Tuy vậy quá trình tự do hóa thương mại cũng đặt ra nhiều thách thức cho tình hình xuất khẩu da giầy ở nước ta.Cụ thể là ngành da giầy đang gặp phải những khó khăn chồng chất như:Lạm phát
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU -o O
o -Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các sản phẩm về da giầy ngày càng hoàn thiện Từ những nguyên liệu thô sơ, con người đã sáng tạo ra những nguyên liệu nhân tạo để phục vụ cho nhu cầu sử dụng các sản phẩm da giầy ngày càng phổ biến Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cùng với những phát minh khoa học trong lĩnh vực công nghiệp đã giúp cho ngành da giầy có sự phát triển vượt bậc
Ở Việt Nam, da giầy cũng là một trong những ngành được chú trọng phát triển khi Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với những ưu thế về nguồn nhân công dồi dào, Việt Nam có thể đẩy mạnh hoạt động của ngành da giầy
để vừa thu về giá trị xuất khẩu lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, vừa giải quyết được việc làm cho phần lớn người lao động
Tuy vậy quá trình tự do hóa thương mại cũng đặt ra nhiều thách thức cho tình hình xuất khẩu da giầy ở nước ta.Cụ thể là ngành da giầy đang gặp phải những khó khăn chồng chất như:Lạm phát cao, lãi suất ngân hàng tăng, đồng USD không
ổn định,đầu vào nguyên liệu tăng,…
Bài viết của nhóm 5 chúng em thực hiện theo chủ đề: “Phân tích về phương thức gia công quốc tế, nhận xét về hoạt động gia công quốc tế đối với ngành da giày tại Việt Nam”
Bài viết được thực hiện theo 4 phần:
- Tổng quan về phương thức gia công Quốc tế;
- Giới thiệu chung về tình hình xuất khẩu da giẩy ở Việt Nam, thực trạng và cơ
sở để xây dựng chiến lược phát triển ngành da giẩy Việt Nam;
- Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng da giẩy ở Việt Nam giai đoạn 2008-2010;
- Xu hướng phát triển và đề xuất các biện pháp nhằm đẩy mạnh tình hình xuất khẩu da giẩy Việt Nam
Trang 2“Phân tích về phương thức gia công quốc tế, nhận xét về hoạt động gia công quốc tế đối với ngành da giày tại Việt Nam”
I Tổng quan về phương thức Gia công Quốc tế:
1 Khái niệm về Gia công Quốc tế:
Phương thức hợp tác sản xuất và trao đổi hàng hoá giữa các nước, theo đó, nước nhận gia công nhận nguyên liệu hoặc nhiên liệu và có thể cả thiết bị, máy móc của nước gia công để sản xuất ra thành phẩm theo những định mức, tiêu chuẩn cụ thể; và giao những thành phẩm đó cho nước gia công với những điều kiện do hai bên thoả thuận Tiền công được trả bằng tiền hoặc bằng hàng Phương thức này được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước dưới hình thức hợp tác sản xuất, chủ yếu là giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển Việt Nam coi trọng phương thức Gia công Quốc tế, xem đó là một biện pháp sử dụng có hiệu quả nguồn lao động dồi dào,
có tay nghề khá và khai thác cơ sở công nghiệp đã xây dựng trong buổi đầu thời kì công nghiệp hoá nhưng còn thiếu đồng bộ, thiếu nguyên liệu, vật tư (như sản xuất sợi, dệt vải, da giầy, sản xuất hàng may mặc, dệt thảm, vv.) Mặt khác, đó cũng là biện pháp để tiến dần tới trình độ sản xuất hoàn chỉnh, như trong việc lắp ráp xe hơi Chúng ta đang nhắc tới Gia công quốc tế và Việt Nam là một quốc gia điển hình đó
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về Gia công quốc tế trước hết chúng ta hiểu Gia công là hành vi thương mại, theo đó bên nhận gia công thực hiện việc gia công hàng hoá theo yêu cầu, bằng nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để hưởng tiền gia công; bên đặt gia công nhận hàng hoá đã gia công để kinh doanh thương mại và phải trả tiền gia công cho bên nhận gia công
Còn Gia công quốc tế thực chất là một phương thức giao dịch trong đó, bên đặt gia công ở nước ngoài cung cấp máy móc thiết bị nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm để bên nhận gia công trong nước tổ chức quá trình sản xuất thành sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công Toàn bộ sản phẩm làm ra bên nhận gia công sẽ giao lại cho bên đặt gia công để nhận về một khoản thù lao (gọi là phí gia công) theo thoả thuận
