Các cụm từ viết tắtSES Chiến lược xuất khẩu ngành VIETRADE Cục xúc tiến thương mại TPO Tổ chức xúc tiến thương mại VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam LEFASO Hiệp hội Da giày V
Trang 1Chiến lược xuất khẩu ngành Ngành Da giày Việt Nam Cập nhật 2010-2015
Người thực hiện:
Trần Thị Huyền TrangHiệp hội Da giày Việt Nam
Theo yêu cầu của Cục Xúc tiến Thương mại (Dự án VIE 61/94)
Dự thảo
Trang 2Tháng 01-06 năm 2009
Trang 3Mục lục
Tóm tắt 5
1 Giới thiệu 7
1.1 Cơ sở 7
1.2 Các nguyên tắc phân tích 7
1.2.1 Quy mô chiến lược xuất khẩu ngành 7
1.2.2 Khuôn khổ thiết kế và quản lý chiến lược 8
1.2.3 Phân tích chuỗi giá trị trong đánh giá năng lực cạnh tranh 8 2 Tầm nhìn 10
3 Đánh giá hiện trạng ngành 12
3.1 Ngành da giày toàn cầu 12
3.1.1 Thị trường toàn cầu 12
3.1.2 Năng lực sản xuất 12
3.1.3 Xu hướng sản phẩm 12
3.2 Phân loại sản phẩm-thị trường 13
3.2.1 Phân loại theo nhóm khách hàng 13
3.2.2 Phân loại theo công dụng sản phẩm 13
3.2.3 Phân loại theo nguyên liệu mũ giày 13
3.3 Hoạt động xuất khẩu 14
3.3.1 Xuất khẩu giày thể thao 15
3.3.2 Xuất khẩu giày da nam nữ 15
3.3.3 Xuất khẩu giày vải 15
3.3.4 Xuất khẩu xăng đan và dép đi trong nhà 15
3.4 Các thị trường xuất khẩu chủ đạo 16
3.4.1 Các nền kinh tế phát triển (Mỹ, EU, Nhật Bản) 16
3.4.2 Các nước Trung Cận Đông và châu Phi 19
3.4.3 Các nước châu Đại Dương (Úc & New Zealand) 20
3.5 Cạnh tranh 20
3.5.1 Đối thủ cạnh tranh 20
3.5.2 Vị thế cạnh tranh của các nhà xuất khẩu Việt Nam 22
3.5.3 Tiếp cận thị trường xuất khẩu 29
3.6 Chuỗi giá trị hiện tại của ngành 30
3.7 Phân tích chiến lược và chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với Ngành 32
Trang 43.7.1 Các chính sách phát triển chiến lược 32
3.7.2 Các chính sách khác của nhà nước - Thuế 32
3.8 Mạng lưới hỗ trợ thương mại của ngành 32
3.8.1 Hỗ trợ xúc tiến thương mại 32
3.8.2 Dịch vụ thông tin thương mại 33
3.8.3 Dịch vụ tài chính thương mại 33
3.8.4 Dịch vụ quản lý chất lượng xuất khẩu 34
3.8.5 Các dịch vụ hỗ trợ thương mại khác 34
4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) 36
5 Các lựa chọn chiến lược 38
5.1 Chuỗi giá trị tương lai của ngành 38
5.2 Những ưu tiên chiến lược cho việc phát triển trong tương lai 40
Phụ lục 1: Hồ sơ ngành da giày Việt Nam (Nguồn: Hiệp hội Lefaso ) .44
Phụ lục 2: Các hoạt động xúc tiến xuất khẩu ngành da giày 2007-2009 45
Viettrade 45
Hiệp hội Lefaso 47
Phụ lục 4: Ngành da toàn cầu 48
Phụ lục 5: Các trang web tham khảo 48
Các trang web thương mại toàn cầu 48
Các trang web ngành da giày 48
Phụ lục 6: Tài liệu tham khảo 48
Trang 5Các cụm từ viết tắt
SES Chiến lược xuất khẩu ngành
VIETRADE Cục xúc tiến thương mại
TPO Tổ chức xúc tiến thương mại
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam LEFASO Hiệp hội Da giày Việt Nam
SLA Hiệp hội da giày thành phố Hồ Chí Minh
ITC Trung tâm Thương mại quốc tế
MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư
MOIT Bộ Công thương
MOF Bộ Tài chính
MOLISA Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội
MOET Bộ Giáo dục và Đào tạo
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
APEC Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình DươngAFTA Khu vực tự do thương mại ASEAN
ILO Tổ chức Lao động quốc tế
QMS Hệ thống quản lý chất lượng
TQM Quản lý chất lượng toàn diện
STAMEQ Cục tiêu chuẩn chất lượng
ECVN Cổng thương mại điện tử Việt nam
B2B Doanh nghiệp với doanh nghiệp
SWOT Phân tích Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Thách thức
LC Thư tín dụng
D/A Nhờ thu trả chậm
D/P Nhờ thu kèm chứng từ
Vietcombank Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
PwC Pricewaerhouse and Coopers
KCS Kiểm tra chất lượng sản phẩm
Trang 6Tóm tắt
Trang 7Lời cảm ơn
Trang 81 Giới thiệu
1.1 Cơ sở
Nhằm hỗ trợ chính phủ Việt Nam đạt được mục tiêu về tỉ lệ tăngtrưởng xuất khẩu đến năm 2010 định hướng 2020, Dự án VIE 61/94(Hỗ trợ Xúc tiến thương mại và Phát triển xuất khẩu” do Cục Xúc tiếnThương mại (Bộ Thương mại) và Trung tâm Thương mại Quốc tế(ITC) đồng thực hiện) đã tiến hành xây dựng chiến lược xuất khẩungành đối với một số ngành có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu Cácchiến lược xuất khẩu ngành này dựa trên cơ sở chiến lược phát triểnchung của nhà nước
Chính phủ Việt Nam đã xác định da giày là một trong những ngànhxuất khẩu mục tiêu trong Chiến lược xuất khẩu quốc gia giai đoạn2006-2010 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt trong quyết định156/2006/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2006 Ngành da giày có tốc
độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 23%/năm từ 2002 đến 2008, vớikim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt 4.768 tỉ USD, chiếm 8% tổng kimngạch xuất khẩu của cả nền kinh tế Cùng với dệt may, da giày còn làngành trọng tâm tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao độngphổ thông và bán chuyên nghiệp, tận dụng lợi thế tương đối về chi phínhân công thấp Ngành công nghiệp da giày cũng được kỳ vọng là cótiềm năng trong chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng gia tăng tỉtrọng sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng, công nghệ và hàm lượngchất xám cao so với sản phẩm xuất thô
Chiến lược xuất khẩu ngành (SES) cập nhật giai đoạn 2010-2015 là
cơ sở để tiếp tục thực hiện các kế hoạch hành động của Chương trìnhxuất khẩu quốc gia đến năm 2010, tầm nhìn 2020
1.2 Các nguyên tắc phân tích
Trang 9Chiến lược xuất khẩu đối với ngành sản xuất da giày (gọi tắt làNgành) là chiến lược cấp ngành được xây dựng cho giai đoạn 2006-
2010 và cập nhật cho giai đoạn 2010-2015 Đây là chiến lược xuấtkhẩu trung hạn nhằm thực hiện các hoạt động mang tính sáng kiến, hỗtrợ ngành củng cố và tối ưu hóa khả năng xuất khẩu, đồng thời tạo đàphát triển xuất khẩu bền vững theo tầm nhìn 2020 Những khó khănngắn hạn trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu hiệnnay không nằm trong phạm vi giải quyết của chiến lược này, tuy rằngtình hình này cũng được tính đến trong việc đưa ra các lựa chọn chiếnlược
