1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

chương 3 Định giá cổ phần thường

39 3,2K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 3 Định giá cổ phần thường
Trường học Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Giáo trình
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu chúng ta cần biết giá trị cổ phiếu của một hãng nào đó, tại sao chúng ta lại không thể tra cứu giá cổ phiếu trên báo chí? Đáng tiếc, điều đó không phải luôn luôn làm được. Ví dụ hiện nay mình đang sở hữu toàn bộ cổ phần của một công ty nhưng đang cân nhắc việc chuyển công ty thành một công ty cổ phần đại chúng bằng cách bán cổphần cho các nhà đầu tư khác. Chúng ta cần phải ước tính mức giá có thể bán ra các cổ phiếu đó. Hay giả sử rằng tập đoàn lớn nào đó muốn bán lại bộ phận sản xuất khớp nối cho một công ty khác. Họ cần phải tính toán giá trị của bộ phận sản xuất này.Còn có một lý do khác, sâu sắc hơn: tại sao các nhà quản lý cần phải hiểu rõ cách định giá cổ phiếu? Chúng ta đã nói rằng nếu một công ty hoạt động vì lợi ích của cổ đông

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN LÝ THUYẾT 1

CHƯƠNG 3: ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN THƯỜNG 1

CHƯƠNG 9: HOẠCH ĐỊNH DÒNG TIỀN 10

PHẦN BÀI TẬP CHƯƠNG 7 17

DANH SÁCH NHÓM

1 31111022627 Tô Hoàng Anh 26/10/1993 VG002

2 31111021450 Trần Thị Bích Diễm 02/05/1993 VG001

3 31111021162 Lê Thị Hoa 04/02/1993 VG002

4 31111020989 Nguyễn Khắc Huy 04/07/1993 VG002

5 31111022126 Bùi Thị Thanh Thảo 10/05/1993 VG002

6 31111022711 Trần Thị Hoàng Trang 13/06/1993 VG002

7 31101023986 Trần Văn Ty 26/12/1992 VG002

Trang 2

PHẦN LÝ THUYẾT CHƯƠNG 3: ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN THƯỜNG

Tại sao định giá cổ phần là cần thiết?

Nếu chúng ta cần biết giá trị cổ phiếu của một hãng nào đó, tại sao chúng ta lại không thể tra cứu giá cổ phiếu trên báo chí? Đáng tiếc, điều đó không phải luôn luôn làm được Ví dụ hiện nay mình đang sở hữu toàn bộ cổ phần của một công ty nhưng đang cân nhắc việc chuyển công ty thành một công ty cổ phần đại chúng bằng cách bán cổ phần cho các nhà đầu tư khác Chúng ta cần phải ước tính mức giá có thể bán ra các cổ phiếu đó Hay giả sử rằng tập đoàn lớn nào đó muốn bán lại bộ phận sản xuất khớp nối cho một công ty khác Họ cần phải tính toán giá trị của bộ phận sản xuất này

Còn có một lý do khác, sâu sắc hơn: tại sao các nhà quản lý cần phải hiểu rõ cách định giá cổ phiếu? Chúng ta đã nói rằng nếu một công ty hoạt động vì lợi ích của cổ đông thì công ty nên chấp nhận những dự án đầu tư làm gia tăng giá trị sở hữu của các cổ đông Nhưng để làm được điều này, thì cần phải hiểu rõ cái gì quyết định giá trị của cổ phiếu

 Do đó tìm hiểu và nắm bắt được phương pháp định giá cổ phiếu là một điều quan trọng và đáng quan tâm cho những nhà đầu tư cũng như các nhà quản lí Chính vì thế mà việc đưa vấn đề này vào giảng dạy cho sinh viên khối ngành kinh tế là rất cần thiết và hữu ích

Các cổ phần được định giá thế nào?