2 Đặc điểm Gia công Quốc tế:
- Là một phương thức uỷ thác gia công trong đó hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất;
Trang 3- Gia công Quốc tế là một hình thức mậu dịch lao động hay là hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ qua hàng hoá vì trong quá trình gia công bên nhận gia công trong nước bỏ ra lao động, tiền chi phí gia công là thù lao;
- Gia công Quốc tế là một phương thức buôn bán gia công giữa hai đầu ở ngoài nghĩa là thị trường nước ngoài là nơi cung cấp nguyên vật liệu và đồng thời cũng là nơi tiêu thụ hàng hoá và sản phẩm
3 Vai trò của Gia công Quốc tế:
Đối với bên đặt gia công:
- Hạ thấp giá thành sản phẩm do đó có thể tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế về sản phẩm;
- Có thể điều chỉnh cơ cấu ngành nghề ở các nước sở tại chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển có thể qua phương thức Gia công Quốc tế chuyển một
số loại hình sản xuất nhiều lao động sang các nước phát triển
Đối với bên nhận gia công:
- Khắc phục được mâu thuẫn giữa thừa sức sản xuất nguyên vật liệu, tăng thu nhập ngoại tệ cho mình;
- Phát triển nguồn lao động, tăng thêm cơ hội tạo việc và làm kinh tế phát triển;
- Nếu đặt được nhiều đơn hàng giúp DN tăng lợi nhuận, giúp công nhân tăng thu nhập và nâng cao tay nghề làm việc do làm nhiều;
- Giúp thu hút các kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài, thúc đẩy kinh tế phát triển theo hướng Xuất khẩu
4 Các phương thức Gia công Quốc tế và phân tích các phương thức đó:
Phân theo quyền sở hữu nguyên liệu, Gia công Quốc tế có các hình thức sau:
- Bên đặt gia công giao nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công Trong thời gian này quyền sở hữu về nguyên vật liệu vẫn thuộc về bên gia công;
- Bên đặt gia công bán đứt nguyên vật liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất chế tạo sẽ mua lại thành phẩm, trong trường hợp này quyền sở hữu trí tuệ chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công và sau thời gian
Trang 4sản xuất chế tạo, sẽ mua lại thành phẩm Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công;
- Hoặc người ta có thể áp dụng hình thức kết hợp bên đặt gia công chỉ giao những nguyên liệu chính còn bên nhận gia công cung cấp nguyên vật liệu phụ
Phân theo giá cả gia công có hai hình thức:
- Hợp đồng thực chi thực thanh( Cost plus contract), trong đó bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với thù lao gia công;
- Hợp đồng khoán, trong đó người ta xác định một giá định mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức
Phân theo số bên tham gia quan hệ gia công, có hai loại gia công sau đây:
- Gia công hai bên trong đó chỉ có bên đặt gia công và bên nhận gia công;
- Gia công nhiều bên còn gọi là gia công chuyển tiếp, trong đó bên nhận gia công là một số DN mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia công của đơn vị sau còn bên đặt gia công vẫn chỉ có một
II Giới thiệu chung về tình hình xuất khẩu da giày ở Việt Nam:
1 Thực trạng hiện nay của ngành da giày Việt Nam:
Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu trên thị trường quốc tế hiện nay về da giày, riêng ở thị trường EU, Việt Nam xếp thứ hai sau Trung Quốc Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam có mức tăng trưởng trung bình hàng năm 16%, đứng thứ 3 sau ngành dệt may và dầu khí
Ngành da giày thế giới tiếp tục có xu hướng chuyển dịch sản xuất sang các nước đang phát triển, đặc biệt hướng vào các nước có môi trường đầu tư thuận lợi, chính trị ổn định và an toàn Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới, hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ, cùng với các chính sách thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu của Chính phủ, Việt Nam hiện nay đang trở thành trở thành một địa điểm đầu tư lý tưởng cho các nhà sản xuất da giày
