Khái niệm của gia công quốc tế ● Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia côngsửa dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI: Phân tích phương thức gia công quốc tế Nhận xét hoạt động
gia công quốc tế hàng dệt may Việt Nam.
Giáo viên hướng dẫn: Doãn Nguyên Minh
Trang 210 Nguyễn Thị Thùy Dung Mục 2 phần II 9
Trang 3A Mở đầu
Ngành dệt may là một trong những ngành có truyền thống lâu đời tại Việt Nam Nó đóngvai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của nước ta bởi đây là một ngành phục vụ nhu cầuthiết yêu của con người, giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội Xu thế toàn cầu hóa
có tác động đến tất cả các nước đặc biệt là các nước đang phát triển, điều đó dẫn đến sựliên kết,phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước các ngày càng chặt chẽ Trong xu thế đó, cácdoanh nghiệp dệt may Việt Nam với quy mô vừa và nhỏ và khả năng hạn chế về tài chính,trình độ tay nghề của người lao động, trình độ quản lý, uy tín lao động, đã gặp không ítkhó khăn trong công cuộc cạnh tranh với các tập đoàn dệt may lớn trên thế giới Dệt mayViệt Nam đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu ngành dệt maynhưng mới chỉ dừng lại ở khâu gia công, đặt mình vào vị trí đáy của chuỗi giá trị toàncầu Chính vì vậy, mặc dù dệt may Việt Nam đã thâm nhập được vào nhiều thị trường trênthế giới nhưng giá trị lại rất thấp
Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ có định hướng hương thức gia gì trong tương lai?Tiếp tục xuất khẩu hàng gia công quốc tế hay cần tìm con đường mới để thoạt khỏi kiếpgia công lâu nay?
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề gia công quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam, nhóm 2chúng em xin lựa chọn đề tài: ‘ Phân tích phương thức gia công quốc tế Nhận xét hoạtđộng gia công quốc tế hàng dệt may Việt Nam.”
Trang 4B Nội dung
I Phân tích phương thức gia công quốc tế
1 Khái niệm của gia công quốc tế
● Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia côngsửa dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiệnmột hay nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công đểhưởng thù lao
● Gia công quốc tế là hình thức gia công thương mại mà bên đặt gia công hoặc bênnhận gia công là thương nhân nước ngoài
0 Đặc điểm của gia công quốc tế
● Gia công quốc tế là một phương thức ủy thác gia công Trong đó, hoạt động XNK gắnliền với hoạt động sản xuất
● Trong quá trình gia công, người nhận gia công trong nước bỏ ra lao động, tiền chi phí giacông là thù lao lao động Do đó, có thể nói gia công quốc tế là một hình thức mậu dịch laođộng, một hình thức XK lao động tại chỗ qua hàng hóa
● Gia công quốc tế là một phương thức buôn bán, gia công “hai đầu ở ngoài”, nghĩa là thịtrường nước ngoài là nơi cung cấp nguyên vật liệu, đồng thời cũng là thị trường tiêu thụsản phẩm đó
Song, ở đây cần lưu ý, nghiệp vụ GCQT khác với nghiệp vụ NK nguyên liệu để gia công
và XK thành phẩm ‘muôn đứt bán đoạn’ Tuy nó cùng thuộc về phương thức buôn bán giacông ‘hai đầu ở ngoài’ nhưng nó có điểm khác biệt rõ rệt với GCQT ở chỗ:
● Thứ nhất, trong NK nguyên liệu gia công và XK thành phẩm thì NK nguyên liệu và XKthành phẩm là hai giao dịch khác nhau, đều có xảy ra chuyển dịch quyền sở hữu, ngườicung ứng nguyên liệu và người mua thành phẩm không có liên hệ chắc chắn nào Trongnghiệp vụ GCQT, nhập nguyên liệu và xuất thành phẩm đi không có chuyển dịch quyền
sở hữu, hoặc nếu có chuyển dịch quyền sở hữu trong nhập nguyên liệu nhưng chúng đềuthuộc một cuộc giao dịch, các việc có liên quan đều được quy định trong cùng một hợp
Trang 5đồng Vì nghiệp vụ GCQT thuộc về ủy thác gia công, do đó, người cung ứng nguyên liệulại chính là người tiếp nhận thành phẩm.
