1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - chính sách thương mại quốc tế - đề tài - Phân tích cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam

20 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chính sách thương mại quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 464,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế hiện nay, Việt Nam đang thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Nhà nước đã chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu coi xuất khẩu là tiền đề để công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, là mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế của nước ta Trong đó, việc đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam là một phần quan trọng của chiến lược này bởi ý nghĩa và vai trò quyết định của nó đối với việc tăng hoặc giảm tổng kim ngạch xuất khẩu nói riêng và nguồn thu ngân sách nói chung Do vậy, việc xây dựng một cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ lực hợp lý, phù hợp với khả năng và tình hình sản xuất, phát triển của nền kinh tế nước ta nhằm phát huy tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước và nước ngoài đã đang và sẽ là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của nhà nước và các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu

Từ năm 1991 đến nay, việc xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đã đạt được một số thành tựu bước đầu Chúng ta đã có một số mặt hàng xuất khẩu giữ vai trò quan trọng trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu… với kim ngạch hàng trăm triệu USD

Mặc dù cơ cấu hàng xuất khẩu có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều hạn chế và mất cân đối, tỷ trọng các mặt hàng thô hoặc sơ chế vẫn còn cao, tổ chức và cơ chế quản lý hoạt động xuất khẩu còn lỏng lẻo

Trước tình hình đó, để đạt được mục tiêu tăng trưởng, xuất khảu với tốc độ nhanh, tạo điều kiện cho hàng hóa nước ta xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường khu vực và thế giới càng nhiều, ổn định và vững chắc, đặc biệt là các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chúng ta phải nhanh chóng nhìn nhận, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhằm đưa ra những giải pháp khắc phục kịp thời những tồn tại đó

Để góp phần đánh giá một cách đúng đắn, khách quan và đưa ra một số giải pháp chủ yếu

để hoạt động xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đạt hiệu quả cao,

nhóm em đã chọn đề tài: “Phân tích cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam”

Trong bài viết, em xin trình bày các nội dung:

Trang 2

Chương 1: Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1990-2011

Chương 2: Phương hướng và một số kiến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu trong thời gian tới.

Trang 3

Chương 1: Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1990-2011

1.1 Kết quả hoạt động xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam giai đoạn 1990-2011

1.1.1 Các nhóm hàng nông lâm thủy sản giai đoạn 1990-2011

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tuy gặp nhiều khó khăn do tác động của biến đổi khí hậu, dịch bệnh và giá cả đầu vào tăng cao, nhưng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2011 theo giá so sánh 1991 ước tính tăng 5,2% so với năm 2010, bao gồm: Nông nghiệp tăng 4,8%; lâm nghiệp tăng 5,7%; thuỷ sản tăng 6,1%

Giai đoạn 1990-2011, tốc độ kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này đạt bình quân 15%năm; Năm 1991 kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản chiếm tới 52,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, còn hàng hóa ngành công nghiệp nặng

và khoáng sản là 33,4% và tỷ trọng hàng công nghiệp nhẹ - tiểu thủ công nghiệp là 14% Đến năm 2010 tỷ trọng các loại hàng hóa đã thay đổi với cơ cấu tương ứng là 21% hàng nông nghiệp 11,1% hàng công nghiệp nặng và , 67,9% hàng công nghiệp nhẹ Như vậy nếu so sánh kết quả này với mục tiêu đề ra trong Chiến lược là giảm dần tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng nông , lâm thủy sản xuống còn 20% vào năm 2011 thì sự chuyển dịch này là phù hợp với định hướng và mục tiêu đề ra Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được cải thiện theo chiều hướng đa dạng hóa, giảm tỷ trọng hàng nông, lâm, hải sản, giảm tỷ trọng loại hàng hóa chưa qua chế biến Như vậy là đã có sự thay đổi về mặt hàng