Việc phát hành các cổ phần mới để gia tăng vốn

Cổ đông sở hữu cổ phần thường sẽ nhận được dòng thu nhập dưới hai hình thức:

Trang 3

Mô hình chiết khấu cổ tức – DDM

Nếu nhà đầu tư không bao giờ bán cổ phiếu (n∞) thì:

(1+r)n ∞  Pn/(1+r)n 0

Từ công thức tổng quát (*) ta có:

P0 = ∑

1 Cổ tức cố định đều mãi mãi

Doanh nghiệp chi trả 1 mức cố định và không thay đổi theo thời gian (còn gọi là

mô hình không tăng trưởng)

P0 =

D1: Cổ tức dự kiến năm tới

r: Lãi suất chiết khấu (tỷ suất sinh lợi mong đợi)

2 Mô hình tăng trưởng cổ tức đều mãi mãi

DN dự kiến chi trả cổ tức tăng trưởng với tốc độ g%/năm đến mãi mãi (cổ tức hiện tại là D0), khi đó ta có:

Trang 4

 Xác định bằng mô hình CAPM:

r = rf + (rm – rf )

* Cách xác định g:

g= b*ROE

− Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại b =1 - tỷ lệ chi trả cổ tức = 1 - D/EPS

− ROE là tỷ suất sinh lợi/vốn chủ sở hữu = EPS/BV = LNST/VCSH

3 Mô hình tăng trưởng cổ tức 2 giai đoạn

Giả định trong giai đoạn đầu (n năm), cổ tức tăng trưởng với tốc độ cao gH,từ năm n+1 trở đi sẽ tăng trưởng đều bất biến với tốc độ gS (gH>gS)

P0 = ∑

Quan hệ giữa giá trị và thu nhập trên mỗi cổ phần

1 Thu nhập trên mỗi cổ phần – EPS

Là chỉ số đánh giá trực tiếp, phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận có thể dùng chi trả cho cổ đông trên một cổ phần mà cổ đông đóng góp

EPS cơ bản = (Thu nhập ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi)/Số lượng cổ phiếu bình quân đang lưu hành

 Chỉ số EPS càng cao thì công ty tạo ra TN cho cổ đông càng lớn và ngược lại

 EPS loại bỏ ảnh hưởng bởi quy mô vốn của DN, vì TN được quy về từng cổ phần

 EPS có thể bị méo mó khi TN của DN bị làm sai lệch bởi các thủ thuật kế toán hoặc việc áp dụng các phương pháp kế toán khác nhau

2 Tỷ số giá thu nhập – P/E

P/E đo lường mối quan hệ giữa giá vàTN của mỗi cổ phần  Giá CP hiện tại cao hơn TN từ CP đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho 1 đồng TN là bao nhiêu

P/E = Giá cổ phiếu/TN mỗi cổ phần

P/E cao thường thể hiện

(1) sự kỳ vọng của nhà đầu tư vào tăng trưởng TN của DN trong tương lai cao

Trang 5

(2) CP có rủi ro thấp nên NĐT sẵn sàng chấp nhận với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp

(3) dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao

3 Hiện giá các cơ hội tăng trưởng - PVGO

 Trường hợp công ty không tăng trưởng

Tỷ suất sinh lợi mong đợi = tỷ suất cổ tức = tỷ số thu nhập chia thị giá

r = =

PVGO (Present Value of Growth Opportunities) là hiện giá các cơ hội tăng trưởng

Trang 6

PV(công ty) = PV(dòng tiền tự do - FCF)

<=> PV(công ty) = PV(Thu nhập-giá trị đầu tư thuần)

 Chúng ta có thể sử dụng mô hình định giá cổ phần riêng lẻ để xác định giá trị của doanh nghiệp

ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN THƯỜNG

Trong chương này chủ yếu cung cấp nguyên tắc nền tảng là chiết khấu về hiện giá

để xác định giá trị của một cổ phần, đồng thời cũng cung cấp cho sinh viên một số mô hình đang được sử dụng phổ biến hiện nay Tuy nhiên, ít có một mô hình nào thật sự hoàn hảo trong tất cả các trường hợp và các mô hình được giới thiệu trong chương này cũng còn một số bất cập ngay chính trong bản thân của mô hình, cụ thể :

- Đơn giản trong tính toán

- Đây là mô hình tối ưu

cho những công ty tăng trưởng bằng hoặc thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng chung của nên kinh tế và

có một chính sách chi trả cổ tức rất tốt mà họ

dự định sẽ duy trì trong tương lai

- Không thể áp dụng cho công ty không chi trả cổ tức

- Nếu tốc độ tăng trưởng vượt quá r thì giá trị sẽ

âm và ta không thể áp dụng khi tốc độ tăng trưởng cao hơn tỷ suất chiết khấu

- Mô hình rất nhạy cảm với việc lựa chọn tốc độ tăng trưởng vả tỷ suất chiết khấu Tốc độ tăng trưởng và tỷ suất chiết khấu lại là các biến số rất khó để ước lượng chính xác.Và khi sử dụng không đúng, nó có thể gây ra những sự nhầm lẫn hay thậm chí là kết quả vô lí vì khi g xấp xĩ r thì giá trị sẽ tiến đến vô cùng

- Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng đều vĩnh viễn thường là giả định phi thực tế

và tốc độ tăng trưởng ổn định trong dài hạn ở thời

kì thứ hai

- Mô hình sử dụng được

- Vấn đề đầu tiên của mô hình là việc xác định độ dài của giai đoạn tăng trưởng bất thường Vì khi kết thúc giai đoạn này, tỷ lệ tăng trưởng được kỳ vọng sẽ giảm xuống mức ổn định nên giai đoạn này càng kéo dài thì giá trị của một dự án đầu tư càng tăng Thực tế thì vẫn có một số tiêu chuẩn

để xác định được khoảng thời gian này, tuy nhiên rất khó để chuyển những tiêu chuẩn định tính đó thành những khoảng thời gian cụ thể

- Tiếp đến là việc giả định tỷ lệ tăng trưởng cao trong giai đoạn đầu và đột ngội hạ xuống mức tỷ

Trang 7

nếu tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn đầu cao hơn tỷ suất chiết khấu

- Mô hình phù hợp cho

những công ty có tỷ lệ tăng trưởng cao và kỳ vọng tỷ lệ tăng trưởng này sẽ được duy trì trong những khoảng thời gian cụ thể và những công ty duy trì chính sách chi trả cổ tức bằng dòng tiền dư thừa (dòng tiền còn lại sau khi trả

nợ vay và đáp ứng các nhu cầu tái đầu tư )

lệ tăng trưởng bền vững thấp khi giai đoạn này kết thúc Mặc dù giả định này có thể xảy ra nhưng thực tế thì sự thay đổi này thường diễn ra một cách từ từ theo thời gian

- Việc tập trung vào cổ tức trong mô hình dẫn đến những kết quả sai lệch về giá trị của những công

ty chi trả cổ tức thấp hơn mức mà họ có thể hoặc không trả (giá trị của những công ty trả cổ tức quá thấp và dự trữ tiền mặt nhiều sẽ bị định giá thấp hơn nhiều so với thực tế)

- Mô hình vẫn rất nhạy cảm với việc lựa chọn tỷ suất chiết khấu và tốc độ tăng trưởng

- Mô hình không sử dụng được cho những công ty không chi trả cổ tức

để đưa ra chiến thuật đầu tư hợp lý

- Tuy dễ tính toán nhưng tỷ số này lại không ổn định.Vì tỷ số tỷ số phụ thuộc vào biến lợi nhuận

mà lợi nhuận lại phụ thuộc vào nguyên tắc kế toán Mà các nguyên tắc kế toán (GAAP) có thể thay đổi theo thời gian, cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia Do đó EPS có thể bị bóp méo, làm sai lệch tỷ số P/E

- P/E trở nên vô nghĩa nếu xuất hiện lỗ, thậm chí chỉ 1 quý hoặc chi phí bất thường

- Lợi nhuận ròng là một chỉ số kế toán bao gồm cả những khoản mục phi tiền tệ

- Lạm phát sẽ khiến cho việc theo dõi trở nên khó khăn vì thông tin trong quá khứ sẽ không còn phù hợp nhiều với điều kiện hiện tại nữa, độ sai lệch cũng lớn hơn

- Việc so sánh tỷ số P/E của các công ty với nhau chỉ thực sự hữu dụng khi các công ty đó nằm trong cùng một ngành kinh doanh

- P/E là từ quá khứ để xác định giá trị doanh nghiệp trong khi đó thì giá trị phải tính từ tương lai và do đó P/E mang tính chất dự báo mà dự báo thì thường không chắc chắn

- Bên cạnh đó, tỷ số không chỉ phụ thuộc vào sự thay đổi của biến lợi nhuận mà còn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan, kinh nghiệm của nhà phân tích

