Hoạt động gia công quốc tế đã trở thành một phần quan trọng trong ngành công nghiệp may mặc tại Việt Nam hiện nay. Việt Nam đã trở thành một trong những đối tác gia công hàng đầu trên thế giới, với nhiều công ty nước ngoài đầu tư và mở các nhà máy sản xuất ở đây.Các hoạt động gia công quốc tế cho ngành may mặc tại Việt Nam bao gồm việc cắt, may, may gia công, và đóng gói các sản phẩm may mặc cho các thương hiệu quốc tế. Việc gia công này thường xuyên được thực hiện bởi các công ty gia công có chuyên môn cao trong việc sản xuất hàng may mặc chất lượng cao với giá cả cạnh tranh.Việc tìm hiểu về hoạt động gia công quốc tế trong ngành may mặc tại Việt Nam là cực kỳ quan trọng để hiểu về quy trình sản xuất và cách thức hoạt động của ngành công nghiệp này. Việc này không chỉ giúp các doanh nghiệp và thương hiệu quốc tế tìm hiểu về quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm tại Việt Nam, mà còn khám phá các cơ hội
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TIẾNG ANH
-🙞🙞🙞 -BÀI THẢO LUẬNQUẢN TRỊ TÁC NGHIỆP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu về hoạt động gia công quốc tế đối với ngành may mặc tại Việt
Nam hiện nay.
Nhóm Lớp học phần Giảng viên hướng dẫn
: 2 : 2321ITOM0511 : Vũ Anh Tuấn
Hà Nội - 2023
Trang 2MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG 4
PHẦN I : LÝ THUYẾT 4
1 Khái niệm hoạt động gia công quốc tế
2 Đặc điểm của hoạt động gia công quốc tế
3 Tác dụng của hoạt động gia công quốc tế
a, Đối với bên đặt gia công
b, Đối với bên nhận đặt gia công
4 Các loại hình của hoạt động gia công quốc tế
5 Các vấn đề cần lưu ý trong hoạt động gia công quốc tế PHẦN II : HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG QUỐC TẾ NGÀNH MAY MẶC ỞVIỆT NAM 11
1 Thực trạng chung ngành may mặc
2 Tình hình hoạt động gia công quốc tế ngành may mặc ở Việt Nam
3 Cơ hội và thách thức đối với hoạt động gia công quốc tế ngành maymặc
4 Liên hệ thực tiễn một công ty may mặc ở Việt Nam
PHẦN III : ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠTĐỘNG GIA CÔNG QUỐC TẾ
1 Các định hướng phát triển cho ngành may mặc
2 Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động gia công quốc tế
Trang 37 Đặc điểm của hoạt động gia công quốc tế
8 Tác dụng của hoạt động gia công quốc tế
a, Đối với bên đặt gia công
b, Đối với bên nhận đặt gia công
9 Các loại hình của hoạt động gia công quốc tế
10 Các vấn đề cần lưu ý trong hoạt động gia công quốc tế
II Hoạt động gia công quốc tế ngành may mặc ở Việt Nam
5 Thực trạng chung ngành may mặc
6 Tình hình hoạt động gia công quốc tế ngành may mặc ở Việt Nam
7 Cơ hội và thách thức đối với hoạt động gia công quốc tế ngành may mặc
8 Liên hệ thực tiễn một công ty may mặc ở Việt Nam
III Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động gia công quốc tế
3 Các định hướng phát triển cho ngành may mặc
4 Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động gia công quốc tế
a, Nhà nước
b, Doanh nghiệp
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Ngành May mặc là một ngành có truyền thống từ lâu ở Việt Nam Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội Xu thế toàn cầu hoá
có tác động đến tất cả các nước, đặc biệt là những nước đang phát triển, và điều
đó dẫn đến sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng chặt chẽ Với khoảng hơn 6000 doanh nghiệp, trong đó đa số có quy mô vừa và nhỏ với những hạn chế về khả năng tài chính, trình độ công nghệ, tay nghề của đội ngũ lao động, trình độ quản lý và cả uy tín thương hiệu, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc cạnh tranh với các tập đoàn may mặc lớn trên thế giới May mặc ở Việt Nam đã trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu ngành may mặc nhưng mới chỉ dừng lại ở khâu gia công, đặt mình vào vị trí đáy của chuỗi giá trị toàn cầu Chính vì thế, khi Việt Nam thâm nhập ngày càng sâu vào thị trường thế giới, sản phẩm may mặc của Việt Nam dù được xuất đi rất nhiều nơi và Việt Nam có tên trong top 10 nước xuất khẩu may mặc lớn nhất thế giới nhưng giá trị thu về lại rất thấp
Đứng trước tình hình đó, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần định hướng phát triển trong tương lai như thế nào? Tiếp tục xuất khẩu hàng gia công quốc tếhay cần tìm con đường mới để thoát khỏi kiếp gia công lâu nay ?