● Thứ hai, trong nghiệp vụ NK nguyên liệu giá công và XK thành phẩm, nhà máy trongnước mua từ nước ngoài nguyên liệu, gia công thành thành phẩm, làm tăng giá trị, sau đóbán ra thị trường nước ngoài, kiếm giá trị chênh lệch từ nguyên liệu đến thành phẩm, nhàmáy trong nước phải chịu những rủi ro khi tiêu thụ ở thị trường Trong nghiệp vụ GCQT,
vì thành phẩm gia o cho hãng nước ngoài tự tiêu thụ, nhà máy trong nước không phảichịu rủi ro, nhưng phần nhận được cũng chỉ là thù lao sức lao động còn giá trị tăng thêmlớn như thế nào thì không cần biết, do đó, lợi nhuận thu được của nghiệp vụ GCQTthường thấp hơn nhiều NK nguyên liệu gia công
Nên, phấn đấu để tăng dần tỷ lệ “mua đứt bán đoạn” nên thay thế gia công thuần túy đang
là mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp đang thực hiện phương thức GCQT tại cácnước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
0 Tác dụng của gia công quốc tế
Áp dụng phương thức giao dịch GCQT đều có tác dụng tích cực đối với cả bên đặt giacông cũng như bên nhận gia công, nên GCQT ngày nay khá phổ biến trong TMQT củanhiều nước
3.1 Tác dụng đối với bên đặt gia công
● Hạ thấp giá thành sản phẩm, do đó có thể tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc
tế của sản phẩm
● Có thể điều chỉnh cơ cấu ngành nghề ở nước sở tại Đây chủ yếu là chỉ một sốnước công nghiệp phát triển, có thể thông qua phương thức GCQT, chuyển một số loạihình sản xuất dùng nhiều lao động sang các nước đang phát triển
3.2 Tác dụng đối với bên nhận gia công
● Khắc phục được mâu thuẫn giữa thừa sức sản xuất mà thiếu nguyên liệu của nướcmình, tăng thu nhập ngoại lệ cho nước mình
● Phát triển nguồn lao động, tăng thêm cơ hội tạo việc làm và làm kinh tế phát triển
● Giúp thu hút các kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài, thúcđẩy kinh tế hướng XK phát triển
Trang 6Các nước công nghiệp mới Châu Á (NICS) trong thời kỳ đầu của sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa, đất nước cũng thương bắt đầu từ gia công quốc tế Điều đó giúp choViệt Nam nhiều bài học kinh nghiệm quý báu khi vận dụng phương thức gia công quốc tếtrong tiến hành sự nghiệp CNH-HĐH đất nước hiện nay, tuy nhiên hoạt động gia cônghiệu quả xuất khẩu thấp Để nâng cao hiệu quả xuất khẩu cần tham gia vào chuỗi giá trịtoàn cầu, thực hiện nhiều khâu trong chuỗi giá trị toàn cầu như khâu cung cấp nguyên vậtliệu, nghiên cứu thị trường, thiết kế sản xuất, phân phối sản xuất, chuyển dần hoạt độnggia công sang xuất khẩu trực tiếp.