Tại Việt Nam, da là phân ngành chủ yếu cung ứng nguyên liệu trựctiếp cho ngành sản xuất giày dép, bên cạnh một khối lượng sản phẩmhàng hóa nhỏ (về mặt giá trị) cặp xách và phụ kiện thời trang Do đócác phân tích về phân ngành da sẽ được trình bày chủ yếu ở phần sửdụng nguyên liệu thô và các ngành công nghiệp, dịch vụ phụ trợ(3.4.2.3 & 3.4.2.5) trong chiến lược này
Khách hàng của chiến lược là những nhà sản xuất/xuất khẩu hiện tại
và tiềm năng của sản phẩm da giày ở Việt Nam
Chiến lược xuất khẩu ngành da giày được xây dựng dựa trên phươngpháp xây dựng chiến lược xuất khẩu ngành của ITC Phương phápnày có 3 nguyên tắc cơ bản: a) vai trò chủ đạo của các doanh nghiệptrong ngành; b) vai trò hỗ trợ, điều phối của nhà nước và c) ứng dụngphương pháp phân tích chuỗi giá trị Quy trình xây dựng chiến lượcbao gồm 13 bước và cơ bản gồm những nội dung sau:
Vị thế xuất khẩu hiện nay của ngành trong tương quan với cáchoạt động và năng lực cạnh tranh quốc tế;
Vị thế xuất khẩu tương lai của ngành so với hoạt động và nănglực cạnh tranh trong 5 năm tới; và
Làm thế nào để ngành có thể đạt được vị thế tương xứng trongtương lai
Trang 10Việc cập nhật chiến lược đã được thực hiện thông qua quá trình ràsoát kỹ lưỡng các nguồn thông tin thứ cấp về ngành, các khảo sátđánh giá doanh nghiệp trong thời gian qua và các quy định, chínhsách của nhà nước Chuyên gia chiến lược cũng đã nghiên cứu kỹlưỡng những hoạt động của ngành trên thế giới và xu hướng thịtrường quốc tế nhằm xác định rõ vị thế của ngành da giày Việt Namtại thời điểm hiện tại và cách thức để đạt được mục tiêu đến năm
2015
Bản chiến lược cập nhật sẽ được đưa ra thảo luận tại hai cuộc tọa đàm
ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội để xác nhận cụ thể các thông tinthu thập được trong quá trình cập nhật và thu thập ý kiến đóng góp từcác doanh nghiệp, phục vụ hoạt động xây dựng chiến lược, đặc biệt làtìm hiểu rõ hơn nhu cầu của họ đối với những hỗ trợ của nhà nướctrong khuôn khổ chiến lược Thành phần tham dự chính của hai cuộchọp này là các nhà sản xuất và xuất khẩu trong ngành da giày
tranh
Chuỗi giá trị biểu thị một loạt các hoạt động tạo giá trị và các mối liênkết của chúng với những sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể Một mô hìnhchuỗi giá trị cơ bản như sau:
Hình 1: Mô hình chuỗi giá trị ngành
VD :
- Giá cả
- Quảng cáo
- Phân phối
Trang 11Những hoạt động này được tiến hành thuận lợi hơn khi công nghiệpphụ trợ được phát triển, trong đó có khâu mua nguyên liệu thô, vậtliệu phụ trợ và trang thiết bị máy móc; nghiên cứu phát triển côngnghệ và phát triển sản phẩm/dịch vụ, tự động hóa quy trình; phát triểnnguồn nhân lực có kỹ năng, năng lực quản lý; và phát triển cơ sở hạtầng như luật pháp, quy định, quản lý chất lượng và tài chính.
Phân tích chuỗi giá trị để hiểu rõ hơn các hoạt động sẽ ảnh hưởng đếnnăng lực cạnh tranh tiềm năng, giúp xác định những khâu giá trị đượctạo ra lớn hơn so với chi phí sản xuất và dịch vụ, những điểm có thểđạt được sự tối ưu hóa cũng như điều hoà được các liên kết hoạt động.Mặc dù được mô tả như những yếu tố về chi phí, nhưng những hoạtđộng bổ trợ cũng có nhiều đóng góp trong việc tìm hiểu năng lực cạnhtranh của ngành và của công ty, chẳng hạn như việc áp dụng hệ thốngthông tin trong sản xuất và quản lý, lao động có chuyên môn và pháttriển sản phẩm và dịch vụ có tính sáng tạo.1
Chuỗi giá trị của ngành da giày xuất khẩu có thể thay đổi tùy thuộcvào mức độ sử dụng công nghệ sản xuất và việc sử dụng nguồn lựcđầu vào trong nước như nguyên liệu thô, máy móc sản xuất và dịch vụ
hỗ trợ
1 Khái niệm chuỗi giá trị-http://www.quickmba.com/strategy/value-chain/
Trang 122 Tầm nhìn
Ngành xuất khẩu da giày Việt Nam có tầm nhìn như sau:
Ngành da giày xuất khẩu Việt Nam phấn đấu trở thành một trung tâm
có trình độ quốc tế về sản xuất giày dép giá trị cao, phù hợp xu hướng của các thị trường dẫn đầu toàn cầu EU, Mỹ, Nhật Bản và châu đại dương với giá cả cạnh tranh thông qua việc xây dựng năng lực sản xuất toàn diện, nâng cao trình độ quản trị và kinh doanh quốc
tế của các doanh nghiệp trong ngành, củng cố liên kết ngành chặt chẽ
và xây dựng một ngành công nghiệp phụ trợ hiệu quả.
Tầm nhìn này phù hợp với mục tiêu tổng quát “nâng cao chất lượng
sản phẩm…nâng cao hiệu quả, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu, chuyển mạnh từ gia công sang tự sản xuất” đã được
đề cập đến trong Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da giày ViệtNam đến năm 2010, tầm nhìn 2020
Tầm nhìn này cũng ghi nhận những nỗ lực của các bên liên quannhằm tập trung xây dựng hình ảnh quốc tế tích cực của ngành/quốcgia cho các thị trường mục tiêu cao cấp và xây dựng năng lực sản xuấttoàn diện, hướng tới sản phẩm cao cấp, phù hợp xu hướng thị trường,đảm bảo yêu cầu về môi trường và xã hội Sản phẩm cần được tậptrung vào khâu tạo ra sự khác biệt, đặc biệt là với các sản phẩm đại tràcủa Trung Quốc
Tầm nhìn này đề cập đến sự cần thiết phát triển ngành công nghiệpphụ trợ đáp ứng yêu cầu chất lượng xuất khẩu, nhằm tối ưu hóa nănglực nội địa, chủ động và giảm chi phí sản xuất, một trong những yếu
tố quan trọng tạo năng lực cạnh tranh bền vững
Trong giai đoạn phát triển 2010-2015, Hiệp hội Lefaso đề xuất mục
tiêu cụ thể cần đạt được là “chuyển đổi thành công từ phương thức
gia công sang sản xuất toàn diện, tập trung vào sản phẩm thời trang
và chất liệu da” Mục tiêu này đặt trọng tâm vào việc a) tối ưu hoá
những năng lực gia công hiện có và những công nghệ, thiết bị hiện
Trang 13mang lại lợi ích thực tế cho tất cả các nhà sản xuất và kinh doanhtrong ngành; ví dụ như các nỗ lực chung trong xúc tiến xuất khẩu, chủđộng ứng phó với các vụ kiện thương mại, các chương trình đào tạochung về phát triển sản phẩm và đào tạo kỹ năng quản lý nhằm pháttriển kỹ năng của người lao động và năng lực làm việc cao cấp.