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề gia công quốc tế nói chung và gia công may mặc
ở Việt Nam nói riêng, nhóm 02 chọn đề tài thảo luận: “Tìm hiểu về hoạt động gia công quốc tế đối với ngành may mặc tại Việt Nam hiện nay.” Để hoàn thành bài thảo luận, nhóm 2 đã nhận được sự giảng dạy và chỉnh sửa bài nhiệt tình của Thầy Vũ Anh Tuấn Mặc dù có nhiều cố gắng song bài không thể tránh được những sai sót, chúng em rất mong có thêm sự đóng góp của thầy giáo để bài thảo luận được hoàn chỉnh.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5I Lý thuyết:
1 Khái niệm hoạt động gia công quốc tế
Gia công quốc tế là hoạt động thương mại theo đó bên nhận gia công sử dụngmột phần hoặc toàn bộ nguyên liệu vật liệu của bên đặt gia công để thực hiệnmột hay nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt giacông để hưởng thù lao Gia công quốc tế là hình thức gia công thương mại màbên đặt gia công hoặc nhận gia công là thương nhân nước ngoài
2 Đặc điểm của hoạt động gia công quốc tế
- Gia công quốc tế là một phương thức ủy thác gia công, trong đó hoạt động
xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất
- Trong quá trình gia công, người nhận gia công trong nước bỏ ra lao động, tiền
chi phí gia công là thù lao lao động Do đó, có thể nói gia công quốc tế là mộthình thức mậu dịch lao động, một hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ quahàng hóa
- Gia công quốc tế là một phương thức buôn bán gia công “Hai đầu ở ngoài”,
nghĩa là thị trường nước ngoài là nơi cung cấp nguyên vật liệu, đồng thời cũng
là thị trường tiêu thụ sản phẩm đó
3 Tác dụng của hoạt động gia công quốc tế
a) Đối với bên đặt gia công
- Hạ giá thấp giá thành sản phẩm, do đó có thể tăng sức cạnh tranh trên thịtrường quốc tế của sản phẩm
- Có thể điều chỉnh cơ cấu ngành nghề ở nước sở tại Đây chủ yếu là chỉ một sốnước công nghiệp phát triển, có thể thông qua phương thức gia công quốc tế,chuyển một số loại hình sản xuất dùng nhiều lao động sang các nước đang pháttriển
b) Đối với bên nhận gia công
- Khắc phục được mâu thuẫn giữa thừa sức sản xuất mà thiếu nguyên liệu ởnước mình, tăng thu nhập ngoại tệ cho nước mình
- Phát triển nguồn lao động, tăng thêm cơ hội việc làm và làm kinh tế phát triển
- Giúp thu hút các kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài,thúc đẩy kinh tế hướng xuất khẩu phát triển
Trang 6
4 Các loại hình của hoạt động gia công quốc tế
- Phân theo quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế có các hình thức sau:+ Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận giacông và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí giacông Trong trường hợp này, trong thời gian chế tạo, quyền sở hữu về nguyênliệu vẫn thuộc về bên đặt gia công
+ Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời giansản xuất chế tạo, sẽ mua lại thành phẩm Trong trường hợp này, quyền sở hữunguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công
+ Ngoài ra, người ta còn có thể áp dụng một hình thức kết hợp trong đó bên đặtgia công chỉ giao những nguyên liệu chính, còn bên nhận gia công cung cấpnguyên vật liệu phụ
- Phân theo giá cả gia công, có hai hình thức sau:
+ Theo giá thực tế, trong đó bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia côngtoàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công