và về chất của quá trình xuất khẩu Thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam càng ngày càng mở rộng và thay đổi về cơ cấu thị trường Sau khi hệ thống XHCN tan rã, thị trường này không còn nữa thì các nước châu Á đã nhanh chóng trở thành các bạn hàng xuất khẩu chính của ta Trong số các nước ở châu Á thì Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò lớn, tuy nhiên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của ta sang các nước đó cũng đã thay đổi theo hướng giảm dần và tăng ở các nước khối EU và châu Mỹ Nhìn chung, trong 20 năm qua, cơ cấu thị trường xuất khẩu tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn chậm và chưa rõ nét, mang nặng tính tình thế, đối phó, nhất là thị trường xuất khẩu nông sản, các bạn hàng lớn còn ít và không ổn định Chiến lược thị trường chưa được xây dựng trên thế chủ động từ các yếu tố lợi thế cạnh tranh của các mặt hàng Trong giai đoạn vừa qua, hàng nông sản vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam

Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong nhóm này là thủy sản, gạo, cà phê, rau quả, chè Trong giai đoạn 1990-2011, sáu mặt hàng này đã chiếm hơn 90% tổng kim ngạch của nhóm Các mặt hàng khác như hạt tiêu, hạt điều tuy đã bắt đầu xuất khẩu từ khá lâu nhưng kim ngạch nhỏ, hầu như không ảnh hưởng đến tỷ trọng cảu nhóm hàng này

1.1.1.1 Chúng ta xét đến nhóm hàng thủy sản giai đoạn này

Thủy sản là mặt hàng xuất khẩu quan trọng thứ 3 của Việt Nam sau dầu thô và dệt may và là một động lực lớn thúc đẩy xuất khẩu của cả nước Trong những năm qua, xuất

Trang 4

khẩu thuỷ sản tăng trưởng liên tục với tốc độ từ 8 – 10%/năm kể từ năm 1990 (trừ 2009) Đặc biệt, năm 2000, tốc độ tăng trưởng đạt tới 53%, chủ yếu do xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ tăng mạnh với tỷ lệ 132% Năm 2011 kim ngạch đạt mức ấn tượng với 6,11 tỉ USD, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước Việt Nam trở thành một trong mười quốc gia xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới

Hình 1: Xuất khẩu Thủy Sản từ năm 1993-2011.

Nguồn: Tổng cục thống kê

Hình 2: Cơ cấu các GDP

các ngành qua các thời kỳ.

Hình 3: Tỷ lệ xuất khẩu mặt hàng nông sản Việt Nam năm 2011

19952011

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

Khu vực 3 Xây dựng

SX và p.p điện Công nghiệp chế

biến Khai thác mỏ Thủy sản Nông nghiệp @

LS

Nguồn: Tổng cục thống kê Nguồn: Bộ Thương Mại

Tỷ trọng xuất khẩu thủy sản so với tổng kim ngạch xuất khẩu luôn dao động trong khoảng 8,27% đến 1,1% Như vậy, tỷ trọng này hầu như không tăng trưởng trong giai đoạn 1990-2011, mặc dù thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng cao, điều đó lý giải bởi sự gia tăng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nền kinh tế

1.1.1.2 Nông, lâm sản

Trang 5

Giai đoạn này, ngành nông nghiệp Việt Nam đã chứng kiến bước tiến vượt bậc của xuất khẩu nông sản Sự thành công của xuất khẩu các mặt hàng như: gạo, cà phê, cao su trong năm 2011 Bên cạnh những tồn tại về quy mô sản phẩm xuất khẩu còn nhỏ bé, thị phần trên thế giới thấp, chất lượng sản phẩm còn yếu kém, thì xuất khẩu nông sản của nước ta còn gặp nhiều khó khăn về giá cả xuất khẩu Giai đoạn 1990-2005, giá cả thị trường thế giới luôn luôn biến động bất lợi cho hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam Khối lượng nông sản xuất khẩu tuy có tăng lên năm sau cao hơn năm trước, nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu lại tăng lên không tương xứng, vì giá bán của ta giảm xuống Ví dụ, năm 1999 gạo của ta xuất khẩu được 4,5 triệu tấn tức là tăng 19,3% so với năm 1998, nhưng kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng lên 9,1% Cao su năm 1999 xuất khẩu được 265 ngàn tấn, tăng hơn năm 1998 là 38,7%, nhưng kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng thêm được 14,8 Giai đoạn 2005-2010, có thể thấy, thị trường thế giới đang tạo thuận lợi lớn cho hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam theo Tổ chức Lương Nông Liên hợp quốc (FAO), giá nông sản, lương thực và nhu yếu phẩm trên thế giới tăng cao chưa từng thấy

