LỜI MỞ ĐẦUVề cơ bản,trao đổi thương mại nói chung xuất phát từ tính khan hiếmcác nguồn lực.Không 1 quốc gia hay 1 doanh nghiệp nào có thể đáp ứng tất cảnhu cầu của thị trường.Do vậy, đối
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Về cơ bản,trao đổi thương mại nói chung xuất phát từ tính khan hiếmcác nguồn lực.Không 1 quốc gia hay 1 doanh nghiệp nào có thể đáp ứng tất cảnhu cầu của thị trường.Do vậy, đối với thương mại nội địa thì các doanhnghiệp bán các hàng hoá mình sản xuất được và mua lại những hàng hoá từcác vùng khác để thoả mãn nhu cầu thị trường của mình 1 cách đầy đủ nhất.Đối với ngoại thương cũng vậy,1 doanh nghiệp kinh doanh ngoại thương sẽxuất khẩu những hàng hoá hay dịch vụ mà lợi thế của mình cho phép sản xuất
và sẽ nhập khẩu những hàng hoá hay dịch vụ từ nước ngoài mà không tự sảnxuất được
Ngoại thương là sự mở rộng phạm vi kinh doanh ra thị trường bênngoài.1 quốc gia không thể chỉ dựa vào thương mại nội địa mà có thể tồn tại
và phát triển được.Ngoại thương sẽ là 1 thị trường rộng lớn,là nơi chứa đựngnhững cơ hội kinh doanh mới,những rủi ro mới nhưng đồng thời tính chấtphức tạp của nó cũng tăng lên so với nội thương Để có thể tiến hành hoạtđộng ngoại thương,1 nền kinh tế của mỗi quốc gia phải có những đơn vị kinhdoanh ngoại thương,họ là những nhân tố then chốt của quá trình thương mạiquốc tế của 1 đất nước.Với chức năng xuất nhập khẩu hàng hoá và dịchvụ,các công ty ngoại thương là chiếc cầu nối giữa nền kinh tế trong nước vớinền kinh tế thế giới
Trong xu thế toàn cầu hoá ngày nay,1 nền kinh tế phát triển là 1 nềnkinh tế có sự kết hợp hài hoà,bền vững giữa phát triển nội thương và ngoạithương.Chính vì lẽ đó mà ngày ngay các chỉ tiêu như kim ngạch xuất nhậpkhẩu của 1 quốc gia, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài…lànhững chỉ tiêu không thể thiếu trong việc đánh giá hiệu quả nền kinh tế 1quốc gia trong từng thời kì nhất định.1 quốc gia muốn phát triển bền
Trang 2vững,không những phải làm thế nào để phát triển nền kinh tế nội địa,mà cònphải tìm ra những phương hướng,chiến lược hay cụ thể là những biện pháp đểthúc đẩy ngoại thương phát triển.Coi nội thương là bàn đạp để phát triểnngoại thương,lấy ngoại thương làm công cụ thúc đẩy nền kinh tế nước nhà làphương châm kinh tế của các quốc gia trên thế giới hiện nay,nhất là các quốcgia đang phát triển,trong đó có Việt nam
Trong bài,em xin trình bày "lý luận chung về xuất khẩu hàng hoá và những biện pháp nhằm đẩy hoạt động xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực tại công ty TNHH nhà nước 1 thành viên XNK và đầu tư Hà Nội"
(tên viết tắt UNIMEX Hà Nội).Bài gồm 3 chương:
-Chương I:Vai trò,nội dung và các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩuhàng hoá của doanh nghiệp thương mại
-Chương II:Phân tích thực trạng XK những mặt hàng chủ lực củaUNIMEX Hà Nội
-Chương III:Phương hướng và biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩucác mặt hàng chủ lực của UNIMEX Hà Nội
Trang 3CHƯƠNG I:
VAI TRÒ,NỘI DUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
XK HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI.
I-KHÁI NIỆM VỀ XK HÀNG HÓA,PHÂN LOẠI XK HÀNG HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA XK HÀNG HÓA.
