1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM

120 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Xuất Khẩu Cho Các Mặt Hàng Xuất Khẩu Chủ Lực Của Việt Nam
Tác giả Nguyễn Phú Hoàng Hà
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Hồng
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Khái niệm về thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực (14)
    • 1.1.1 Xác định mức độ hấp dẫn của thị trường (15)
    • 1.1.2 Xác định nhu cầu cơ bản của thị trường (15)
    • 1.1.3 Xác định mức độ đáp ứng sẵn có của các nguồn lực tại thị trường (16)
    • 1.1.4 Đánh giá môi trường kinh doanh của quốc gia thâm nhập (16)
    • 1.1.5 Đánh giá tiềm năng thị trường xuất khẩu (18)
    • 1.1.6 Đánh giá tiềm năng địa điểm đầu tư (19)
    • 1.1.7 Lựa chọn thị trường,địa điểm (19)
  • 1.2 Các phương thức thâm nhập thị trường trong kinh doanh quốc tế (20)
    • 1.2.1 Phương thức thâm nhập bằng xuất khẩu (20)
    • 1.2.2 Phương thức thức thâm nhập hợp đồng giấy phép (22)
    • 1.2.3 Phương thức thâm nhập thị trường bằng đầu tư (24)
  • 1.3 Khái niệm về phát triển thị trường xuất khẩu (26)
  • 1.4 Khái niệm về mặt hàng chủ lực (28)
  • 1.5 Nội dung công tác phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt Nam (30)
  • CHƯƠNG II THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2018 (35)
    • 2.1.1 Đánh giá và phân tích thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt (35)
    • 2.1.2 Đánh giá và phân tích thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt (43)
    • 2.2 Chính sách của Đảng, Chính phủ, các bộ ban ngành nhằm thúc đẩy phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2018 (59)
      • 2.2.1 Các hiệp định thương mại Việt Nam đã kí kết trong giai đoạn 2010- (64)
      • 2.2.2 Phòng vệ thương mại và sự ảnh hưởng tới công tác phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt Nam (69)
      • 2.2.3 Các chính sách phát triển mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (74)
    • 2.3 Hoạt động của Hiệp hội ngành nghề, tổ chức xúc tiến thương mại giai đoạn 2010-2018 (77)
    • 2.4 Hoạt động của các Doanh nghiệp xuất khẩu trong giai đoạn 2010-2018 (82)
    • 2.5 Đánh giá công tác phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2018 (84)
  • CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM TỪ (89)
    • 3.1 Định hướng giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt Nam từ nay đến năm 2030 (89)
    • 3.2 Hoàn thiện các giải pháp phát triển triển thị trường xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Đảng, Chính phủ, các bộ ban ngành từ nay đến năm (91)

Nội dung

Khái niệm về thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực

Xác định mức độ hấp dẫn của thị trường

Các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế thường hướng đến việc mở rộng thị trường tiêu thụ, gia tăng doanh thu, giảm thiểu rủi ro và tiếp cận các nguồn lực từ thị trường nước ngoài Do đó, bước đầu tiên trong quá trình chọn lựa thị trường nước ngoài là nghiên cứu và đánh giá nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm của doanh nghiệp, đồng thời xem xét khả năng đáp ứng nguồn lực tại thị trường đó nếu doanh nghiệp có kế hoạch tổ chức sản xuất hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Xác định nhu cầu cơ bản của thị trường

Khi tham gia kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp cần xác định nhu cầu về những mặt hàng khả thi trên thị trường nước ngoài Bước đầu tiên là nghiên cứu thị trường để đánh giá nhu cầu sản phẩm mục tiêu, từ đó tiến hành các nghiên cứu sâu hơn nhằm xúc tiến kinh doanh Cần lưu ý rằng một số quốc gia có thể cấm tiêu dùng hoặc kinh doanh một số mặt hàng nhất định, tùy thuộc vào văn hóa, điều kiện thời tiết, khí hậu và địa hình Vì vậy, việc xác định nhu cầu sản phẩm là yếu tố quyết định cho sự thành công trong kinh doanh quốc tế.

Xác định mức độ đáp ứng sẵn có của các nguồn lực tại thị trường

Khi lập kế hoạch dự án kinh doanh ở nước ngoài, doanh nghiệp cần xem xét khả năng huy động nguồn lực như nguyên vật liệu, nhân lực và điều kiện tài chính Việc nhập khẩu có thể gặp rào cản, do đó doanh nghiệp phải dự toán chi phí bổ sung để đảm bảo nguồn lực cho hoạt động sản xuất Nguồn lao động là yếu tố quan trọng mà doanh nghiệp cần cân nhắc khi lựa chọn thị trường, đặc biệt là các doanh nghiệp đa quốc gia thường ưu tiên các quốc gia có chi phí lao động thấp để tối ưu hóa chi phí sản xuất Hơn nữa, doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu khả năng cung ứng vốn và chi phí vay mượn tại thị trường nước ngoài, vì nếu lãi suất vay quá cao, họ sẽ phải tìm kiếm nguồn tài chính từ trong nước hoặc các thị trường khác với lãi suất thấp hơn.

Đánh giá môi trường kinh doanh của quốc gia thâm nhập

Môi trường kinh doanh ở mỗi quốc gia có sự khác biệt lớn, yêu cầu doanh nghiệp phải đánh giá cẩn thận trước khi quyết định thâm nhập Ngoài các yếu tố như lao động, vốn vay và cung ứng nguyên liệu, còn có nhiều yếu tố môi trường kinh doanh khác ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.

Các yếu tố văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sự tương đồng văn hóa giữa các quốc gia, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm nội địa tại các thị trường nước ngoài Mặc dù có sự tương đồng, mỗi quốc gia vẫn sở hữu những đặc trưng văn hóa và phong tục tập quán riêng, do đó, sản phẩm xuất khẩu cần được điều chỉnh cho phù hợp với từng thị trường Văn hóa không chỉ ảnh hưởng đến việc lựa chọn loại sản phẩm mà còn đến phương thức phân phối, vì vậy các công ty xuất khẩu cần xác định rõ cách thức văn hóa tác động đến khả năng tiêu thụ để đáp ứng nhu cầu của thị trường và quản lý biến động nguồn cung hiệu quả.

Chính phủ tại quốc gia xuất khẩu áp dụng các quy định nhằm bảo vệ doanh nghiệp và ngành công nghiệp nội địa, từ đó hạn chế sự cạnh tranh từ các công ty quốc tế trong một số lĩnh vực như du lịch, sản xuất thiết bị quân sự, nhôm và thép, cũng như khai thác năng lượng để bảo đảm an ninh quốc gia Để duy trì khả năng tích trữ ngoại tệ phục vụ cho nhu cầu nhập khẩu, chính phủ có thể hạn chế việc chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, yêu cầu các công ty quốc tế giữ ngoại tệ tại thị trường hoặc tái đầu tư vào các dự án mới Mỗi quốc gia đều có các tiêu chuẩn và hệ thống pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường, vì vậy doanh nghiệp cần cam kết đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn này thông qua việc lắp đặt thiết bị chống ô nhiễm và hệ thống xử lý chất thải theo quy định.

Bộ máy hành chính của thị trường cần hoạt động linh hoạt và thông suốt để thu hút đầu tư nước ngoài Ngược lại, một bộ máy cồng kềnh và thiếu minh bạch sẽ làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Tuy nhiên, nếu cơ hội trên thị trường đủ lớn để bù đắp chi phí hành chính, doanh nghiệp vẫn có thể quyết định thâm nhập vào thị trường đó.

Sự ổn định môi trường kinh doanh ở mỗi quốc gia chịu ảnh hưởng từ rủi ro chính trị, có thể gây tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh Rủi ro này có thể đe dọa thị trường xuất khẩu, cơ sở sản xuất và khả năng chuyển lợi nhuận của doanh nghiệp Để giảm thiểu rủi ro chính trị, các doanh nghiệp cần thường xuyên rà soát và dự đoán các sự kiện chính trị có thể ảnh hưởng đến hoạt động của mình.

Các nhà kinh doanh cần phân tích kỹ lưỡng các yếu tố chính trị, pháp luật và tài chính khi lựa chọn thị trường và địa điểm mới Chính sách tiền tệ và tài khóa không hiệu quả có thể dẫn đến lạm phát cao, thâm hụt ngân sách gia tăng, và giảm giá nội tệ, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động Biến động tỷ giá mạnh cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc xác định quy mô đầu tư hợp lý và dự đoán thu nhập tương lai, làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn hơn.

Đánh giá tiềm năng thị trường xuất khẩu

Quy mô thị trường không chỉ phản ánh kích thước của một sản phẩm cụ thể mà còn thể hiện toàn bộ nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng thị trường cho thấy sự biến động quy mô, với những thị trường nhỏ nhưng có tốc độ tăng trưởng nhanh vẫn thu hút sự chú ý từ các nhà đầu tư nước ngoài Sức mua thị trường thường được đo bằng GNP bình quân đầu người, dựa trên thuyết ngang bằng sức mua.

Cơ sở hạ tầng thương mại được hiểu là việc đánh giá các kênh phân phối và hạ tầng viễn thông, bao gồm số lượng điện thoại, tivi, máy fax và máy tính trên đầu người, cùng với mức độ kết nối internet Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả thương mại.

Mức độ tự do kinh tế là khái niệm thể hiện sự hiện diện của các nguyên tắc kinh tế thị trường, bao gồm chính sách thương mại của chính phủ, mức độ can thiệp của chính phủ vào hoạt động kinh doanh, và hiệu quả của quyền sở hữu trí tuệ.

Mức độ mở cửa thị trường là khái niệm thể hiện mức độ hội nhập của một quốc gia vào nền kinh tế toàn cầu Nó được đo lường thông qua tỷ trọng giá trị tổng xuất nhập khẩu hoặc giá trị xuất khẩu so với GDP của quốc gia, hoặc tính theo giá trị xuất khẩu bình quân đầu người.

Đánh giá tiềm năng địa điểm đầu tư

Trong quá trình kinh doanh, các công ty cần xem xét kỹ lưỡng chất lượng nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực, bao gồm công nhân và nhà quản trị Sự dư thừa hoặc thiếu hụt lao động có kỹ năng trong thị trường có thể ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của doanh nghiệp Do đó, các công ty cần tính toán chi phí đào tạo nhân lực và quyết định sử dụng lao động địa phương hay lao động từ quốc gia của mình Việc đào tạo nhà quản trị địa phương tốn thời gian và chi phí, trong khi thiếu hụt quản lý có thể dẫn đến việc cử người từ trong nước ra nước ngoài, làm gia tăng chi phí Ngoài ra, tình trạng cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, sân bay và hệ thống thông tin liên lạc cũng cần được xem xét khi lựa chọn địa điểm, vì chúng ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm.