Trang 8

DCF - Định giá doanh nghiệp ở

trạng thái động, có tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai Do đó, nếu thực hiện được 1 cách chính xác thì đây là phương pháp hiệu quả để xác định chính xác giá trị doanh nghiệp Không cần xác định cụ thể lợi thế thương mại của doanh nghiệp do nó

đã được thể hiện trong chính kết quả kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp đó

- Mô hình DCF không dễ dàng để áp dụng trong thực tế và có nhiều bất trắc trong những giả định của nó

- Yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố quan trọng nhất trong việc dùng mô hình chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phần chính là ước đoán chuỗi các kế hoạch tạo ra dòng tiền hoạt động cho doanh nghiệp Mô hình DCF thường phải sử dụng từ 5 đến 10 năm để có được một dự đoán

có giá trị, tuy nhiên dự báo dòng tiền tăng lên qua từng năm là không chắc chắn Chính tính không chắc chắn với thời gian có thể sẽ khiến

mô hình không mang lại kết quả như mong đợi, thậm chí là một kết quả khác xa nhiều so với kết quả mong muốn Các nhà phân tích có thể dự báo khá chính xác dòng tiền hoạt động trong năm nay và năm sau nhưng cũng không thể có

đủ khả năng để dự báo chính xác cho những năm

xa hơn của tương lai Thu nhập và dòng tiền có thể bị giảm một cách nhanh chóng bởi vì các yếu

tố bất ngờ nào đó Hơn nữa các dự án về dòng tiền xây dựng cho một năm bất kỳ thường được dựa trên kết quả của năm liền trước đó

- Cách tính toán trong mô hình DCF dễ thấy kết quả của nó rất nhạy cảm với bất cứ một sự thay đổi nào dù là nhỏ nhất trong giả định về tỷ lệ chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng Giả định tỷ lệ tăng trưởng g đều đặn trong tương lai chỉ là một phỏng đoán tốt nhất Sự tăng trưởng cao của một công ty sẽ không thể được duy trì liên tục Giả định không đúng như vậy sẽ dẫn đến ước lượng quá cao về r Thậm chí nếu giả định này là có thể chấp nhận đươc thì bản thân nó cũng đã tồn tại một phần sai số khi ước lượng g

- Giá trị sổ sách thường sai lệch so với giá trị thật của tài sản công ty Giá trị sổ sách có thể nhỏ hơn rất nhiều giá trị tài sản thực khi nền kinh tế

có chỉ số lạm phát tăng cao và cũng vì giá trị sổ sách thường bỏ qua hầu hết những giá trị quan trọng các tài sản vô hình của công ty như là bản quyền, bằng phát minh sáng chế,…Thu nhập của doanh nghiệp vì vậy cũng có thể bị sai lệch bởi lạm phát hoặc sự lựa chọn khác nhau của các

Trang 9

phương pháp kế toán, dẫn đến sự sai lệch trong ước tính giá trị g

- Một dự đoán chi phí sử dụng vốn r của một cổ phần đơn lẻ nào thường là không nên và thường

dễ bị sai sót chủ quan Cần phải thu thập một mẫu những công ty tương tự , ước lượng r cho mỗi công ty và tính r bình quân

- Sẽ rất khó khăn trong việc định giá các công ty sau đây vì các công ty này có tài sản chưa rõ ràng và việc dự đoán các dòng tiền trong tương lai thì không đơn giản:

- Những công ty đang gặp khó khăn: các công ty kiệt quệ sẽ có dòng tiền, lợi nhuận âm và khả năng bị lỗ trong tương lai.DCF trong trường hợp này sẽ không cho kết quả khả quan và không còn hiệu quả

- Những công ty hoạt động có tính chu kì

- Những công ty có tài sản chưa khai thác

- Những công ty có quyền sáng chế hoặc là quyền chọn sản phẩm

- Những công ty đang trong quá trình tái cơ cấu

- Những công ty có liên quan trong các thương vụ mua lại

- Những công ty tư nhân

ỨNG DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TẾ

Có thể hiểu được cách thức mà cổ phần của công ty được giao dịch

Xác định được giá trị thị trường hiện hành của một cổ phần trên cơ sở những dự đoán về cổ tức và giá cổ phần năm sau cũng như tỷ suất sinh lợi mong đợi của cổ phần từ các cổ phần khác có cùng mức độ rủi ro

Kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như DCF, P/E, …để đưa ra quyết định đầu

tư, tuy nhiên phải hiểu rằng không có phương pháp nào đảm bảo đầu tư thành công

Trang 10

THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH HỌC

Chương định giá cổ phần bước đầu giúp sinh viên tiếp cận sơ bộ được một số phương pháp cơ bản trong định giá cổ phiếu cũng như của công ty Tài liệu đọc chi tiết, trình bày rõ ràng, dễ hiểu

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số ít khó khăn trong việc tiếp cận:

Sinh viên chưa nắm rõ được việc ứng dụng các mô hình được học như thế nào vào chuyên ngành thẩm định Bất cập trong việc ứng dụng vào thực tiễn, không tiếp cận được thực tế, không có đủ các số liệu để ước tính các biến số của mô hình như g, r, EPS ( sinh viên nên được tổ chức để định giá thử môt cổ phiếu đang giao dịch trên sàn từ những phương pháp được học và từ các bào cáo tài chính của các công ty được niêm yết trong khoảng 5 năm, sau đó so sánh giá trị của mình với một số giá của các chuyên gia khác để tìm hiểu nguyên nhân có sự khác biệt giữa 2 giá trị từ đó tích lũy được 1 số kinh nghiệm hữu ích) Giáo trình không giải thích rõ lỗi của các mô hình cũng như cách khắc phục, chưa được giới thiệu nhiều về các trường hợp định giá không đúng hoàn toàn vời các giả định của mô hình cũng như cách xử lí trong những trường hợp đó

Trang 11

CHƯƠNG 9: HOẠCH ĐỊNH DÒNG TIỀN PHẦN I: NỘI DUNG

Một số khái niệm:

Hoạch định ngân sách vốn (capital budgeting) là quá trình hoạch định đầu tư mà dòng

tiền phát sinh dài hơn 1 năm Nguyên lí cơ bản cho việc hoạch định ngân sách vốn là quy tắc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp

Chi phí sử dụng vốn (cost of capital): Là chi phí phải trả cho việc sử dụng nguồn vốn

của một doanh nghiệp Chi phí này tiêu biểu cho tỷ suất sinh lợi mong đợi mà một doanh nghiệp phải đạt được từ các đầu tư của mình

Chi tiêu vốn (capital expenditure) là chi tiền mặt dự kiến tạo ra một dòng các lợi ích

tiền mặt trong tương lai kéo dài hơn 1 năm

 Xem xét thành quả và phân tích, đánh giá kết quả của dự án sau khi dự án kết thúc

II CÁC ĐỀ XUẤT VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VỐN

 Nguồn ý tưởng: bên trong doanh nghiệp, bên ngoài doanh nghiệp

 Nguồn đề xuất ý tưởng: công nhân xí nghiệp, hội đồng quản trị, các nhóm tham mưu (về kế toán chi phí, kỹ sư công nghệ ….)

Phân loại dự án đầu tư vốn:

 Dự án đầu tư mở rộng: là dự án đầu tư mới được thực hiện nhằm mục đích gia tăng thị phần, gia tăng doanh số hoặc đưa vào sản phẩm mới

 Dự án thay thế: là dự án thay thế TSCĐ cũ (lạc hậu) bằng TSCĐ mới để tăng năng suất, giảm chi phí

 Dự án phát sinh để đáp ứng các yêu cầu pháp lý, sức khỏe và an toàn

Trang 12

III NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH DÒNG TIỀN:

Dòng tiền (cash flow): là thu nhập ròng bằng tiền ở từng thời điểm của một dự án

Dòng tiền = dòng tiền thực thu vào – dòng tiền thực chi ra

1 Dòng tiền được đo lường trên cơ sở tăng thêm:

Tức là dòng tiền của dự án nên được xem xét là khoản tăng/giảm của toàn bộ dòng tiền của doanh nghiệp do dự án được chấp nhận so với khi nó không được chấp nhận

CF = CF (thực hiện dự án ) – CF (không thực hiện dự án )

Vì vậy nên đưa vào phân tích tất cả các thay đổi trong doanh thu, chi phí và thuế phát sinh do việc chấp nhận dự án Ngược lại không tính đến dòng tiền không bị dự án làm thay đổi