Trang 14Bảng 1: Mục tiêu phát triển ngành (2010-2015)
Chỉ tiêu Đơn
vị tính
TH năm 2000
TH năm 2005
TH 2006
2010 Tầm nhìn 2015
BQ
2005 2010
-2015 Tăng
BQ 2010- 2015
- 85,00
– 90,00
Trang 15
-3 Đánh giá hiện trạng ngành
3.1 Ngành da giày toàn cầu
3.1.1Thị trường toàn cầu
Về tổng thể, giày dép được đánh giá là một phụ kiện thời trang quantrọng nhất và tiêu thụ giày dép vẫn có xu hướng tăng cao, đặc biệt là ởthị trường châu Á và Mỹ la tinh Tuy nhiên EU vẫn là thị trường giàydép lớn nhất thế giới, trị giá 50.43 tỉ euro với 2.155 tỉ đôi, chiếm gần1/3 giá trị thị trường toàn cầu và có tốc độ tăng trưởng bình quân1.9%/năm từ 2002-2006 Mỹ là thị trường lớn thứ 2 với 2.4 tỉ đôi, giátrị 44 tỉ euro năm 2006 Mức tiêu thụ giày bình quân của người Mỹlại đứng đầu thế giới với 8 đôi/người/năm trong khi đó ở EU là 4.3đôi/người/năm
Xu hướng thị trường cho thấy phân đoạn thị trường cao cấp giày da vàgiày thời trang tăng trưởng nhanh hơn, đặc biệt là các loại giày dép da
đi ngoài trời Nhóm thị trường giày dép chất liệu chất dẻo/cao su có
xu hướng chững lại ngoại trừ phân đoạn nhỏ của giày thể thao giả dachất liệu nhựa và cao su Nhóm giày thể thao mũ vải cùng với dép đitrong nhà có xu hướng giảm đi (CBI 2008)
Dự kiến sản lượng giày dép toàn cầu lên tới 15.585 tỉ đôi (tương ứngvới số dân 6.87 tỉ người) và Trung Quốc vẫn là nhà sản xuất hàng đầuvới sản lượng chiếm tới gần 60% sản lượng giày dép toàn cầu Ấn
độ, Braixin, Việt Nam, Indonesia là các trung tâm sản xuất giày déplớn tiếp theo (Unido, Rolan Steyns, 2007)
Bảng 2: Dự kiến sản lượng giày dép toàn cầu
(triệu đôi)
Dân số (triệu người
Trang 162011 15,585 6,870(Nguồn: Unido, Rolan Steyns, 2007)
Càng ngày các công nghệ mới càng được ứng dụng trong ngành dagiày để đưa ra các sản phẩm cực kỳ sáng tạo, đi trước xu hướng thờiđại và vì vậy có giá trị rất cao Đơn cử như nhãn hiệu giày dép Geox(http://www.geox.com) của Ý với ý tưởng độc đáo thiết kế những đôigiày có thể “thở” được, đặc biệt cho giày thể thao với công nghệ thiết
kế giày thẩm thấu được tối đa mồ hôi chân Công nghệ này hiện nayđược ứng dụng nhiều nơi và thậm chí cả trong ngành dệt may Công
ty này cũng phát triển công nghệ sản xuất da chống thấm nước.Những sáng tạo thành công này đã trở thành một phân ngành mớitrong ngành giày dép và đưa tên tuổi những hãng giày dép này nổitiếng toàn thế giới Hoặc công ty Nike thể hiện đẳng cấp đầu đàn củamình với các dự án thân thiện với môi trường như “tái chế” giày(http://www.nikereuseashoe.com/) với công nghệ phân tách, tái chế
và tái sử dụng lại các nguyên liệu của đôi giày cũ
3.2 Phân loại sản phẩm-thị trường
Do tính chất phong phú, đa dạng về sản phẩm-thị trường của Ngành
mà có nhiều hình thức phân loại khác nhau Mỗi phương thức sẽcung cấp thông tin về sản phẩm-thị trường ở các góc độ khác nhau.Phần dưới đây trình bày 3 cách phân loại phổ biến
Phương thức phân loại này dựa trên cơ sở giới tính người sử dụng sảnphẩm giày dép: phụ nữ, nam giới và trẻ em (bao gồm cả lứa tuổi vịthành niên) Cách phân loại này giúp cung cấp thông tin dưới khíacạnh nhu cầu và xu hướng của người sử dụng sản phẩm trong tươnglai, rất hữu ích cho các hoạt động marketing Ví dụ, nhóm kháchhàng phụ nữ thường chú trọng đến tính chất thời trang của giày dépbên cạnh tính năng sử dụng, trong khi đó nam giới thường chú trọng
Trang 17hơn đến tính năng sử dụng Đối với trẻ em, mối quan tâm hàng đầu làtính năng bảo vệ, phù hợp tiêu chuẩn sức khỏe của giày dép
Tuy nhiên khó có thể có số liệu chi tiết về thống kê sản phẩm theocách phân loại này vì các đối tượng sử dụng sản phẩm thường sửdụng nhiều loại sản phẩm một lúc, ví dụ một phụ nữ thường có cảgiày cao gót, giày thể thao và giày vải
Đây là phương thức phân loại phổ biến ở Việt Nam, bao gồm cácnhóm sản phẩm thị trường:
Giày thể thao (sport): dành cho các hoạt động thể thao nhưchạy, đi bộ, bóng đá, thể dục thẩm mỹ Tuy nhiên một số kháchhàng cũng mua những loại giày thể thao này cho các hoạt động
đi lại thường ngày
Giày thông dụng (casual, leisure, health): dành cho các hoạtđộng thường ngày Xu hướng hiện nay là một số loại giày nàycũng được dùng trong môi trường công sở, văn phòng, ví dụ nhưgiày bệt (ballerina)
Giày công sở và dạ hội (classic, formal): Đây là các loại giàydùng cho các hoạt động chính thức, truyền thống trong vănphòng, công sở và tại các sự kiện, dạ hội, ví dụ như giày nữ caogót, giày da nam
Giày bốt, dã ngoại (outdoor, rugged): Các loại giày thường caođến mắt cá chân, dùng cho hoạt động ngoài trời Phổ biến nhất
là các loại ủng, bốt, giày leo núi
Cách phân loại này cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà sản xuất
về tính năng cần có của từng loại sản phẩm, qua đó các công nghệ,nguyên liệu và thiết kế phù hợp được lựa chọn cho từng loại sảnphẩm
Số liệu thống kê ở Việt Nam có sẵn cho các phân loại này, tuy chưa ởmức cụ thể như trên
Trang 183.2.3 Phân loại theo nguyên liệu mũ giày