kể từ năm 1990 tới nay và chưa có dấu hiệu đảo ngược Chỉ riêng trong tháng 1/2011, giá lương thực tăng 3,4% so với tháng 12/2010 Từ tháng 5/2010 đến nay, giá lúa mỳ, ca cao tăng 6% Riêng giá cà phê tăng 30% trong cùng thời kỳ

a, Ta đi sâu vào những mặt hàng chủ lực đó là gạo.

Trong giai đoạn 1990-2010, kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam có những biến động tương đối lớn Trong đó kể đến giai đoạn 1996-2000, kim ngạch xuất khẩu giảm bình quân 3,8% /năm, nhưng cũng có 3 năm kim ngạch tăng Giai đoạn 2001-2003, có 3 năm kim ngạch tăng và 2 năm kim ngạch giảm nên bình quân tăng 17,8%/năm Theo dõi hình 4

Năm 1989, Việt Nam xuất khẩu đạt 1,4 triệu tấn và kim ngạch hơn 320 triệu USD Trong năm tiếp theo VN xuất khẩu được 1,6 triệu tấn nhưng giá cả sút giảm nên kim ngạch chỉ đạt 310 triệu USD Năm 1991 VN đã không duy trì được lượng gạo XK như

cũ, mà chỉ còn ở mức 1 triệu tấn, kim ngạch XK cũng chỉ còn 240 triệu USD Đến năm

1992 sản xuất phục hồi, số lượng xuất khẩu cũng tăng trở lại Từ năm đó đến 1995, xuất khẩu ở quanh mức 2 triệu tấn, sản xuất chưa vượt Gạo xuất khẩu chủ yếu là 35% và 25% tấn, chỉ có một số lượng nhỏ là gạo 25% Từ 1996 lượng xuất khẩu vượt qua 3 triệu tấn

và lên đến 4,5 triệu tấn vào năm 1999, nhưng cũng từ năm đó lượng gạo xuất khẩu suy giảm nhanh, giá xuất khẩu cũng giảm rất mạnh Năm 2000, lượng xuất khẩu giảm xuống còn 3,5 triệu tấn, giá bình quân chỉ còn 181 USD/T, năm 2001 bình quân chỉ còn 154 USD/T Từ 2001 đến 2003 là các năm xuất khẩu suy kém nhất về lượng và giá Xuất khẩu yếu kém, giá cả suy giảm đã tác động mạnh đến sản xuất lúa Tỉ lệ tăng của sản lượng lúa trong 3 năm này là 2%, bằng 1/3 tỉ lệ tăng của các năm 1996-1999 Từ 2005 đến 2010 là thời kỳ tăng trưởng rất mạnh của việc xuất khẩu lúa gạo cả về giá cả và số lượng Tổng khối lượng xuất khẩu trong các năm này đạt 31,8 triệu tấn, chiếm 41% số lượng và kim ngạch đạt 11,9 tỉ USD, chiếm 56% tổng kim ngạch xuất khẩu từ 1989 đến 2010

b, Xuất khẩu Cà phê.