4 Các loại hình gia công quốc tế.
Phân theo quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế có các hình thức sau đây:
● Hình thức giao nguyên vật liệu và nhận thành phẩm: Bên đặt gia công giao nguyênliệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thuhồi thành phẩm và trả phí gia công Trong trường hợp này, trong thời gian chế tạo, quyền
sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công; sẽ không có sự chuyển giao vềquyền sở hữu nguyên vật liệu
● Hình thức mua nguyên liệu bán thành phẩm: Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệucho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất chế tạo, sẽ mua lại thành phẩm Trongtrường hợp này, quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận giacông Hình thức này thường áp dụng khi bên nhận gia công có trình độ quản lí cao và hệthống hạch toán giá thành và chi phí chính xác
● Ngoài ra, người ta còn có thể áp dụng một hình thức kết hợp, trong đó bên đặt giacông chỉ giao những nguyên liệu chính, còn bên nhận gia công cung cấp nguyên vật liệuphụ
Phân theo giá cả gia công, có hai hình thức sau:
● Hình thức thực thanh thực chi: Theo giá thực tế (Cost plus contract), trong đó bênnhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mìnhcộng với tiền thù lao gia công
Trang 7● Hình thức gia công khoán: Theo giá thị trường (giá khoán), trong đó người ta xácđịnh một giá định mức (Target price) cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thùlao định mức Dù chi phí thực tế của bên nhận gia công là bao nhiêu đi nữa, hai bên vẫnthanh toán với nhau theo giá định mức đó.
Phân theo số bên tham gia quan hệ gia công, có hai loại gia công sau đây:
● Gia công hai bên, trong đó chỉ có bên đặt gia công và bên nhận gia công
● Gia công nhiều bên, còn gọi là gia công chuyển tiếp, trong đó bên nhận gia công làmột số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia công củađơn vị sau, còn bên đặt gia công vẫn chỉ là một
5 Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng.
Gia công quốc tế là một phương thức TMQT mà các nước đang phát triển trong thời kỳcông nghiệp hóa hiện đại hóa hay áp dụng, nhằm tận dụng những lợi ích do phương thứcgiao dịch này mang lại Song, khi áp dụng nó cần lưu ý các vấn đề sau:
● Thực tiễn, nghiệp vụ GCQT là một biện pháp tăng thu nhập ngoại tệ, nhưng so vớibuôn bán XK, nó vẫn xếp vào vị trí thứ yếu Do đó, khi triển khai nghiệp vụ này, phải cóquan điểm toàn cục, chú ý xử lý tốt mối quan hệ với XK thông thường Những nghiệp vụ
có tính chất tranh khách hàng, tranh thị trường với buôn bán XK cần tránh xảy ra
● Xác định hợp lý chi phí lao động: Cần tăng cường hạch toán kinh tế, chú ý tới hiệuquả kinh tế Với nước có giá thành gia công thấp hơn nước ngoài, khi quyết định mức chiphí lao động, không những phải xem xét xem có hợp lý hay không, đồng thời phải thamkhảo mức chi phí lao động của thị trường nước ngoài để hạch toán, cân nhắc hiệu quả, đểcho tiêu chuẩn chi phí của mình vừa có sức cạnh tranh, lại thu về nhiều ngoại tệ cho nướcmình, tránh sự cạnh tranh với các đơn vị gia công khác trong nước, tự ý hạ thấp mức chiphí lao động
● Dần dần mở rộng tỷ trọng sử dụng nguyên liệu, linh kiện nước mình sản xuất: ởnhững khu vực hoặc đơn vị có điều kiện, cần cố gắng sử dụng nhiều nguyên vật liệu hoặclinh kiện do nước mình sản xuất, tranh thủ nâng cao tỷ trọng ở mặt này, dần dần quá độsang tự kinh doanh XK
Trang 8● Nâng cao năng lực của doanh nghiệp: Bên nhận gia công thường là bên yếu kém