1.Khái niệm về xuất khẩu hàng hoá
Xuất khẩu hàng hoá là một phạm trù của hoạt động ngoại thương.Córất nhiều quan niệm khác nhau về ngoại thương.Nhưng xét về cơ bản thìngoại thương là việc mua hoặc bán hàng hoá và dịch vụ qua biên giới hảiquan của 1 quốc gia.Khái niệm này dựa trên vai trò của ngoại thương,coi nónhư chiếc cầu nối giữa cung,cầu hàng hoá và dịch vụ giữa thị trường trong vàngoài nước
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu rằng,quá trình xuất khẩu hàng hoá là quátrình bán 1 cách trực tiếp hay gián tiếp hàng hoá và dịch vụ cho nước ngoàiqua biên giới hải quan của 1 nước
2.Phân loại xuất khẩu hàng hoá.
Hiện nay có rất nhiều cách phân loại xuất khẩu hàng hoá,nhưng về cơbản các cách phân loại đó đều nhấn mạnh cách thức của xuất khẩu
Nếu phân theo cách tiếp cận thì ta có xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩugián tiếp.Trong xuất khẩu trực tiếp,các doanh nghiệp kinh doanh XNK sẽ tựmình nghiên cứu thị trường,tìm bạn hàng và chủ động liên hệ để việc xuấtkhẩu hàng hoá diễn ra thành công.Nhưng trong xuất khẩu gián tiếp thì khác
Đó là sự xuất hiện của các công ty trung gian kinh doanh môi giới XNK Tuỳvào khả năng của doanh nghiệp mà phạm vi các công ty đó xuất hiện trongquá trình XK của công ty đến đâu.Chẳng hạn nếu công ty không có chức năngXNK,nguồn vốn eo hẹp,chưa có thị trường nước ngoài thì công ty sẽ nhờ đến
Trang 4uỷ thác là 1 đại lý hoa hồng của bên uỷ thác.Do đó,phí uỷ thác thực chất làtiền thù lao trả cho đại lý.
-Liên doanh,liên kết xuất khẩu: công ty XK sẽ bỏ vốn cùng với 1 công
ty ngoại thương khác để kinh doanh chung,lỗ và lãi cùng hưởng và phân chiatheo số vốn đóng góp của mỗi bên.Phần đóng góp của công ty XK thường làgiá trị hàng XK,còn phần đóng góp của công ty ngoại thương là các khoảntiền để thu mua bổ sung hoặc để gia công tái chế, đóng gói bao bì và các tạpphí khác dành cho việc xuất khẩu
-Thu mua hàng xuất khẩu:trong phương thức này việc vận dụng vào thumua hàng nông,lâm,thuỷ hải sản khác với thu mua hàng công nghiệp và thủcông nghiệp
Trong thu mua hàng nông,lâm,thuỷ hải sản,các doanh nghiệp thường áp dụngcác hình thức như kí kết hợp đồng,thu mua tự do,gia công nông nghiệp…Trong khi đó đối với thu mua công nghiệp và thủ công nghiệp thì doanhnghiệp ngoại thương thường áp dụng các hình thức như bao tiêu sản xuất, đặthàng,gia công và đổi hàng
3-Vai trò của xuất khẩu hàng hoá.
