam có tổng diện tích phần đất liền 330.541km2 kéo dài 15 độ vĩ (từ
8030’ - 23022’ độ vĩ Bắc) và trải rộng trên 7 kinh tuyến (từ 102010’ - 109021’ độ kinh Đông), đồng thời do lịch sử phát triển địa chất đã tạo nên những kiểu địa hình, đai độ cao và vùng khí hậu khác nhau Đó là những yếu tố làm cho Việt nam có hệ thực vật
và thảm thực vật rừng hết sức đa dạng và phong phú
Việt Nam được coi là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu
về ĐDSH Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc, Indonesia và Malaysia Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có ĐDSH cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới
Theo số liệu thống kê, Việt Nam có khoảng 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch, 1.030 loài rêu, 2.500 loài tảo và 826 loài nấm Trong đó có khoảng 5.000 loài được nhân dân sử dụng: làm lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyên vật liệu khác Hệ thực vật Việt Nam chứa đựng 3 luồng di cư chính: từ Nam Trung Quốc xuống, từ Himalaya - Mianma sang và từ Indonesia - Malaysia lên Hệ thực vật Việt Nam còn có mức độ đặc hữu cao với khoảng 33% số loài thực vật ở miền Bắc Việt Nam (Pocs Tamas, 1965) và hơn 40% tổng số loài thực vật toàn quốc (Thái Văn Trừng, 1978) [22]
ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự
bền vững của thiên nhiên trên trái đất
Vấn đề Bảo tồn ĐDSH có ý nghĩa chiến lược trong thời đại hiện nay Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janeiro ngày 5 tháng 6 năm 1992 là tiếng chuông thức tỉnh toàn thế giới “Hãy cứu lấy trái đất”, bởi vì sự ĐDSH liên quan đến sự sống của trái đất Việt Nam là một trong những trung tâm ĐDSH cao của thế giới, nên vấn đề bảo tồn ĐDSH
là một yêu cầu rất cấp bách, đã từ lâu, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới điều đó
Trang 11Đến nay cả nước ta đã có tới 32 Vườn Quốc gia (VQG) và hàng trăm Vườn quốc gia (VQG) được Nhà nước công nhận Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có quyết định phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện công ước đa ĐDSH
và Nghị định thư Caitagena về an toàn sinh học” Một trong những mục tiêu cụ thể của bản kế hoạch đã được phê duyệt là từ nay đến năm 2010 củng cố hoàn thiện và phát triển hệ thống rừng đặc dụng, bảo vệ có hiệu quả các loài động vật, thực vật quý hiếm, nguy cấp có nguy cơ bị tuyệt chủng, phục hồi hệ sinh thái đã bị suy thoái
Hệ sinh thái (HST) núi đá vôi Việt Nam tập trung chủ yếu ở một số tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ, với diện tích 1.147.000 ha, HST núi đá vôi chiếm 6,1% tổng diện tích đất lâm nghiệp, nhưng trong đó chỉ có 396.200 ha rừng, còn lại là núi đá vôi với cây bụi, hay đồi trọc Mặc dù diện tích rừng của HST núi đá vôi chỉ chiếm 34,4% tổng diện tích núi đá vôi, nhưng tại đây, thời gian qua các nhà khoa học đã phát hiện được nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm, đặc hữu, trong đó đáng chú
ý là có một số là loài mới cho khoa học, đặc biệt còn có một chi mới
Trên địa bàn Vườn quốc gia Ba Bể có 26 loài quí hiếm thuộc 24 chi, 20 họ Trong đó có 16 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam 2007 gồm: cấp EN (nguy cấp) có 6 loài, cấp VU (cấp sẽ bị nguy cấp) có 10 loài Có 9 loài được ghi trong danh lục đỏ của IUCN 2009, gồm cấp EN (Nguy cấp) có 3 loài, cấp VU (Sắp nguy cấp) có 2 loài, cấp NT (sắp bị đe dọa) có 1 loài cấp LC (ít được biết đến) có 3 loài
Có 11 loài thuộc Nghị định 32 CP/2006, trong đó nhóm IA có 1 loài, còn lại 10 loài thuộc nhóm IIA Ngoài ra trên địa bàn Vườn quốc gia Ba Bể có 1 loại đặc hữu là
Trúc dây (Ampelocalamus sp) Loài này thuộc Họ cỏ (Poaceae), lợp 1 lá mầm
(Liliopsida), thường mọc trên các vách đá quanh Hồ và dọc sông Năng
Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về tài nguyên thực vật được triển khai tại vườn quốc gia Ba Bể, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy
đủ Vì vậy, chúng tôi đề xuất đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu tính đa dạng các loài
thực vật quý hiếm tại vườn quốc gia Ba Bể - huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nhằm đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài” góp phần bảo tồn và phát triển các
Trang 12nguồn gen thực vật quý hiếm, bảo vệ tính đa dạng sinh học trong khu vực và nâng cao vai trò của vườn quốc gia Ba Bể đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Kạn và cộng đồng dân cư sinh sống quanh khu vực này
Mục ti u n i n cứu của đề t i
2.1 Mục tiêu chung
Góp phần nghiên cứu tính đa dạng các loài thực vật quý hiếm làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp bảo vệ cảnh quan và bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm tại Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được sự đa dạng các loài thực vật quý hiếm ở khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các biện pháp bảo tồn thực vật quý hiếm ở khu vực nghiên cứu
3 Ý n ĩa k oa ọc v t ực tiễn của đề t i
4 Đón óp mới của luận văn
- Xác định được thành phần loài, đa dạng sống và yếu tố địa lý của thảm thực vật tại Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
- Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng dựa vào các tài liệu ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2011) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Nghị định 160/2013/NĐ-CP
- Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu
Trang 13C ƣơn TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Tín cấp t iết của đề t i v cơ sở k oa ọc của n i n cứu
1.1.1 Khái niệm thực vật rừng quý hiếm
Thực vật rừng quý hiếm là những loài có giá trị đặc biệt về khoa học, kinh tế
và môi trường, có số lượng, trữ lượng ít hoặc đang có nguy cơ bị diệt chủng Dựa theo tính chất và mức độ quý, hiếm của thực vật rừng, Nghị định số 18/HĐBT đã sắp xếp chúng thành 2 nhóm trong Danh mục thực vật rừng quý, hiếm, cụ thể là: Nhóm I: gồm những loài thực vật (IA) đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lượng, trữ lượng rất ít hoặc đang có nguy cơ diệt chủng Nhóm II: gồm những loài thực vật có giá trị kinh tế cao đang bị khai thác quá mức, dẫn đến cạn kiệt và có nguy cơ diệt chủng Trong Danh mục thực vật rừng quý, hiếm năm