+ Theo giá thị trường, trong đó người ta xác định một giá định mức cho mỗi sảnphẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức Dù chi phí thực tế củabên nhận gia công là bao nhiêu, hai bên vẫn thanh toán với nhau theo định mứcđó
- Phân theo số bên tham gia quan hệ gia công, có hai loại gia công sau đây:+ Gia công hai bên, trong đó chỉ có bên đặt gia công và bên nhận gia công.+ Gia công nhiều bên, còn gọi là gia công chuyển tiếp, trong đó bên nhận giacông là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đốitượng gia công của đơn vị sau, còn bên đặt gia công vẫn chỉ là một
5 Các vấn đề cần lưu ý trong hoạt động gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một phương thức thương mại quốc tế mà các nước đangphát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay sử dụng, nhằm tậndụng những lợi ích do phương thức giao dịch mang lại Song khi áp dụng nócần lưu ý các vấn đề sau:
+ Thực tiễn, nghiệp vụ gia công quốc tế là một biện pháp tăng thu nhập ngoại
tệ, nhưng so với buôn bán xuất khẩu, mà vẫn xếp vào vị trí thứ yếu Do đó, khitriển khai nghiệp vụ này, phải có quan điểm toàn cục, chú ý xử lý tốt mối quan
hệ với xuất khẩu thông thường Những nghiệp vụ có tính chất tranh khách hàng,tranh thị trường với buôn bán xuất khẩu cần tránh xảy ra
Trang 7+ Xác định hợp lý chi phí lao động: Cần tăng cường hạch toán kinh tế, chú ý tớihiệu quả kinh tế Với nước có giá thành gia công thấp hơn nước ngoài, khiquyết định mức chi phí lao động, không những phải xem xét xem có hợp lý haykhông, đồng thời phải tham khảo mức chi phí lao động của thị trường nướcngoài để hạch toán, cân nhắc hiệu quả, để cho tiêu chuẩn chi phí của mình vừa
có sức cạnh tranh, lại thu về nhiều ngoại tệ cho nước mình, tránh sự cạnh tranhvới các đơn vị gia công khác trong nước, tự ý hạ thấp mức chi phí lao động.+ Dần dần mở rộng tỷ trọng sử dụng nguyên liệu, linh kiện nước mình sản xuất:
ở những khu vực hoặc đơn vị có điều kiện, cần cố gắng sử dụng nhiều nguyênvật liệu hoặc linh kiện do nước mình sản xuất, tranh thủ nâng cao tỷ trọng ở mặtnày, dần dần quá độ sang tự kinh doanh xuất khẩu
+ Nâng cao năng lực của doanh nghiệp: Nỗ lực nâng cao năng lực của doanhnghiệp về mọi mặt Không ngừng nâng cao năng suất lao động, tăng khả năngcạnh tranh về mặt chất lượng Những đơn vị có điều kiện cần có kế hoạch dầndần nâng cao trình độ kỹ thuật của nghiệp vụ gia công Từ gia công nhiều sứclao động quá độ sang gia công tập trung kỹ thuật, tập trung vốn.\
II Hoạt động gia công quốc tế ngành may mặc ở Việt Nam
1 Thực trạng chung ngành may mặc
Ngày nay, ngành dệt may Việt Nam đang có sự phát triển vượt bậc so với thời
kỳ trước đây, ngày càng khẳng định được vị trí của mình ở những thị trường lớntrên khắp thế giới Để có được thành công như ngày hôm nay, lịch sử ngành dệtmay Việt Nam đã phải trải qua nhiều những nốt thăng trầm khác nhau Ngànhdệt may Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện ít nhất hơn một thế kỷ Tuy nhiên, đây
là mốc thời gian được chọn khi dệt may được xem là một ngành công nghiệp,còn khi xét về lịch sử với những hoạt động truyền thống như thêu thùa, dệt lụa,may vá thì chúng đã có từ xa xưa Vào thời kỳ Bắc thuộc, chúng ta đã có thể dệt