Ở tầm vĩ mô,xuất khẩu hàng hoá có các vai trò sau:
Trang 5-Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệphoá đất nước.Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồnnhư XK hàng hoá; đầu tư nước ngoài;vay nợ,viện trợ;thu từ hoạt động dulịch,dịch vụ;xuất khẩu sức lao động…Các nguồn vốn như đầu tư trực tiếpnước ngoài,vay nợ viện trợ…tuy quan trọng nhưng vẫn phải trả bằng cáchnày hay cách khác.Do vậy,nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu côngnghệ phục vụ công nghiệp hoá đất nước là xuất khẩu.Xuất khẩu quyết địnhquy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.Ở Việt Nam,thời kì 1986-1990 nguồnthu về từ xuất khẩu hàng hoá đảm bảo trên 75% nhu cầu ngoại tệ cho nhậpkhẩu,thời kì 1991-1996 là 66%,1996-2000 là 50%(chưa kể xuất khẩu dịchvụ).Trong tương lai,nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên nhưng để có được điều
đó thì chúng ta phải cho các nhà đầu tư thấy được khả năng XK,nguồn trả nợchủ yếu
-Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,thúc đẩy sảnxuất phát triển.Có 2 hướng tác động của xuất khẩu đối với việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất
Thứ nhất,xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm dôi ra do sảnxuất trong nước vượt quá nhu cầu nội địa.Trong trường hợp này ,sản xuất và
sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp
Thứ hai,coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sảnxuất.Quan điểm này dựa trên nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sảnxuất Điều này có tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúcđẩy sản xuất phát triển.Chẳng hạn như đó là việc tạo cơ hội cho các ngànhkhác phát triển thuận lợi,tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phầncho sản xuất phát triển ổn định,tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầuvào cho sản xuất,nâng cao năng lực sản xuất trong nước,tạo ra những tiền đềkinh tế kĩ thuật nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong nước,giúp cho hàng
Trang 6hoá trong nước có cơ hội tham gia cạnh tranh với các hàng hoá khác trên thịtrường thế giới và đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng đổi mới và hoànthiện quy trình sản xuất kinh doanh để thúc đẩy sản xuất mở rộng thị trường
-Xuất khẩu tác động tích cực đến việc giải quyết việc làm và cải thiệnđời sống của nhân dân.Thị trường thế giới là 1 thị trường rộng lớn,nhu cầuphong phú cho nên việc sản xuất ,chế biến và dịch vụ hàng xuất khẩu đã,đang
và sẽ thu hút hàng triệu lao động với mức thu nhập không thấp.Ngoài ra,XKcòn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất làm cho quy mô và tốc độ sản xuất tănglên,nhiều ngành nghề mới ra đời,ngành nghề cũ được cải thiện, đời sống nhândân được cải thiện
-Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đốingoại của nước ta.Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có mối quan hệtác động biện chứng.Chẳng hạn các hoạt động xuất khẩu hàng hoá thúc đẩycác quan hệ tín dụng, đầu tư,vận tải quốc tế…Mặt khác,chính các quan hệkinh tế đối ngoại sẽ tạo ra tiền đề cho mở rộng xuất khẩu
Tóm lại, xuất khẩu có vai trò to lớn,mang ý nghĩa chiến lược để phát triểnkinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nước
Ở tầm vi mô,xuất khẩu cũng có vai trò to lớn đối với bản thân cácdoanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
-Xuất khẩu mở rộng thị trường,gia tăng các cơ hội kinh doanh chodoanh nghiệp.Thị trường trong nước về dài hạn là không đủ cho 1 doanhnghiệp vì cùng với sự xuất hiện của các doanh nghiệp,sức ép canh tranh sẽtăng lên nhanh hơn so với nhu cầu tiêu thụ của thị trường,vô hình làm cho thịtrường trở nên nhỏ hẹp lại,kinh doanh trở nên khó khăn,Việc chuyển hướngxuất khẩu sẽ tạo cho doanh nghiệp 1 “luồng không khí mới” với nhiều cơ hộiđầu tư hơn
Trang 7-Xuất khẩu giúp doanh nghiệp có được những khoản thu ngoại tệlớn,tạo ra 1 khoản dự trữ ngoại tệ,giúp doanh nghiệp có thể tái đầu tư vào thịtrường nước ngoài.
-Xuất khẩu tạo đà giúp các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinhdoanh,triển khai các công nghệ mới,quy trình sản xuất mới làm tăng năng lựccạnh tranh cho doanh nghiệp
II-NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀ CÁC HÌNH THỨC XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP.