Lựa chọn thị trường,địa điểm

Giai đoạn cuối cùng trong quá trình lựa chọn thị trường và địa điểm là đánh giá các thị trường và địa điểm tiềm năng còn lại Để xác thực những kỳ vọng ban đầu về thị trường, các doanh nghiệp thường tổ chức các chuyến khảo sát thực tế và tiến hành phân tích đối thủ cạnh tranh.

Khảo sát thực tế giúp nhà quản trị gặp gỡ trực tiếp để trao đổi và kiểm chứng kết quả nghiên cứu, trải nghiệm văn hóa địa phương, quan sát hành vi lao động tiềm năng, cũng như tiếp xúc với khách hàng và nhà phân phối.

Phân tích thị trường là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc định giá sản phẩm trong môi trường cạnh tranh cao Mức độ cạnh tranh gia tăng không chỉ làm tăng chi phí sản xuất và chi phí nghiên cứu phát triển (R&D), mà còn tạo áp lực giảm giá sản phẩm Do đó, các nhà quản trị cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa mức giá thấp, chi phí cao và lợi ích tiềm năng từ thị trường Phân tích cạnh tranh nên tập trung vào số lượng đối thủ cạnh tranh, thị phần của từng đối thủ, thị trường mục tiêu, chiến lược chất lượng hay giá cả, mức độ kiểm soát kênh phân phối, lòng trung thành của khách hàng, nguy cơ từ sản phẩm thay thế, khả năng gia nhập thị trường của đối thủ tiềm năng, và mức độ kiểm soát đối với các yếu tố đầu vào chủ yếu như lao động, vốn và nguyên vật liệu thô.

Các phương thức thâm nhập thị trường trong kinh doanh quốc tế

Phương thức thâm nhập bằng xuất khẩu

Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động mà doanh nghiệp bán hàng trực tiếp cho khách hàng ở thị trường nước ngoài Các doanh nghiệp lớn và có kinh nghiệm quốc tế thường chọn hình thức này để tiếp cận thị trường quốc tế hiệu quả hơn Xuất khẩu trực tiếp có thể được thực hiện qua hai hình thức chính.

Đại diện bán hàng là cá nhân hoặc tổ chức thực hiện việc bán hàng dưới danh nghĩa của người xuất khẩu, nhận lương và hoa hồng dựa trên giá trị hàng hóa bán được, hoạt động như nhân viên bán hàng cho doanh nghiệp xuất khẩu tại thị trường nước ngoài Trong khi đó, đại lý phân phối mua hàng hóa từ người xuất khẩu để bán tại khu vực thị trường được phân định, chấp nhận toàn bộ rủi ro liên quan đến việc bán hàng và thu lợi nhuận từ chênh lệch giữa giá mua và giá bán.

Xuất khẩu gián tiếp là hình thức mà doanh nghiệp bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài thông qua các trung gian như đại lý, công ty quản lý xuất nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu Những trung gian này không sở hữu hàng hóa của doanh nghiệp nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa sang thị trường quốc tế.

Đại lý là cá nhân hoặc tổ chức đại diện cho một hoặc nhiều nhà xuất khẩu tại thị trường nước ngoài, thực hiện các nhiệm vụ được ủy thác và nhận thù lao Họ không sở hữu hàng hóa mà chỉ thiết lập quan hệ hợp đồng giữa nhà xuất khẩu và khách hàng quốc tế.

Công ty quản lý xuất khẩu là những đơn vị nhận uỷ thác và thực hiện các thủ tục xuất khẩu hàng hoá, hoạt động dưới danh nghĩa của công ty xuất khẩu, do đó được coi là nhà xuất khẩu gián tiếp Chức năng chính của họ là cung cấp dịch vụ quản lý xuất khẩu và thu phí dịch vụ Ngược lại, công ty kinh doanh xuất khẩu hoạt động như nhà phân phối độc lập, kết nối khách hàng nước ngoài với doanh nghiệp xuất khẩu trong nước Ngoài việc thực hiện các hoạt động xuất khẩu, họ còn cung cấp dịch vụ xuất nhập khẩu, thiết lập kênh phân phối, tài trợ dự án thương mại và thậm chí tham gia vào sản xuất để hỗ trợ quy trình như bao gói và in ấn Bản chất của công ty kinh doanh xuất khẩu là kết nối khách hàng với công ty xuất khẩu, đồng thời nhờ vào nguồn vốn, mối quan hệ và cơ sở vật chất tốt, họ có khả năng cung cấp các dịch vụ bổ trợ và chuyên gia xuất khẩu cho các doanh nghiệp.

Đại lý vận tải là các công ty chuyên cung cấp dịch vụ thuê vận chuyển và hỗ trợ xuất nhập khẩu hàng hóa, bao gồm khai báo hải quan, biểu thuế quan, phí giao nhận và bảo hiểm Họ thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu và phát triển đa dạng dịch vụ giao nhận hàng hóa đến tay người nhận Khi doanh nghiệp xuất khẩu hợp tác với đại lý vận tải, các công ty này đảm nhận toàn bộ dịch vụ liên quan đến hàng hóa, từ giao nhận đến bao gói và mua bảo hiểm cho hàng hóa, nhằm đảm bảo quá trình vận chuyển diễn ra suôn sẻ.

Phương thức thức thâm nhập hợp đồng giấy phép

Hợp đồng giấy phép là một phương thức thâm nhập thị trường nước ngoài, trong đó bên bán giấy phép cấp quyền sử dụng tài sản vô hình cho bên mua giấy phép trong một khoảng thời gian nhất định Để đổi lại, bên mua phải trả tiền bản quyền cho bên bán, thường dựa trên doanh thu bán hàng và có thể thanh toán theo kỳ vụ, một lần hoặc kết hợp cả hai Tài sản vô hình bao gồm bản quyền sáng chế, phát minh, công thức, thiết kế, phương pháp, chương trình, nhãn mác và tên gọi sản phẩm đã đăng ký Hiện nay, có ba loại hợp đồng giấy phép chính: hợp đồng giấy phép độc quyền, hợp đồng giấy phép không độc quyền và hợp đồng giấy phép chéo.

Hợp đồng giấy phép độc quyền cho phép bên mua quyền sử dụng độc quyền các tài sản vô hình để sản xuất và bán sản phẩm trong một khu vực địa lý nhất định, có thể chỉ giới hạn trong nước của bên mua hoặc mở rộng ra nhiều quốc gia khác.

Hợp đồng giấy phép không độc quyền cho phép bên mua sử dụng tài sản vô hình trong một khu vực nhất định, nhưng không cấp quyền độc quyền Điều này có nghĩa là bên bán có thể cấp quyền sử dụng tài sản tương tự cho nhiều công ty khác trong cùng một khu vực.

Hợp đồng sử dụng giấy phép chéo được hình thành khi các công ty trao đổi tài sản vô hình, như trường hợp Fujitsu của Nhật Bản ký hợp đồng 5 năm với Texas Instruments của Mỹ Hợp đồng này cho phép cả hai bên sử dụng công nghệ của nhau trong sản xuất, giúp giảm chi phí nghiên cứu và phát triển Ngoài ra, phương thức này còn giảm nguy cơ chiếm đoạt hoặc khai thác bất hợp pháp tài sản của bên kia.

Hợp đồng nhượng quyền là một phương thức thâm nhập thị trường nước ngoài, trong đó nhà sản xuất độc quyền cung cấp tài sản vô hình và hỗ trợ lâu dài cho đại lý đặc quyền Đổi lại, nhà sản xuất nhận phí cố định và tiền kỳ vụ Thương hiệu nổi tiếng thường là tài sản vô hình được chuyển giao, khiến các doanh nghiệp nhỏ với thương hiệu kém nổi khó có thể thâm nhập thị trường nước ngoài qua hình thức này Khác với hợp đồng giấy phép, hợp đồng nhượng quyền cho phép kiểm soát tốt hơn việc bán hàng hóa và yêu cầu đại lý tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về chất lượng, quản lý và marketing Hợp đồng giấy phép phổ biến trong ngành chế biến, trong khi nhượng quyền thường được áp dụng trong ngành dịch vụ như giải trí, khách sạn và nhà hàng Trong khi bên bán trong hợp đồng giấy phép không còn nghĩa vụ sau khi chuyển giao tài sản, hợp đồng nhượng quyền yêu cầu sự hỗ trợ dài hạn từ nhà sản xuất, bao gồm đào tạo quản lý và hỗ trợ quảng cáo.

Hợp đồng quản lý là một phương thức thâm nhập thị trường nước ngoài, trong đó một doanh nghiệp cung cấp kinh nghiệm quản lý cho doanh nghiệp khác trong một khoảng thời gian xác định Doanh nghiệp cung cấp chuyên môn thường nhận thù lao dưới hình thức khoản tiền trả một lần hoặc phí định kỳ dựa trên tổng doanh thu Hình thức hợp đồng này phổ biến trong các ngành dịch vụ công cộng tại cả nước phát triển và đang phát triển Các yếu tố chuyển giao qua hợp đồng quản lý bao gồm kiến thức chuyên môn và kỹ năng quản lý từ các nhà kỹ thuật và quản trị.

Hợp đồng chìa khoá trao tay là một mô hình dự án trong đó doanh nghiệp thiết kế, xây dựng và vận hành thử nghiệm cơ sở sản xuất, sau đó bàn giao cho khách hàng khi đã sẵn sàng hoạt động Khách hàng chỉ cần trả một khoản phí cố định và không cần thực hiện thêm bất kỳ công việc nào, chỉ cần "xoay chìa khoá" để vận hành Các dự án này thường có quy mô lớn, liên quan đến việc chuyển giao công nghệ đặc biệt, như xây dựng nhà máy điện, sân bay, cảng biển, hệ thống viễn thông, và cơ sở hoá dầu, dược phẩm, và sau khi hoàn thành, công trình sẽ được bàn giao cho khách hàng.

Phương thức thâm nhập thị trường bằng đầu tư

Thâm nhập thị trường thông qua đầu tư là một phương thức yêu cầu công ty phải đầu tư trực tiếp vào việc xây dựng nhà máy hoặc cung cấp thiết bị, đồng thời tham gia vào quá trình vận hành Hình thức thâm nhập này đòi hỏi mức độ cam kết cao từ phía công ty Ba hình thức phổ biến nhất của thâm nhập qua đầu tư bao gồm chi nhánh sở hữu toàn bộ, liên doanh và liên minh chiến lược.