Phương thức phân loại này dựa trên nguyên liệu chủ yếu làm mũ giày.Phân loại này cũng giúp các nhà sản xuất định hình được nhóm sảnphẩm của mình Các phân loại cơ bản bao gồm: da, chất dẻo/cao su,vải và chất liệu khác Phân loại này, trong nhiều trường hợp, thườngđược phối hợp với phân loại ở phần 3.1.2 để tạo ra các phân loại sảnphẩm-thị trường chi tiết hơn, ví dụ giày thể thao mũ da, đế cao suhoặc giày thông dụng mũ vải
3.3 Hoạt động xuất khẩu
Việt Nam là nước xuất khẩu giày dép lớn thứ tư sau Trung Quốc, Ý,Hồng Kông, chiếm 7.4% thị phần xuất khẩu toàn cầu và có tốc độtăng trưởng hàng năm 17% (từ 2000-2006) (ITC) Năm 2007, giá trịxuất khẩu giày dép của Việt Nam là gần 4 tỉ đô la với các sản phẩmxuất khẩu chính là giày thể thao, giày vải và giày da nam nữ Thịtrường xuất khẩu chủ đạo là EU và Mỹ
Tuy nhiên các nhà sản xuất Việt Nam thường làm gia công cho cáchãng lớn trên thế giới (đặc biệt là giày thể thao), tận dụng nguồn nhâncông phổ thông giá rẻ, vì vậy các sản phẩm thường có giá trị thấp vàlợi nhuận cũng không cao Gía bán lẻ giày dép xuất xứ từ Việt Namtại các siêu thị hoặc cửa hàng ở thị trường xuất khẩu rất cao nhưngphần giá trị gia tăng giữ lại trong nước cho các doanh nghiệp sản xuấtnguyên phụ liệu và gia công thành phẩm chỉ chiếm khoảng 5-10% giábán lẻ sản phẩm Biểu đồ dưới đây trình bày tương quan giá trị trungbình của một tấn sản phẩm của các nhóm hàng xuất khẩu có giá trịtrên 100 triệu đô la mỹ của Việt Nam
Biểu đồ 1: Giá trị XK trung bình/tấn sản phẩm theo nhóm mặt
hàng và nước xuất khẩu
Trang 19outer soles, upper of plastic and rubber rubber/plastic; upper outer soles of
leather coverage ankle
outer soles of rubber, plastic; upper textile soles of rubber, plasticfootwear other sports, outer sole, upper of plastic, rubber outer sole, upper of plastic, rubber
Việt Nam TQ
Braxin Rumani
Ấn Độ Indonesia Toàn cầu
(nguồn: ITC, 2006)
Các công đoạn hỗ trợ sản xuất toàn diện như cung ứng phụ liệu, thiết
kế, kiểm nghiệm, marketing, phân phối và phát triển thương hiệu hầunhư vắng bóng ở Việt Nam Một số nhà sản xuất trong nước đã cókhả năng nhân dưỡng mẫu và kiểm nghiệm chất lượng nội bộ, tuynhiên chỉ một số ít cơ sở sản xuất liên doanh hoặc 100% vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài là có thể tiếp cận với các công đoạn hỗ trợ sảnxuất một cách liên tục và đầy đủ từ phía công ty mẹ hoặc từ đối tác
“ruột” Liên kết trong ngành giữa các nhà sản xuất với nhau, với cácnhà cung ứng, phân phối và hậu cần cũng hầu như không có
Do chuyên làm gia công nên sản phẩm giày của Việt Nam cũngkhông mang thương hiệu riêng Tuy là nước xuất khẩu hàng đầu thếgiới, người tiêu dùng quốc tế vẫn không biết đến các thương hiệu giàydép Việt Nam
Đi cùng với sự tăng trưởng vượt bậc của mình, Việt Nam cũng đangngày càng phải đối mặt với các vụ kiện bán phá giá ở các thị trườngchính Hiện tại giày mũ da của Việt Nam phải chịu thuế suất bán phágiá ở EU là 10% và Canada đã chính thức điều tra chống bán phá giágiày chống thấm nước của Việt Nam 2/2009
Dưới đây là trình bày về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam theo cácphân loại sản phẩm-thị trường chính (theo công dụng sản phẩm)
GT TB toàn cầu
USD
Trang 203.3.1 Xuất khẩu giày thể thao
Đây là mặt hàng giày xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới68% tổng doanh thu xuất khẩu giày năm 2007 (2.7 tỉ USD) và có mứctăng trưởng bình quân hàng năm cao hơn toàn ngành (20%) về sốlượng Tuy nhiên giá trị xuất khẩu lại tăng ít hơn trong cùng kỳ 2002-
2007, chỉ đạt 16%, với đơn giá xuất khẩu trung bình giảm còn 6.9USD/đôi năm 2007 từ 7.74 USD năm 2002
Các nhà xuất khẩu chính là các nhà máy 100% vốn đầu tư nước ngoài,chủ yếu từ Đài Loan, Hàn Quốc chuyên cung cấp cho một số thươnghiệu giày nổi tiếng Nike, Rebok, Addidas Một số nhà máy vốn trongnước chủ yếu gia công các đơn hàng xuất khẩu giày thể thao thôngdụng cho các nhà buôn và bán lẻ lớn như các chuỗi siêu thị ở châu Âu
và Mỹ Rất ít đơn vị xuất khẩu được trực tiếp mà đều phải thông quanhiều đầu mối trung gian ở nước ngoài
Đứng thứ hai về doanh số và số lượng xuất khẩu là giày da nam nữvới 803 triệu USD cho 111 triệu đôi năm 2007 Nhóm hàng này cómức tăng trưởng rất cao về giá trị xuất khẩu, với mức tăng đơn giá từ3.93 USD/đôi năm 2002 lên 7.26 USD/đôi năm 2007 Các nhà sảnxuất Việt Nam thường cung ứng các loại giày da nữ cổ điển thôngdụng dưới nhãn hiệu của các nhà bán lẻ lớn ở châu Âu và Mỹ
Sản lượng xuất khẩu mặt hàng này đã đạt mức tối đa công suất sảnxuất (xấp xỉ 100%) năm 2007
Nhóm giày vải có doanh thu ít nhất trong các nhóm giày dép xuất khẩu, đạt 207 triệu USD năm 2007 với 38 triệu đôi Mức tăng trưởng bình quân về số lượng cũng khá thấp, chỉ đạt 6%/năm, giai đoạn
2002-2007 Đơn giá sản phẩm trung bình tăng đều hàng năm, đạt 5.35USD/đôi năm 2007
Trang 213.3.4 Xuất khẩu xăng đan và dép đi trong nhà
Nhóm mặt hàng này tuy có doanh thu xuất khẩu khá khiêm tốn, đạt
285 triệu USD năm 2007, nhưng lại là nhóm xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng bình 37%/năm từ 2002-2007 Đơngiá sản phẩm cũng tăng gần gấp đôi, từ 1.52 lên 3.84 USD/đôi trong thời kỳ này