và cống nạp nhiều loại vải quý cho các triều đại Trung Quốc, đây có thể đượcxem là cái nôi của ngành công nghiệp dệt may hiện nay Tuy công nghiệp ngàymột phát triển, nhưng những làng nghề truyền thống ngày ấy được bảo tồn vàvẫn hoạt động cho tới bây giờ như làng lụa Vạn Phúc – Hà Tây, làng Mẹo –Thái Bình hay làng Triều Khúc – Hà Nội
Lịch sử ngành dệt may Việt Nam được tính là bắt đầu từ năm 1897 với sự kiệnthành lập Nhà máy Dệt Nam Định Ngành công nghiệp này đã nhanh chóng lớnmạnh sau Thế chiến thứ 2 với quy mô và hình thức khác nhau, ở miền Nam, cácdoanh nghiệp được thành lập và sử dụng máy móc hiện đại của Châu Âu Ở
Trang 8miền Bắc, các doanh nghiệp nhà nước do Trung Quốc, Liên bang Xô Viết cũ vàĐông Âu cung cấp thiết bị máy móc cũng được xây dựng trong giai đoạn này.Năm 1954, sau khi miền Bắc giành độc lập, Nhà máy Dệt Nam Định và Nhàmáy Dệt lụa Nam Định được khôi phục và tái thiết, một số nhà máy khác đượcxây dựng mới Ngoài ra, các làng nghề truyền thống và hợp tác xã cũng đượcnhà nước khuyến khích phát triển.
Sau khi Việt Nam thống nhất (tháng 4 năm 1975), Chính phủ đã tiếp quản mộtloạt các nhà máy ở miền Nam như Công ty Dệt Thắng Lợi, Công ty Dệt ViệtThắng, Công ty Dệt Phong Phú, Công ty Dệt Thành Công, vv Sau đó, một sốdoanh nghiệp quốc doanh trung ương được xây dựng như Công ty May Hà Nội,Công ty Dệt may Nha Trang, Công ty Dệt may Huế Một số cơ quan cấp địaphương cũng thành lập các doanh nghiệp dệt may Ngành công nghiệp này đãnhanh chóng phát triển để cung cấp hàng hóa cho thị trường trong nước
Từ năm 1976, ngành dệt may bắt đầu xuất khẩu sang các nước thuộc khối kinh
tế Đông Âu Lần đầu tiên Việt Nam đã xuất khẩu sang Liên Xô cũ dưới hìnhthức ký kết hợp đồng phụ Trong sự hợp tác này, Việt Nam nhận bông từ Liên
Xô cũ và chuyển trả lại bằng thành phẩm
Năm 1979, Việt Nam đã mở rộng loại hình hợp tác này sang các quốc gia khácnhư Hungary, Tiệp khắc và Đông Đức
Năm 1986, Việt Nam ký thỏa thuận hợp đồng phụ với Liên Xô cũ (được gọi làThoả Thuận 19/5) với khối lượng lớn Theo Thỏa thuận này, Liên Xô sẽ cungcấp tất cả nguyên vật liệu, các mẫu thiết kế và Việt Nam sẽ gia công và chuyểnlại sản phẩm ở dạng quần áo may sẵn và nhận hàng tiêu dùng
Giai đoạn 1987 – 1990 ngành công nghiệp có bước phát triển rõ rệt Các doanhnghiệp may mặc đã được thành lập trên khắp đất nước thu hút hàng trăm ngànlao động và đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước Sau khi Liên Xô và cácnước Đông Âu tan rã, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã trải qua một giaiđoạn khủng hoảng về bán hàng cũng như nguồn cung cấp nguyên liệu và thiết bịsản xuất
Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong nhữngnăm gần đây và trở thành một hoạt động sản xuất công nghiệp quan trọng trongnền kinh tế quốc dân Ngày 11/01/2007 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng củaNgành Dệt May Việt Nam khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ
150 của tổ chức WTO Chính từ đây hạn ngạch đã được xóa bỏ tạo điều kiệncho ngành phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới Ngành Dệt May Việt Nammới phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây nhưng là một trong nhữngngành xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam đã giải quyết công ăn việc làm cho rấtnhiều lao động và là ngành thu ngoại tệ lớn cho Việt Nam Giai đoạn 2007 -
Trang 92009 Việt Nam được coi là một trong 10 nước có kim ngạch xuất khẩu lớn nhấtthế giới về hàng dệt may.