2 Dòng tiền phải được tính toán trên cơ sở sau thuế:

3 Tất cà tác động gián tiếp của một dự án phải được xem xét khi đánh giá dòng tiền

4 Chi phí chìm không được tính vào dòng tiền

5 Giá trị tài sản sử dụng vào một dự án nên được tính theo chi phí cơ hội của chúng

Chi phí cơ hội (không phải là một khoản thực chi) của tài sản là dòng tiền mà tài sản

đó có thể tạo ra nếu nó không được sử dụng trong dự án đang xem xét

(2) (+) Bất kỳ gia tăng nào trong vốn luân chuyển ban đầu do đầu tư mới đòi hỏi

(3) (-)Thu nhập thuần từ việc bán các tài sản hiện có trong trường hợp đầu tư là một quyết định thay thế

(4) () Thuế phát sinh do bán tài sản hiện có hoặc mua tài sản mới

Trang 13

(Có thể có hoặc không các khoản phát sinh do bán tài sản cũ và thuế do bán tài sản cũ Cần ít hoặc không cần gia tăng thêm vốn luân chuyển)

Bán tài sản cũ và cách tính khoản thuế phải nộp:

Có 4 trường hợp xảy ra khi bán, thanh lý một tài sản cũ:

TH1: Giá bán = Giá trị sổ sách = Giá trị còn lại

Không phát sinh lãi, lỗ nên trong trương hơp này không phát sinh thuế

TH2: Giá bán < Giá trị sổ sách

Phát sinh một khoản lỗ => Được khấu trừ một khoản thuế (trong công thức đầu tư thuần thuế phát sinh do bán tài sản cũ mang dấu “ - ”

TH3: Giá bán > Giá trị sổ sách

Phát sinh thu nhập => Bị đánh thuế

Khoản thuế tương ứng: ( Giá bán – Giá trị sổ sách) * T (Trong công thức đầu tư thuần, thuế bị đánh mang dấu “+”)

TH4: Giá bán > Giá gốc

Phát sinh thu nhập:

+ Thu nhập hoạt động = Giá gốc - Giá trị sổ sách

+ Lãi vốn= Giá bán - Giá gốc

Thuế sẽ được đánh trên cả hai phần thu nhập (trong công thức đầu tư thuần, phần thuế

bị đánh sẽ mang dấu “+”)

2 Dòng tiền hoạt động thuần (NCF)

Các dự án đầu tư vốn sẽ phát sinh dòng tiền sau thuế sau khi đầu tư thuần đã được thực hiện

Đối với bất kỳ năm nào trong đời sống của một dự án:

NCF = OEAT + Dep - NWC

Trong đó:

OEAT: Thay đổi trong thu nhập hoạt động sau thuế

OEAT = OEBT(1-T) = ( R - O -Dep )( 1 – T )

Trang 14

+ R= R2 – R1 ( Gia tăng trong doanh thu so với khi không thự hiện dự án)

+ O= O2- O1 ( Gia tăng trong chi phí so với khi không thực hiện dự án)

Dep= Dep2- Dep1: Gia tăng trong khấu hao

NWC: Gia tăng trong vốn luân chuyển

Khấu hao: là phân bổ có hệ thống giá trị của một tài sản có đời sống kinh tế dài hơn 1 năm

 Khấu hau làm giảm thu nhập báo cáo và giảm mức thuế mà doanh nghiệp phải chi trả

 Các phương pháp tính khấu hao: khấu hao đường thẳng, khấu hao theo tổng số năm, khấu hao theo số dư giảm dần,…

Thu hồi vốn luân chuyển: Trong suốt đời sống kinh tế của một dự án, doanh nghiệp

đã đầu tư vốn luân chuyển tăng thêm, vốn đầu tư thuần này sẽ được thu hồi lại cho doanh nghiệp bằng tiền mặt Vì vậy vào cuối đời sống dự án, vốn đầu tư này sẽ được thu hồi lại làm tăng dòng tiền thuần của dự án vào năm đầu

V CÁC VẤN ĐỀ TRONG ĐÁNH GIÁ DÒNG TIỀN:

Các dòng tiền của dự án là ở trong tương lai, nên không có sự chắc chắn về dòng tiền này, vì thế khó có thể dụ đoán được dòng tiền thực tế của dự án