1992, ở nhóm IA có 13 loài và nhóm IIA có 19 loài, đến năm 2002 trong Danh mục thực vật rừng quý, hiếm ở nhóm IA có 16 loài và nhóm IIA có 26 loài [7]
Theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP [8] của Chính phủ: về tiêu chí xác định
và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ thì các Tiêu chí xác định loài được ưu tiên bảo vệ Loài thuộc Danh mục loài được
ưu tiên bảo vệ phải đáp ứng các tiêu chí sau:
- Số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng theo quy định tại Điều 5 Nghị định này;
- Là loài đặc hữu hoặc có một trong các giá trị đặc biệt về khoa học; y tế; kinh tế; sinh thái, cảnh quan, môi trường và văn hóa - lịch sử
Điều 5 Xác định loài có số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng được xác định như sau:
1 Loài động vật hoang dã, thực vật hoang đã được xác định là loài có số lượng cá thể còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng khi có một trong các điều kiện sau:
- Suy giảm quần thể ít nhất 50% theo quan sát hoặc ước tính trong mười (10) năm gần nhất hoặc ba (03) thế hệ cuối tính đến thời điểm đánh giá; hoặc được dự
Trang 14báo suy giảm ít nhất 50% trong 10 năm hoặc ba (03) thế hệ tiếp theo tính từ thời điểm đánh giá;
- Nơi cư trú hoặc phân bố ước tính dưới 500 km2 và quần thể bị chia cắt nghiêm trọng hoặc suy giảm liên tục về khu vực phân bố, nơi cư trú;
- Quần thể loài ước tính dưới 2.500 cá thể trưởng thành và có một trong các điều kiện: suy giảm liên tục theo quan sát hoặc ước tính số lượng cá thể từ 20% trở lên trong năm (05) năm gần nhất hoặc hai (02) thế hệ cuối tính đến thời điểm đánh giá; suy giảm liên tục số lượng cá thể trưởng thành, cấu trúc quần thể có dạng bị chia cắt và không có tiểu quần thể nào ước tính có trên 250 cá thể trưởng thành hoặc chỉ có một tiểu quần thể duy nhất;
- Quần thể loài ước tính có dưới 250 cá thể trưởng thành;
- Xác suất bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên của loài từ 20% trở lên trong vòng
20 năm tiếp theo hoặc năm (05) thế hệ tiếp theo tính từ thời điểm lập hồ sơ
2 Giống cây trồng được xác định là giống có số lượng cá thể còn ít hoặc bị
đe dọa tuyệt chủng khi có một trong các điều kiện sau:
a) Hệ số đa dạng nguồn gen của giống thấp hơn 0,25;
b) Tỷ lệ hộ trồng dưới 10% tổng số hộ trồng tại nơi xuất xứ;
c) Diện tích trồng dưới 0,5 héc ta đối với nhóm cây lương thực, thực phẩm; dưới 0,3 héc ta đối với nhóm cây công nghiệp hàng năm; dưới 0,1 héc ta đối với nhóm cây rau, cây hoa; hoặc số lượng dưới 250 cá thể đối với nhóm cây công nghiệp lâu năm; dưới 500 cá thể đối với nhóm cây ăn quả, cây cảnh
3 Giống vật nuôi được xác định là giống có số lượng cá thể còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng khi số lượng con giống thuần chủng dưới 100 cá thể cái giống và dưới 05 cá thể đực giống, hoặc toàn bộ đàn có số lượng cá thể dưới 120
4 Loài vi sinh vật, nấm được xác định là loài có số lượng còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng khi loài bị suy giảm quần thể ít nhất 50% trong thời gian mười (10) năm tính tới thời điểm đánh giá và đang sống trong môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng
Điều 6 Xác định loài có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường, văn hóa - lịch sử
Trang 151 Loài có giá trị đặc biệt về khoa học là loài mang nguồn gen quý, hiếm để bảo tồn và chọn tạo giống
2 Loài có giá trị đặc biệt về y tế là loài mang các hợp chất có hoạt tính sinh học quan trọng được sử dụng trực tiếp hoặc làm nguyên liệu điều chế các sản phẩm y dược
3 Loài có giá trị đặc biệt về kinh tế là loài có khả năng sinh lợi cao khi được thương mại hóa
4 Loài có giá trị đặc biệt về sinh thái, cảnh quan và môi trường là loài giữ vai trò quyết định trong việc duy trì sự cân bằng của các loài khác trong quần xã; hoặc có tính đại diện hay tính độc đáo của khu vực địa lý tự nhiên
5 Loài có giá trị đặc biệt về văn hóa - lịch sử là loài có quá trình gắn với lịch
sử, truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư
Trong Danh lục của nghị định 160 [8] có 17 loài thực vật và 83 loài động vật
15 giống cây tròng và 6 giống vật nuôi hiện đang trong tình trạng nguy cấp, quý hiếm cần được ưu tiên bảo vệ và có biện pháp bảo tồn
1.1.2 Tính cấp thiết và cơ sở nghiên cứu của vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học
Năm 1992 Hội nghị thượng đỉnh bàn về môi trường và đa dạng sinh vật được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) có 150 nước ký vào Công ước về đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng Sau hội nghị này, có nhiều cuộc hội thảo đã được tổ chức nhằm thảo luận chiến lược và kế hoạch hành động để bảo vệ đa dạng sinh học; nhiều tổ chức quốc tế hay khu vực được thành lập thành mạng lưới phục vụ cho việc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học Đặc biệt, nhiều nước đã xây dựng các bộ luật bảo vệ đa dạng sinh học Có thể nêu một số luật của các nước như:
- Luật Bảo vệ đời sống hoang dã 1991 của Trung Quốc
- Luật Bảo tồn hệ động vật và thực vật bị đe dọa 1994 của Nhật Bản
- Luật Bảo vệ động vật 1997 của Ba Lan
- Luật Bảo vệ giống thực vật 1997 của Brazil
- Luật Đa dạng sinh học rừng 1997 của Mỹ Luật Bảo vệ môi trường và bảo tồn ĐDSH 1999 của Ôxtraylia
Trang 16- Luật Bảo tồn thiên nhiên năm 2002 của Đức
- Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ đời sống hoang dã 2003 của Ấn Độ
Cùng với các văn bản pháp luật nêu trên, nhiều công trình nghiên cứu nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức, hướng dẫn kỹ thuật, kỹ năng trong bảo vệ, khai thác và sử dụng bền vững đa dạng sinh học đã được xuất bản Có thể nêu số tài liệu đáng chú ý sau:
- Tầm quan trọng của đa dạng sinh vật - The importance of biological diversity của WWF năm 1990
- Chiến lược bảo tồn thế giới - World conservation strategy IUCN, IUNEP của WWF năm 1990
- Bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới - Conserving the World’s biological diversity của Wri, Wcu, WB, WWF năm 1991
- Hãy quan tâm tới trái đất - Caring for the earth của Wri, Wcu, WB và WWF năm 1991
- Đánh giá đa dạng sinh học toàn cầu - Global biodiversity assessment của WCMC năm 1995