về nhiều mặt như vốn, công nghệ, kĩ thuật, Vì vậy Cần nỗ lực nâng cao năng lực củadoanh nghiệp về mọi mặt Không ngừng nâng cao năng suất lao động, tăng khả năng cạnhtranh về mặt chất lượng Những đơn vị có điều kiện cần có kế hoạch dần dần nâng caotrình độ kỹ thuật của nghiệp vụ gia công Từ gia công nhiều sức lao động quá độ sang giacông tập trung kỹ thuật, tập trung vốn
● Mâu thuẫn văn hóa trong việc sử dụng lao động quốc tế: Thông thường, bên đặt giacông luôn muốn khai thác triệt để lao động nên áp dụng những phương pháp quản lý, chế
độ đãi ngộ mới khiến lao động bên gia công khó thích ứng Cần tìm hiểu kỹ văn hóa củađối phương để tránh những mâu thuẫn văn hóa trong công tác quản lý
.Hoạt động gia công quốc tế của ngành dệt may
1 Lịch sử phát triển của ngành dệt may
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ngành dệt may
Nguyên liệu dệt may đầu tiên của con người là sợi lanh Sau đó sợi len xuất hiện ở vùngLưỡng Hà Tơ tằm được tình cờ phát hiện vào năm 2640 trước Công nguyên, vị hoàng đếđầu tiên của Trung Quốc, khuyến khích dân chúng trồng dâu nuôi tằm, tơ lụa trở thànhmột ngành phồn thịnh, hàng hoá đầu tiên trao đổi giữa Đông và Tây
Đến giữa thế kỷ XVIII, với cuộc cách mạng kỹ nghệ bên Anh và sự ra đời của các máydệt cơ khí hoá, chạy bằng hơi nước, ngành dệt mới thật sự ra khỏi sản xuất thủ công để trởthành một kỹ nghệ
Máy may, ra đời năm 1846, đã đẩy mạnh tốc độ và sản lượng của ngành may mặc lên mộttầm cao hoàn toàn mới Những 1900s-1950s, nhà máy công nghiệp bắt đầu xuất hiện, đẩynhanh tiến độ phát triển của ngành
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển ngành dệt may Việt Nam
Ngành dệt may Việt Nam được coi là bắt đầu khi thành lập nhà máy dệt Nam Định năm1897
Thời kỳ trước năm 1975:
Trang 9Ở miền Nam, các doanh nghiệp được thành lập và sử dụng máy móc Châu Âu Miền Bắc,doanh Trung Quốc, Liên Bang Xô Viết cũ và Đông Âu cung cấp thiết bị máy móc cũngđược thành lập trong giai đoạn này.
1954: miền Bắc dành độc lập, nhà máy dệt Nam Định và nhà máy dệt lụa Nam Định đượckhôi phục và tái thiết, có thêm một số nhà máy mới được xây dựng
Thời kì từ năm 1975 đến năm 1985: Nền kinh tế nước ta hoạt động theo cơ chế tập trung
bao cấp, xuất cung ứng theo chỉ tiêu của Nhà nước
T4/1975, sau khi 2 miền thống nhất: chính phủ đã tiếp quản một loạt các nhà máy ở MiềnNam (Dệt Thắng Lơi, Việt Thắng, Phong Phú, Thành Công Doanh nghiệp dệt may nhanhchóng phát triển để cung cấp hàng hóa cho thị trường trong nước)
1976: Bắt đầu xuất khẩu sang các nước thuộc khối kinh tế Đông Âu Xuất khẩu sang Liên
Xô cũ với hình thức hợp đồng phụ: nhận bông và chuyển trả lại thành phẩm
1979: Việt Nam mở rộng loại hình hợp tác này sang Hungary, Tiệp Khắc, Đông Đức
Thời kì từ năm 1985 đến 1986: VN ký thỏa thuận hợp đồng phụ với khối lượng lớn: VN
gia công dựa trên nguyên liệu, mẫu thiết kế Liên Xô cung cấp, chuyển lại sản phẩm ởquần áo may sẵn và nhận hàng tiêu dùng
Thời kì từ năm 1987-1990: Ngành có bước phát triển rõ rệt Doanh nghiệp may mặc được
thành lập mới trong cả nước thu hút nhiều lao động và đóng góp đáng kể vào ngân sách
Thời kỳ từ năm 1990-1992: Đến cuối năm 1990, khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa
bị tan rã, nước ta rơi vào thế hoàn toàn cô lập so với nhiều nước lớn mạnh khác, thịtrường xuất khẩu bị ảnh hưởng mạnh mẽ Nhiều xí nghiệp bị đóng cửa, ngành dệt maycũng không thoát khỏi tình trạng này Công nghiệp dệt may đã phát triển nhanh chóng vàđóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Năm 2006: Xuất khẩu dệt may 5.8 tỷ USD và trở thành ngành xuất khẩu có doanh thu lớn
thứ 2 sau dầu thô
Trang 102 Vai trò của ngành dệt may trong nền kinh tế Việt Nam