Biểu đồ 2: Tăng trưởng giá trị xuất khẩu theo nhóm sản phẩm
(2000-2007)
(nguồn: Hiệp hội Lefaso)
3.4 Các thị trường xuất khẩu chủ đạo
EU là thị trường nhập khẩu giày dép lớn nhất thế giới với giá trị lên
tới 26.244 tỉ euro với số lượng gần 3 tỉ đôi năm 2006, chiếm 52% toànthị trường giày dép của khối Trung Quốc và Việt Nam là hai nhàcung ứng hàng đầu vào thị trường này, tuy nhiên thường ở phân loạisản phẩm giá trị thấp và trung bình Trong khi đó xuất khẩu nội khốiđang trên đà tăng lên, dẫn đầu là Ý, Đức và Bỉ và các nền kinh tếchuyển đổi Đông Âu như Rumani và thường nằm ở phân loại sản
Triệu USD
Trang 22phẩm cao cấp và giày dép thời trang giá trị cao Năm 2006, xuất khẩunội khối EU chiếm 50% tổng giá trị nhập khẩu nhưng chỉ chiếm 25%
về số lượng Trong khi đó, các nước đang phát triển dẫn đầu là TrungQuốc và Việt Nam chỉ chiếm 42% tổng giá trị nhập khẩu cho 71%tổng số lượng Giày dép mũ da là thị trường nhập khẩu lớn nhất EU,chiếm tới 60% tổng giá trị nhập khẩu, tiếp theo là các loại giày dép
mũ cao su, chất dẻo, và giày vải
Trang 23Bảng 3: Tiêu thụ giày dép của các nước EU năm 2006
Nước
Gía trị (triệu euro) (triệu đôi) Số lượng
Tăng trưởng giá trị bình quân/năm từ 2002-2006
Trang 24EU luôn là thị trường xuất khẩu giày dép lớn nhất của Việt Nam, tậptrung vào một số nước Tây Âu: Anh, Đức, Bỉ, Hà Lan và Pháp, đều
là những thị trường có doanh số xuất khẩu trên 100 triệu USD/năm.Tuy vậy từ năm 2002, tỉ trọng xuất khẩu vào khối này ngày càng giảm
đi, từ 73% xuống còn 55% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam, mộtphần do việc đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu và tránh các vụkiện thương mại về bán phá giá Từ ngày 06 tháng 10 năm 2006, EU
áp đặt thuế chống bán phá giá giày mũ da sản xuất tại Việt Nam xuấtkhẩu sang EU là 10%
Bảng 4: Xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào EU
Nhóm sản
tăng trưởng
tăng trưởng TB/ năm
giày giả da, đế
Trang 25(Nguồn: CBI)
EU cũng còn là một trung tâm sản xuất giày dép dẫn đầu của thế giớivới các thương hiệu truyền thống và sáng tạo nổi tiếng từ Ý, Bỉ, HàLan, Đan Mạch, đặc biệt là ở phân loại thị trường sản phẩm cao cấpgiày da Các trung tâm thời trang và thiết kế ở EU thường định hình
xu hướng giày dép trên toàn thế giới Ý là nước xuất khẩu hàng đầu,chiếm 1/3 tổng giá trị xuất khẩu của khối, theo sau là Bỉ thường đứngngay sau Việt Nam trong các phân loại hàng xuất khẩu chính của ViệtNam, chủ yếu là tái xuất sản phẩm giá trị rất cao Bỉ là một đầu mốinhập khẩu giày vào EU quan trọng, với sự hiện diện của các nhà môigiới, bán lẻ quốc tế ở trung tâm Antwerp Mặc dù xuất khẩu nội khối
là chủ yếu, xuất khẩu từ EU sang các nước đang phát triển đang ngàycàng tăng lên
Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 sau EU, với doanh số nhập khẩu
18.7 tỉ đô la cho 2.3 tỉ đôi, chiếm 96% khối lượng giày dép tiêu thụcủa cả nước năm 2006 Trung Quốc là nhà cung ứng lớn nhất với86.2% thị phần nhập khẩu, tiếp theo là Việt Nam với 3.6% thị phầnnhập và Braxin với 3% thị phần Tuy nhiên đơn giá xuất khẩu trungbình của Việt Nam cao hơn Trung Quốc khi Việt Nam chiếm tới 5.1%tổng thị phần nhập khẩu về giá trị trong khi của Trung Quốc chỉ là72.8% Việt Nam đứng đầu về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào Mỹ(33.6%) trong khi đó Trung Quốc chỉ tăng 6.2% và Braxin thậm chígiảm gần 16% từ 2005-2006 (AAFA) Sự tăng trưởng xuất khẩu độtbiến này của Việt Nam là do việc ký kết các hiệp định thương mại vàqui chế tối huệ quốc giữa hai nước và sự gia nhập Tổ chức thươngmại thế giới WTO gần đây Sản phẩm xuất khẩu chính là giày thểthao và giày da nam nữ
Trang 26Bảng 6: Gía trị nhập khẩu giày dép vào Mỹ (đơn vị: 1,000 USD)
Nước cung
% tăng trưởng 2005-06
thị phần 2006
Trung Quốc $12,467,866 $13,600,167 9.1% 72.8% Việt Nam 716,111 950,833 32.8% 5.1% Braxin 1,017,196 893,488 -12.2% 4.8% Indonesia 510,098 471,113 -7.6% 2.5%
Ý 1,128,717 1,101,622 -2.4% 5.9% Thái Lan 291,618 292,940 0.5% 1.6% Hồng Kông 50,730 70,856 39.7% 0.4%
Mê Hi Cô 203,886 222,156 9.0% 1.2%
Ấn Độ 138,056 153,343 11.1% 0.8% Đài Loan 56,594 47,370 -16.3% 0.3% Các nước
khác 912,778 889,883 -2.5% 4.8%
Tổng giá trị
(nguồn: ShoeStats 2007)
Nhật Bản là thị trường có những phong tục tập quán tương đối giống
Việt Nam và có mức tiêu thụ giày dép bình quân theo đầu người caotrên 3 đôi/người/năm Tuy nhiên xuất khẩu của Việt Nam còn rấtkhiêm tốn, đạt 3% tổng giá trị nhập khẩu giày dép của Nhật (3.8 tỉUSD) năm 2006 Việt Nam chủ yếu xuất khẩu giày thể thao, giày danam nữ và dép đi trong nhà sang Nhật Trung Quốc, Ý, Campuchia,Indonesia là những nhà cung ứng chính cho thị trường này
Người Nhật thường được coi là khó tính, tiêu dùng ở mức cao, chấtlượng và mẫu mốt thời trang đối với người Nhật quan trọng hơn giá
cả, nhiều người Nhật mua hàng đánh giá vì chất lượng và mẫu mốtthời trang
3.4.2Các nước Trung Cận Đông và châu Phi