Đánh giá dòng tiền cho các dự án khác nhau có thể có các mứa độ không chắc chắn khác nhau

VI THỰC TIỄN ĐÁNH GIÁ DÒNG TIỀN CHO HOẠCH ĐỊNH NGÂN SÁCH VỐN:

- Việc đánh giá chính xác dòng tiền của dòng tiền dự án là rất quan trong đối với thành công của doanh nghiệp

- Các công ty có nguồn vốn dồi dào và đòn bẩy tài chính cao thường chỉ định một hay nhiều người giám sát quá trình đánh giá dòng tiền

- Các yếu tố tài chính quan trọng trong đánh giá dòng tiền: nhu cầu vốn luân chuyển, rủi

ro dự án, thuế, tỷ lệ lạm phát dự kiến, … Yếu tố thị trường: dự báo doanh số, lợi thế cạnh tranh, bất lợi và vòng đời của sản phẩm Yếu tố sản xuất: chi phí hoạt động, chi phí vật liệu, cung cấp,…

Trang 15

VIII ƢỚC TÍNH DÒNG TIỀN KHI CÓ LẠM PHÁT:

( 1+ lãi suất danh nghĩa) = (1+ lãi suất thực)(1+ tỷ lệ lạm phát)

Nếu lãi suất chiết khấu là lãi suất danh nghĩa thì dòng tiền phải là dòng tiền danh nghĩa (có tính tới yếu tố lạm phát)

PHẦN II: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN

Chương Hoạch định dòng tiền đề cập đến khía cạnh quyết định đầu tư trong một doanh nghiệp, cụ thể hơn là doanh nghiệp cổ phần, trong ba quyết định mà một CFO phải làm: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân chia cổ tức thì đây là quyết định đầu tiên Trong vô vàn các cơ hội đầu tư, một CFO phải nhìn ra những quyết định đầu tư nào sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp cao nhất Khi đó, hoạch định ngân sách vốn đầu tư là một trong số những phương pháp sẽ giúp cho CFO có những lựa chọn mang tính thuyết phục hơn

1 Tầm quan trọng của hoạch định dòng tiền

Hoạch định ngân sách vốn (Capital budgeting) là quá trình hoạch định đầu tư mà dòng tiền phát sinh dài hơn 1 năm

Đầu tư vốn có tác dụng dài hạn đối với thành quả của một danh nghiệp, dự báo đúng nhu cầu vốn có thể đảm bảo được năng lực sản xuất sẽ đáp ứng được các nhu cầu trong tương lai của doanh nghiệp

Trong một cuộc khảo sát gần đây của Mỹ, phần lớn các danh nghiệp trả lời cuộc điều tra có ngân sách vốn hành năm trên 100 triệu đôla Gần 67% các danh nghiệp chuẩn bị các đánh giá dòng tiền chính thức cho trên 60% các chỉ tiêu vốn hàng năm của họ và đa

số lập ra các bảng dự kiến dòng tiền chi tiết cho các đầu tư vốn đòi hỏi một chi phí ban đầu từ 40 000$ trở lên Các doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào và đòn bẩy tài chính cao thường chỉ định một hay nhiều người để giám sát quá trình đánh giá dòng tiền, chẳng hạn như một chuyên viên phân tích tài chính, thủ quỹ, kiểm soát viên, hay giám đốc bộ phận

Trang 16

chẳng hạn Điều này phản ánh số lượng lớn hơn các dự án gắn với các doanh nghiệp này

và nhu cầu quản lý một cách hiệu quả các rủi ro đi kèm với đòn bẩy tài chính cao

Thông thường, tổng chi phí ban đầu của một dự án có thể chấp nhận được trong trường hợp không có hạn chế vốn sẽ lớn hơn tổng nguồn vốn doanh nghiệp có sẵn để đầu

tư vào các dự án Vì vậy, đối với những dự án có nguồn vốn bị hạn chế thì việc hoạch định ngân sách vốn hay ấn định giới hạn cho các chi tiêu vốn là điều hết sức quan trọng Trong đó, quy trình hoạch định ngân sách vốn liên quan chủ yếu đến việc ước tính các dòng tiền gắn liền với một dự án