Thứ nhất, ngành dệt may góp phần quan trọng trong việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế từ
nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đẩynhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Trước tiên là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng ởmột số vùng trồng nguyên liệu phục vụ cho dệt may như đay, bông, tằm…Sau đó là tácđộng đến việc phát triển ngành nghề sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành dệt may Ngànhdệt may cũng thúc đẩy các ngành sản xuất khác phát triển như: điện, nhà máy, hóa chất,
cơ khí,… hoặc ngành dịch vụ như logistics, viễn thông,…
Thứ hai, giảm tình trạng thất nghiệp Dệt may có đặc điểm là ngành thâm dụng lao động,
đòi hỏi trình độ kỹ thuật không quá cao nên có thể góp phần giảm đáng kể tỷ lệ thấtnghiệp Tính hết năm 2018, ngành dệt may tạo việc làm cho 3.5 triệu lao động, chiếm25% tổng số lao động trong các ngành công nghiệp
Thứ ba, Dệt may giúp thúc đẩy xuất khẩu Trong tất cả các mặt hàng công nghiệp xuất
khẩu hiện nay, dệt may là ngành có kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng cao Kimngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2018 đạt trên 36 tỷ USD, tăng trưởng hơn 16% so vớinăm 2017, chiếm 14% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Vượt lên đứng thứ 3 nướcxuất khẩu cao nhất thế giới chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ và đứng thứ tư về quy mô sảnxuất hàng dệt may toàn cầu Sau hơn mười năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam tăng lên hơn bốn lần, trong đó giátrị nội địa hóa của sản phẩm dệt may xuất khẩu tăng trên sáu lần
Thứ tư, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo số liệu từ Bộ Công Thương, tính
đến giữa năm 2012 có gần 1.390 dự án FDI đầu tư với số vốn đăng ký 6,12 tỷ USD vàolĩnh vực dệt may Cao điểm trong thu hút FDI vào dệt may là giai đoạn 2014-2015 Chỉtính riêng năm 2014, làn sóng dịch chuyển đầu tư dệt may để đón đầu các hiệp địnhthương mại lớn mà Việt Nam tham gia đã khiến 83 dự án FDI mới đổ vào Việt Nam với
số vốn đăng ký 1.64 tỷ USD, với 11 dự án sợi, 14 dự án dệt và 58 dự án may; đưa nănglực sản xuất tăng thêm khoảng 20%
Trang 11Khi các doanh nghiệp FDI ồ ạt đầu tư vào Việt Nam, đương nhiên họ muốn hưởng lợi thếcùng với Việt Nam từ các FTA, mà nhất là TPP Về phía Việt Nam, chúng ta cũng đượchưởng lợi từ các doanh nghiệp FDI, do người lao động của chúng ta có việc làm, thu hútnhững doanh nghiệp vệ tinh của địa phương cung ứng dịch vụ, v.v… tạo ra những nềntảng mới cho sự chuyển dịch cơ cấu và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Vàsau hết, doanh nghiệp dệt may của ta có thể học tập kinh nghiệm, công nghệ tiên tiến của
họ, trở nên năng động hơn, nỗ lực hơn để có thể dần thay thế FDI trong các khâudệt-nhuộm, thiết kế, thị trường để hưởng giá trị gia tăng cao hơn
3 Lý giải gia công quốc tế ngành dệt may là điều cần thiết
Việt Nam là một đất nước có nguồn lao động dồi dào, nếu biết cách khai thác thì đâychính là lợi thế lớn để thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Với một nền công nghệ kỹ thuật tương đối lạc hậu thì bên cạnh việc đầu tư phát triển cácngành công nghiệp mũi nhọn hiện đại thì việc quan tâm đúng mức đầu tư phát triển cácngành công nghiệp là rất cần thiết Nó cho phép khai thác triệt để các lợi thế so sánh củađất nước và thu hút nguồn công nghệ kỹ thuật tiên tiến của đất nước Đa số các mặt hànghóa của Việt Nam nói chung và một số mặt hàng của ngành dệt may nói riêng có nhãnhiệu thương mại, được người dân trên thế giới ưa chuộng không phải nhiều nên cùng vớiviệc mở rộng quan hệ quốc tế và tạo điều kiện cho hàng hóa thâm nhập vào thị trườngnước ngoài thì việc gia công quốc tế của ngành dệt may là hết sức cần thiết