Trang 27Trung Cận Đông là một thị trường tiềm năng cho sản phẩm giày dépcao cấp do thu nhập bình quân đầu người rất cao từ dầu mỏ Tổng giátrị nhập khẩu của khối này là 1.6 tỉ USD năm 2006 Các Tiểu vươngquốc Ả rập, Ả rập Xê út và Ixaren là 3 nước nhập khẩu giày dép lớntrong khối này Trung Quốc là nhà cung ứng chủ yếu, bên cạnh đó là
Ý, Braxin và các nước tây âu Tuy nhiên một trong những rào cảnchính vào thị trường khối này là tình hình chính trị, xã hội không ổnđịnh và tôn giáo đặc thù
Châu Phi cũng là một thị trường tiềm năng cho các sản phẩm giày dépthông dụng giá trị thấp Tuy nhiên tình hình chính trị phức tạp và rủi
ro thanh toán là những rào cản hàng đầu vào thị trường này Sự cómặt rộng khắp của người Trung Quốc ở lục địa này cũng là một ràocản rất lớn đối với những nhà xuất khẩu giày dép giá rẻ vào thị trườngnày
Trang 28Bảng 7: Gía trị thị trường nhập khẩu giày dép Trung Cận Đông
(2006)
Số
GT nhập khẩu (triệu USD)
Đây cũng là nhóm thị trường có thu nhập cao và mức độ tiêu thụ giày dép lớn Nhập khẩu giày dép của khối này năm 2006 là 1.062 triệu USD, chủ yếu từ Trung Quốc Cộng đồng người Việt Nam nhiều thế
hệ sinh sống, kinh doanh và học tập ở Úc sẽ là một lợi thế tiềm năng trong việc thâm nhập thị trường này
Tóm lại, từ 2002 đến nay, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ đứng trong
tốp 5 nhà sản xuất và xuất khẩu giày dép hàng đầu thế giới Sảnphẩm của Việt Nam chủ yếu là gia công, không có thương hiệu vàthường nằm ở phân loại sản phẩm giá trị thấp và trung bình Việt
Trang 29Những năm gần đây, một số nhà sản xuất thực hiện những đơn đặthàng lớn dép đi trong nhà Việc tập trung mạnh vào các thị trườngphát triển EU và Mỹ và còn bỏ ngỏ một số thị trường tiềm năng khácnhư châu Đại Dương, Nhật Bản và Trung Đông làm gia tăng nguy cơsức ép thương mại và chưa tận dụng được lợi thế đa dạng hóa thịtrường
Lợi thế của Trung Quốc về nguồn lao động giá thấp khổng lồ, chi phí
cơ sở hạ tầng thấp, ngành công nghiệp nguyên liệu phụ trợ sẵn có,trung tâm phát triển mẫu, cung ứng công nghệ và thiết bị sản xuất củaĐài Loan và dịch vụ xuất nhập khẩu của Hồng Kông đã giúp chonước này có vị trí thống lĩnh trong xuất khẩu giày dép, đặc biệt là đốivới các loại sản phẩm thông dụng giá trị thấp và trung bình và có sốlượng rất lớn
Tuy nhiên sự phát triển của ngành giày dép Trung Quốc dựa trên cácyếu tố truyền thống này được dự đoán là đã gần tới điểm cực đại củachu kỳ kinh doanh, những vấn đề mới nảy sinh như sự gia tăng chi phínhân công và nguyên liệu, nguy cơ kiện bán phá giá và các rào cảnphi thương mại, các vấn đề môi trường và quyền con người và sự đadạng hóa nguồn cung của các nhà mua lớn sẽ khiến Trung Quốc gặpkhó khăn trong việc duy trì vị trí thống lĩnh này trong trung hạn
Trang 303.5.1.2 Các nước Đông Âu
Xuất khẩu giữa các nước trong khối EU có chiều hướng gia tăng,trong đó các nước đông âu hiện đang nổi lên là một lực lượng cungứng giày dép cho thị trường này (chủ yếu là các nước Tây Âu), làmđối trọng với các nước đang phát triển Rumani và Ba Lan là nhữngnước xuất khẩu lớn trong khối này Năm 2006, Italy nhập khẩu 65triệu đôi từ các nước đông âu, trong đó 46.3 triệu đôi đến từ Rumani.Rumani là nhà sản xuất lớn thứ 3 EU với sản lượng 90 triệu đôi, trịgiá 1.5 tỉ Euro (1.95 tỉ USD) năm 2006 và là một trong số ít mấy nước
EU có tỉ lệ tăng trưởng ngành dương (11.8%/năm trong giai đoạn2002-2006) Giày mũ da là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu, chiếm 2/3giá trị xuất khẩu (CBI)
Sự phát triển mạnh của ngành giày dép Rumani, ngoài việc dựa trênnền tảng ngành đóng giày trước kia cung cấp cho Liên Xô cũ còn nhờvào sự hợp tác chặt chẽ với Italy, nhà sản xuất giày dép chất lượngcao hàng đầu thế giới trong việc cung ứng linh kiện giày dép và tậndụng lợi thế chi phí nhập khẩu thấp giữa hai nước Năm 2006,Rumani là nước nhập khầu linh kiện giày dép hàng đầu từ Italia, vớigiá trị là 526 triệu USD, chiếm 55% tổng giá trị xuất khẩu linh kiệncủa Italia Ngược lại Italia cũng là nhà nhập khẩu linh kiện hàng đầu,chiếm77% tổng giá trị xuất khẩu linh kiện của Rumani (ITC)
Braxin là trung tâm sản xuất giày lớn thứ 3 thế giới sau Trung Quốc
và Ấn Độ với sản lượng hàng năm khoảng 755 triệu đôi Mặc dùphục vụ thị trường trong nước là chủ yếu (72% tổng giá trị sản lượng,
543 triệu đôi), xuất khẩu của Braxin hiện diện trên 130 nước, với Mỹ
là thị trường lớn nhất (70% tổng giá trị XK) Braxin là nhà cung cấpthứ 3 vào thị trường Mỹ, sau Trung Quốc và Việt Nam Gía trị xuấtkhẩu trung bình của các dòng sản phẩm xuất khẩu chính thường thấphơn giá trị xuất khẩu TB toàn cầu (xem thêm biểu đồ 1-trang 12).Các nhà sản xuất Braxin chủ yếu là các nhà sản xuất nhỏ có dòng sản
Trang 31hiện tại cho thấy có hơn 3,000 nhãn hiệu sản phẩm của Braxin đanglưu hành Ngành công nghiệp phụ trợ của Braxin cũng phát triển đadạng, gồm 300 doanh nghiệp linh kiện, 400 doanh nghiệp thuộc vàchế biến da và khoàng 100 doanh nghiệp sản xuất máy móc, thiết bịngành da giày.