Giai đoạn từ 2005 đến 2019, ngành dệt may Việt Nam đạt mức tăng trưởngKNXK bình quân 17,48%/năm Mặc dù chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ các nướctrong khu vực và những biến động giảm của thị trường dệt may thế giới nhưngnăm 2017 vẫn được coi là năm thành công của ngành Dệt May Việt Nam khikim ngạch xuất khẩu của ngành đạt mức hơn 31 tỷ USD (trong đó chủ yếu làkim ngạch xuất khẩu may trang phục là 26,038 tỷ USD), đã tăng 10,23% so vớinăm 2016 Không dừng lại ở đó năm 2018 kim ngạch xuất khẩu của ngành tiếptục tăng và đạt mức trên 36 tỷ USD đã tăng 16,01% so với năm 2017 Nhìnchung kim ngạch xuất khẩu của may mặc Việt Nam năm sau đều tăng so vớinăm trước và chiếm tỷ trọng tương đối so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước (Bảng 1) Theo các chuyên gia cho rằng khi các ưu đãi của các hiệp định
thương mại tự do chính thức có hiệu lực sẽ là cơ hội mở ra cho ngành phát triển
Trang 10từng tháng cho đến giữa năm 2021 Dịch Covid -19 đã ảnh hưởng đáng kể đếnhoạt động xuất khẩu của ngành Dệt May, tuy nhiên xuất khẩu toàn ngành Dệtmay sẽ lấy đà tăng trưởng trong các năm tiếp theo.
2 Tình hình hoạt động gia công quốc tế ngành may mặc ở Việt Nam
2.1 Các hình thức gia công quốc tế hàng dệt may xuất khẩu ở Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam thường căn cứ vào quyền sở hữu nguyên liệu trong quátrình sản xuất để phân loại các hình thức, ta chia làm 3 loại:
Phương thức nhận nguyên, phụ liệu và giao thành phẩm
Đây là một phương thức gia công quốc tế đơn giản nhất Khi hợp tác theophương thức này, các khách mua, các đại lý mua hàng và các tổ chức mua hàngcung cấp cho doanh nghiệp gia công toàn bộ đầu vào để sản xuất sản phẩm baogồm mẫu thiết kế nguyên
liệu, vận chuyển Các doanh nghiệp gia công Việt Nam chỉ thực hiện việc cắtmay và hoàn thiện sản phẩm Doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu theo phươngthức này chỉ cần có khả năng sản xuất và một chút khả năng thiết kế để thựchiện mẫu sản phẩm
Ở nước ta, hầu hết các doanh nghiệp may gia công đang áp dụng phương thứcnày Bên đặt gia công giao cho bên nhận gia công nguyên liệu, có khi cả cácthiết bị máy móc kỹ thuật phục vụ cho quá trình gia công Ngoài ra, bên đặt giacông có thể chỉ giao một phần nguyên liệu còn lại họ giao cho phía nhận giacông tự đặt mua tại các nhà cung cấp mà họ đã chỉ định sẵn trong hợp đồng vớigiá cả được ấn định từ trước hoặc thanh toán thực tế trên hóa đơn Các doanhnghiệp may mặc nước ta tiến hành sản xuất gia công theo yêu cầu về số lượngchủng loại, mẫu mã, thời gian; sau thời gian sản xuất bên đặt gia công sẽ thu hồithành phẩm và trả phí gia công cho doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất giacông, không có sự chuyển đổi quyền sở hữu về nguyên vật liệu Tức là bên đặtgia công vẫn có quyền sở hữu về nguyên vật liệu của mình Và khi thực hiệncông việc gia công, họ thường cử các chuyên gia nước ngoài giám sát hoặcđứng vị trí kỹ thuật cho nên tranh chấp về chất lượng ít khi xảy ra lúc giao hàng.Một số bạn hàng đặt gia công như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Canada
Do trình độ kỹ thuật máy móc trang thiết bị của ta còn hạn chế, chưa đủ điềukiện để cung cấp nguyên vật liệu, thiết kế mẫu mã nên việc phụ thuộc vào nướcngoài là điều không thể tránh khỏi
Đây là hình thức sản xuất cho giá trị thấp nhất Ông Phạm Xuân Hồng, Tổnggiám đốc Công ty May Sài Gòn 3, cho rằng, doanh nghiệp chỉ hưởng đượckhoảng 1-3% phí gia công Tuy nhiên do làm theo yêu cầu của hợp đồng gia
Trang 11công nên dễ dàng hơn trong việc thiết kế mẫu mã, tận dụng được các lợi thế củanước đặt gia công nên dễ dàng hơn trong việc thiết kế mẫu mã, tận dụng đượccác lợi thế của nước đặt gia công về mẫu mã, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý.