Kim ngạch xuất khẩu cà phê

Trang 6

Cà phê là mặt hàng xuất khẩu quan trọng thứ 2 trong các mặt hàng nông sản Khác với gạo, hầu như toàn bộ cà phê dành cho xuất khẩu, tiêu thụ trong nước chỉ chiếm 5%

Kể từ khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cà phê ra thị trường thế giới đến nay, ngành hàng cà phê luôn đạt được mức tăng trưởng ấn tượng, trở thành một trong năm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành nông nghiệp

Nếu như giai đoạn 1990-1995, sản lượng xuất khẩu cà phê bình quân của nước ta chỉ đạt 123.000 tấn/năm, với kim ngạch 198 triệu USD/năm, thì đến giai đoạn

1996-2000, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã lên mức 432 triệu USD/năm, tăng 2,1 lần so với giai đoạn trước đó Chưa dừng lại ở đây, giai đoạn 2006-2009, xuất khẩu cà phê của Việt Nam tiếp tục vươn lên khẳng định vị trí là nước xuất khẩu lớn thứ 2 trên thế giới Theo đó, năm 2008, xuất khẩu cà phê đã đạt mức kỷ lục với kim ngạch 2,1 tỷ USD, gấp 23,3 lần so với năm 1990 Năm 2010, do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới, xuất khẩu cà phê có sụt giảm song vẫn đạt mức 1,7 tỷ USD Xuất khẩu cà phê năm 2011đạt 1,67 tỷ đô la, giảm 5% về khối lượng và giảm 4% về trị giá

Hình 4: Sản xuất và xuất khẩu lúa gạo

Việt Nam từ 1989- 2010 gạo (nghìn

tấn)

Hình 5: Tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta từ năm 1991 đến năm 2009

Nguồn: Số liệu VFA và Tổng cục

thống kê

Nguồn: Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn

.

1.1.2 Nhóm mặt hàng CN nhẹ chế biến và chế tạo, TCMN giai đoạn 1990-2011

Trang 7

Nguồn: Bộ thương mại Nguồn: Báo cáo Bộ Thương Mại

Giai đoạn 1990-2011, nhóm sản phẩm công nghiệp và thủ công mỹ nghệ là nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 20%/năm, chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 1990-2011 của cả nước Tỷ trọng của nhóm hàng này tăng khá mạnh qua các năm với nhiều mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như dệt may, giày dép, sản phẩm

gỗ, điện tử và linh kiện máy tính đạt tốc độ tăng trưởng cao Năm 1990 tỷ trọng của nhóm này là dưới 30% đã tăng lên hơn 40% vào năm 2011 Nhìn chung đây là nhóm hàng có quy mô và tốc độ tăng trưởng cao nhất và cho thấy nhiều tiềm năng phát triển trong thời gian tới

Trang 8

c, Dệt may.

Giống như các nước khác trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, sự chuyển đổi công nghiệp của Việt Nam được khởi động từ ngành may mặc hướng vào xuất khẩu Thị trường dệt may Việt Nam không ngừng phát triển và hiện nay đã đạt được con số kim ngạch xuất khẩu 10,5 tỷ USD/ năm, thị trường xuất khẩu mở rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới Từ những mẫu mã đơn giản đến phức tạp, các sản phẩm của dệt may Việt Nam đều được làm một cách cẩn thận và có uy tín Trong các thị trường nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam thì Châu Âu được đánh giá là một trong những thị trường rộng lớn, tiềm năng nhưng cũng rất khó tính Việc xuất khẩu hàng dệt may VN vào thị trường này trong những năm gần đây đã có những bước tiến mạnh mẽ, song vẫn chưa tương xứng với sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam

và thị trường đầy tiềm năng này

Xuất khẩu dệt may từ khoảng 40 triệu USD năm 1987 đã tăng lên 1,9 tỷ USD năm

2000 và 4,8 tỷ USD năm 2005 đến năm 2011 đạt 15,6 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng bình quân cao, hơn 20% Chỉ trong 10 năm, từ 2000-2010, ngành dệt may đã vươn lên trở thành ngành đạt kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước với doanh thu năm 2010 đạt 11,2 tỉ đô la Mỹ Thị phần của Việt Nam trên thị trường thế giới giai đoạn