2 Ƣu điểm của hoạch định dòng tiền

Dòng tiền của dự án đầu tư là dòng tiền ròng thực tế, không phải thu nhập ròng kế toán, là dòng tiền tăng thêm do dự án đầu tư đưa lại, góp phần làm tăng thêm dòng tiền

và là cơ sở để gia tăng giá trị của doanh nghiệp so với trước khi có dự án

Quy trình hoạch định ngân sách vốn liên quan chủ yếu đến việc ước tính các dòng tiền gắn với một dự án, chứ không chỉ tập trung vào lợi nhuận

Người tađánh giá một dự án bằng dòng tiền vì:

+ Phản ánh chính xác hiệu quả tài chính của dự án

+ Đảm bảo nguyên tắc tiền tệ có giá trị theo thời gian

3 Khó khăn trong việc hoạch định dòng tiền

Có 2 vấn đề làm cho việc đánh giá dòng tiền phức tạp hơn, đó là yếu tố không chắc chắn gắn với các dòng tiền và khuynh hướng làm lệch lạc một cách cố ý hay vô tình trong việc đánh giá dòng tiền

a) Yếu tố không chắc chắn gắn với các dòng tiền

Vì các dòng tiền xảy ra trong tương lai, có các mức độ không chắc chắn về các giá trị của các dòng tiền này Vì vậy rất khó dự đoán các dòng tiền thực tế của một dự án Để giảm thiểu mức không chắc chắn gắn với việc đánh giá dòng tiền, một dự án đề xuất cần được dựa trên các dữ liệu đầu vào về xác định doanh thu do các giám đốc tiếp thị cung cấp và các dữ liệu đầu vào về chi phí và mức độ thành quả có thể đạt được do các chuyên viên về sản xuất và công nghệ cung cấp

Khi thực hiện điều tra so sánh giữa dòng tiền thực tế với dòng tiền dự kiến thì được biết là các đánh giá dòng tiền chính xác nhất là các đánh giá chi phí ban đầu và yếu tố ít chính xác nhất là các dòng tiền hoạt động hằng năm

Các đánh giá dòng tiền cho các dự án khác nhau có thể có mức độ không chắc chắn khác nhau

Trang 17

b) Xu hướng đánh giá dòng tiền lệch lạc

Nếu các đánh giá dòng tiền gắn với một dự án bị lệch lạc một cách cố ý hay vô tình, các tài nguyên của doanh nghiệp có thể không được dành cho các dự án đầu tư để tối đa hóa tài sản của cổ đông

Một giám đốc có xu hướng đánh giá quá cao các thu nhập hay đánh giá quá thấp các chi phí gắn với một dự án nếu người này muốn mở rộng tài nguyên mà mình kiểm soát Giám đốc có thể giảm các đánh giá dòng tiền xuống thấp hơn mức “kết quả khả thi nhất”, khi đó sẽ chịu ít áp lực hơn đối với việc đáp ứng các tiêu chuẩn thành quả dự kiến

 không đạt được mức tối ưu

4 Khó khăn trong quá trình học chương này

Các phương pháp tính khấu hao còn phức tạp như phương pháp MACRS, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có giả định 2 năm cuối là chuyển sang khấu hao đường thẳng hay không?

Hoạch định dòng tiền có ứng dụng như thế nào trong việc thẩm định giá?

Trang 18

PHẦN BÀI TẬP CHƯƠNG 7

TÁC ĐỘNG ĐỊN BẨY LÊN RỦI RO VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI

Bài 1:

a, sản lượng hịa vốn của cơng ty TOR =

=

= 55.56 (sp) b,Tính thu nhập cổ phần thường (EPS):

c, Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh ở mức doanh số 750,000$:

DOL (X = 750000) =

= 2.25

d, Độ nghiêng đòn bẩy tài chính ở mức EBIT tương ứng với mức doanh số 750,000$:

Ngày đăng: 02/07/2014, 19:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng báo cáo hoạt động của công ty Rogers : - chương 3 Định giá cổ phần thường
Bảng b áo cáo hoạt động của công ty Rogers : (Trang 26)
Bảng báo cáo hoạt động của công ty Hastings: - chương 3 Định giá cổ phần thường
Bảng b áo cáo hoạt động của công ty Hastings: (Trang 29)
Đồ thị biểu diễn EBIT – EPS - chương 3 Định giá cổ phần thường
th ị biểu diễn EBIT – EPS (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w