Dù đã phát triển được các dòng sản phẩm của riêng mình, các nhà sảnxuất Braxin đang đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của Trung Quốc
và các nước đang phát triển khác về chi phí lao động thấp và qui môsản xuất khổng lồ Trình độ quản lý, năng lực sáng tạo, marketing vàtài chính của các DN qui mô nhỏ cũng là một trong những khó khănhiện thời của Braxin trong việc tăng năng lực cạnh tranh của ngành
Ấn độ là nước sản xuất giày dép lớn thứ 2 hai thế giới với hơn 2 tỉ đôimỗi năm, chỉ sau Trung Quốc Thị trường trong nước với hơn 1 tỉdân là trọng tâm của ngành giày dép nước này Xuất khẩu chỉ đứngthứ 14 với doanh thu 1.23 tỉ USD năm 2006, chủ yếu sang thị trườngtây Âu (Đức, Anh, Ý, Pháp) và Mỹ Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu làgiày mũ da và giày thể thao Gía trị xuất khẩu trung bình của các dòngsản phẩm chính thấp hơn khá nhiều giá trị xuất khẩu trung bình toàncầu (xem thêm biểu đồ 1-trang 12) Tăng trưởng xuất khẩu hàng năm
là 19% về giá trị
Ngành da giày Ấn độ cũng có bước phát triển tương tự như ở TrungQuốc và Việt Nam, chủ yếu là gia công cho các hãng giày nổi tiếngthế giới, tận dụng lợi thế lao động và cơ sở hạ tầng về công nghệthông tin CNTT sẽ giúp ngành da giày từng bước thiết lập năng lựcquản trị và thiết kế để sẵn sàng đón nhận chuyển giao công nghệ cao
về giày thể thao cho vận động viên Ấn độ hiện đang nổi lên là mộtđịa chủ thu hút đầu tư nước ngoài và chuyển dịch sản xuất từ TrungQuốc sang Các hãng giày lớn bắt đầu chuyển dần các cơ sở sản xuấtlớn từ Trung Quốc sang Ấn độ, kể cả các nhà sản xuất lớn TrungQuốc như APACHE
Trong số các nước Đông nam á, Indonesia là nước gia công giày lớn,với giá trị xuất khẩu gần 1.6 tỉ USD năm 2006 Tuy nhiên giá trị đơn
vị xuất khẩu của Indonesia cũng rất thấp so với trung bình thế giới
Trang 32Ngành giày dép Indonesia chủ yếu dựa vào gia công hàng giá trị thấp,tận dụng lợi thế lao động phổ thông giá rẻ Thị trường xuất khẩu chủyếu là Mỹ, chiếm 28% tổng giá trị XK, tiếp theo là các nước Tây ÂuĐức, Anh, Bỉ và Hà Lan, mỗi nước chiếm khoảng 8% tổng giá trị XK.Tăng trưởng xuất khẩu hàng năm chỉ khoảng 9% về giá trị.
Năng lực cạnh tranh của ngành có thể được đánh giá từ nhiều góc độ:
- Qui mô và công suất sản xuất
- Sản phẩm và quy trình sản xuất;
- Cơ sở chi phí,
- Khác biệt về sản phẩm
- Những liên kết thượng nguồn và hạ nguồn trong ngành
(backward and forward linkages) và những ngành bổ trợ
- Mức độ hiển thị của các nhà sản xuất, đặc biệt là ở các trang web mua bán trên mạng
Việt Nam là một trong 5 nhà sản xuất giày dép hàng đầu thế giới vớicông suất 715 triệu đôi/năm với 90% sản phẩm là cho xuất khẩu.Ngoài ra Việt Nam còn có thể cung ứng 80 triệu cặp, túi xách hàngnăm Thực tế huy động công suất sản xuất đều ở mức tối đa, 90-100% đối với giày dép và 80% đối với túi xách
Theo thống kê của Hiệp hội Lefaso có 507 doanh nghiệp xuất khẩugiày dép, cặp túi xách và nguyên phụ liệu ngành giày vào cuối năm
20072 Bên cạnh đó còn có rất nhiều cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, hộ giađình Các nhà sản xuất trong ngành da giày tại Việt Nam có thể đượcchia thành 3 nhóm:
Trang 33Nhóm 235 đơn vị liên doanh và 100% vốn nước ngoài, thường từ
Đài Loan và Hàn Quốc Nhóm này chủ yếu là các đơn vị gia cônggiày cho các thương hiệu nổi tiếng Nike, Rebok, Addidas, Clarks vàmột vài đơn vị cung ứng nguyên phụ liệu cho ngành Đây là lựclượng sản xuất chính, chiếm tới 60% tổng công suất sản xuất giày dépcủa Việt Nam (429 triệu đôi) và có hệ thống thiết bị công nghệ ở mứctrung bình cao, có khả năng thực hiện tất cả các công đoạn sản xuấtgiày Các đơn vị sản xuất này cũng có tổ chức và trình độ quản lý sảnxuất hiện đại, hưởng lợi thế vốn, thiết bị, thiết kế, marketing và phânphối sản phẩm từ các đối tác mua lớn
Nhóm 230 nhà sản xuất trong nước trong đó có một số nhà máy cổ
phần hóa và 6 doanh nghiệp nhà nước, còn lại là doanh nghiệp tưnhân Các doanh nghiệp này chủ yếu gia công hàng xuất khẩu chocác nhãn hiệu và các nhà bán lẻ lớn trên thế giới, tuy nhiên ở cấp độnhỏ và ít ổn định hơn so với các đơn vị có vốn nước ngoài Hệ thốngthiết bị, công nghệ nói chung vẫn ở mức trung bình bán tự động và cơkhí, mức độ sử dụng lao động phổ thông còn cao, do đó năng suất laođộng chưa được cải thiện Đặc biệt, trình độ kỹ thuật, quản lý của cácđơn vị này còn yếu kém do thiếu nguồn nhân lực được đào tạo bàibản, chủ yếu được học hỏi qua kinh nghiệm vừa làm vừa học Nănglực marketing của nhóm này hầu như không có do bị quá phụ thuộcvào các trung gian xuất khẩu và chỉ tập trung vào gia công các đơnhàng xuất khẩu Hầu như không có sự hiện diện của các doanhnghiệp trong nước sản xuất phụ kiện cho ngành da giày
Nhóm các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, thủ công có công nghệ sản xuất
đơn giản, chủ yếu cung ứng cho thị trường nội địa các sản phẩm cómẫu mã nghèo nàn Nhóm này chưa có khả năng xuất khẩu
Chất liệu giày dép quyết định chất lượng và đẳng cấp sản phẩm Hiệnnay chất liệu da vẫn được đánh giá là cao cấp nhất, tiếp theo là chấtdẻo và cao su và các chất liệu khác Các tính năng đặc thù của giàydép cũng được đánh giá cao, ví dụ như giày dép không thấm nước,giày thể thao có bánh xe, giày dép thời trang hoặc giày dép có chất
Trang 34liệu hoàn toàn từ tự nhiên (vegan & vegetarian shoes-không dùng da
và không sử dụng keo dán có nguồn gốc từ động vật)
Qui trình sản xuất giày dép bao gồm các công đoạn chính sau:
gia công nguyên liệu
pha cắt nguyên liệu
Mức độ gia tăng giá trị là khác nhau ở từng công đoạn sản xuất và đốivới từng loại sản phẩm Đối với giày thể thao và giày vải, công đoạngia công nguyên liệu bồi vải và cán luyện cao su mang tính quyếtđịnh trong khi đó đối với giày nữ, công đoạn pha cắt nguyên liệu cóthể gia tăng nhiều giá trị với việc trang trí bán thành phẩm pha cắt như