- Chi nhánh sở hữu toàn bộ

Đầu tư vào thị trường nước ngoài thông qua việc thiết lập chi nhánh hoàn toàn thuộc sở hữu của công ty mẹ là một hình thức thâm nhập hiệu quả Chi nhánh có thể được thành lập bằng cách xây dựng mới hoặc mua lại công ty địa phương, tùy thuộc vào chiến lược tương lai Việc xây dựng mới thường được lựa chọn khi công ty mẹ muốn sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, nhưng lại gặp khó khăn với thời gian xây dựng và đào tạo nhân lực Ngược lại, mua lại một công ty địa phương có thể tạo ra lợi thế lớn nhờ khả năng marketing và tiêu thụ hàng hóa sẵn có, giúp đưa chi nhánh vào hoạt động nhanh chóng Chiến lược mua lại đặc biệt phù hợp khi công ty địa phương sở hữu thương hiệu hoặc công nghệ giá trị.

Trong một số tình huống, doanh nghiệp có thể chọn chia sẻ quyền sở hữu thay vì nắm giữ toàn bộ Do đó, một doanh nghiệp liên doanh được hình thành, do ít nhất hai pháp nhân độc lập đồng sở hữu nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh chung Các đối tác trong liên doanh có thể là doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước Mỗi bên có thể đóng góp những giá trị khác nhau như khả năng quản lý, kinh nghiệm marketing, tiếp cận thị trường, công nghệ sản xuất, vốn tài chính, kiến thức hoặc công cụ nghiên cứu và phát triển.

Liên doanh xuôi là hình thức hợp tác trong đó các bên tham gia đồng thuận đầu tư vào các hoạt động kinh doanh trong chuỗi giá trị Trong mô hình này, hai công ty hoạt động như một nhà bán lẻ, cùng nhau đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng.

Liên doanh ngược là hình thức hợp tác giữa các doanh nghiệp nhằm đầu tư vào các hoạt động kinh doanh ở giai đoạn ngược dòng của chuỗi giá trị Ví dụ, hai công ty sản xuất thép có thể hợp tác để khai thác mỏ quặng sắt, tham gia vào lĩnh vực khai khoáng thường do các công ty chuyên ngành thực hiện.

Liên doanh mua lại là hình thức liên doanh được thành lập khi các bên tham gia cần sử dụng một loại bán thành phẩm trong sản xuất Liên doanh này sử dụng đầu vào từ các bên và bán lại đầu ra cho chính họ Việc thành lập liên doanh mua lại thường xảy ra khi cần xây dựng cơ sở sản xuất bán thành phẩm với quy mô tối thiểu để khai thác kinh tế quy mô, nhưng không bên nào đủ nhu cầu để tự xây dựng cơ sở đó.

Liên doanh đa giai đoạn là hình thức hợp tác trong đó một bên đầu tư theo hướng xuôi dòng và bên kia đầu tư theo hướng ngược dòng Thường thì, loại hình liên doanh này được thành lập khi một doanh nghiệp sản xuất hàng hóa cần thiết cho một công ty khác Ví dụ, để khắc phục vấn đề phân phối kém hiệu quả tại các nước kém phát triển, một doanh nghiệp sản xuất hàng thể thao có thể hợp tác với một doanh nghiệp bán lẻ để tạo ra một công ty chuyên phân phối sản phẩm tại những thị trường này.

Khái niệm về phát triển thị trường xuất khẩu

Phát triển theo khái niệm triết học là quá trình tiến hóa từ trạng thái đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật.

Phát triển thị trường xuất khẩu là quá trình áp dụng các chiến lược và biện pháp của các thành phần trong nền kinh tế nhằm tối ưu hóa khối lượng sản phẩm hoặc dịch vụ được cung cấp, trong khi vẫn sử dụng hiệu quả các nguồn lực hạn chế.

Theo nội dung nghiên cứu của luận văn thì có 3 chủ thể chính tạo nên sự phát triển thị trường xuất khẩu bao gồm:

Cơ quan nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và tạo điều kiện cho sự phát triển của thị trường xuất khẩu Điều này được thực hiện thông qua việc xây dựng các chính sách, tăng cường hợp tác quốc tế, ký kết hiệp định thương mại song phương và đa phương, cũng như gia nhập các tổ chức kinh tế toàn cầu.

Các tổ chức hiệp hội và xúc tiến thương mại đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa các bộ ban ngành và doanh nghiệp, giúp thực hiện ngoại giao với các hiệp hội quốc tế để giới thiệu sản phẩm xuất khẩu và tạo cơ hội kinh doanh Đặc biệt, trong bối cảnh các nước đang phát triển thường thiếu hụt về nghiên cứu và phân tích thị trường quốc tế, các hiệp hội này cung cấp thông tin quý giá cho doanh nghiệp và hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong việc hoạch định chính sách.

Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng xuất nhập khẩu quốc tế, với mục tiêu phát triển thị trường xuất khẩu thông qua các biện pháp nhằm tối đa hóa lượng hàng hóa tiêu thụ ở nước ngoài Điều này không chỉ tạo ra lợi nhuận mà còn giúp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.

Phát triển thị trường xuất khẩu có thể được thực hiện theo hai hướng chính: phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, hoặc kết hợp cả hai Mỗi quốc gia sẽ lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp dựa trên phân tích thị trường và lợi thế so sánh của mình, nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng các nguồn lực hạn chế.

Phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều rộng là chiến lược hiệu quả cho các lĩnh vực sản xuất ít cạnh tranh, giúp doanh nghiệp khuếch trương thương hiệu và tạo tín hiệu tích cực với thị trường Tại thị trường nội địa, người tiêu dùng chưa có nhiều cơ hội tiếp xúc với sản phẩm, điều này mở ra cơ hội cho doanh nghiệp chiếm lĩnh và gia tăng xuất khẩu trong những lĩnh vực mà đối thủ chưa chú ý.

Phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều sâu là chiến lược nhằm gia tăng kim ngạch và chất lượng trong từng lĩnh vực cụ thể sau khi đã thâm nhập thị trường Điều này không chỉ giúp nâng cao sức cạnh tranh mà còn cải thiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó gia tăng thị phần trên thị trường xuất khẩu.

Khái niệm về mặt hàng chủ lực

Theo tác giả, mặt hàng chủ lực của một quốc gia là sản phẩm hoặc dịch vụ có khả năng sản xuất và cung ứng với khối lượng lớn, đồng thời có năng lực cạnh tranh cao và lợi thế so sánh trên thị trường quốc tế Mặt hàng này có thể mang tính chất đặc thù, phản ánh văn hóa của quốc gia, địa phương hoặc vùng lãnh thổ Mặt hàng chủ lực không chỉ giới hạn trong lĩnh vực công nghiệp mà còn bao gồm cả nông nghiệp, thủy sản và dịch vụ.

Các đặc điểm chính của mặt hàng xuất khẩu chủ lực bao gồm:

- Mặt hàng có quy mô lớn biểu hiện qua kim ngạch xuất khẩu

- Mặt hàng có năng lực cạnh tranh, lợi thế so sánh trên thị trường quốc tế

- Mặt hàng phải mang tính đặc thù của từng quốc gia, lãnh thổ

- Mặt hàng tạo ra được hiệu quả tốt và có tác động ảnh hưởng đến sự phát triển của nhiều ngành nghề liên quan khác

- Mặt hàng tạo ra các giá trị tác động đến tăng trưởng GDP, hiệu quả xã hội, tạo việc làm, an toàn và bảo vệ môi trường

Một số tiêu chí lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu chủ lực là:

- Sử dụng tối ưu những nguồn lực và lợi thế của quốc gia hiện có

- Có giá thành, chi phí sản xuất thấp tương quan so với thế giới và khu vực

- Chất lượng sản phẩm tốt, đáp ứng các tiêu chuẩn kĩ thuật chung của thế giới và khu vực

- Năng lực sản xuất qui mô lớn, đóng góp lớn cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế

- Có sức ảnh hưởng lớn đến các ngành sản xuất liên quan, tạo ra nhiều việc làm, thân thiện với môi trường

Các lý thuyết kinh tế liên quan tham khảo:

- Thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo

- Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của M.Porter

Một số chỉ tiêu lượng hóa để xác định mặt hàng xuất khẩu chủ lực cụ thể:

Tỷ trọng mặt hàng xuất khẩu so với tổng kim ngạch xuất khẩu thể hiện mức độ đóng góp và tầm quan trọng của mặt hàng đó trong nền kinh tế Công thức tính tỷ trọng này giúp đánh giá ảnh hưởng của từng mặt hàng đến tổng kim ngạch xuất khẩu.

Trong đó: Rxn là tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng x trong năm n Exn là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng x trong năm n

Ern là tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia trong năm n

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu là chỉ số quan trọng phản ánh sự phát triển và giá trị gia tăng của mặt hàng qua các thời kỳ Đây là tiêu chí hữu ích để đánh giá và theo dõi khả năng tăng trưởng cũng như sự phát triển bền vững của các mặt hàng xuất khẩu.

Trong đó: Grxn là tốc độ tăng trưởng kim ngạch của mặt hàng xuất khẩu trong năm n

Exn là kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng x trong năm n

Exn-1là kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng x trong năm n -1

Chỉ số lợi thế so sánh của mặt hàng xuất khẩu thể hiện mối quan hệ giữa sản phẩm xuất khẩu trong nước và mức độ xuất khẩu của sản phẩm đó trên toàn cầu Khi trọng số lớn hơn 1, điều này cho thấy quốc gia đó đang sở hữu lợi thế so sánh trong việc xuất khẩu mặt hàng này trên thị trường thế giới.

Cxn = Exn/ Ean x Eaw/Exw

Trong đó: Cxn là chỉ số lợi thế so sánh hàng xuất khẩu x

Exn là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng x

Ean là tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia

Exw là tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng x trên thế giới

Eaw là tổng kim ngạch xuất khẩu của cả thế giới

- Chỉ số bảo hộ mặt hàng biểu thị so sánh mức độ bảo hộ trong nước đối với mặt hàng xuất khẩu thông qua thuế quan Công thức là:

Trong đó: Avx là giá trị gia tăng mặt hàng tính theo giá trong n

Avw là giá trị gia tăng tính theo giá thế giới

Nội dung công tác phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt Nam

Công tác phát triển thị trường xuất khẩu hàng chủ lực của Việt Nam là quá trình tạo dựng thị trường quốc tế cho sản phẩm chủ lực thông qua sự hợp tác giữa Nhà nước, các tổ chức xúc tiến thương mại và doanh nghiệp xuất khẩu Việc phát triển này có thể theo chiều rộng hoặc chiều sâu nhằm gia tăng tiêu thụ hàng hóa tại thị trường nước ngoài Các chính sách và biện pháp của Nhà nước, cùng với hoạt động hỗ trợ từ các tổ chức thương mại và mục tiêu của doanh nghiệp xuất khẩu, đều hướng tới việc tạo ra cơ hội nâng cao giá trị và sản lượng hàng hóa chủ lực trên thị trường quốc tế Các chủ thể tham gia trong công tác này bao gồm Nhà nước, tổ chức xúc tiến thương mại và doanh nghiệp xuất khẩu.