1 Nội dung cơ bản của hoạt động xuất khẩu hàng hoá
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hoá là một hệ thống nghiệp vụkhép kín, tạo nên những vòng quay kinh doanh Một nghiệp vụ đều có vị trí vàvai trò nhất định trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Nội dung của hoạt động kinh doanh xuất khẩu trong thực tế phức tạp hơnnhiều so với hoạt động mua bán trong nước bởi vì nó có yếu tố nước ngoài thamgia vào
1.1 Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới
Để nắm vững các yếu tố thị trường, hiểu biết các quy luật vận động củathị trường nhằm ứng xử kịp thời, mỗi nhà kinh doanh nhất thiết phải tiến hànhcác hoạt động nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu và nắm vững đặc điểm biến động của thị trường và giá cảhàng hoá trên thế giới là tiền đề quan trọng đảm bảo cho các doanh nghiệp xuấtkhẩu hoạt động trên thị trường có hiệu quả cao nhất
+ Nhận biết mặt hàng xuất khẩu
Việc nhận biết mặt hàng xuất khẩu trước tiên phải dựa vào nhu cầu củasản xuất và nhu cầu tiêu dùng về qui cách, chủng loại, kích cỡ, giá cả, thời vụ vàcác thị hiếu cũng như tập quán tiêu dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất
Từ đó xem các khía cạnh của hàng hoá trên thị trường thế giới Về khía cạnh
Trang 8phương phẩm, phải hiểu rõ giá trị công dụng, các đặc tính qui cách, phẩm chất,mẫu mã Nắm bắt đầy đủ các mức giá cho từng điều kiện mua bán và phẩm chấthàng hoá, khả năng sản xuất và nguồn cung cấp chủ yếu của các doanh nghiệpcạnh tranh, các hoạt động dịch vụ cho hàng hoá như bảo hành, sửa chữa, cungcấp thiết bị
Để lựa chọn mặt hàng kinh doanh, yếu tố quan trọng là phải tính toánđược tỷ suất ngoại tệ hàng hoá xuất khẩu Tỷ suất ngoại tệ hàng hoá xuất khẩu là
số lượng bản tệ phải chi ra để thu về một đồng ngoại tệ Nếu tỷ suất này thấphơn tỷ giá hối đoái thì việc xuất khẩu có hiệu quả
+ Nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên mộtphạm vi thị trường nhất định trong thời gian nhất định Nghiên cứu dung lượngthị trường cần xác định nhu cầu thật của khách hàng kể cả lượng dự trữ, xuhướng biến động của nhu cầu trong từng thời điểm, các vùng, các khu vực cónhu cầu lớn và đặc điểm nhu cầu của từng khu vực, từng lĩnh vực sản xuất, tiêudùng Cùng với việc xác định, nắm bắt nhu cầu là việc nắm bắt khả năng cungcấp của thị trường bao gồm việc xem xét đặc điểm, tính chất, khả năng sản xuấthàng thay thế, khả năng lựa chọn mua bán
Dung lượng thị trường là không ổn định, thay đổi tuỳ theo diễn biến củathị trường, do tác động của nhiều nhân tố làm cho dung lượng của thị trườngthay đổi Có thể chia ra làm ba loại căn cứ vào thời gian chúng ảnh hưởng đếnthị trường
Loại thứ nhất : Là các nhân tố làm cho dung lượng biến đổi có tính chấtchu kỳ Đó là sự vận động của tình hình kinh tế tư bản chủ nghĩa và mang tínhthời vụ trong sản xuất, lưu thông và tiêu dùng
Loại thứ hai : Là các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự biến động của thịtrường bao gồm những tiến bộ khoa học và công nghệ, các chính sách của Nhà
Trang 9nước và các tập đoàn tư bản lũng đoạn, thị hiếu, tập quán tiêu dùng, ảnh hưởngcủa khả năng sản xuất hàng thay thế
Loại thứ ba : Là các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với dung lượng thịtrường như hiện tượng đầu cơ tích trữ gây ra các đột biến về cung cầu, các yếu tố
tự nhiên như thiên tai, hạn hán, động đất các yếu tố về chính trị, xã hội
Khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố phải thấy được nhóm các nhân tốtác động chủ yếu trong từng thời kỳ, và kỳ kế tiếp, hiện nay và xu hướng tiếptheo