Phương thức mua đứt, bán đoạn
Đây là phương thức xuất khẩu ở bậc cao hơn so với phương thức nhận nguyênvật liệu, giao thành phẩm Bên đặt gia công dựa trên hợp đồng mua bán, bán đứtnguyên vật liệu cho bên nhận gia công, bên nhận gia công sẽ mở L/C để muanguyên phụ liệu và như vậy quyền sở hữu nguyên liệu sẽ được chuyển sang bênnhận gia công Sau một thời gian sản xuất, bên đặt gia công sẽ mua lại toàn bộsản phẩm theo như định mức đã duyệt với số tiền phải trả là toàn bộ chi phí muanguyên vật liệu và giá gia công được quy định trong hợp đồng
Hợp đồng này còn quy định số sản phẩm làm ra với số lượng nguyên liệu nhấtđịnh và phải bán lại cho bên đặt gia công Phương thức này ngày càng được ápdụng nhiều với các nước đang phát triển vì nó vừa tiết kiệm cho bên đặt giacông vừa thuận lợi cho bên nhận gia công Theo phương thức này, các doanhnghiệp gia công Việt Nam phải chủ động tham gia vào quá trình sản xuất, từviệc mua nguyên liệu đến ra sản phẩm cuối cùng Khác với phương thức nhậnnguyên vật liệu, giao thành phẩm, các nhà xuất khẩu theo phương thức mua đứtbán đoạn sẽ chủ động mua nguyên liệu đầu vào cần thiết thay vì được cung cấp
từ các người mua của họ
Như vậy thông qua phương thức này ta thấy nó không những nâng cao đượctrình độ quản lý cho cán bộ công nhân mà còn làm tăng hiệu quả sản xuất,không phải nhận một khoản chi phí thấp từ phía khách hàng nước ngoài nữa Nócòn giúp ta chủ động trong vấn đề giá cả, từ đó nâng cao một phần giá trị củahàng hóa sản xuất ra, lao động cũng nâng cao tay nghề và có trách nhiệm trongsản xuất hơn nữa
Phương thức kết hợp
Đây là phương thức phát triển cao nhất của hoạt động gia công xuất khẩu Bênđặt gia công sẽ cung cấp nguyên vật liệu chính, mẫu mã và các thông số kỹthuật của sản phẩm Còn bên nhận gia công tự lo nguyên vật liệu phụ và tự tổchức quá trình sản xuất gia công theo yêu cầu của bên đặt gia công Sau 20 nămtập trung cho sản xuất gia công đơn giản, ngành dệt may Việt Nam bước đầuchuyển sang phương thức sản xuất này Trong phương thức này, các doanhnghiệp may mặc Việt Nam hầu như chủ động hoàn toàn trong quá trình gia côngsản phẩm, phát huy được lợi thế về nhân công cũng như công nghệ sản xuất,nguyên phụ liệu trong nước Gia công theo hình thức này các doanh nghiệp cóthể bán một phần nguyên liệu trong nước theo giá quốc tế giúp mang lại hiệuquả kinh tế cao hơn, góp phần tăng khả năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập
Trang 12Xuất gia công theo phương thức này rất hấp dẫn khi giá trị tăng thêm có thểtăng từ 10- 15% Tuy nhiên, doanh nghiệp phải chịu nhiều rủi ro, thường là bịkhách hàng phạt với khâu làm mẫu chưa chuẩn, chất lượng lao động Ngoài ra,doanh nghiệp cũng phải chịu áp lực từ do ngành dệt may trong nước không đápứng được yêu cầu nguyên liệu cho nhu cầu may xuất khẩu nên các doanhnghiệp phải nhập vải may, trong khi giá trị vải nhập để sản xuất gia công lạichiếm tỷ lệ cao trong kim ngạch xuất khẩu, chưa kể các loại phụ liệu cao làmgiá cả độn lên nhiều phần,