Ba thành tố chính trong phát triển thị trường xuất khẩu bao gồm chính phủ, các tổ chức xúc tiến thương mại và doanh nghiệp Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng ở tầm vi mô, trong khi nhà nước đại diện ở tầm vĩ mô, tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển thị trường xuất khẩu Mục tiêu của công tác phát triển thị trường là thay đổi cả về lượng và chất cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực Để đạt được điều này, cả chính phủ, tổ chức xúc tiến thương mại và doanh nghiệp xuất khẩu cần có sự tác động đến các yếu tố của thị trường, bao gồm các nước nhập khẩu hiện tại và tiềm năng, sản phẩm chủ lực xuất khẩu, cùng với hệ thống kênh phân phối và xúc tiến xuất khẩu.

Vai trò và nhiệm vụ của các chủ thể trong hoạt động xuất khẩu hoàn toàn khác nhau Nhà nước dẫn dắt và định hướng chính sách, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu Các tổ chức xúc tiến thương mại hoạt động dưới sự chỉ đạo của nhà nước, giúp mở rộng quan hệ và tạo điều kiện cho doanh nghiệp xuất khẩu phát triển thị trường Doanh nghiệp là chủ thể quan trọng, có trách nhiệm hiện thực hóa các chính sách hỗ trợ bằng cách tối ưu hóa doanh thu, nâng cao chất lượng sản phẩm và khẳng định uy tín trên thị trường quốc tế Để theo dõi và đánh giá sự phát triển của thị trường xuất khẩu, cần có các chỉ tiêu cơ bản giúp các cơ quan hoạch định chính sách, hiệp hội và doanh nghiệp lượng hóa tình hình và đưa ra giải pháp kịp thời Một số chỉ tiêu cơ bản để đánh giá công tác phát triển doanh nghiệp bao gồm doanh thu, chất lượng sản phẩm và thị phần.

Gia tăng delta thị trường xuất khẩu phản ánh sự thay đổi tuyệt đối về số lượng các thị trường xuất khẩu theo năm, cho thấy xu hướng tăng, giảm hoặc ổn định Chỉ số này đánh giá phạm vi địa lý và số lượng thị trường, nhưng chưa thể hiện tỷ trọng và mức độ quan trọng của từng thị trường Công thức tính delta thị trường xuất khẩu giúp phân tích tình hình thị trường một cách tổng quan.

Trong đó: X là mức thay đổi tuyệt đối số lượng thị trường xuất khẩu

Xn là số lượng thị trường xuất khẩu năm n

Xn-1 là số lượng thị trường xuất khẩu năm n-1

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu là chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nghiên cứu hoặc toàn bộ quốc gia Để tính toán chỉ tiêu này, có thể áp dụng công thức cụ thể nhằm đánh giá hiệu quả và xu hướng xuất khẩu.

Trong đó: Gxn là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng x năm n

Gxn-1 là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng x năm n-1

Tỷ trọng của mặt hàng chủ lực xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện ý nghĩa và giá trị của hoạt động xuất khẩu, đồng thời phản ánh cấu trúc của lĩnh vực hàng hóa xuất khẩu Công thức tính tỷ trọng này giúp xác định mức độ ảnh hưởng của mặt hàng x trong tổng giá trị xuất khẩu, từ đó hỗ trợ các quyết định chiến lược trong phát triển kinh tế.

Trong đó: T là tỷ trọng mặt hàng chủ lực xuất khẩu năm n

Txn là kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng x năm n

Tan là kim ngạch xuất khẩu tổng mặt hàng của quốc gia năm n

Một số chỉ tiêu cấp quốc gia liên quan là:

Chỉ số xếp hạng Môi trường kinh doanh EoDB của Ngân hàng Thế giới (WB) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường xuất khẩu Hai chỉ số cụ thể ảnh hưởng đến quá trình này là chỉ số tiếp cận tín dụng (A4) và chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới (A8).

- Chỉ số xếp hạng Năng lực cạnh tranh GCI của WEF

- Chỉ số Hiệu quả logistic của WB

- Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI của VCCI

Xét theo phương pháp phân tích có các chỉ tiêu để doanh nghiệp xuất khẩu đánh giá và theo dõi năng lực cạnh tranh:

- Phương pháp tĩnh: Chỉ số CCI (Current Competitiveness Index); GCI (Growth Competitiveness Index); BCI (Business Competitiveness Index)

Phương pháp phân tích động, khác với phương pháp phân tích tĩnh, đòi hỏi kỹ thuật xử lý dữ liệu thời gian thực để dự báo các yếu tố vĩ mô và tác động của chính phủ đến thị trường Phương pháp này bao gồm việc phân tích vòng đời sản phẩm, đánh giá các sản phẩm cạnh tranh thay thế, cũng như xem xét hoạt động của đối thủ.

Bên cạnh việc phân tích các chỉ số và tiêu chí của thị trường xuất khẩu, còn có một số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thị trường này.

- Chính sách nhập khẩu, phòng vệ thương mại của nước nhập khẩu:

Công tác xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau, tuân thủ luật pháp thương mại quốc tế và chính sách của từng quốc gia Ngoài các công cụ thuế quan, các hàng rào phi thuế quan như tiêu chuẩn chất lượng, biện pháp chống phá giá và các yếu tố an ninh quốc phòng cũng được các nước áp dụng để bảo vệ doanh nghiệp sản xuất trong nước.

- Nhu cầu tiêu dùng mặt hàng của thị trường nhập khẩu:

Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu chịu ảnh hưởng lớn từ thu nhập của người tiêu dùng; khi thu nhập tăng, người tiêu dùng có xu hướng tiêu thụ nhiều mặt hàng hơn, thúc đẩy nhập khẩu Bên cạnh thu nhập, yếu tố văn hóa và thị hiếu tiêu dùng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định sự phù hợp của sản phẩm xuất khẩu với nhu cầu của thị trường nhập khẩu.

- Cơ chế chính sách và năng lực cạnh tranh của nước xuất khẩu

Cơ chế chính sách và năng lực cạnh tranh của nước xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội lực của quốc gia Các chính sách xuất khẩu hợp lý và đồng bộ với khả năng của doanh nghiệp sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển của thị trường xuất khẩu Bên cạnh việc hỗ trợ sản xuất trong nước, xúc tiến thương mại quốc tế thông qua các hiệp định song phương và đa phương, cũng như tham gia vào các cuộc đàm phán theo nguyên tắc của WTO, là những yếu tố then chốt trong việc phát triển thị trường xuất khẩu.

THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2018

Đánh giá và phân tích thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt

Năm 2010, kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoài như sự phục hồi chậm chạp của kinh tế thế giới và xu hướng gia tăng bảo hộ mậu dịch Xuất khẩu của Việt Nam đạt mức tăng trưởng 25,5%, với tổng kim ngạch khoảng 71,6 tỷ USD, trong khi nhập siêu được kiểm soát ở mức 17,27% Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản đạt 15,1 tỷ USD, chiếm 21% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 22,9% so với năm trước Nhóm khoáng sản đạt 7,9 tỷ USD, chiếm 11,1%, trong khi nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 38,5 tỷ USD, chiếm 53,8% và tăng 30% so với năm 2009.

Thị trường xuất khẩu năm 2010 ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ ở tất cả các khu vực, với châu Á tăng 32,6%, châu Mỹ 25,8%, châu Âu 18,2%, và châu Phi - Tây Á - Nam Á đạt 45% Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người chỉ khoảng 830 USD, chưa đạt mức của các nước ASEAN Mặc dù xuất khẩu tăng trưởng cao, nhưng chưa bền vững và chủ yếu do yếu tố giá cả Ngoài ra, thiếu chiến lược xuất khẩu bền vững và phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài, trong khi tỷ lệ nhập khẩu lớn về nguyên liệu cho ngành dệt may, giày dép, và linh kiện điện tử cho thấy sự phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài Thị trường nhập khẩu chủ yếu từ châu Á - Thái Bình Dương, dẫn đến việc công nghệ và thiết bị chủ yếu là công nghệ trung gian.

Năm 2011 là năm khởi đầu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm

(2011 - 2015), của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011 -

Năm 2011, kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoài như tình hình kinh tế thế giới phức tạp, khủng hoảng nợ công tại Châu Âu, và lạm phát gia tăng ở các thị trường nhập khẩu quan trọng Giá nguyên vật liệu đầu vào và lương thực thực phẩm toàn cầu tiếp tục tăng cao Các chuyên gia nhận định tình hình kinh tế khó khăn hơn so với năm 2008 Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 96,3 tỷ USD, tăng 33,3% so với năm 2010 Khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 48,4 tỷ USD, tăng 45,9%, trong khi khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 47,9 tỷ USD, tăng 22,5% Năm 2011 có thêm 2 mặt hàng mới với kim ngạch trên 1 tỷ USD, nâng tổng số mặt hàng này lên 23.

Năm 2012, mặc dù kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, hoạt động xuất khẩu vẫn đạt kết quả khả quan với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 114,6 tỷ USD, tăng 18,3% so với năm 2011 Tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn đáng kể so với nhập khẩu, dẫn đến cán cân thương mại nghiêng về xuất siêu Doanh nghiệp 100% vốn trong nước chiếm 36,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, đạt 42,3 tỷ USD, trong khi khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 63,1% với 72,3 tỷ USD, tăng 31,2% Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản đạt 21 tỷ USD, chiếm 18,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 74 tỷ USD, chiếm 64,5%, tăng 24,7% so với năm trước Về thị trường xuất khẩu, năm 2012, trừ thị trường Châu Phi giảm 10,7%, các khu vực khác đều tăng, với thị trường Châu Đại Dương tăng 26,1%, Châu Á tăng 23,6%, Châu Âu tăng 17,2%, và Châu Mỹ tăng 15,8%.

Năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 132,17 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm trước Đặc biệt, có 22 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó lần đầu tiên mặt hàng rau quả góp mặt, cho thấy tín hiệu tích cực cho ngành nông nghiệp Xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng chung, chủ yếu nhờ vào các doanh nghiệp FDI với sản phẩm dựa vào lao động rẻ Tuy nhiên, giá và lượng xuất khẩu của nhiều nông sản và khoáng sản giảm đã ảnh hưởng đến tổng kim ngạch xuất khẩu Thêm vào đó, tỷ trọng xuất khẩu sang các thị trường mới như Châu Phi và Mỹ Latinh vẫn còn nhỏ, cần có giải pháp đột phá để khai thác tiềm năng từ các thị trường này.