Hiện nay, giày dép của Việt Nam đã có mặt trên hơn 50 nước trên khắp châu lục Thị trường xuất khẩu tiềm năng của nhóm mặt hàng này là các nước phát triển có sức mua lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Canada, Australia Bên cạnh đó, còn có thể khai thác các thị trường có sức mua không lớn nhưng chấp nhận hàng hoá phù hợp với năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Việt
Trang 5Nam như Indonesia, Malayxia, Trung Đông, Châu Phi, Nam Á, Nga, các nước Đông
Âu cũ…
Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải nhìn nhận thực tế rằng năng lực xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam trên thị trường xuất khẩu thế giới còn yếu do thiếu khả năng
tự thiết kế mẫu mã, tự đảm bảo vật tư nguyên liệu trong nước, quy mô sản xuất chưa
đủ lớn, điều kiện kinh tế và hạ tầng dịch vụ của Việt Nam còn nhiều hạn chế, giá thành chi phí sản xuất cao, ưu thế về nhân công lao động tuy vẫn là nhân tố cạnh tranh, nhưng không còn thuận lợi như trước đây Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế thì dù có đến 90% sản lượng xuất khẩu, nhưng lợi nhuận thu về từ ngành này chỉ đạt mức 25% giá trị gia tăng, vì ngành này chủ yếu vẫn “bán” sức lao động là chính
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển của ngành da giày: Gia tăng các luồng chuyển giao vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thúc đẩy giao lưu văn hoá, trí tuệ, củng cố và tăng cường các thể chế quốc tế, phát triển văn minh vật chất và tinh thần tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển thị trường quốc
tế Song, hội nhập cũng mang lại không ít khó khăn và thách thức Các doanh nghiệp sản xuất da giày Việt Nam đang gặp phải cạnh tranh gay gắt từ các thế lực kinh tế mạnh trong khu vực và quốc tế như Brazil, Trung Quốc và một số nước ASEAN
Theo Hiệp hội Da giày Việt Nam (Lefaso), từ đầu năm đến nay, kim ngạch xuất khẩu giày dép ước đạt 2.790,61 triệu USD, giảm 327 triệu USD so với cùng kỳ năm 2008, chỉ đạt 54,7% so với mục tiêu đặt ra 51 tỷ USD Sản lượng và cơ cấu sản phẩm đã có sự biến động khác biệt so với những năm trước như mặt hàng giày thể thao giảm mạnh, nhất là các loại giày nhãn hiệu Nike, Adidas…
Sau khi EU công bố, từ ngày 1/1/2009 loại mặt hàng da giày Việt Nam ra khỏi danh sách các nước được hưởng GSP (thuế quan ưu đãi dành cho những quốc gia nghèo), đã đặt các DN da giày Việt Nam vào tình thế khó khăn Ngành da giày Việt Nam cũng sẽ không tránh khỏi một cuộc điều tra mới, khi thời hạn áp thuế chống bán phá giá (CBPG) đối với mũ da Việt Nam (năm 2006) sẽ hết hạn vào tháng 10/2009 tới Với tình trạng này, có thể sẽ có một số đối tác nước ngoài di dời đơn hàng sang một số nước khác trong khu vực để tranh thủ lợi thế về GSP Điều này làm cho các
DN nhỏ sẽ giảm đơn hàng do khách hàng di dời đơn hàng sang các nước được hưởng GSP như Indonesia, Bangladesh…
Thêm nữa, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới có tác động sâu sắc đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành sản xuất da giày nói riêng Các nền kinh tế lớn
Trang 6như Mỹ, Châu Âu, và Nhật Bản đều chịu ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng này và
nó có tác động mạnh đến kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày Bởi, đây là những thị trường nhập khẩu hàng da giày chính của Việt Nam, nên theo ước tính của ngành này, trong năm 2009, nhu cầu sử dụng hàng da giầy ở các nước trên có khả năng giảm 15% Thị trường sẽ chật hẹp hơn nhiều, và các nhà sản xuất trong và ngoài nước cũng phải cạnh tranh gay gắt hơn
Các DN kinh doanh sản xuất da giày dự kiến năm 2009, kim ngạch xuất khẩu