1.2 Lựa chọn đối tác kinh doanh.
Trong hoạt động xuất khẩu, bạn hàng hay khách hàng nói chung là nhữngngười hoặc tổ chức có quan hệ giao dịch với ta nhằm thực hiện các hợp đồngmua hàng hoá hay các dịch vụ
Trong đó việc lựa chọn phương pháp giao dịch tốt nhất là việc lựa chọnđối tác trực tiếp tránh những đối tác trung gian, trừ trường hợp doanh nghiệpmuốn thâm nhập vào thị trường mới mà mình chưa có kinh nghiệm
1.3 Huy động nguồn hàng xuất khẩu
Có hai phương thức huy động nguồn hàng xuất khẩu
Thứ nhất là lấy mặt hàng làm đối tượng nghiên cứu : Theo phương phápnày, người ta nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ của từng mặt hàng Nhờ
đó, biết được tình hình chung về khả năng sản xuất, nhu cầu xuất khẩu từng mặthàng
Thứ hai là lấy đơn vị sản xuất làm cơ sở nghiên cứu : Theo phương phápnày, người ta theo dõi năng lực sản xuất và cung ứng của từng cơ sở sản xuất.Năng lực này thể hiện qua các chỉ tiêu sau :
- Số lượng, chất lượng hàng hoá cung ứng
- Giá thành sản phẩm
- Trình độ công nhân
- Trang thiết bị, máy móc
Trang 101 0
Phương pháp này lấy đơn vị sản xuất làm cơ sở nghiên cứu giúp nắm bắtđược tình hình cung ứng của từng xí nghiệp, địa phương nhưng lại không nắmbắt được tình hình sản xuất và tiêu thụ mặt hàng, nên thông thường các đơn vịkinh doanh xuất khẩu áp dụng linh hoạt cả hai phương pháp
Tổ chức tạo nguồn hàng xuất khẩu cũng là một công đoạn quan trọng,nguồn hàng xuất khẩu có thể được huy động ở các xưởng của doanh nghiệp hoặccác cơ sở sản xuất của doanh nghiệp khác Để công tác tạo nguồn hàng đạt hiệuquả cao, doanh nghiệp cần tổ chức, bố trí, đầu tư các cơ sở sản xuất hợp lý, nângcao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Thiết kế hệ thống các kênh thumua sao cho đảm bảo thu mua đủ về số lượng yêu cầu, tốt về chất lượng với chiphí hợp lý và đúng tiến độ, đảm bảo chi phí vận chuyển, dự trữ, bảo quản là thấpnhất có thể
1.4 Đàm phán ký kết hợp đồng ngoại thương.
Đàm phán có thể có các hình thức : Đàm phán qua thư tín, đàm phán quađiện thoại và đàm phán bằng gặp gỡ trực tiếp
Trong quá trình giao dịch đàm phán có những bước chủ yếu sau :
+ Hỏi giá : Đây là việc người mua đề nghị người bán báo cho mình biếtgiá cả và các điều kiện để mua hàng
+ Phát giá : Là việc người xuất khẩu thể hiện rõ ý định bán hàng củamình, là lời đề nghị ký kết hợp đồng Phát giá còn gọi là chào hàng trong mậudịch quốc tế người ta phân ra hai loại chào hàng chính, đó là chào hàng cố định
và chào hàng tự do
+ Đặt hàng : Lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người muađược đưa ra dưới hình thức đặt hàng, trong đó người mua nêu cụ thể về hàng hoáđịnh mua và tất cả những nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng
+ Hoàn giá : Khi người nhận được chào hàng (hoặc đặt hàng) không chấpnhận hoàn toàn chào hàng (hoặc đặt hàng) đó mà đưa ra một đề nghị mới thì đềnghị mới này là hoàn giá
Trang 11+ Chấp nhận : Là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện của chào hàng(hoặc đặt hàng) mà phía bên kia đưa ra Khi đó hợp đồng được thành lập.