Năm 2014, nền kinh tế Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do sự phục hồi chậm của kinh tế thế giới, cạnh tranh tiêu thụ hàng hóa toàn cầu gia tăng và bất ổn chính trị tại một số khu vực Mặc dù vậy, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 150 tỷ USD, tăng 13,6% so với năm 2013, tương đương với hơn 18 tỷ USD.

Trong năm 2014, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 142,84 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt hơn 94,4 tỷ USD, tăng 16,7% Nếu tính cả dầu thô, con số này lên tới 101,6 tỷ USD, tăng 15,2% Xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước đạt 48,44 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước Đặc biệt, có 23 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD.

Về nhóm hàng xuất khẩu:

Nhóm hàng nông lâm thủy sản: năm 2014 kim ngạch xuất khẩu đạt 22,2 tỷ

Trong năm 2014, xuất khẩu hàng nông lâm thủy sản đạt 14,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước Một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao như hạt tiêu (35,5%), rau quả (36,7%), nhân điều (22,4%) và cà phê (30,8%) Tuy nhiên, cũng có nhiều mặt hàng ghi nhận sự giảm nhẹ về kim ngạch xuất khẩu, như chè, sắn và các sản phẩm từ sắn, trong đó cao su giảm mạnh nhất với 28,1% Về giá, mặt hàng sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 3,5%, trong khi cao su giảm tới 27,7% Về lượng, xuất khẩu chè giảm 6,8%, gạo giảm 2,7%, sắn giảm 1,8% và cao su giảm 0,5% Sự biến động về giá và lượng của nhóm nông sản đã góp phần làm tăng 884 triệu USD kim ngạch xuất khẩu, với tổng cộng 1,185 tỷ USD từ nhóm hàng này.

Nhóm nhiên liệu và khoáng sản ghi nhận kim ngạch xuất khẩu đạt 8,84 tỷ USD vào năm 2014, chiếm gần 6% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 8,1% so với năm trước Xuất khẩu giảm ở cả bốn mặt hàng chủ yếu, trong đó than đá giảm mạnh 41,1% và xăng dầu giảm 26,1% Duy chỉ có dầu thô giảm do biến động giá thị trường toàn cầu, trong khi ba mặt hàng còn lại có giá xuất khẩu tăng Tổng cộng, sự biến động về giá và lượng đã khiến kim ngạch xuất khẩu của nhóm này giảm 777 triệu USD.

Nhóm hàng công nghiệp chế biến trong năm 2014 đạt kim ngạch xuất khẩu 110,26 tỷ USD, chiếm gần 73,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, với mức tăng trưởng 15,4% so với năm trước Đây là nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất và tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu Các mặt hàng chủ lực như dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, và máy móc thiết bị phụ tùng đều có mức tăng trưởng từ 14% đến 20%, góp phần quan trọng vào bức tranh tăng trưởng chung của ngành.

Năm 2014, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của một số nhóm hàng đã trở về mức ổn định, với điện thoại và linh kiện tăng 13,4%, máy vi tính và sản phẩm điện tử tăng 10% Tuy nhiên, một số mặt hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao như hóa chất tăng 55%, túi xách và va li tăng 30,3%, thức ăn gia súc tăng 38,4%, đồ chơi và dụng cụ thể thao tăng 32%, máy ảnh và linh kiện tăng 35%, cũng như thủy tinh và sản phẩm thủy tinh tăng 33,3% Nguyên nhân chính cho sự tăng trưởng này là do nhu cầu từ thị trường nước ngoài tăng, khiến các doanh nghiệp trong và ngoài nước tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng này.

Nhóm hàng hóa khác (chưa phân tổ) đạt kim ngạch xuất khẩu 8,73 tỷ USD, chiếm 5,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, với mức tăng trưởng 22,1% so với cùng kỳ năm trước Mặc dù đây là nhóm hàng có tốc độ tăng cao nhất, hiện chưa có số liệu cụ thể để đánh giá đóng góp của từng mặt hàng trong nhóm này vào sự tăng trưởng xuất khẩu.

So với năm 2013, giá xuất khẩu năm 2014 của nhóm hàng nông sản đã giảm 301 triệu USD, trong khi nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản giảm 558 triệu USD Tổng cộng, sự giảm giá của hai nhóm hàng này đã làm giảm kim ngạch xuất khẩu (KNXK) 859 triệu USD Sự thay đổi này phản ánh ảnh hưởng của giá cả và lượng xuất khẩu của các mặt hàng nông sản, nhiên liệu và khoáng sản giữa hai năm.

Năm 2014, thị trường xuất khẩu ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ trên tất cả các khu vực, với thị trường Châu Mỹ dẫn đầu với mức tăng 22,3% Các khu vực khác như Châu Á, Châu Âu, Châu Phi và Châu Đại Dương cũng có sự tăng trưởng ổn định, đạt khoảng 10 - 14%.

Thị trường Châu Á vẫn là khu vực xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam, chiếm 49,7% tổng kim ngạch xuất khẩu với 74,5 tỷ USD Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tại đây lại thấp hơn so với các khu vực khác, đặc biệt là các nước Đông Nam Á chỉ tăng 3,1%.

Đánh giá và phân tích thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt

Năm 2015 đánh dấu năm cuối thực hiện các mục tiêu của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 162,4 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm 2014, tương đương 12,2 tỷ USD, không bao gồm 1,4 tỷ USD từ khai thác và tiêu thụ dầu thô Doanh nghiệp trong nước chiếm 29,1% với 47,3 tỷ USD, giảm 3,5%, trong khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 68,5% với 111,3 tỷ USD, tăng 18,5% Xuất khẩu tăng trưởng ở hầu hết các mặt hàng chủ lực, với 23 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD trong năm 2015.

Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản đạt 20,6 tỷ USD, chiếm 12,7% trong tổng

KNXK đã giảm 6,7% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó có 3 mặt hàng xuất khẩu giảm là cà phê, chè và hạt tiêu, trong khi 4 mặt hàng tăng là hạt điều, gạo, sắn và cao su Nguyên nhân chính cho sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu nông thủy sản là do nguồn cung dồi dào từ các nước xuất khẩu, dẫn đến cạnh tranh gay gắt và giá giảm, đặc biệt là từ Thái Lan và Ấn Độ Thêm vào đó, chính sách duy trì giá trị đồng nội tệ thấp để thúc đẩy xuất khẩu và xu hướng bảo hộ nông, lâm, thủy sản của nhiều quốc gia cũng góp phần vào tình hình này.

Nhóm nhiên liệu và khoáng sản đạt kim ngạch 5 tỷ USD, chiếm 3,1% tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK), giảm 44,6% so với cùng kỳ năm 2014 Sự sụt giảm này chủ yếu do giá dầu thô giảm mạnh, với lượng xuất khẩu đạt 9,2 triệu tấn nhưng kim ngạch giảm 47,3% (tương đương 3,4 tỷ USD) Tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản giảm hơn 4 tỷ USD, trong đó khoảng 3,96 tỷ USD do giá xuất khẩu giảm và 67 triệu USD do lượng xuất khẩu giảm.

Nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt khoảng 128,5 tỷ USD, với mức tăng trưởng cao 16,1% so với cùng kỳ Các mặt hàng chủ lực như điện thoại và linh kiện đạt 30,6 tỷ USD, tăng 29,9%; dệt may đạt 22,6 tỷ USD, tăng 8,2%; máy vi tính và linh kiện đạt 15,8 tỷ USD, tăng 38,2%; máy ảnh và linh kiện đạt 3 tỷ USD, tăng 39%; giày dép đạt 12 tỷ USD, tăng 16,2% Ngoài ra, các mặt hàng xuất khẩu khác như đồ gỗ, túi xách, vali, mũ, ô dù, máy móc và phụ tùng cũng duy trì mức tăng trưởng cao khoảng 10%, góp phần quan trọng vào tăng trưởng xuất khẩu chung năm 2015.

Vào năm 2015, giá xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng nông sản và khoáng sản đều giảm, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu giảm 4,3 tỷ USD Sự kết hợp giữa giảm giá và giảm lượng của hai nhóm hàng này đã làm giảm tổng kim ngạch xuất khẩu lên tới 4,65 tỷ USD.

Trong năm 2015, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các khu vực thị trường duy trì mức tăng trưởng ổn định so với năm 2014, ngoại trừ thị trường Châu Đại Dương giảm 22,4% Cụ thể, xuất khẩu sang Châu Á đạt 79,8 tỷ USD, tăng 7,2%, trong đó xuất khẩu sang ASEAN đạt 18,3 tỷ USD (giảm 4,4%), Trung Quốc 16,9 tỷ USD (tăng 13,7%), và Nhật Bản 14,1 tỷ USD (giảm 4%) Tại Châu Âu, kim ngạch xuất khẩu đạt 32,8 tỷ USD, tăng 8,7%, với EU đạt 30,9 tỷ USD (tăng 10,7%) Xuất khẩu sang Châu Mỹ đạt 40,9 tỷ USD (tăng 18,1%), trong đó Hoa Kỳ đạt 33,5 tỷ USD (tăng 17%) Xuất khẩu sang Châu Phi đạt 2,4 tỷ USD (tăng 3,4%), trong khi Châu Đại Dương chỉ đạt 3,3 tỷ USD Mặc dù tình hình kinh tế toàn cầu phục hồi chậm và nhập khẩu của các đối tác giảm, nhưng kết quả xuất khẩu của Việt Nam vẫn đáng khích lệ, với sự tăng trưởng ổn định từ hầu hết các thị trường chủ lực, ngoại trừ ASEAN và Nhật Bản do giá nhiên liệu khoáng sản giảm, đặc biệt là dầu thô.

Năm 2016, kinh tế toàn cầu phục hồi chậm và không ổn định, nhiều nền kinh tế lớn, đối tác thương mại - đầu tư quan trọng của Việt Nam gặp khó khăn Thương mại thế giới giảm mạnh, chỉ đạt khoảng 2,3%, mức tăng trưởng thấp nhất kể từ khủng hoảng tài chính 2009 Thị trường tài chính - tiền tệ và giá các mặt hàng chiến lược diễn biến phức tạp, tác động tiêu cực đến tăng trưởng và xuất khẩu của Việt Nam Mặc dù sản xuất toàn cầu có cải thiện vào cuối năm, nhưng chỉ số PMI toàn cầu trung bình chỉ đạt 52,1 điểm, thấp hơn so với năm trước, cho thấy sự chậm lại trong sản xuất toàn cầu.

Năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 175,9 tỷ USD, tăng 8,6% so với năm 2015, với 25 mặt hàng đạt trên 1 tỷ USD Doanh nghiệp trong nước chiếm 28,4% với 50,04 tỷ USD, trong khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 70,22% với 123,55 tỷ USD Nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 141,2 tỷ USD, chiếm 80,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó điện thoại và linh kiện đạt 34,5 tỷ USD, tăng 14,4% Xuất khẩu sang thị trường châu Mỹ tăng cao nhất với 13,2%, trong khi thị trường Hoa Kỳ dẫn đầu với 38,1 tỷ USD, tăng 14% Giá xuất khẩu chung giảm 1,83%, trong đó nhóm nhiên liệu và khoáng sản giảm 20,1%.

Năm 2017, tình hình kinh tế thế giới nói chung phục hồi rõ nét, tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt mức 3,6%, tăng 0,5 điểm phần trăm so với năm

Năm 2016, sự gia tăng đầu tư và thương mại đã có ảnh hưởng tích cực đến các nền kinh tế đang phát triển, bao gồm cả Việt Nam Xuất khẩu của Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ ở cả ba nhóm hàng: nông sản, thủy sản, và nhiên liệu khoáng sản, cũng như trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.

Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng xuất khẩu, chiếm hơn 81% tổng kim ngạch với 173,5 tỷ USD, tăng 22,4% Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của nhóm này liên tục cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu chung, và từ 2012 đến 2017, đây là năm thứ 6 liên tiếp Các nhóm hàng chủ lực bao gồm điện thoại và linh kiện đạt 45,1 tỷ USD (tăng 31,4%), máy vi tính và sản phẩm điện tử đạt 25,9 tỷ USD (tăng 36,5%), và máy móc, thiết bị đạt 12,8 tỷ USD (tăng 26,4%).

Nhóm hàng nông sản và thủy sản ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng với tổng giá trị xuất khẩu đạt 25,9 tỷ USD, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, rau quả đạt 3,5 tỷ USD, tăng 43,1%, và gạo đạt 2,6 tỷ USD, tăng 22,7% Năm 2017 cũng chứng kiến sự phát triển của các thị trường mới và nâng cao chất lượng sản phẩm ở các thị trường truyền thống Bên cạnh đó, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản xuất khẩu đạt 4,42 tỷ USD, tăng 27%, với than đá tăng 113% về giá trị và 84,7% về khối lượng, trong khi dầu thô tăng 23% về giá trị xuất khẩu.

Thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã có những bước phát triển tích cực, với việc khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống và mở rộng sang nhiều thị trường mới Hiện tại, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Năm 2017, có 29 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, trong đó 4 thị trường vượt 10 tỷ USD Xuất khẩu sang các thị trường ký kết FTA như ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc ghi nhận mức tăng trưởng cao, với ASEAN tăng 24,3% đạt 21,7 tỷ USD và Trung Quốc tăng 60,6% đạt 35,3 tỷ USD Mặc dù xuất khẩu sang châu Phi giảm 2,9%, các châu lục khác đều có tốc độ tăng trưởng hai con số Tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các FTA cũng tăng cao, với 764.052 giấy chứng nhận xuất xứ được cấp trong năm 2017, trị giá hàng hóa hưởng ưu đãi đạt 37,8 tỷ USD, tăng 22% về số lượng và 24% về giá trị so với năm 2016.

Năm 2018, tình hình thế giới trở nên phức tạp với sự phục hồi kinh tế toàn cầu nhưng vẫn chưa ổn định, cùng với sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ và chiến tranh thương mại Khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực do Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng xuất khẩu, chiếm hơn 82,8% tổng kim ngạch với giá trị đạt 202,67 tỷ USD, tăng 16,2% Từ năm 2012 đến 2018, xuất khẩu nhóm hàng này luôn cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu chung Những mặt hàng chủ lực như hóa chất đạt 1,89 tỷ USD (tăng 49%), hàng dệt may đạt 30,45 tỷ USD (tăng 16,6%), sắt thép đạt 4,56 tỷ USD (tăng 44,8%), và điện thoại cùng linh kiện đạt 50 tỷ USD (tăng 10,5%) đã đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu Sự tăng trưởng này cho thấy sự đa dạng trong xuất khẩu, không còn phụ thuộc chỉ vào điện thoại di động, với nhiều mặt hàng khác như xi măng và kim loại cũng ghi nhận kết quả tích cực trong năm 2018.

Nhóm hàng nông sản và thủy sản của Việt Nam tiếp tục đạt sự tăng trưởng ấn tượng, với kim ngạch xuất khẩu đạt 26,7 tỷ USD trong năm nay, tăng 2,3% Một số mặt hàng nổi bật bao gồm rau quả tăng 9,2%, gạo tăng 16% và thủy sản tăng 6,3% Sản phẩm nông lâm thủy sản đã được xuất khẩu tới 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 10 thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Hà Lan, Anh, Úc, Malaysia và Italia Việt Nam đã khẳng định vị thế vững chắc trên thị trường toàn cầu, đứng đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu, điều và cá tra, thứ hai về cà phê, và thứ ba về gạo và tôm.

Chính sách của Đảng, Chính phủ, các bộ ban ngành nhằm thúc đẩy phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2018

Trong giai đoạn 2010-2018, các chính sách của Đảng và Chính phủ đã đóng vai trò quyết định trong việc định hướng chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu hàng chủ lực của Việt Nam Nhờ vào chủ trương cải cách mạnh mẽ và sự chỉ đạo thống nhất từ các cấp lãnh đạo, cùng với sự chủ động của các bộ ngành trong việc hoàn thiện thể chế và đổi mới chính sách, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong phát triển thị trường xuất khẩu Năm 2018, một số văn kiện và nghị định quan trọng đã được ban hành nhằm thúc đẩy công tác phát triển thị trường xuất khẩu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu của đất nước.

Nghị định số 09/2018/NĐ-CP, ban hành ngày 15/01/2018, quy định chi tiết về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan của nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, theo Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương.

Nghị định số 10/2018/NĐ-CP, ban hành ngày 15/01/2018, của Chính phủ quy định chi tiết các điều khoản của Luật Quản lý ngoại thương liên quan đến các biện pháp phòng vệ thương mại Nghị định này nhằm đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế và bảo vệ lợi ích của sản xuất trong nước trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

- Nghị định số 14/2018/NĐ-CP ngày 23/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới

- Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 2/2/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật An toàn thực phẩm

- Nghị định số 28/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về một số biện pháp phát triển ngoại thương

- Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 8/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ mặt hàng

- Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương

- Nghị định số 107/2018/NĐ-CP ngày 15/8/2018 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo

Theo QĐ số 1137/QĐ-TTg ngày 3/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ, Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh hàng xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, đã được phê duyệt Chính phủ chỉ đạo tập trung vào các mặt hàng có khả năng cạnh tranh xuất khẩu cao.

Nhóm hàng nông sản, thủy sản

Các mặt hàng có lợi thế xuất khẩu bao gồm gạo, cà phê, cao su, thủy sản, hạt tiêu, hạt điều, sắn cùng các sản phẩm chế biến từ sắn, và rau quả.

- Các mặt hàng sẽ có lợi thế xuất khẩu: Chè; Mật ong

Nhóm hàng công nghiệp chế biến

Các mặt hàng có lợi thế xuất khẩu bao gồm dệt may, giày dép, đồ gỗ, vali, túi xách, ô dù, điện thoại và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện, phương tiện vận tải và phụ tùng, máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác, cùng với dây điện và cáp điện.

- Các mặt hàng sẽ có lợi thế xuất khẩu Nguyên phụ liệu dệt may, da giày; Nhựa và sản phẩm nhựa; Phân bón.Hóa chất

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt và ban hành các mục tiêu cụ thể nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường các mặt hàng chủ lực của Việt Nam.

Để nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng cho các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế, Việt Nam cần tập trung vào việc cải thiện giá trị chuỗi cung ứng trong quá trình xuất khẩu Điều này không chỉ thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu mà còn thông qua việc thực hiện chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều sâu.

Để thúc đẩy giá trị gia tăng cho các mặt hàng xuất khẩu nông sản và thủy sản, cần đạt mức tăng bình quân 20% so với hiện tại Đồng thời, cần gia tăng tỷ trọng xuất khẩu vào các thị trường phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc và Liên minh Châu Âu (EU) Việc thâm nhập vào những thị trường này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ và chặt chẽ giữa Chính phủ và các cơ quan ban ngành, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm của thị trường nhập khẩu và tiêu chuẩn toàn cầu.

- Phát triển doanh nghiệp xuất khẩu mạnh về chất: Mỗi năm có ít nhất

100 lượt doanh nghiệp xuất khẩu có sản phẩm đạt thương hiệu quốc gia và

200 lượt doanh nghiệp đạt giải chất lượng quốc gia

Để đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguyên phụ liệu và linh phụ kiện cho các ngành hàng có lợi thế xuất khẩu, cần thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ.

- Doanh nghiệp Việt Nam từng b tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu ở các công đoạn có giá trị gia tăng cao

Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 phê duyệt ”Chiến lược xuất nhập khẩu mặt hàng thời kỳ

Giai đoạn 2011 – 2020, với định hướng đến năm 2030, tập trung vào phát triển thị trường xuất khẩu bền vững thông qua việc củng cố các đối tác chiến lược Chú trọng vào việc phát triển các mặt hàng có giá trị gia tăng cao và thương hiệu mạnh, đồng thời đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu Thị trường châu Á - Thái Bình Dương chiếm tỷ trọng khoảng 46%, tiếp theo là châu Mỹ 25%, châu Âu 20%, châu Đại Dương 4% và châu Phi 5% Xuất khẩu chủ yếu tập trung vào các thị trường lớn và truyền thống như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc và Nhật Bản Bộ Công thương đã xây dựng các chương trình phát triển xuất khẩu dựa trên quyết định của Thủ tướng, nhằm phát triển từng khu vực và quốc gia riêng biệt.

Chính sách thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã tích cực hội nhập và tham gia vào phát triển kinh tế quốc tế, với phương châm "đa dạng hóa, đa phương hóa" quan hệ đối ngoại Việt Nam cam kết trở thành đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia trên thế giới, đồng thời thực hiện nhất quán chính sách đối ngoại rộng mở Quốc gia này chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau.

Ban Bí thư Trung Ương đã ban hành Chỉ thị 25 nhằm đẩy mạnh và nâng tầm quan hệ đối ngoại đa phương, thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc tăng cường hợp tác song phương và đa phương đến năm 2025.