da giày sẽ chỉ đạt ở mức xấp xỉ năm 2008 8 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu của ngành da giày nước ta đạt gần 2,8 tỷ USD, giảm 327 triệu USD so với cùng kỳ năm
2008, đạt 54% so với mục tiêu đề ra (5,1 tỷ USD) Mục tiêu của ngành da giày Việt Nam vào năm 2010 là sản xuất 720 triệu đôi giày dép các loại; 80,7 triệu chiếc cặp túi xách và 80 triệu sqft (1 sqft = 0,3048 m2) da thuộc thành phẩm
2 Cơ sở xây dựng chiến lược phát triển ngành da giày Việt Nam:
Như đã nói ở trên ngành da giày thế giới hiện nay đang có xu thế chuyển dịch sản xuất sang các nước đang phát triển, đặc biệt là hướng vào các nước có môi trường đầu tư thuận lợi, chế độ chính trị ổn định và an toàn Việt Nam là một nước như vậy, chúng ta có lợi thế ở chế độ chính trị ổn định, giá nhân công lao động lại tương đối rẻ Ngoài ra môi trường đầu tư tại Việt Nam hiện nay cũng đang hướng tới sự thông thoáng hợp lý nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là sau khi nước ta chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ với nhiều ưu đãi giúp cho việc giao lưu hàng hoá thông suốt, ít cản trở, tạo điều kiện cho ngành hàng da giày thâm nhập vào thị trường khu vực và thế giới
Có thể khẳng định, hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội cho ngành
da giày phát triển mà trước hết phải kể đến sự gia tăng các luồng chuyển giao vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, đội ngũ nhân công được đào tạo…
Cùng với đó là các chính sách thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu của Chính phủ nên trong những năm gần đây đã giúp ngành da giày có những bước tiến nhanh và mạnh
mẽ Trong đó, công tác đầu tư được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu Tính đến hết năm 2008, toàn ngành đã đầu tư 22 nghìn tỉ đồng, trong đó, 5 nghìn tỉ đồng đầu tư xây dựng và cải tạo nhà xưởng; 17 nghìn tỉ đầu tư mua sắm thiết bị, máy móc Đến thời điểm này, toàn ngành đã đầu tư trên 900 dây chuyền đồng bộ để sản xuất giày với máy móc thiết bị được nhập khẩu từ các nước có nên khoa học kỹ thuật, nhất là ngành công nghiệp da giày rất phát triển như Hàn Quốc, Đài Loan…
Trang 7Song song đó, công tác xúc tiến thương mại cũng đã được chú trọng Toàn ngành đã có những hoạt động tích cực nhằm tăng cường tuyên truyền và quảng bá hình ảnh của ngành da giày Việt Nam như một quốc gia sản xuất và xuất khẩu da giày tiềm năng, nâng cao năng lực hiểu biết về kiến thức pháp luật, thị trường, phòng ngừa các vụ kiện bán phá giá và vận dụng luật để đấu tranh trong các vụ tranh chấp thương mại Phương thức bán hàng tại các DN đã có nhiều đổi mới, hình thành nhiều mạng lưới bán buôn, bán lẻ, tham gia vào các kênh phân phối của các tập đoàn xuyên quốc gia, phát triển hình thức thương mại điện tử…
Không chỉ có vậy, ngành da giày là ngành sử dụng nhiều lao động xã hội, chính vì vậy, việc đào tạo, nang cao trình độ chuyên môn và tay nghề được ngành dành sự quan tâm dúng mức Tính đến hết năm 2008, toàn ngành có trên 650 nghìn lao động (chưa kể số lao động trong lĩnh vực nguyên phụ liệu và lao động tại các cơ
sở nhỏ, các hộ gia đình và làng nghề) chiếm 10,6% lực lượng lao động công nghiệp của cả nước và dự kiến sẽ còn tăng lên khoảng 820 nghìn người vào năm 2010 và 1,3 triệu vào năm 2020
Thị trường xuất khẩu của da giày Việt Nam ngày càng được mở rộng và ổn định Trong những năm vừa qua, giày dép Việt Nam xuất khẩu vào EU tăng trưởng nhanh về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu Hết năm 2008, EU là thị trường lớn nhất tiêu thụ giày dép của Việt Nam với doanh thu trên 2,484 tỉ USD, và chiếm 52,32% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam. Sau EU là thị trường
Mỹ, tại thị trường này, Việt Nam đã vượt qua Italia để trở thành nhà cung cấp lớn thứ
tư sau Trung Quốc, Brazil, Indonesia Trong năm 2008, xuất khẩu vào Mỹ đạt trên 1,075 tỉ USD Ngoài ra, giày dép Việt Nam còn được XK sang nhiều quốc gia trên thế giới