Hiện nay, chỉ có các công ty xuất sắc mới đạt được trình độ cao của phươngthức này Và hiện nay cũng có một vài doanh nghiệp dệt may đã sử dụng hìnhthức gia công này nhưng một trong những doanh nghiệp thành công nhất phải
kể đến Công ty may Thăng Long thông qua sản phẩm mang thương hiệuTHALOGA Ngoài ra còn các công ty khác như: Việt Tiến, Đức Giang, Công ty
SX và xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội (HAPROSIMEX)
2.2 Thực trạng gia công quốc tế của ngành dệt may ở Việt Nam
Giai đoạn từ 1955- 1980, đây là giai đoạn hình thành các doanh nghiệp nhànước, cơ sở vật chất kỹ thuật nhỏ bé, thô sơ, chủ yếu làm hàng xuất khẩu thủcông Do vậy mặt hàng trong thời kỳ này hết sức giản đơn như: áo sơ mi, quần
áo bảo hộ lao động, giầy vải và da, len mỹ nghệ được xuất sang thị trường cácnước trong khối SNG và Liên Xô (cũ) Phương thức gia công xuất khẩu này làviệc bán hàng cho các nước XHCN theo nghị định thư giữa hai chính phủ vàđược cụ thể hoá bằng nghị định thư thương mại do Bộ Ngoại Thương ký kết.Bạn hàng không có nghĩa vụ cung cấp nguyên phụ liệu để sản xuất những mặthàng đó
Giai đoạn 1981 - 1990, Việt Nam chính thức làm hàng gia công xuất khẩu, bạnhàng có nghĩa vụ cung cấp nguyên phụ liệu tương ứng với số lượng đặt hàng.Cùng với việc đổi mới phương thức gia công, là việc đổi mới trang thiết bị, quytrình công nghệ trong sản xuất, lắp ráp thêm nhiều máy chuyên dụng Giai đoạnnày bạn hàng lớn nhất của Việt nam vẫn là Liên Xô (cũ), khối SNG đồng thờicũng có thêm một số bạn hàng mới đặt gia công như Pháp, Thuỵ Điển
Đầu thập kỷ 90 do sự biến động về kinh tế, chính trị của nhà nước Liên Xô (cũ)
và các nước XHCN, Đông Âu bị sụp đổ kéo theo đó là sự xoá bỏ, ngừng ký kếtcác nghị định thư về hợp tác sản xuất hàng gia công may mặc Đây là thời kỳkhó khăn đối với nước ta, hoạt động sản xuất gia công may mặc xuất khẩu suygiảm Nhưng do có sự chuyển hướng sản xuất kinh doanh sang các thị trườngkhác và đổi mới về trang thiết bị máy móc kỹ thuật hiện đại, cùng với đội ngũcán bộ kỹ thuật năng động, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao được đào tạochính quy nên đã đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng hàng gia côngmay mặc xuất khẩu cho các nước
Trang 13Việc nước ta chính thức gia nhập ASEAN vào tháng 7/1995, ký kết hiệp địnhkhung hợp tác với EU và bình thường hóa quan hệ với Mỹ đã có tác động thúcđẩy quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với cộng đồng quốc tế và tạo điềukiện thuận lợi để hoạt động gia công xuất khẩu phát triển mạnh mẽ, tạo đà pháttriển cho ngành dệt may Việt Nam Từ đó đến nay ngành gia công may mặcxuất khẩu của Việt Nam đã có thời gian thử thách và thực sự đã trưởng thànhvới những công ty hàng đầu như: Công ty may Việt Tiến, Công ty may ThăngLong, Công ty may 10,