Năm 2030 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tư duy đối ngoại của Việt Nam, với mục tiêu chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, phấn đấu trở thành "nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải" trong các diễn đàn đa phương chiến lược Tiếp nối thành công của Năm APEC 2017, năm 2018 chứng kiến sự phát triển rực rỡ trong ngoại giao đa phương của Việt Nam, với nhiều hội nghị quốc tế quan trọng được tổ chức như APPF lần thứ 26, GMS lần thứ 6, và CLV lần thứ 10 Đặc biệt, Hội nghị WEF ASEAN tháng 9-2018 tại Hà Nội được xem là thành công nhất trong 27 năm qua của diễn đàn này, thu hút sự chú ý của hàng nghìn đối tác và nhà đầu tư quốc tế Những thành công này không chỉ nâng cao vai trò và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế mà còn mở ra nhiều cơ hội hợp tác và kinh doanh cho doanh nghiệp trong nước.

Việt Nam không chỉ nhận được sự ủng hộ và đánh giá cao từ các diễn đàn khu vực và quốc tế như ASEAN, ASEM, và APEC, mà còn được giao nhiều trọng trách đa phương quan trọng Vào tháng 5-2018, Nhóm các nước châu Á - Thái Bình Dương đã chính thức đề cử Việt Nam làm đại diện duy nhất ứng cử vào vị trí thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 Đến tháng 12-2018, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của LHQ (UNCITRAL), mở ra cơ hội cho Việt Nam tham gia định hình luật thương mại quốc tế ngay từ những giai đoạn đầu, phù hợp với lợi ích của đất nước.

Hoạt động của Hiệp hội ngành nghề, tổ chức xúc tiến thương mại giai đoạn 2010-2018

Các hiệp hội ngành nghề và tổ chức xúc tiến thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu thị trường và nâng cao hiệu quả xuất khẩu, góp phần phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam Hiện có hơn 61 hiệp hội hoạt động trong nhiều lĩnh vực tại Việt Nam, so với khoảng 2.000 hiệp hội tại Nhật Bản Theo quy định pháp luật, các hiệp hội doanh nghiệp là tổ chức xã hội - nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện và tự quản Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các hiệp hội cung cấp thông tin pháp luật, hỗ trợ xúc tiến thương mại và giải quyết tranh chấp cho doanh nghiệp Mối liên kết giữa hiệp hội và doanh nghiệp cần được củng cố, với các hiệp hội xây dựng chiến lược phát triển dài hạn và kết nối vốn, công nghệ Hợp tác giữa hiệp hội, Nhà nước và doanh nghiệp là cần thiết để nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất kinh doanh Qua đối thoại với chính quyền, hiệp hội đã góp ý về chính sách, cải thiện môi trường đầu tư, giúp các văn bản pháp luật phù hợp và hiệu quả hơn trong thực tiễn.

Kết quả điều tra xã hội học cho thấy, vai trò đại diện của hiệp hội đối với hội viên trong mối quan hệ nội bộ và đối ngoại được đánh giá cao, với 36,5% cho mức độ tốt và 41,4% cho mức độ khá Ngược lại, vai trò liên kết và hỗ trợ giữa các doanh nghiệp trong việc cung ứng nguyên vật liệu và thiết bị chỉ đạt 13,3% cho mức độ tốt và 29,4% cho mức độ khá.

(Nguồn Viện Khoa học tổ chức Nhà nướcước – Bộ Nội Vụ)

Các hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng chính sách của nhà nước Họ đã tích cực tư vấn và giám sát các chủ trương, chính sách liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi của hiệp hội, với 41,5% ý kiến đánh giá tốt và 34,5% đánh giá khá về vai trò này Tuy nhiên, vai trò tham gia xây dựng chương trình ban hành pháp luật và thực thi pháp luật lại bị đánh giá thấp hơn, chỉ có 19,9% đánh giá tốt và 37,3% đánh giá khá.

(Nguồn Viện Khoa học tổ chức Nhà nước – Bộ Nội Vụ)

Mặc dù đã đạt được một số kết quả, nhưng vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong việc hỗ trợ hội viên vẫn còn nhiều hạn chế Theo khảo sát, 58,1% người được hỏi cho rằng hiệp hội chưa thực sự đại diện và bảo vệ quyền lợi của hội viên, trong khi 57,8% cho rằng việc tư vấn và định hướng cho doanh nghiệp chưa chính xác Ngoài ra, còn tồn tại những vấn đề như thiếu sự gắn kết giữa các doanh nghiệp thành viên, thông tin về thị trường và giá cả không được cung cấp kịp thời, và chương trình tập huấn, đào tạo kỹ năng cho doanh nghiệp còn hạn chế.

(Nguồn Viện Khoa học tổ chức Nhà nước – Bộ Nội Vụ)

Hạn chế của các hiệp hội doanh nghiệp chủ yếu xuất phát từ công tác tổ chức cán bộ, với 86,4% người được hỏi cho rằng họ thiếu nhân sự có trình độ và năng lực Thêm vào đó, 81,6% cho rằng việc thiếu bộ phận chuyên trách về pháp luật đã khiến các hội viên gặp khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp Ngoài ra, các nguyên nhân khác bao gồm thiếu thông tin thị trường, ngân sách hoạt động hạn chế, thiếu trách nhiệm ràng buộc giữa hội viên và hiệp hội, và sự thiếu đoàn kết trong hợp tác quốc tế Cuối cùng, văn bản quản lý nhà nước chưa phù hợp với thực tế và cơ chế phối hợp với các cơ quan liên quan còn nhiều bất cập.

(Nguồn Viện Khoa học tổ chức Nhà nước – Bộ Nội Vụ)

Hoạt động của các Doanh nghiệp xuất khẩu trong giai đoạn 2010-2018

Số lượng doanh nghiệp đạt giải thương hiệu quốc gia đã tăng đều qua các năm, từ 30 doanh nghiệp năm 2008 lên 88 doanh nghiệp năm 2016 Các doanh nghiệp này đóng góp đáng kể vào nền kinh tế, với tổng doanh thu năm 2017 đạt trên 718 nghìn tỷ đồng, trong đó doanh thu xuất khẩu vượt 70 nghìn tỷ đồng và nộp ngân sách nhà nước trên 55 nghìn tỷ đồng Họ cũng tạo ra việc làm cho hơn 300 nghìn lao động, thực hiện các hoạt động từ thiện với giá trị trên 2 nghìn tỷ đồng và nộp bảo hiểm xã hội trên 18 nghìn tỷ đồng.

Năm 2018, doanh nghiệp đã tận dụng các ưu đãi về giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) với tổng kim ngạch đạt 46,2 tỷ USD, chiếm 39% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường có FTA với Việt Nam Tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi duy trì ổn định, tương ứng với kim ngạch xuất khẩu Trong năm này, các cơ quan, tổ chức được ủy quyền đã cấp 942.371 bộ C/O ưu đãi (bao gồm FTA và GSP) với tổng trị giá 50,9 tỷ USD.

Tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan đạt 39% cho thấy doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam ngày càng cải thiện khả năng sử dụng các ưu đãi từ FTA Mức 39% này là trung bình của các mẫu C/O ưu đãi, trong đó C/O VC có tỷ lệ sử dụng cao nhất là 67%, trong khi C/O EAV chỉ đạt 28% Tỷ lệ này cũng khác nhau theo thị trường xuất khẩu, với Hàn Quốc đạt 60% và Nhật Bản 37,8% Đối với các mặt hàng, da giày gần như đạt 100%, nhựa và sản phẩm nhựa 73,5%, dệt may 68%, thủy sản 64%, và hạt điều cùng cà phê trên 55% Mặc dù tỷ lệ tận dụng ưu đãi của một số FTA có thể giảm, số lượng hồ sơ đề nghị cấp C/O ưu đãi vẫn tăng khoảng 20% mỗi năm.

Tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi 39% không đồng nghĩa với việc 61% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam phải chịu thuế cao, do một số thị trường như Singapore có thuế nhập khẩu MFN là 0% Mặt hàng giày dép đạt tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi gần 100%, với kim ngạch xuất khẩu 3,85 tỷ USD, tăng 30% so với năm 2017 Nhựa và sản phẩm nhựa đứng thứ hai với tỷ lệ 73,5%, kim ngạch xuất khẩu 1,82 tỷ USD, tăng 52% so với năm 2017 Sản phẩm dệt may có kim ngạch xuất khẩu C/O ưu đãi đạt 7,48 tỷ USD, chiếm 68,2% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm này (gần 11 tỷ USD), tăng 33% so với năm 2017 Nhiều mặt hàng nông, thủy sản cũng có tỷ lệ tận dụng ưu đãi tốt, như thủy sản (63,7%), cao su (63,1%), hạt tiêu (59,1%) và cà phê (55,9%) Sắt thép và các sản phẩm từ sắt thép cũng có kim ngạch xuất khẩu được cấp C/O.

Đánh giá công tác phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2018

Cuối năm 2018, nền kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều kết quả tích cực với nền tảng vĩ mô được củng cố và môi trường kinh doanh cải thiện, tạo động lực cho tăng trưởng năm 2019 Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt khi xu hướng dịch chuyển vốn đầu tư từ Trung Quốc sang các nước khác tạo cơ hội cho Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực sản xuất các mặt hàng chịu sự trừng phạt của Mỹ Hiệp định CPTPP đã chính thức có hiệu lực, mở ra cơ hội lớn cho cải cách thể chế, mở rộng xuất khẩu và nâng cao trình độ sản xuất Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự chuyển hướng xuất nhập khẩu do cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, nguy cơ lẩn tránh xuất xứ hàng hóa và yêu cầu cao hơn từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA.

Nhìn lại các mục tiêu của Thủ tướng Chính phủ ban hành tại mốc năm

Từ năm 2011 đến 2015, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đạt bình quân 15,8%/năm, trong khi chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia theo WEF xếp hạng 68 với 4.3 điểm Đến năm 2018, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giảm còn 13,8%, chỉ số năng lực cạnh tranh đạt 58,1 điểm, xếp hạng 74/135 trên thế giới, với 97 sản phẩm và 80 doanh nghiệp đạt giải chất lượng quốc gia, vẫn thấp hơn mục tiêu năm 2020 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02 năm 2019 nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, với mục tiêu nâng cao các chỉ số đánh giá của WEF và WB, phấn đấu đưa Việt Nam vào nhóm ASEAN 4 Mục tiêu cụ thể bao gồm tăng 5-10 bậc trong chỉ số GCI, cải thiện 5-10 bậc trong xếp hạng hiệu quả logistics và tăng 10-15 bậc trong chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới.