2005-2008 tăng từ 1,7% lên 2,5%, thuộc nhóm năm quốc gia có quy mô xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới Ngoài ra, ngành dệt may hiện sử dụng trên 3 triệu lao động - trong

đó hơn 1,3 triệu lao động công nghiệp, chiếm tỷ trọng trên 10% lực lượng lao động công nghiệp cả nước Tuy kim ngạch các năm liên tục tăng, tuy nhiên, cũng có những năm tốc độ tăng trưởng giảm thậm chí không tăng

d, Giày dép

Xuất khẩu giày dép đã có một sự tăng trưởng đáng kể từ giai đoạn 1990, sau hơn 20 năm , mặt hàng giày dép nổi lên là sản phẩm xuất khẩu có tầm quan trọng thứ 3 sau dầu thô và dệt may vào cuối những năm 90 Ngành da giày có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 25%/năm từ 2001 đến 2011, với kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt 6 tỷ USD, chiếm 9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nền kinh tế Cùng với dệt may, da giày còn

là ngành trọng tâm tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động phổ thông và bán chuyên nghiệp, tận dụng lợi thế tương đối về chi phí nhân công thấp Ngành công nghiệp

da giày cũng được kỳ vọng là có tiềm năng trong chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng gia tăng tỉ trọng sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng, công nghệ và hàm lượng chất xám cao so với sản phẩm xuất thô

Hình 8:Kim ngạch Xuất Khấu giày dép Việt Nam thời kì 2001-2011

Trang 9

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011

0

1

2

3

4

5

6

7

-20 -15 -10 -5 0 5 10 15 20 25 30

Kim Ngạch Xuất khẩu( tỷ USD) Tăng trưởng( %)

Nguồn : Báo cáo Bộ thương mại hàng năm

1.1.3 Các mặt hàng khoáng sản giai đoạn 1991 -2011

Các thống kê địa lý cho thấy Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản rất đa dạng Nước này có quặng phốt pho, bôxít, đất hiếm thuộc loại lớn nhất thế giới và những

mỏ dầu, than đá, thiếc, đồng, than chì và các khoáng sản công nghiệp khác có giá trị thương mại cao Việt Nam chủ yếu xuất khẩu dầu mỏ và than đá

1.1.3.1 Dầu

Dầu thô là sản phẩm xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam xét theo tổng doanh thu Tuy nhiên, nguồn thu ngoại tệ ròng nhỏ hơn nhiều do Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào các sản phẩm hoá dầu nhập khẩu và mức vốn dành cho sản xuất Tiềm năng xuất khẩu của ngành này được coi là cao

Từ năm 1991, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh về cả số lượng và chất lượng Một số mặt hàng xuất khẩu quan trọng đã hình thành và phát triển nhanh chóng Đó là dầu thô, nông sản, giày dép, dệt may.Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu dầu thô vào những năm 1989 với số lượng 1,5 triệu tấn, đến năm 1991 là gần 4 triệu tấn và cả thời kì 1991 - 1995 đã xuất khẩu hơn 30 triệu tấn Bắt đầu từ năm 1989, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 1 tỷ USD do có thêm dầu thô

Việt Nam là một nước xuất khẩu dầu nhưng cũng nhập khẩu một lượng lớn Dầu thô 100% xuất khẩu, do Việt Nam còn thiếu các nhà máy lọc dầu Mặc dù có mức tăng trưởng lớn về mặt giá trị (14%), nước này vẫn hoạt động kém hơn so với thị trường thế giới; tuy nhiên xét về khối lượng, xuất khẩu tăng nhanh hơn mức trung bình của thế giới

Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là khu vực Thái Bình Dương, như Australia, Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản và Hoa Kỳ Chúng ta nhận thấy có những cơ

Trang 10

hội để đa dạng hoá thị trường như Indonesia, Canada và Liên minh châu Âu (Bỉ, Đức, Tây Ban Nha, Hungary và Italia)