Nghị định 32/2006 CP được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2006 nhằm quy định các loài động thực vật nguy cấp quý hiếm cần được bảo
vệ [7] Theo Nghị định này, các loài thực vật được chia thành 2 nhóm; nhóm Ia là nhóm thuộc diện nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, nhóm IIa
là nhóm bị hạn chế khai thác sử dụng Các loài thực vật được nêu tên trong Nghị định này đa dạng về dạng sống và có nhiều giá trị công dụng khác nhau:
- Những loài có giá trị làm thuốc đang bị khai thác kiệt trong tự nhiên như:
Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis), Thông đỏ nam (Taxus wallichiana), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus), Hoàng liên gai (Berberis julianae), các loài Bình vôi (Stephania spp.), Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia) và Hoàng tinh vòng (Polygonatum kingianum)
- Những loài cho tinh dầu làm hương liệu và dược phẩm, đã và đang bị săn lùng ráo
riết như: Vù hương (Cinnamomum parthenoxylon), Gù hương (Cinnamomum balansae)…
Trang 17Việc xây dựng danh mục các loài thực vật quý hiếm, nguy cấp thiên nhiều
về ý nghĩa khoa học Các yếu tố khai thác, buôn bán, sử dụng được đánh giá nhẹ hơn Ví dụ, trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP [7], nếu xét theo tiêu chí bị khai thác, sử dụng và buôn bán quá mức, thì một số loài không bị ảnh hưởng do các
nguyên nhân này như: Bách Đài Loan (Taiwania cryptomerioides), Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis), Vân sam Phan Xi Păng (Abies delavayi fansipanensis), Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis); Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii), Du sam (Keteleeria evelyniana), Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis) và Thông lá dẹt (P
krempfii) Bên cạnh đó, việc đưa các loài đã tuyệt chủng trong thiên nhiên vào danh
mục bảo vệ là chưa hợp lý và không cần thiết, vì việc đưa các loài này vào danh mục cũng không có tác dụng bảo tồn, mà trái lại có thể gây một số cản trở đối với việc phát triển gây nuôi, nhân giống phục vụ bảo tồn hoặc phát triển kinh tế Những loài
đã được coi là tuyệt chủng hoặc không bị đe dọa do khai thác, buôn bán thì chỉ nên dừng ở mức đưa vào Sách Đỏ để nhằm mục đích cảnh báo
* Cơ sở nghiên cứu của vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học:
Hiện nay trên thế giới cũng như tại Việt Nam đa dạng sinh học đang ngày càng suy giảm làm cho số lượng các loài động thực vật giảm từng ngày từng giờ, đặc biệt là các loài động, thực vật quý hiếm Yêu cầu đặt ra là phải phân cấp đánh giá các loài động thực vật để từ đó có thể đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn chúng một cách có hiệu quả
Do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần
- Về cơ sở sinh học
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây là cơ
sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường là cơ sở khoa học xây dựng mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên
Trang 18- Về cơ sở bảo tồn
Hiện nay số lượng các loài động, thực vật đang giảm rất mạnh làm ảnh hưởng rất lớn đến đa dạng sinh học Sự sống của các loài động, thực vật đang bị đe dọa nghiêm trọng, đặc biệt là các loài động, thực vật quý hiếm Vấn đề cấp thiết đặt
ra là phải phân cấp đánh giá các loài động thực vật để từ đó có thể đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn chúng một cách có hiệu quả
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của Sách Đỏ thế giới, Chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách Đỏ Việt Nam (2007) [19], để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên Đây cũng là tài liệu khoa học được sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các qui định, luật pháp của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái Các loài được xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe
dọa tuyệt chủng như: tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể (population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation)
Năm 1994, IUCN [26] đã sử dụng một số nguyên tắc mới để xác định tình trạng các loài bị đe dọa Năm 1996, danh mục mới được bổ xung những chi tiết cụ thể về tình trạng các loài và phân chia theo các cấp độ sau:
Hìn : Biểu đồ p n cấp mức độ đe dọa tron IUCN
Trang 19Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban
hành (Nghị định số 32 /2006/NĐ-CP)[7] Nghị định quy định các loài động, thực
vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính:
+ IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IA đối với thực vật rừng)
+ IIA,B Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IIA đối với thực vật rừng)
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại Vườn quốc gia Ba Bể, huyện
Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR,
EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, đây là cơ sở khoa học giúp tôi tiến hành đề tài này
1.1.3 Những nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới
1.1.3.1 Những nghiên cứu về đa dạng thành phần loài
Những công trình nghiên cứu về đa dạng thành phần loài là những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có các nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978),… Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trung, sự khác biệt của thảm khác này so với thảm khác bảng thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại thảm thực vật
1.1.3.2 Những nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống
Dạng sống của thực vật là sự bảng hiện về hình thái, cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường sống Nó liên quan chặt chẽ với các nhân tố sinh thái của mỗi vùng, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Schow (1823) đã nghiên cứu về sự phân bố của thực vật và cho rằng: cách mọc được hiểu là đặc điểm phân bố của các loài trong quần xã [11]
I K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt
Trang 20đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm G N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm [11]
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) [25] để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó
Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm [25]
Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1 Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
2 Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
3 Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn
4 Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
5 Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm
Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB):
SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th
Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản…
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thân thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi Canon (1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra Với cây thảo, đặc điểm phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó bảng thị mức độ
Trang 21khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm của cây Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng của môi trường [25]
Như vậy, khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dạng sống tùy theo tiêu chí của từng tác giả Trong số đó thì hệ thống phân loại của Raunkiaer vừa đảm bảo tính khoa học vừa dễ áp dụng vì nó dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên
1.1.3.3 Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm
Trên thế giới, tổng số loài thực vật hiện nay có nhiều biến động và chưa cụ thể Tùy từng tác giả do chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ Các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500.000 đến 600.000 loài [11]
Năm 1965, Al A Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 - 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 - 10.000 loài quyết thực vật; 14.000 - 18.000 loài rêu; 19.000 - 40.000 loài tảo; 15.000 - 20.000 loài địa y; 85.000 - 100.000 loài nấm và thực vật bậc thấp khác
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, do những nguyên nhân khác nhau, nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng, các nguồn tài nguyên sinh học không ngừng bị suy giảm Để nâng cao nhận thức trong xã hội và toàn cộng đồng về tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học và tạo cơ sở quan trọng cho công tác bảo tồn, từ năm 1964 Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới
đã cho xuất bản các bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe dọa trên toàn thế giới Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hóa như sau: Loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp
Trang 22(VU),… Năm 2004 Sách Đỏ IUCN công bố văn bản đánh giá các loài động thực vật gọi là (sách đỏ năm 2004) vào ngày 17 tháng 11 năm 2004 Văn bản này đã đánh giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài, giống, chi và quần thể Trong đó 15.503 loài nằm trong tình trạng nguy cơ tuyệt chủng gồm 7.180 loài động vật, 8.321 loài thực vật và 2 loài nấm Danh sách cũng công bố 784 loài tuyệt chủng được ghi nhận từ năm 1500 Như vậy là đã có thêm 18 loài tuyệt chủng so với bản danh sách năm 2000 Mỗi năm một số ít các loài tuyệt chủng lại được phát hiện và sắp xếp vào nhóm DD Ví dụ, Trong năm 2002 danh sách tuyệt chủng đã giảm xuống 759 trước khi tăng lên như hiện nay [2], [3]
- Công tác bảo tồn trên thế giới đã được chú trọng từ rất lâu, đặc biệt là các nước phát triển, các vườn quốc gia Vườn quốc gia đã được thành lập từ rất sớm Ở
Mỹ đã có nhiều vườn quốc gia được thành lập từ rất sớm như:
+ Vườn quốc gia Yellowstone là một vườn quốc gia Hoa Kỳ được thành lập ngày 01 tháng 3 năm 1872, đây là vườn quốc gia đầu tiên và xưa nhất thế giới Yellstone nổi tiếng với các loài động, thực vật hoang dã quý hiếm Với diện tích 8.980 km2 bao gồm các hồ, vực, sông và các dãy núi Khu vực này tồn tại hàng trăm loài động vật có vú, chim, cá và rùa Bao gồm một số loài nguy cấp như sói xám, các loài bị đe dọa như gấu xám, bò Bizon, Gấu đen, Nai sừng tấm, Nai antext, Hươu đuôi đen, Dê núi, Linh dương sừng tỏa, Cừu sừng to và sư tử núi Hệ thực vật ở đây cũng đa dạng và phong phú Trong vườn quốc gia có 1.700 loài gỗ và các dạng thực vật có mạch khác là cây cây bản địa, khoảng 170 loài khác là loài xâm lấn không bản địa Các rừng thông chiếm 80% tổng diện tích, các loài cây lá kim khác nhau như: Linh sam cận núi cao, Vân sam Engelmann, Linh sam Douglas núi Rocky và Thông vỏ trắng tồn tại thưa thớt Tại đây còn có loài cỏ roi ngựa cát Yellowstone là loài hiếm chỉ thấy tại Yellowstone Nó có quan hệ họ hàng gần với các loài sinh sống trong khu vực có khí hậu nóng hơn, làm cho nó trở thành kỳ dị ở đây Khoảng 8.000 cụm loài hoa hiếm này sống trên các vùng đất cát ven bờ hồ Yellowstone, ngay phía trên mực nước [5], [13]
Trang 23- Cũng như nước Mỹ, nước Nga cũng nổi tiếng với các vườn quốc gia và Vườn quốc gia thiên nhiên, là nơi lưu trữ và bảo tồn hàng ngàn các loài động thực vật quý hiếm trên thế giới như:
+ Vườn quốc gia Taiga ở Nga chủ yếu là cây lá kim, với các loài chiếm đa số
là thông rụng lá, vân sam, linh sam và thông Mặc dù rừng Taiga chủ yếu là cây lá kim, nhưng một số cây lá rộng (thực vật có hoa) cũng tồn tại, đáng chú ý là các loài cây quý hiếm như bạch dương, dương rung, liễu và thanh hương trà… Bên cạnh
đó một loạt các loài động vật hoang dã đang bị đe dọa hay đang nguy cấp cũng có thể được tìm thấy trong các rừng phương bắc của Canada, bao gồm Tuần lộc
(Rangifer tarandus), Gấu nâu Bắc Mỹ (Ursus arctos horribilis), Chồn gulô (Gulo gulo Nguyên nhân chính dẫn tới sự suy giảm của các loài này là do bị mất môi
trường sinh sống vì sự phát triển mang tính phá hủy, chủ yếu là chặt đốn gỗ [6],[13]
+ Vườn thú bò sát Tula là một trong những cơ sở lớn nhất ở Nga mở cửa vào tháng 9/1987 Hiện tại ở đây có khoảng 600 loài rắn, thằn lằn, rùa, cá sấu, loài lưỡng cư và độn quý hiếm đang sinh sống [6],[13]
Để nâng cao nhận thức trong xã hội và toàn cộng đồng về tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học và tạo cứ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn,
từ năm 1964, hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới, đã cho xuất bản các Bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống danh sách về tình trạng bảo tồn