+ Xác nhận : Là việc xác nhận lại các điều kiện mà hai bên đã tho thuậntrước đó Việc này luôn đồng nghĩa với việc ký kết hợp đồng
Khi ký kết hợp đồng xuất khẩu cần phải chú ý các vấn đề sau :
- Hợp đồng cần được trình bày rõ ràng sáng sủa, phản ánh đúng nội dung
đã thỏa thuận, không để tình trạng mập mờ có thể suy luận ra nhiều cách
- Cần có sự thỏa thuận thống nhất với nhau tất cả các điều khoản trước khi
ký kết Trước khi ký kết nên xem xét cẩn thận đối chiếu với những thoả thuận đãđạt được trong đàm phán
- Trong hợp đồng không được có những điều khoản trái với luật lệ hiệnhành ở nước người bán hoặc nước người mua
- Người đứng ra ký kết hợp đồng phải là người có thẩm quyền ký kết
- Ngôn ngữ dùng để xây dựng hợp đồng nên là thứ ngôn ngữ mà hai bêncùng thông thạo
1.5 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi ký kết hợp đồng cần xác định rõ trách nhiệm, nội dung và trình tựcông việc phải làm, cố gắng không để xảy ra sai sót, tránh gây thiệt hại Phải yêucầu đối phương thực hiện các nhiệm vụ theo hợp đồng Trình tự thực hiện hợpđồng xuất khẩu theo các bước sau :
• Ký kết hợp đồng xuất khẩu
• Kiểm tra L/C
• Xin giấy phép xuất khẩu (nếu cần)
• Chuẩn bị hàng hoá
• Thuê tàu hoặc uỷ thác thuê tàu (nếu cần)
• Kiểm nghiệm hàng hoá
• Làm thủ tục hải quan
• Giao hàng lên tàu
Trang 121 2
• Mua bảo hiểm (nếu cần)
• Làm thủ tục thanh toán
• Giải quyết khiếu nại (nếu cần)
1.6 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Để thực hiện hợp đồng kinh doanh xuất khẩu người ta phải qua rất nhiềucông đoạn và phải tính toán nghiên cứu kỹ cả trước và sau khi thực hiện Trướckhi thực hiện hợp đồng, chỉ đánh giá xem xét một cách tương đối để quyết địnhxem hợp đồng có khả thi không, sau khi thực hiện hợp đồng cần đánh giá lại đểxem xét hiệu qủa thực tế của thương vụ.Các chỉ tiêu cụ thể sẽ được trình bày ởphần sau
2 Các hình thức cơ bản của xuất khẩu hàng hoá
2.1 Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động xuất khẩu thông thường, do chính chủ sởhữu hàng hoá hay dịch vụ xuất khẩu trực tiếp cho thương nhân nước ngoài Trong đó xuất khẩu trực tiếp, bên xuất khẩu và bên nhập khẩu trực tiếpgiao dịch với nhau, việc mua bán không ràng buộc lẫn nhau Bên mua có thể chỉmua mà không bán, bên bán chỉ có thể bán mà không mua
2.2 Xuất khẩu uỷ thác
Theo hình thức này, đơn vị ngoại thương đứng ra đóng vai trò là trunggian xuất khẩu, làm thay cho các đơn vị sản xuất (chủ sở hữu hàng hoá) nhữngthủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng và hưởng phần trăm theo giá trị hàng xuấtkhẩu đã được thoả thuận
Các bước tiến hành của hình thức này :
+ Ký kết hợp đồng nhận uỷ thác xuất khẩu với chủ sở hữu hàng hoá
+ Ký hợp đồng xuất khẩu với bên nước ngoài, giao hàng và thanh toán tiềnhàng
+ Nhận uỷ thác từ chủ sở hữu hàng hoá trong nước
Trang 13Ưu điểm của hình thức này là mức độ rủi ro thấp, ít trách nhiệm, không phảichịu trách nhiệm nếu như một bên nào đó không thực hiện đúng hợp đồng Đặcbiệt không cần bỏ vốn ra để mua hàng, nhận tiền nhanh, ít thủ tục và tương đốitin cậy.