Việt Nam có 600 triệu thùng dầu thô dự trữ, tuy nhiên con số này có thể sẽ tăng do tiếp tục được khai thác Năm 2004, sản xuất dầu thô trung bình đạt 400.000 thùng dầu mỗi ngày (bbl/d), đưa Việt Nam trở thành nước sản xuất dầu lớn thứ ba châu Á, và có kim ngạch xuất khẩu ròng đạt hơn 190.000 bbl/d Các thị trường xuất khẩu bao gồm Hoa

Kỳ, Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc

Petro Vietnam đã thay đổi mục tiêu xuất khẩu dầu thô của công ty này năm nay lên 19,5 triệu tấn; cao hơn 1,5 triệu tấn so với mục tiêu ban đầu, do giá dầu tiếp tục tăng mạnh trong quý đầu của năm 2005 Vì thế doanh thu từ xuất khẩu dầu đạt 1,6 tỷ trong ba tháng đầu năm, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước, trong khi khối lượng xuất khẩu dầu đạt 4,5 triệu tấn, thấp hơn 10% so với cùng kỳ năm trước Doanh thu từ dầu tăng lên do giá dầu thô cao hơn, tăng 48% so với cùng kỳ năm trước Công ty dầu và khí đốt lớn của

cả nước Petro Vietnam ước tính doanh thu từ xuất khẩu dầu năm nay có thể đạt 5,5 tỷ USD, tiếp tục tăng thêm 50 USD mỗi thùng trong những tháng tới

Các mỏ dầu ngoài khơi Việt Nam rất lớn, được coi là những mỏ dầu thuộc loại lớn nhất nằm ngoài khu vực Trung Đông Những con số ước tính của quốc gia này cho thấy trữ lượng dầu có thể khai thác được khoảng 0,4 tỷ tấn dầu thô và 0,7 tỉ tấn khí ga Sản lượng dầu của Việt Nam tăng lên nhờ có đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tiên là các công ty Liên doanh Liên bang Xô viết vào giữa những năm 1980 Hiện nay, các công

ty Nga, Malaysia, Nhật Bản và Canada tham gia vào khai thác và sản xuất Sản lượng ước tính tăng khoảng 20 triệu tấn mỗi năm tính đến năm 2005

Thị trường thế giới đối với sản phẩm dầu khí rất lớn, và đang tăng mạnh xét về mặt giá trị do giá dầu đang tăng Kim ngạch nhập khẩu đạt 580 tỷ USD năm 2003 và đang tăng với tốc độ chóng mặt là 43% về mặt giá trị, ngược lại với mức tăng trưởng về mặt khối lượng chỉ ở mức gần 0,3% Các nước nhập khẩu lớn nhất là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Cộng hoà Triều Tiên và Trung Quốc

Các thị trường chính của Việt Nam còn để ngỏ với dầu Việt Nam Hầu như tất cả kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong lĩnh vực này đều từ một sản phẩm “các sản phẩm dầu …” (HS 270900) Sản phẩm này cũng chiếm tới gần 80% thương mại thế giới trong lĩnh vực này Thị trường lớn nhất, Hoa Kỳ, cũng như Nhật Bản và Liên minh châu

Âu, không áp dụng thuế quan Việt Nam không phải chịu mức thuế cao hơn hầu hết các nước khác ở thị trường Đài Loan và Australia

Ngày đăng: 13/04/2025, 08:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Xuất khẩu Thủy Sản từ năm 1993-2011. - Tiểu luận - chính sách thương mại quốc tế - đề tài  - Phân tích cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Hình 1 Xuất khẩu Thủy Sản từ năm 1993-2011 (Trang 4)
Hình 4: Sản xuất và xuất khẩu lúa gạo - Tiểu luận - chính sách thương mại quốc tế - đề tài  - Phân tích cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Hình 4 Sản xuất và xuất khẩu lúa gạo (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w