Mặt khác, tuy số lượng lao động cao nhưng tỷ lệ lao động có kỹ thuật tay nghề lại rấtthấp Do đó, vấn đề đặt ra là phải đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều lao động và khôngđòi hỏi chất lượng lao động quá cao Gia công hàng dệt may có thể đáp ứng được yêu cầunày
4 Thực trạng gia công quốc tế của ngành dệt may của nước ta hiện nay
Hoạt động gia công quốc tế của ngành dệt may hiện nay có những đặc điểm sau: Hầu hếtcác hợp đồng gia công được ký theo hình thức đơn giản là nhận nguyên vật liệu và giaolại thành phẩm Và phần lớn các hợp đồng nguyên vật liệu phụ cũng do bên đặt gia côngcung cấp Chúng ta ít có cơ hội được sử dụng nguyên vật liệu của chính mình Chúng ta
Trang 12vẫn thường thực hiện giao thành phẩm theo điều kiện FOB và nhận nguyên vật liệu theođiều kiện CIF cảng Việt Nam.
Các quốc gia đặt gia công quốc tế ở Việt Nam chủ yếu là các quốc gia phát triển, họ coi Việt Namnhư một công xưởng khổng lồ sản xuất hàng đẹt may cho họ trong đó bao gồm các quốc gia như:
Mĩ, các quốc gia khối EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, ÚC Việc ký kết hợp đồng với một số công
ty ở EU vẫn phải qua trung gian.Đặc biệt, đối với hoạt động gia công hàng dệt may, HànQuốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hong Kong (TrungQuốc) là các đối tác chính với 3,5 tỷ USD phí gia công, chiếm 85% tổng phí gia công thuđược từ ngành này; trong đó, các thương nhân đến từ Hàn Quốc đặt thuê gia công nhiềunhất với phí gia công Việt Nam thu được gần bằng các đối tác còn lại với gần 2 tỷ USD,chiếm tới 48,1% số tiền thu được từ gia công hàng dệt may; tiếp đến là Đài Loan, Hoa
Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hong Kong
Sản phẩm được đặt may gia công rất đa dạng:
- Quần áo được phân theo mùa: quần áo mùa đông, quần áo mùa hè, quần áo bảo hộ
- Quần áo được phân theo chức năng: quần áo công sở, quần áo thể thao, quần áo mặc ởnhà
- Các sản phẩm khác như: khăn mặt, gang tay, khẩu trang
+ Các nước nhận đặt gia công nhiều các mặt hàng dệt kim, đồ thể thao, quần dài & quầnshort, đồ lót, áo thun, áo Jacket… trong đó nhập khẩu đồ thể thao tăng mạnh Trong giaiđoạn từ 2013 - 2018, nhập khẩu đồ thể thao tăng trung bình 10,34% mỗi năm, trong khicác chủng loại hàng may mặc khác tăng 4% đến 9,6% mỗi năm Tăng trưởng nhập khẩu
đồ thể thao được thúc đẩy bởi chức năng của nó và xu hướng ngày càng tăng của ngườichâu Âu tham gia thể thao vì lý do sức khỏe
+ Nhu cầu về hàng may mặc bền vững tại châu Âu tăng Bên cạnh đó, các loại sản phẩmkhác đang nổi lên ở EU bao gồm quần áo thông minh Do đó Gia Công TẠi Việt Nam đã
có những thay đổi Các loại bao gồm các sản phẩm công nghệ có thể được đeo trên cơthể, như là một phụ kiện hoặc là một phần của vật liệu được sử dụng trong quần áo Ví dụ
về công nghệ thiết bị đeo bao gồm các dải theo dõi tập thể dục, như Fitbit, Runtastic, Mio
và Misfit; áo ngực thể thao thông minh; đồng hồ thông minh, như Apple Watch; kínhthông minh, như Google Glass và SmartEyeGlass của Sony; thiết bị đeo cho vật nuôi và
Trang 13áo khoác ngoài, chẳng hạn như áo khoác có đèn LED tích hợp Theo số liệu thống kê, 11tháng năm 2019, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường EUđạt 3,9 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2018 Trong đó, kim ngạch xuất khẩu cácmặt hàng như áo sơ mi, đồ lót, găng tay, quần áo bơi, quần áo Vest… sang thị trường nàytăng mạnh, trong khi xuất khẩu các mặt hàng quần và áo thun tăng thấp thì xuất khẩu áoJacket lại giảm.