và đa dạng của các loài động vật và thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe doạ trên thế giới Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hoá như sau: loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU),… Năm 2004 Sách Đỏ IUCN công bố văn bản đánh giá các loài động thực vật gọi là (Sách đỏ 2004) vào ngày 17 tháng 11 năm 2004 Văn bản này đã đánh giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài, giống, chi và quần thể Trong đó, 15.503 loài nằm trong tình trạng nguy
cơ tuyệt chủng gồm 7.180 loài động vật, 8.321 loài thực vật, và 2 loài nấm
Trang 24Danh sách cũng công bố 784 loài tuyệt chủng được ghi nhận từ năm 1500 Như vậy là đã có thêm 18 loài tuyệt chủng so với bản danh sách năm 2000 Mỗi năm một số ít các loài tuyệt chủng lại được phát hiện và sắp xếp vào nhóm DD Ví
dụ, trong năm 2002 danh sách tuyệt chủng đã giảm xuống 759 trước khi tăng lên như hiện nay
Công tác bảo tồn trên thế giới đã được chú trọng từ rất lâu, đặc biệt là các nước phát triển, các vườn quốc gia Vườn quốc gia đã được thành lập từ rất sớm
1.1.4 Những nghiên cứu về đa dạng thực vật Ở Việt Nam
1.1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài và kết quả các công trình đều cho thấy Việt Nam có hệ thực vật rất đa dạng và phong phú đặc biệt là về thành phần các loài, ta có thể dẫn chứng ra các công trình nổi bật như:
Phan Kế Lộc (1970) đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam
có 5.609 loài thuộc 1.660 chi và 240 họ [18]
Thái Văn Trừng (1978) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi, 289 họ [22]
Hoàng Chung (2008) khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ [10]
Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài [14]
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của sa van bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc
47 họ khác nhau [11]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi,
213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loài này được xếp thành
8 nhóm có giá trị khác nhau Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng [20]
Trang 25Lê Ngọc Công (2004) khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số
mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loài gồm 211 loài thuộc 64 họ [12]
Thái Văn Trừng (1978) khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây bụi chủ yếu có
sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ Cà phê - Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae); chi Ardisia, Maesa (họ Đơn nem - Myrsinaceae) [22]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 1.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ [21]
Phạm Hồng Ban (1999) nghiên cứu sự biến động thành phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giản hoá để tái ổn định [1]
Phạm Hồng Ban (1999) nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng sau nương rẫy ở vùng Tây Nam Nghệ An Tác giả đã xác định thành phần loài, mật độ cá thể và phổ dạng sống của thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy theo thời gian bỏ hoá Theo tác giả, hệ thực vật sau nương rẫy ở vùng đệm Pù Mát (Nghệ An) khá đa dạng về thành phần loài, gồm 586 loài thuộc 344 chi, 105 họ thực vật bậc cao có mạch [1]
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến… [12]
Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La đã thu được 452 loài thuộc 326 chi và 153 họ [17]
Trang 261.1.4.2 Những nghiên cứu về phổ dạng sống
Phổ dạng sống được bảng thị bằng một bảng thức cộng các nhóm dạng sống (tính theo %) Thông qua phổ dạng sống có thể biết được đặc tính sinh thái của hệ thực vật
Đây là cơ sở để thể so sánh về điều kiện sinh thái học của hệ thực vật ở vùng này với hệ thực vật ở vùng khác
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như: Doãn Ngọc Chất (1969) nghiên cứu dạng sống của một số loài thực vật thuộc họ Hoà thảo
Hoàng Chung (2008) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ
sa van, thảo nguyên [10]
Thái Văn Trừng (1978) cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phân chia dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam [22]
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn - tỉnh Hoà Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số dạng sống (a: ký sinh; b: bì sinh; c: dây leo; d: cây chồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những dạng phụ [6]
Hoàng Chung (2008) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật
có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [10]
Lê Ngọc Công (2004) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã phân chia thực vật thành các nhóm dạng sống sau: cây gỗ; cây bụi; cây cỏ và dây leo [12]
Nhìn chung, những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu, đánh giá thành phần loài ở một vùng
và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều
Trang 27kiện địa hình và khí hậu Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn, rộng rãi hơn nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia Về thành phần dạng sống: khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dựa vào các tiêu chuẩn cụ thể tuỳ từng tác giả
Phân tích phổ dạng sống là một trong những nội dung quan trọng của các nhiệm vụ nghiên cứu bất kì hệ thực vật nào Cho đến nay đã có rất nhiều cách phân loại dạng sống khác nhau, nhưng để xây dựng phổ dạng sống của một hệ thực vật, người ta thường sử dụng cách phân loại của Raunkiaer (1934)
Trong luận văn này, chúng tôi cũng dựa theo khung phân chia dạng sống của Raunkiaer để phân chia dạng sống hệ thực vật vùng nghiên cứu
1.1.4.3 Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam (phần II - thực vật)” [19] của tập thể
tác giả thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, nay là Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Cuốn sách được xuất bản vào các năm
1992, 1996 dựa trên thang bậc phân hạng mức đe doạ của IUCN 1978 và 1994, mới nhất
là năm 2007 Trong “sách đỏ Việt Nam (phần II - thực vật)” năm 2007 [19], đã công bố
847 loài (trong 201 họ) quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được gây trồng và bảo vệ
Bên cạnh đó để phục vụ tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển các loài thực vật quý hiếm Nhà nước cũng đã ban hành Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản
lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (viết tắt là Cơ quan quản lý CITES Việt Nam,Tên giao dịch Quốc tế: CITES Management Authority of Vietnam) và Nghị định
Theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP [7] về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đã chia thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm thành 2 nhóm:
Trang 28- Nhóm I: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc
có nguy cơ tuyệt chủng cao Thực vật rừng, động vật rừng nhóm I được phân thành: nhóm IA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là: ngành Thông với 7 loài
và ngành Ngọc lan với 8 loài, nhóm IB gồm các loài động vật rừng
- Nhóm II: Hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao
về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng: nhóm IIA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành: ngành Thông với 10 loài
và ngành Ngọc lan với 27 loài, nhóm IIB gồm các loài động vật rừng
Ngoài ra, Nhà nước cũng đã ban hành Nghị định 160/2013/NĐ- CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý các loài thuộc danh mục quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ [8]
Theo công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang
dã nguy cấp (Cơ quan quản lý CITES Việt Nam) Thì các loài động thực vật hoang
dã nguy cấp được sắp xếp vào phụ lục I, II, III Thuộc các phần:
Phần A Ngành động vật có dây sống (Phylumchordata)
Phần B Ngành da gai (Phylum echinodermata)
Phần C Ngành chân khớp (Phylum arthropoda)
Phần D Ngành giun đốt (Phylum annlida)
Phần E Ngành thân mềm (Phylum mollusca)
Phần G Ngành Ruột khoang (Cnidaria)
Phần H Thực vật (Plants/Flora)
Ngoài tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” thống kê số loài thực vật có
nguy cơ tuyệt chủng của cả nước, thì các công trình nghiên cứu về các loài có nguy
cơ tuyệt chủng ở từng vùng và khu vực cụ thể còn rất ít [19] Ví dụ như một số Vườn quốc gia (VQG) và Vườn quốc gia (VQG) cũng thống kê được một số loài động, thực vật quý hiếm trong VQG như:
Trang 29Bản : Dan mục quý iếm đƣợc ƣu ti n bảo vệ
Họ Dầu Chai lá cong (Sao lá cong)
Kiền kiền phú quốc
Sao hình tim
Sao mạng cà ná
Họ Hoàng liên gai
Hoàng liên gai
Họ Mao lương Hoàng liên chân gà
Hoàng liên trung quốc
Họ Ngũ gia bì Sâm vũ diệp (Vũ diệp tam thất)
Tam thất hoang
Sâm ngọc linh
PINOPHYTA PINOPSIDA Cupressaceae
Taiwania cryptomerioides Cunninghamia konishii Glyptostrobus pensilis Xanthocyparis vietnamensis Cupressus tonkinensis
Pinaceae
Keteleeria davidiana Abies delavayi fansipanensis
MAGNOLIOPHYTA MAGNOLIOPSIDA Dipterocarpaceae
Shorea falcata Hopea pierrei Hopea cordata Hopea reticulata
Berberidaceae
Berberis spp
Ranunculaceae
Coptis quinquesecta Coptis chinensis
Araliacea
Panax bipinnatifidus Panax stipuleanatus Panax vietnamensis (Nguồn: Ban hành kèm theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP
ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ)
Trang 30VQG Ba Bể (Bắc Kạn) có 1.281 loài thực vật thuộc 162 họ, 672 chi, trong đó
có nhiều loài thực vật quí hiếm có giá trị được ghi vào Sách Đỏ của Việt Nam và Thế giới Các loài cây gỗ quý, hiếm như: Nghiến, Đinh, Lim, Trúc dây,… trong đó, Trúc dây là một loài tre đặc hữu của Ba Bể thường mọc tại các vách núi, thân của chúng thả mành mành xuống hồ tạo nên những bức mành xung quanh hồ Đây là khu vực được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là trung tâm đa dạng
và đặc hữu cao nhất về loài lan không chỉ của Việt Nam mà còn của cả toàn vùng Đông Nam Á Ở đây có 182 loài lan, một số loài lan là đặc hữu, chỉ phát hiện thấy duy nhất ở vùng này Khu hệ động vật rất phong phú với 81 loài thú, 27 loài bò sát,
17 loài lưỡng cư, 322 loài chim, 106 loài cá, 553 loài côn trùng và nhện Trong đó
có nhiều loài có giá trị, quý hiếm đã được Việt Nam và Quốc tế ghi vào Sách Đỏ
1.1.4.4 Hệ thống văn bản chính sách
Việt Nam đã có những cam kết và hành động cụ thể để quản lý, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên động thực vật hoang dã Điều này được thể hiện bằng một loạt các văn bản, chính sách đã ra đời Ba mốc quan trọng nhất trong lĩnh vực bảo tồn của Việt Nam là sự ra đời của Nghị định số 18/HĐBT (1992), Nghị định số 48/2002/NĐ-CP (2002), Nghị Định số 32-CP (2006), và Nghị định 160- CP (2013),Nghị định số 18/HĐBT nhằm thực hiện Điều 19 của Luật Bảo vệ rừng năm
1991 Trên đây là một số Nghị định liên quan tới các loài bảo vệ các loài thực vật quý hiếm, tuy nhiên hiện nay chỉ còn có Nghị định 32-CP (2006)[7], Nghị định 160- CP (2013)[8], còn được áp dụng và có hiệu lực sử dụng Việc ban hành và thực hiện các Nghị định này đã đem lại nhiều cơ hội tồn tại cho nhiều loài động thực vật hoang dã
1.1.4.5 Quy định của pháp luật về quản lý và bảo vệ các loài thực vật quý hiếm
- Nhà nước đầu tư để quản lý, bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại các khu rừng đặc dụng, các hoạt động cứu hộ đối với thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bị xử lý tịch thu
- Hỗ trợ khắc phục thiệt hại do động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm từ tự nhiên gây ra cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở ngoài các khu rừng đặc dụng,
Trang 31các hộ gia đình, cá nhân đang cư trú hợp pháp trong các khu rừng đặc dụng (được chính quyền cấp xã, nơi có rừng đặc dụng xác nhận) theo quy định của pháp luật
- Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư quản lý, bảo vệ và phát triển thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
- Việc săn bắt, đánh bắt khai thác các loài động thực vật nguy cấp, quý hiếm là những hành vi bị nghiêm cấm được quy định trong điều 12 Luật bảo vệ và phát triển rừng và điều 7 Luật bảo vệ đa dạng sinh học: Các hành vi tác động khác nhau như tiếp cận nguồn gen, vận chuyển, tàng trữ phải tuân theo các quy định của pháp luật
-Về các hành vi vi phạm: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định
về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm (quy định tại nghị định 32/2006/ NĐ-CP của chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm) thì căn cứ tính chất mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định