Tại thị trường các nước Đông Á - khu vực thị trường có những phong tục tập quán tương đối giống Việt Nam, cùng nằm ở khu vực châu Á - các sản phẩm chủ yếu xuất khẩu từ Việt Nam sang các thị trường này là giày thể thao, da giày nam nữ, dép
đi trong nhà Năm 2008, xuất khẩu vào Nhật Bản đạt trên 137 triệu USD, hay Hồng Kong đạt trên 50,2 triệu USD
Tại thị trường trong nước, với dân số trên 80 triệu dân, vốn được xem là thị trường đầy tiềm năng, cũng đã được ngàng da giày quan tâm và coi đây là cơ hội để ngành phát triển theo hướng xuất khẩu trực tiếp ngay trên sân nhà
Để tháo đạt được các mục tiêu để ra cho giai đoạn 2011 – 2015 với chỉ tiêu đạt trên 9,8 tỉ USD kim ngạch xuất khẩu vào năm 2015, ngành da giày Việt Nam xác định
Trang 8sẽ tiếp tục đầu tư phát triển ngành gắn liền với hợp tác quốc tế, tranh thủ tối đa sự dịch chuyển sản xuất từ các nước trên thế giới và trong khu vực Đồng thời khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư Cùng với đó, ngành sẽ tập trung đầu tư cho khâu sản xuất nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và thông qua các mối liên kết với các DN trong và ngoài nước, xây dựng các dự án đầu tư sản xuất giả da, da nhân tạo
Về chính sách thị trường, ngành xác định tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu và coi đây là một trong những nhân tố quyết định sự tăng trưởng của ngành
Trong những nỗ lực đó, rất cần có vai trò hỗ trợ tích cực và hiệu quả của Nhà nước giúp các DN và Hiệp hội nâng cao năng lực đầu tư, mở rộng sản xuất, phát triển thị trường, đào tạo nguồn nhân lực…
III Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng da giầy ở Việt Nam giai đoạn
2008-2010:
1 Khối lượng kim ngạch xuất khẩu hàng da giầy:
Năm 2008 và những tháng đầu của năm 2009 là khoảng thời gian mà các mặt hàng xuất nhập khẩu nói chung và ngành da giầy của Việt Nam nói riêng gặp rất nhiều khó khăn Do cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của hầu hết các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, thu nhập của người dân giảm suốt do vậy mức tiêu dùng trên thế giới giảm mạnh
Điều này làm ảnh hưởng làm ảnh hưởng tiêu cực đến kim ngạch xuất nhập khẩu của ngàng da giầy Việt nam Theo tin từ Hiệp hội Da giầy Việt Nam kim ngạch xuất khẩu da giầy của nước ta giảm 8,8% trong 6 tháng đầu năm Xét trong tổng thể kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giảm 8,8% nhưng có những thị trường ngành da giầy Việt Nam khai thác rất tốt ví như thị trường pháp mặc dù kim ngạch xuất khẩu da giầy của nước ta giảm 8,8% trong 6 tháng đầu năm song xuất khẩu mặt hàng này sang Pháp lại đạt mức tăng 1,6% , đạt kim ngạch 274 triệu USD Riêng hàng giả da lại là mặt hàng có tốc độ giảm mạnh hơn cả , hàng giả da giảm 37,4% so với cùng kỳ năm
2007 và thị trường giảm mạnh nhất là thị trường EU và Mỹ và hai thu trường này được dự báo là sẽ con gặp nhiều khó khăn do Các nhà sản xuất da giầy châu Âu đang tập hợp thông tin để đưa ra một cuộc “phản công” đối với các doanh nghiệp sản xuất
Trang 9giầy từ Việt Nam và Trung Quốc Khả năng về một cuộc điều tra chống phá giá là khó tránh khỏi đối với các doanh nghiệp sản xuất da giầy của Việt Nam
Theo phân tích của Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công Thương có hai khả năng xảy
ra nếu yêu cầu rà soát chống bán phá giá của các nhà sản xuất da giầy châu Âu được