+ Trong năm 2019, xuất khẩu sang các thị trường thành viên như Hà Lan, Bỉ, Italia tăngcao thì xuất khẩu sang Đức, Anh, Ba Lan tăng chậm và giảm xuất khẩu sang Tây BanNha
5 Một số vấn đề cần nắm rõ trong hoạt động gia công quốc tế của ngành dệt may
5.1 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong gia công quốc tế
● Quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công
- Giao một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu gia công theo đúng hợp đồng giacông hoặc giao tiền để mua vật liệu theo số lượng, chất lượng và mức giá thỏa thuận
- Nhận lại toàn bộ tài sản gia công, máy móc, thiết bị cho thuê hoặc cho mượn, nguyênliệu, phụ liệu, vật tư, phế liệu sau khi thanh lý hợp đồng gia công, trừ trường hợp có thỏathuận khác
- Cử người đại diện để kiểm tra, giám sát việc gia công tại nơi nhận gia công, cử chuyêngia để hướng dẫn kỹ thuật, sản xuất và kiểm tra chất lượng sản phẩm gia công theo thoảthuận trong hợp đồng gia công
Trang 14- Chịu trách nhiệm về tính hợp pháp về quyền sở hữu trí tuệ của hang hoá gia công,nguyên liệu, vật liệu, máy móc, thiết bị dùng để gia công chuyển cho bên nhận gia công.
● Quyền và nghĩa vụ của bên nhận gia công
- Cung ứng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu để gia công theo thoả thuận vớibên đặt gia công về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và giá
- Nhận thù lao gia công và các chi phí hợp lý khác
+ Trường hợp nhận gia công cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, bên nhận gia công đượcxuất khẩu tại chỗ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị thuê hoặc mượn, nguyên liệu, phụliệu, vật tư dư thừa, phế phẩm, phế liệu theo uỷ quyền của bên đặt gia công
+ Trường hợp nhận gia công cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, bên nhận gia công đượcmiễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, nguyên liệu, phụ liệu vật tư tạm nhậpkhẩu theo định mức để thực hiện hợp đồng gia công theo quy định của pháp luật về thuế + Chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hoạt động gia công hàng hoá trong trường hợphàng hoá gia công thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu
5.2 Hợp đồng gia công quốc tế
- Hợp đồng gia công quốc tế phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giátrị pháp lý tương đương và có thể bao gồm các điều khoản sau:
+ Tên, địa chỉ của các bên ký hợp đồng và bên gia công trực tiếp;
+ Tên, số lượng sản phẩm gia công;
+ Giá gia công;
+ Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán;
+ Danh mục, số lượng, trị giá nguyên liệu, phụ liệu, vật tư nhập khẩu và nguyên liệu, phụliệu, vật tư sản xuất trong nước (nếu có) để gia công; định mức vật tư tiêu hao và tỷ lệ haohụt nguyên liệu trong gia công;
+ Danh mục và trị giá máy móc thiết bị cho thuê, cho mượn hoặc tặng cho để phục vụ giacông (nếu có);
+“Biện pháp xử lý phế liệu, phế thải và nguyên tắc xử lý máy móc, thiết bị thuê mượn,nguyên liệu, phụ liệu vật tư dư thừa sau khi kết thúc hợp đồng gia công;”