1.1.4.6 Phân bố các loài thực vật nguy cấp quý hiếm ở Việt Nam
Theo báo cáo dự án “Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm thuộc danh mục Nghị định 32/2006/NĐ-CP [7] theo vùng sinh thái”, của Trung tân Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp Viện Điều tra Quy hoạch Rừng năm 2010 Đã thống kê được như sau:
Bản : P n bố các lo i t ực vật n u cấp quý iếm ở Việt Nam
Trang 33Vùng TT T n k u rừn Số lo i
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
2 VQG và di tích lịch sử Vĩnh
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tổng cục Lâm nghiệp 2002)
Qua bảng trên có thể thấy nước việt Nam là đất nước có sự đa dạng sinh học cao trên thế giới trải dài từ Bắc vào Nam với 20 vườn quốc gia và 18 vườn quốc gia với rất nhiều loài động thực vật mang tính đặc trưng cho từng vùng
1.1.4.7 Tình hình quản lý bảo vệ và hoạt động buôn bán thực vật quý hiếm
* Bảo vệ nguyên vị (insitu)
Việt Nam đã và đang quan tâm nhiều đến vấn đề bảo tồn loài và giá trị đa dạng sinh học Năm 1986, Chính phủ Việt Nam đã ra quyết định thành lập một hệ thống 87 Vườn quốc gia được gọi là các khu rừng đặc dụng, trong đó có 56 Vườn quốc gia và Vườn quốc gia thiên nhiên, 31 khu rừng văn hoá, lịch sử, môi trường với tổng diện tích khoảng 1.169.000ha chiếm 5,7% diện tích đất rừng Từ đó đến nay, hệ thống các khu rừng đặc dụng được bổ sung thêm cả về số lượng và diện tích Hiện nay, hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam có tổng diện tích gần 2,5 triệu hécta chiếm khoảng 7% diện tích
tự nhiên toàn quốc với 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và
Trang 3403 Vườn quốc gia biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu bảng cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển
Trong số các khu rừng đặc dụng, nhiều nơi được thành lập với mục đích để bảo tồn loài thực vật nguy cấp, quý hiếm như: VQG Ba Bể (Bắc Kạn) để bảo tồn loài nghiến, đinh; VQG Ba Vì (Hà Nội) để bảo tồn loài bách xanh, mỡ hải nam; VQG Bến En (Thanh Hóa) để bảo tồn Lim xanh; VQG Hoàng Liên (Lào Cai) để bảo tồn các loài cây thuốc và pơ mu; VQG Pù Mát (Nghệ An) để bảo tồn loài sa mộc dầu, pơ mu; VQG Earal và Trấp Ksơ (Đắc Lắc) để bảo tồn loài Thông nước và VQG York Đôn (Đắc Lắc) để bảo tồn các loài cây họ dầu Nhìn chung, những loài thực vật được bảo tồn tương đối tốt trong hệ thống các khu đặc dụng Tuy nhiên, hiện tượng khai thác đơn lẻ (từng cây), bất hợp pháp vẫn xảy ra ở một số nơi, vào một thời điểm nhất định, đặc biệt đối với một số loài có giá trị kinh tế cao (sưa, sâm
vũ diệp, tam thất hoang, sâm ngọc linh và gõ đỏ)
* Bảo tồn chuyển vị (Exitu)
Bảo tồn chuyển vị là cách thức di chuyển đối tượng bảo tồn khỏi vị trí mà chúng tồn tại Thường cách thức này được áp dụng đối với những đối tượng có nguy cơ bị đe dọa và tuyệt chủng cao, những loài đặc biệt quý hiếm trong tự nhiên Với hình thức này, đối tượng bảo tồn có thể được lưu giữ trong ngân hàng gen, bảo tàng hoặc cũng có thể di chuyển đối tượng cần bảo tồn đến vị trí, địa điểm phù hợp hơn Việt Nam đã xây dựng được hệ thống các Vườn thực vật, lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng, vườn cây thuốc
để bảo tồn các loài quý hiếm Có nhiều loài cây rừng bản địa đã được nghiên cứu và đưa vào gây trồng thành công Bảo tồn chuyển vị đã đóng góp đáng kể cho cho hoạt động bảo tồn các loài thực vật đã và đang bị diệt chủng ngoài tự nhiên [16]
1.1.4.8 Hoạt động khai thác buôn bán thực vật quý hiếm ở Việt Nam
Thực trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển bất hợp pháp thực vật hoang dã ở Việt Nam là vấn đề phức tạp Trong giai đoạn từ năm 2006, mỗi năm có gần 50.000 tấn thực vật hoang dã bị khai thác và buôn bán bất hợp pháp (Theo Cục Kiểm lâm -Việt báo số 28/2/2006) Hiện nay, Việt Nam có 5 điểm nóng về buôn bán động thực vật hoang dã, gồm Nghệ An, Hà Nội, TP.HCM, Quảng Ninh và Lạng Sơn (TRAFFIC-
Trang 352010) Đây là những khu vực trọng điểm tập kết động thực vật hoang dã để vận chuyển sang Trung Quốc tiêu thụ Nếu chỉ đề cập đến thực vật, tình trạng các loài bị nguy cấp ngày càng tăng về số lượng và mức độ đe dọa trong khoảng 15 năm trở lại đây Trong Sách Đỏ Việt Nam 1996, Việt Nam có 24 loài thực vật thuộc diện nguy cấp thì đến Sách Đỏ 2004, Việt Nam có 191 loài, và Sách Đỏ 2007 đã liệt kê 196 loài (trong đó có
45 loài rất nguy cấp) Ngoài việc số lượng loài bị đe dọa đã tăng lên đáng kể, mức độ bị
đe dọa ở cấp cao nhất cũng tăng thêm Một số lượng lớn các loài trước đây còn được xếp trong thứ hạng sắp nguy cấp thì nay đã phải chuyển sang thứ hạng nguy cấp Các mối đe dọa chính đối với các loài thực vật nguy cấp quý hiếm vẫn là:
Tại Vườn quốc gia Ba Bể công tác bảo tồn nói chung và công tác bảo tồn các loài thực vật nói riêng chưa được tiến hành một cách đầy đủ và hệ thống Tuy còn nhiều loài thực vật quý hiếm nhưng do nhiều lý do nên công tác bảo tồn còn gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại Vì vậy việc điều tra đánh giá thực trạng các loài thực vật quý hiếm là việc rất quan trọng phục vụ công tác giám sát đánh giá bảo tồn đa dạng sinh học của VQG
Nói chung, trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về đa dạng thực vật Tuy nhiên, tính đa dạng của thực vật có sự khác nhau trên từng tiểu vùng sinh thái, từng nơi nên cần phải có những nghiên cứu cơ bản gắn liền với mô hình rừng ở từng khu vực để có những cơ sở khoa học chắc chắn cho các giải pháp kỹ thuật lâm sinh
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng các loài thực vật quý hiếm tại Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài” là nghiên cứu mới, đầy đủ hơn và không trùng với các công trình
trước đây đã nghiên cứu
Điều kiện tự n i n k u vực n i n cứu
1.2.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Ba Bể cách thị xã Bắc Kạn 70 km và cách Hà Nội 250 km về phía Bắc, thuộc địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tổng diện tích vườn 10.048 ha, gồm toàn bộ xã Nam Mẫu và một phần diện tích của các xã Khang Ninh, Cao
Trang 36Thượng, Cao Trĩ, Quảng Khê, Hoàng Trĩ - huyện Ba Bể, Nam Cường - huyện Chợ Đồn; vườn có tọa độ địa lý:
- Từ 22o 06’12” đến 22o 08’14” Vĩ độ Bắc;
- Từ 105o 09’07” đến 105o 12’22” Kinh độ Đông
Có ranh giới hành chính:
- Phía Bắc giáp phần còn lại của xã Cao Thượng - Ba Bể;
- Phía Nam giáp huyện Chợ Đồn, phần còn lại xã Quảng Khê, Hoàng Trĩ - Ba Bể;
- Phía Đông giáp phần còn lại xã Khang Ninh, Cao Trĩ - Ba Bể;
- Phía Tây giáp huyện Chợ Đồn và tỉnh Tuyên Quang
Vườn được công nhận là Vườn di sản Asean năm 2003, là địa điểm thăm quan, du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng trong và ngoài nước Năm 2011 Vườn Quốc gia
Ba Bể được Ban Thư ký Ramsar công nhận là Khu Ramsar (Khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế) thứ 1938 của thế giới Vườn tiếp tục được công nhận là Di sản quốc gia đặc biệt năm 2012
1.2.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn
* Khí hậu: Theo số liệu khí hậu thuỷ văn của huyện Chợ Đồn thì khu vực xã
Xuân Lạc có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, mùa đông
* Thuỷ văn: Trong khu vực có một con suối chính bắt nguồn từ xã Vĩnh Yên,
huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang chảy theo hướng Tây-Bắc, qua các thôn Nà Dạ, Bản Eng, Bản Tưn, Bản Ó và Tà Han của xã Xuân Lạc rồi đổ ra Hồ Ba Bể với chiều dài suối dài khoảng 9km, thường có nước quanh năm nhưng về mùa đông thì mực nước thấp hơn
Trang 37n i m n ặt
P ục ồi sinh thái
Hành
c ín , dịc
vụ Diện tíc tự n i n 10.048,0 4.488,3 5.519,7 40,0
Trang 38Trên cơ sở số liệu kế thừa trước đây và kết quả phúc tra của Viện Nghiên Cứu Khoa học Tây Bắc phối hợp với Phân viện ĐTQH rừng Đông Bắc bộ, Vườn quốc gia
Ba Bể có 909 loài thực vật trên cạn thuộc 517 chi, 149 họ, 5 ngành
(Nguồn: Vườn quốc gia Ba Bể)
Cho đến năm 2012 qua khảo sát nghiên cứu của trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp với Phân viện ĐTQH rừng Đông Bắc bộ đã ghi nhận được 316 loài động vật có xương sống trên cạn (40 loài thú, 233 loài chim, 27 bò sát) và 16 loài lưỡng
cư Hồ Ba Bể cũng là nơi ghi nhận số lượng loài cá rất phong phú, theo nhiều nghiên cứu có khoảng 107 loài, thuộc 5 bộ, 18 họ (theo hồ sơ đăng ký di sản thiên nhiên thế giới của VQG Ba Bể năm 2006)
Trong tổng số các loài hiện thống kê được, đã có đến 41 loài (30 loài động vật có xương sống trên cạn và 11 loài cá) được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam 2007 là những loài cần phải bảo vệ nghiêm ngặt như: Voọc đen má trắng, Cầy vằn bắc, rắn Hổ mang chúa
1.2.5 Điều kiện giao thông, thủy lợi
* Giao thông
Hệ thống giao thông có tỉnh lộ 258 từ thị trấn Chợ Rã đi qua vùng lõi của Vườn sang huyện Chợ Đồn, đã được rải nhựa, nhưng đoạn qua trung tâm Vườn đang bị xuống cấp, cần sửa chữa 100% xã đã có đường ô tô đến được trung tâm tuy lòng đường còn hẹp, nhiều đoạn bị hư hỏng do mưa lũ Ngoài ra người dân còn di chuyển bằng thuyền trên mặt Hồ, sông Năng và sông Chợ Lèng Đường đến các
Trang 39thôn bản đang được mở mới, nâng cấp theo các dự án của Vườn, Chương trình xây dựng nông thôn mới, Dự án giảm nghèo bền vững (30a)
1.2.6 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội
* Tình hình dân cư kinh tế
Vườn quốc gia Ba Bể nằm trên địa giới hành chính của 7 xã - huyện Ba Bể
và 1 xã - huyện Chợ Đồn Tổng dân số hơn 23 nghìn người, trong đó dân số vùng lõi khoảng 3.500 người Đặc điểm riêng của vườn quốc gia Ba Bể là có dân cư sống hoặc có đất canh tác trong vùng lõi, gồm 9 thôn thuộc xã Nam Mẫu (Pác Ngòi, Bó
Lù, Cốc Tộc, Bản Cám, Khâu Qua, Nặm Dài, Đán Mẩy, Nà Nghè, Nà Phại), 3 thôn
- xã Khang Ninh (Nà Hàn, Pác Nghè, Nà Mằm), 3 thôn - xã Quảng Khê (Lùng Quang, Lèo Keo, Bản Pjạc) Trước đây đã có một số chương trình di dân khỏi vùng lõi nhưng chưa thành công (dự án tái định cư Đồn Đèn - Khuổi Luông)
Thành phần dân tộc chủ yếu là người Tày, Dao chiếm gần 90% dân số, ngoài
ra còn người Mông, Nùng, Kinh chiếm gần 10% dân số toàn vùng Đời sống của đại
bộ phận người dân phụ thuộc chủ yếu vào làm ruộng và canh tác nương rẫy, nhưng quỹ đất dành cho sản xuất rất hạn hẹp, phần lớn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do nằm trong vùng lõi của VQG Ba Bể Mức sống của người dân còn thấp, tạo áp lực đáng kể lên tài nguyên rừng
Trang 40Lực lượng lao động trong vùng khoảng 12.600 người, chiếm 52,1% dân số, trong đó lao động nông - lâm nghiệp chiếm 93,2% Đa số lao động chưa qua đào tạo
Nhìn chung đời sống kinh tế của đồng bào các dân tộc sống trong vùng còn nhiều khó khăn, đặc biệt là nhân dân sống trong vùng lõi VQG Tỷ lệ hộ đói nghèo chung các xã theo tiêu chí mới là 30%, trong đó xã Nam Mẫu lên tới 49,05% (theo báo cáo tổng kết năm 2011 các xã)
* Tình hình văn hóa xã hội
- Các xã trong khu vực Vườn quốc gia Ba Bể đều có trạm y tế ở trung tâm
xã Mặc dù điều kiện vật chất, nhân lực còn nhiều thiếu thốn nhưng cơ bản đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân
- Hệ thống trường, lớp đã và đang được đầu tư thông qua các dự án như Dự
án giảm nghèo nhanh bền vững (30a), xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên do đặc thù nhiều thôn bản ở rất xa trung tâm, giao thông đi lại khó khăn nên tỷ lệ học sinh học hết cấp 1 sang cấp 2, 3 chưa cao Cơ sở vật chất ở các lớp cắm bản còn hết sức nghèo nàn
* Tình hình phát triển lâm nghiệp
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp chủ yếu thực hiện trong vùng đệm của VQG Đối với vùng lõi, từ năm 1994 đến nay, Ban quản lý vườn quốc gia Ba Bể đã tiến hành giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi và trồng bổ sung trong phân khu phục hồi sinh thái Nhằm tạo công ăn việc làm cho các hộ gia đình đang sinh sống đan xen trong vùng Ban quản lý Vườn còn hỗ trợ cây giống, công trồng, chăm sóc
để người dân thực hiện trồng rừng trên nương rẫy bỏ hóa
1.2.7 Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương
* Thuận lợi:
- Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn có diện tích đất đai rộng lớn
và tính chất đất còn tốt; do vậy đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho sự đa dạng về thành phần loài và hệ sinh thái của địa phương
- Vườn quốc gia có hệ thống ban quản lý với số lượng lớn và chất lượng cao do vậy việc bảo tồn được duy trì và phát triển tốt, đóng góp lớn vào công tác bảo tồn
đa dạng sinh học cho vườn quốc gia