Ủy ban Châu Âu (EC) chấp nhận: Có thể EC sẽ tiếp tục kéo dài việc áp thuế chống bán phá giá hiện hành nhưng cũng có khả năng mức thuế chống bán phá giá mới có thể tăng hoặc giảm so với mức hiện nay (Mức áp thuế chống bán phá giá hiện tại đối với Việt Nam là 10%) Việc EU công bố từ ngày 1/1/2009 chính thức loại da giầy Việt Nam ra khỏi các nước được hưởng ưu đãi thuế quan (GSP) đã đặt các doanh nghiệp da giầy Việt Nam vào tình thế khó khăn và hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu giầy da lại tiếp tục đứng trước thử thách về chống bán phá giá Để chuẩn bị vượt qua rào cản này, các doanh nghiệp sản xuất giầy hãy chuẩn bị ngay từ bây giờ mọi thông tin cần thiết cho cuộc điều tra chống bán phá giá Đặc biệt là các tiêu chí về quy chế đối xử kinh tế thị trường (MET), trong đó các tiêu chí về đánh giá quyền tự chủ sản xuất kinh doanh và sổ sách kế toán phù hợp với tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế cần phải được xem xét một cách cẩn trọng vì đây là những rào cản chính để EC công nhận doanh nghiệp đủ điều kiện hưởng MET
Nhưng được sự hỗ trợ kịp thời từ chủ trương kích cầu của Chính phủ cùng với nỗ lực linh hoạt của cộng đồng doanh nghiệp ngành kinh tế xuất khẩu quan trọng này của Việt Nam đã vượt qua được những tác động tiêu cực do cuộc khủng hoảng kinh tế mang lại Mục tiêu đạt 4,4 tỉ USD kim ngạch XK đã trong tầm tay, ngành da giầy sẽ giành vị trí thứ ba về kim ngạch XK và giữ ổn định việc làm cho hơn 600.000 lao động
Hiệp hội da giầy Việt Nam (Lefaso) đã vạch kế hoạch sản xuất với tham vọng sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 6,2 tỉ đô la Mỹ vào năm 2010 (tăng hơn 30% so với 2008) Theo kế hoạch, mục tiêu sẽ là chuyển đổi từ phương thức gia công sang sản xuất toàn diện, tập trung vào sản xuất giày thời trang và chất liệu da
Các doanh nghiệp da giầy sẽ phải chuyển đổi quá trình sản xuất gồm 2 giai đoạn Một là chuyển đổi từ mô hình gia công sang phương thức sản xuất một phần, hai là chuyển đổi sang mô hình sản xuất toàn bộ
Ngành da giầy sẽ phải chuẩn bị cho kế hoạch đào tạo để tăng lao động trong ngành từ mức trên 550.000 người lên tới 820.000 người vào năm 2010 và đạt mục tiêu thu dụng 1.189.000 người vào năm 2015
Trang 10Việt Nam xác định da giầy là một trong những ngành mục tiêu trong chiến lược xuất khẩu quốc gia giai đoạn 2006 - 2010 Từ 2002 - 2008, ngành da giầy tăng trưởng xuất khẩu bình quân 23%/năm với kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt hơn 4,7 tỉ đô la
Mỹ, chiếm 8% tổng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế Đây là ngành trọng tâm tạo việc làm cho một lượng lớn lao động phổ thông và bán chuyên nghiệp
Theo thống kê của Lefaso, Việt Nam có 507 doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép, cặp túi xách và nguyên phụ liệu ngành giầy (năm 2007) Bên cạnh đó còn có rất nhiều
sở sản xuất nhỏ lẻ, hộ gia đình
2 Các yếu tố gây ảnh hưởng đến biến động giá cả hàng da giầy xuất khẩu:
a Thuế quan (thuế nhập khẩu):
Thuế quan(thuế nhập khẩu) ảnh hưởng mạnh đến giá cả hàng da giầy xuất khẩu nếu Việt Nam không được hưởng ưu đãi về thuế quan tại thị trường EU điều này anh hưởng đến lợi thế cạnh tranh về giá của sản phẩm da giày VN sẽ suy giảm so với các nước khác trong khu vực Bình quân mỗi đôi giày xuất khẩu phải tăng thêm thuế nhập khẩu vào EU từ 3,5-5%
b Biến động về tỷ giá hối đoái:
So với cuối năm 2007, tỷ giá USD/VND đã tăng khoảng 9%, vượt xa mức thay đổi quanh 1% những năm gần đây, trong khi đồng USD vẫn chiếm tỷ trọng chi phối trong thanh toán quốc tế (khoảng 70%)
Mức tăng vượt trội này đẩy chi phí nhập khẩu, chi phí sản xuất kinh doanh của những ngành hàng có đầu vào lớn từ nguyên liệu nhập khẩu, chi phí vay nợ ngoại tệ tăng cao Đây cũng là năm nổi bật khi trong báo cáo tài chính của nhiều doanh nghiệp chi phí của tỷ giá tăng đột biến
Biến động khó lường của tỷ giá còn thể hiện ở sự trái chiều trong nửa đầu năm
2008 (giảm mạnh những tháng đầu năm, tăng đột biến ngay sau đó), gây xáo trộn kế hoạch sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp biến động về tỷ giá hối đoái ảnh hưởng rất lớn đến giá cả da giầy xuất khẩu chẳng hạn tại thời điểm năm 2008 do lạm phát ỏ nước ta tăng cao dẫn đến giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao nếu như mình
kí hợp đồng với các đối tác như mĩ có thể mình bị mất 1 khoảng lớn về chi phí điều này dẫn đến giá có biến động mạnh mẽ