Trong một vài năm trở lại đây, gia công quốc tế mặt hàng may mặc của ViệtNam có sự phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những quốc gia gia côngmay mặc lớn nhất trên thế giới
Năm 2018
Năm 2018, ngành Dệt may Việt Nam đánh dấu mốc quan trọng khi kim ngạchxuất khẩu đạt 36,2 tỷ USD, tăng trưởng hơn 16% so với năm 2017 Ngành Dệtmay Việt Nam nằm trong tốp 3 nước xuất khẩu cao nhất thế giới, chỉ sau TrungQuốc và Ấn Độ Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc đạt 28,78 tỷUSD, tăng 14,45% Đối với các thị trường lớn: xuất khẩu sang Mỹ tăng 11,6%,đạt 13,7 tỷ USD, chiếm 44,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của cảnước; xuất khẩu sang EU tăng 9,8%, đạt 4,1 tỷ USD, chiếm 13,4%, con số nàycòn khá khiêm tốn trong tổng giá trị xuất khẩu 36 tỷ USD của toàn ngành
Theo số liệu của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, tính đến năm 2018, cả nước cókhoảng 6.000 doanh nghiệp dệt may, trong đó có 5.101 doanh nghiệp gia cônghàng may mặc (chiếm 85%) Ngoài ra phải kể đến sự dịch chuyển đơn hàng từTrung Quốc sang Việt Nam của các thương hiệu lớn trên thế giới, do chiến lượcphát triển của nước này với tầm nhìn 2025 là sẽ phát triển các thương hiệu thực
sự của Trung Quốc, chứ không còn là một công xưởng của thế giới nữa Đây sẽ
là điều kiện thuận lợi cho ngành gia công may mặc của Việt Nam phát triểntrong những năm tiếp theo
Trang 14Bảng: Chủng loại hàng may mặc xuất khẩu chính của Việt Nam năm 2018Các mặt hàng chủ lực của Việt Nam là 3 sản phẩm áo thun, áo jacket và quầnvới kim ngạch xuất khẩu chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này.Các mặt hàng đều đang có xu hướng phát triển rất mạnh mẽ.
Năm 2019
Năm 2019, Việt Nam là một trong năm nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thếgiới, chỉ đứng sau Trung Quốc và Bangladesh Với tổng kim ngạch xuất khẩuđạt 39 tỷ USD trong năm 2019, ngành dệt may đã công bố con số xuất siêu 16,6
tỷ USD, tăng 2,25 tỷ USD so với 2018 Về hàng may mặc, chỉ số sản xuất trangphục tăng 6,9%, thấp hơn so với mức tăng 11,1% trong năm 2018 Sản lượngquần áo may mặc ước đạt 5.120 triệu chiếc, tăng 7,7% so với năm 2018 Sảnxuất theo hình thức gia công chiếm khoảng 65% tổng kim ngạch xuất khẩu,trong khi các mô hình kinh doanh tiên tiến hơn, như Nhà sản xuất thiết bị gốc(OEM) và Nhà sản xuất thiết kế gốc (ODM) chỉ chiếm 35%
Năm 2019, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường EU tăng4,8% so với năm 2018 tuy nhiên lại chưa tương xứng khi quy mô và khả năngtiêu thụ của thị trường này còn rất lớn. Trong số các thành viên của EU, riêng 4thị trường lớn là Đức, Hà Lan, Pháp, Tây Ba Nha và Bỉ đã chiếm 70% xuấtkhẩu dệt may của Việt Nam sang EU 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớnnhất gồm jacket, quần, áo thun, đồ lót, áo sơ mi, quần áo trẻ em, quần short,quần áo bảo hộ lao động, váy, quần áo bơi, chiếm 88,42% tổng kim ngạch xuấtkhẩu may mặc của Việt Nam sang EU