- Những cơ hội, thuận lợi

Việt Nam đang nhanh chóng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và hội nhập kinh tế thế giới, tạo động lực cho phát triển thương mại toàn cầu Sự hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới giúp gia tăng tự do hóa thương mại, mở ra nhiều cơ hội cho thị trường xuất khẩu Đây là cơ hội để hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu, từ đó mở rộng thị trường xuất khẩu Trong bối cảnh khó khăn trong đàm phán WTO, các quốc gia tiếp tục thúc đẩy hợp tác thương mại song phương và khu vực, dự kiến sẽ có nhiều FTA và EPA được ký kết từ 2020-2030 Những thỏa thuận về tự do hóa thương mại sẽ tạo cơ hội tiếp cận thị trường cho các nước đang phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp với việc giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ hạn ngạch và ràng buộc thuế quan, cũng như xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu ở các nước phát triển, giúp đa dạng hóa thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ lực.

Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ngày càng đa dạng và phát triển mạnh mẽ Năm 2018, Việt Nam có 30 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, trong đó có 8 mặt hàng trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng trên 10 tỷ USD Các mặt hàng dẫn đầu bao gồm điện thoại và linh kiện với kim ngạch 49,1 tỷ USD, hàng dệt may 30,5 tỷ USD, máy tính và sản phẩm điện tử 29,3 tỷ USD, máy móc và thiết bị 16,5 tỷ USD, và giày dép 16,2 tỷ USD Dự báo đến năm 2030, Việt Nam sẽ nằm trong top 3 nền kinh tế mạnh nhất ASEAN và tích cực tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thị trường xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng mở rộng, với nhiều mặt hàng vươn tới hầu hết các thị trường toàn cầu Nhiều sản phẩm đã khẳng định được vị thế và khả năng cạnh tranh tại các thị trường yêu cầu cao về chất lượng như Hoa Kỳ, EU, và Nhật Bản Năm 2018, trong số hơn 200 thị trường thương mại, có khoảng 30 thị trường đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó 11 thị trường vượt mốc 5 tỷ USD và 4 thị trường đạt trên 10 tỷ USD.

Khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức liên kết và hợp tác đa dạng Mặc dù vai trò của Trung Quốc trong tăng trưởng thương mại toàn cầu giảm, nước này vẫn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thương mại khu vực Các quốc gia như Mỹ, EU, Nhật Bản, Ấn Độ và Nga tiếp tục thúc đẩy thương mại thông qua các FTA, tạo cơ hội cho Việt Nam mở rộng sản phẩm và thị trường xuất khẩu ASEAN đang nỗ lực xây dựng Cộng đồng kinh tế vào cuối năm 2015 và khẳng định vai trò trung tâm trong hội nhập Đông Á qua các sáng kiến như RCEP CPTPP, có hiệu lực từ năm 2019, mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam cải cách thể chế, nâng cao xuất khẩu và tham gia vào chuỗi sản xuất giá trị gia tăng Dù là nước có mức độ phát triển thấp nhất trong CPTPP, Việt Nam có thể tận dụng cơ hội này để phát triển vượt bậc, tiếp tục cải cách để cạnh tranh không chỉ với các nước trong hiệp định mà còn với các quốc gia khác trên thế giới.

- Những thử thách, khó khăn

Năm 2018, tình hình thế giới trở nên phức tạp với sự phục hồi kinh tế toàn cầu nhưng vẫn chưa ổn định Sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ và chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã tạo ra những lo ngại về một tương lai không an toàn cho nền kinh tế toàn cầu và đặc biệt là nền kinh tế Việt Nam Cuộc chiến thương mại này đã ảnh hưởng đến việc chuyển hướng xuất nhập khẩu, dẫn đến nguy cơ lẩn tránh xuất xứ hàng hóa từ một số quốc gia vào Việt Nam, cũng như làm thay đổi chuỗi cung ứng và dòng vốn đầu tư.

Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt với các đối tác ở cả ba cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và doanh nghiệp vẫn còn thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực Xuất khẩu và nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới, trong khi khả năng thích ứng của sản xuất trong nước với biến động quốc tế còn chậm Mặc dù kim ngạch xuất khẩu đã tăng, nhưng khả năng cạnh tranh của hàng hóa vẫn chưa được cải thiện đáng kể, với mức độ chế biến thấp và thiếu các ngành hàng mũi nhọn có giá trị gia tăng cao Để gia tăng kim ngạch xuất khẩu trong tương lai, Việt Nam cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển nhằm nâng cao giá trị gia tăng và phát triển các mặt hàng xuất khẩu mới có giá trị cao.

Tổ chức và quản lý nhà nước trong hoạt động xuất nhập khẩu chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững Chính sách hiện tại chưa chú trọng vào việc phát triển thị trường xuất khẩu và còn thiếu hiệu quả Cần đánh giá lại khả năng thực thi cam kết, vì cải cách thể chế chưa đạt hiệu quả mong muốn, dẫn đến việc các lực lượng thị trường chưa được giải phóng Hệ quả là cơ hội tự do hóa thương mại với nước ngoài không được tận dụng, thậm chí trở thành thách thức.

HOÀN THIỆN CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM TỪ

Ngày đăng: 30/03/2022, 10:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. MUTRAP (2009), Kỷ yếu hội thảo "Hướng tới các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Tác giả: MUTRAP
Năm: 2009
1. Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng (Chủ biên) (2002), Giáo trình kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Lao động xã hội Khác
2. PGS.TS Tạ Lợi và PGS.TS Nguyễn Thị Hường (2016), Giáo trình Kinh doanh quốc tế. Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
3. TS. Phạm Thị Hồng Yến, Giáo trình Kinh doanh Quốc tế, NXB Thống kê Khác
4. PGS.TS.Hà Thị Ngọc Oanh – TS. Đoàn Huy Xuân Minh – Ths. Trần Thu Hiền, Giáo trình kinh doanh Thương mại quốc tế, NXB Lao động xã hội Khác
5. Bộ Công thương (2013), Giải pháp chính sách xây dựng và bảo vệ thương hiệu sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, Đề tài NCKH cấp bộ, mã số 06.13BH/HĐ- KHCN Khác
6. Bộ Công thương (2010), Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế của Việt Nam, Đề tài NCKH cấp bộ, mã số 039.09.RD/HĐ- KHCN Khác
7. Bộ Công thương (2010), Nghiên cứu các giải pháp đồng bộ để phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp chủ lực, Đề tài NCKH cấp nhà nước, mã số KC.06.11/06-10 Khác
8. Bộ Công thương (2013), Luận cứ khoa học cho xây dựng chính sách xuất nhập khẩu bền vững của Việt Nam thời kỳ 2011-2020, Đề tài NCKH cấp nhà nước, mã số KX.01.01/11-15 Khác
9. Bộ Công Thương (2014), Phát triển chuỗi cung ứng hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, Đề tài nghiên cứu cấp bộ, mã số KB.08.14/08-13 Khác
10. Bộ Thương mại và trường Đại học Ngoại thương (2009), Thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia, Hà Nội Khác
11. Tô Xuân Dân (1998), Chính sách kinh tế đối ngoại: Lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
12. Đảng cộng sản Việt Nam, Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2011-2020, văn kiện Đại hội XI của Đảng thông qua ngày 17/3/2011 Khác
13. Đỗ Đức Định (2003), Kinh tế đối ngoại: Xu hướng điều chỉnh chính sách ở một số nước châu Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa, NXB Thế giới Khác
14. Thủ tướng Chính phủ, Chiến lược xuất nhập khẩu mặt hàng thời kỳ 2011 – 2020, định hướng đến năm 2030, quyết định số 2471/QĐ-TTg ký ngày 28/12/2011 Khác
15. Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt đề án nâng cao năng lực cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, quyết định số 1137/QĐ-TTg Khác
17. Tổng Cục Thống kê Việt Nam, Số liệu xuất nhập khẩu các mặt hàng (2010 – 2018) Khác
18. Tổng Cục Hải quan Việt Nam, Số liệu 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam năm 2018 Khác
19. Viện Khoa học tổ chức Nhà nước – Bộ Nội Vụ, Số liệu điều tra xã hội học hoạt động các hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức ngành hàng Khác
20. Nguyễn Thị Hoa (2005), Chính sách phát triển thị trường xuất khẩu của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp đại học Ngoại thương Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu tính theo giá trị doanh nghiệp - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 1: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu tính theo giá trị doanh nghiệp (Trang 38)
Đồ thị 2: Kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường lớn từ năm - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 2: Kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường lớn từ năm (Trang 41)
Đồ thị 3: Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 3: Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam (Trang 42)
Đồ thị 4: Cơ cấu hàng nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 4: Cơ cấu hàng nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam (Trang 42)
Đồ thị 5: 10 nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng về giá trị lớn nhất - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 5: 10 nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng về giá trị lớn nhất (Trang 49)
Đồ thị 7: Cơ cấu thị trường xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 7: Cơ cấu thị trường xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ (Trang 53)
Đồ thị 8: Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu giày dép - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 8: Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu giày dép (Trang 54)
Bảng 1: Giá trị 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam năm 2018 - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
Bảng 1 Giá trị 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam năm 2018 (Trang 56)
Đồ thị 9: Tỉ trọng đóng góp kim ngạch xuất khẩu của các thị trường - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 9: Tỉ trọng đóng góp kim ngạch xuất khẩu của các thị trường (Trang 58)
Đồ thị 10: Tỉ trọng đóng góp kim ngạch xuất khẩu của các thị trường - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 10: Tỉ trọng đóng góp kim ngạch xuất khẩu của các thị trường (Trang 59)
Đồ thị 11: Cơ cấu nhóm hàng áp dụng các biện pháp PVTM - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 11: Cơ cấu nhóm hàng áp dụng các biện pháp PVTM (Trang 70)
Đồ thị 13: Tỷ lệ các vụ PVTM theo nguyên nhân của các quốc gia đối - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 13: Tỷ lệ các vụ PVTM theo nguyên nhân của các quốc gia đối (Trang 73)
Đồ thị 12: Tỉ lệ các vụ PVTM theo quốc gia đối với mặt hàng xuất - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 12: Tỉ lệ các vụ PVTM theo quốc gia đối với mặt hàng xuất (Trang 73)
Đồ thị 14: Đánh giá xã hội học về vai trò của các hiệp hội doanh - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 14: Đánh giá xã hội học về vai trò của các hiệp hội doanh (Trang 79)
Đồ thị 15: Đánh giá vai trò tư vấn và phản biện của các - (LUẬN văn THẠC sĩ) GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO các mặt HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ lực của VIỆT NAM
th ị 15: Đánh giá vai trò tư vấn và phản biện của các (Trang 80)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w