in, thêu Tương tự như vậy là công đoạn lắp ráp với nhiều hình thứcmay ráp mũ giày nữ phong phú tạo ra các sản phẩm hợp thời trang
Thông thường, giày dép có tỉ lệ giá trị nguyên liệu khoảng 25% giáxuất khẩu (CIF) hoặc 10% giá bán lẻ Nguyên liệu thô chủ yếu là da,vải, chất dẻo và cao su được gia công theo các công đoạn như thuộc
da, bồi vải, cán luyện cao su để làm mũ và đế giày Bí quyết côngnghệ trong lĩnh vực bồi vải và cán luyện cao su thuộc về từng nhà sảnxuất và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự khác biệt về chất lượng sảnphẩm giữa các nhà sản xuất
Trang 35Phân ngành thuộc da đã có bước phát triển vượt bậc, có tốc độ tăngnăng lực sản xuất nhanh nhất, bình quân 34%/năm từ năm 2003.Thực tế sản xuất đạt 73% công suất thiết bị (87 triệu sq ft so với côngsuất 120 triệu) vào cuối năm 2007 10 đơn vị có vốn đầu tư nướcngoài đã chiếm 2/3 tổng công suất (72 triệu sq ft) trong khi đó 32 đơn
vị thuộc da trong nước chỉ có công suất 48 triệu sq ft Nhiều doanhnghiệp thuộc da đã đầu tư công nghệ thiết bị tiên tiến của Ý, Hà Lan
để cung cấp các loại da thuộc bảo đảm tiêu chuẩn cho sản phẩm xuấtkhẩu Tuy rằng các doanh nghiệp này đã giúp tăng tỉ lệ nội địa hóa vàchủ động nguyên liệu cho ngành giày, nguyên liệu da thô vẫn cònphải nhập khẩu từ nước ngoài là chủ yếu Tương tự như vậy, mặc dùViệt Nam có tiềm năng về cao su, chất dẻo nhưng tỉ lệ sử dụngnguyên liệu trong nước chỉ đạt 40%; 60% còn lại đều nhập khẩu chủyếu từ Trung Quốc với số lượng và giá cả rất cạnh tranh, làm ngànhsản xuất nguyên phụ liệu da giày trong nước chưa thể phát triển được.Đơn cử giá trị nhập khẩu da thuộc và phụ liệu ngành giày năm 2004 là1.153 và 902 triệu đô la mỹ, chiếm tới 78% tổng giá trị xuất khẩu giàydép năm đó Tuy nhiên đến nay, năng lực thuộc da trong nước đãtăng lên, giúp giảm bớt sức ép nhập khẩu nguyên liệu
Chi phí nhân công là một trong các yếu tố xem xét hàng đầu khi cáchãng và nhà bán lẻ nước ngoài tìm đối tác gia công giày dép vì ngànhnày cần một lượng lớn lao động thủ công, nhất là trong các khâu sảnxuất giày Mức lương thấp và phụ cấp khiêm tốn phổ biến ở ViệtNam đã tạo ra lợi thế cạnh tranh, thậm chí cả với Trung Quốc là quốcgia gia công giày dép lớn nhất thế giới Mức tiền lương tối thiểu ởViệt nam là 620,000 đ/tháng3 (39 USD) so với 112 USD ở miền nam
và 50 USD ở miền trung Trung Quốc (PwC, 2008)
Việt Nam có một lực lượng lao động trẻ, khéo léo, kiên nhẫn, đặc biệt
là lao động nữ Đến năm 2007, số lao động trong ngành da giày là610,000 người, chỉ đứng sau ngành dệt may trong số các ngành côngnghiệp thu hút nhiều lao động nhất Tuy vậy, tay nghề của người laođộng Việt Nam chưa cao, phần lớn chỉ được đào tạo kèm cặp trong
3 Từ 1/5/2009, mức lương tối thiểu ở Việt Nam đã tăng lên 650,000đ
Trang 36thời gian ngắn và thực hành trên dây truyền sản xuất Đội ngũ kỹthuật viên, quản trị doanh nghiệp, điều hành sản xuất kinh doanh cònrất thiếu và ít kinh nghiệm Việc thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao
đã đẩy mức lương lên cao, làm chi phí lao động trình độ cao cao hơn
so với Trung Quốc Một nghiên cứu của hãng tư vấn PwC năm 2008cho thấy đối với cấp quản lý, chi phí lao động ở Bình Dương cao hơn
từ 20-70% so với miền nam Trung Quốc và 200% so với miền trungTrung Quốc Chi phí bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp của Việt Nam(26% lương) cũng cao hơn vùng nam Trung Quốc (22.5%) (PwC,2008)
Ngành da giày có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, đặc biệtcho nhóm các lao động phổ thông nông thôn, trong quá trình đô thịhóa nhanh chóng hiện nay, tuy nhiên lao động trong ngành giày chỉphát triển về lượng chứ chưa về chất, chủ yếu là lao động thủ côngđơn giản, năng suất và giá trị gia tăng thấp Dù rằng Việt Nam còn cóthể kỳ vọng vào lợi thế này trong thời gian ngắn tới, lợi thế này khôngmang tính chiến lược và bền vững về lâu dài khi nền kinh tế đãchuyển sang chu kỳ phát triển mới, không thể cạnh tranh dựa trênđộng lực sức lao động phổ thông giá rẻ nữa
Bảng 8: Cơ cấu lao động trong doanh nghiệp
ngành chung
Trang 37 Thiết bị và trình độ công nghệ
Hầu hết các dây chuyền và thiết bị sản xuất giày hiện nay của ViệtNam đều nhập của Hàn Quốc và Đài Loan Một số khách hàng giacông từ Đài Loan cũng chính là nhà cung ứng thiết bị và công nghệsản xuất
Hầu như chưa có các doanh nghiệp trong nước sản xuất các máy mócchuyên phục vụ sản xuất giày Công tác nghiên cứu trang thiết bịngành giày còn tản mạn chưa được tập trung ở các viện nghiên cứuchuyên về thiết kế, chế tạo các thiết bị sản xuất giày hay ở các cơ sởchế tạo quy mô lớn có phòng thiết kế độc lập và mạnh Hiện nay,công việc này mới được nhen nhóm ở quy mô nhỏ, thử nghiệm trongcác viện nghiên cứu chuyên ngành cơ khí hoặc viện chuyên ngành dagiày mà chưa có các nhà nghiên cứu, thiết kế chuyên nghiệp tronglĩnh vực này Công tác nghiên cứu chế tạo chưa tập trung cũng làmcho chất lượng của sản phẩm chế tạo không cao (lựa chọn nguyênliệu, thiết bị chế tạo, nhiệt luyện ) Bên cạnh đó công tác thông tin,tiêu chuẩn hoá còn hạn chế dẫn đến thực trạng các thiết bị, phụ tùngchế tạo trong nước chưa được tiêu chuẩn hoá, không có khả năng lắplẫn gây khó khăn cho người sử dụng và hạn chế hiệu quả về kinh tếtrong quá trình sửa chữa thay thế
Trình độ công nghệ sản xuất phổ biến ở mức trung bình và trung bìnhkhá Quá trình sản xuất mới đang được cơ giới hoá mà chưa được tựđộng hoá Tỷ lệ công việc làm thủ công hiện còn ở mức cao, điển hình
là các công đoạn trải nguyên liệu, bôi keo, đục tán ôdê, mài, xén,kiểm đếm và vận chuyển nguyên liệu, bán thành phẩm Đây chính làmột trong những nguyên nhân trực tiếp khiến cho năng suất lao độngcủa ngành luôn ở mức thấp và do đó người lao động phải thườngxuyên làm thêm giờ Những công nghệ cao như sản xuất các loại giàyđặc chủng, giày thể thao chuyên nghiệp đẳng cấp cao, giày y tế và