Nhược điểm phải mất một khoản chi phí cho người uỷ thác do đó lợi nhuậngiảm
2.3 Buôn bán đối lưu
Đây là phương thức giao dịch mà xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhậpkhẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi tương đương nhau.Mục đích xuất khẩu không phải để thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu vềmột lượng hàng có giá trị tương đương với giá trị của lô hàng đã xuất
Có các loại hình buôn bán đối lưu như : Hàng đổi hàng, trao đổi bù trừ,buôn bán có thanh toán bằng hàng, mua đối lưu, chuyển nợ, giao dịch bồi hoàn
+ Hình thức hàng đổi hàng: Hai bên trao đổi trực tiếp với nhau nhữnghàng hoá có giá trị tương đương, việc giao hàng hầu như diễn ra đồng thời
+ Hình thức trao đổi bù trừ: Hai bên trao đổi hàng hoá với nhau trên cơ sởghi trị giá hàng giao và hàng nhận, đến cuối kỳ hạn hai bên mới đối chiếu sổsách, so sánh trị giá hàng giao với trị giá hàng nhận Nếu sau khi bù trừ hàng hoánhư thế mà còn số dư thì số tiền đó được giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bênchủ nợ về những khoản chi tiêu của bên chủ nợ tại nước bị nợ
+ Hình thức buôn bán có thanh toán bằng hàng : Hai chủ thể của quan hệbuôn bán thỏa thuận chỉ định ngân hàng thanh toán Ngân hàng này mở tài khoảngọi là tài khoản Clearing, để ghi chép tổng trị giá hàng giao nhận của mỗi bên.Sau một thời hạn quy định, ngân hàng mới quyết toán tài khoản Clearing và bên
bị nợ (tức là nhận nhiều và giao ít) sẽ phải trả khoản bội chi mà mình đã gây ra
+ Hình thức mua đối lưu : Một bên giao thiết bị cho khách hàng của mình,
để đổi lại mua sản phẩm của công nghiệp chế biến, bán thành phẩm, nguyên vậtliệu
Trang 141 4
+ Hình thức chuyển nợ : Bên nhận hàng chuyển khoản nợ về tiền hàngcho một bên thứ ba để bên thứ ba này trả tiền Nghiệp vụ này bảo đảm cho cácdoanh nghiệp, khi nhận hàng đối lưu không phù hợp với lĩnh vực kinh doanh củamình, có thể bán hàng đó đi
+ Hình thức bồi hoàn : Người ta đổi hàng hoá hoặc dịch vụ lấy nhữngdịch vụ và ưu huệ (như ưu huệ trong đầu tư hoặc giúp đỡ bán sản phẩm)
2.4 Tạm nhập, tái xuất
Trong hình thức này hàng hoá đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất, rồilại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu Ngược chiều với sựvận động của hàng hoá là sự vận động của tiền : Nước tái xuất trả tiền nước xuấtkhẩu và thu tiền nước nhập khẩu
2.6 Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức xuất khẩu với nhiều ưu điểm nên đang được phổ biến rộngrãi Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hoá không bắt buộc phải quabiên giới quốc gia để đến tay khách hàng Đây là một hình thức xuất khẩu có độrủi ro thấp, vì kinh doanh ở một môi trường nội địa hoàn toàn quen thuộc Hơnnữa, do không phải làm thủ tục hải quan và các chứng từ khác có liên quan, nêngiảm bớt được nhiều chi phí xuất khẩu
2.7 Gia công hàng xuất khẩu
Gia công hàng xuất khẩu là một phương thức kinh doanh, trong đó mộtbên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của
Trang 15bên khác (gọi là bên đặt gia công), để chế biến ra thành phẩm, giao lại cho bênđặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công).
Do có nhiều ưu điểm nên gia công xuất khẩu ngày nay khá phổ biến trongbuôn bán ngoại phương Đối với nước ta, phát triển phương thức này sẽ giúp tagiải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động, thu hút công nghệ
và thiết bị mới, hiện đại của nước ngoài, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoáhiện đại hoá đất nước
2.8 Đấu giá hàng hóa quốc tế
Đấu giá hàng hóa quốc tế (International Auction) là 1 phương thức hoạtđộng thương mại được tổ chức ở 1 nơi nhất định mà tại đó,người bán hàng tựmình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hóa công khai đểchọn ra được người mua trả giá cao nhất
Trong buôn bán quốc tế,những mặt hàng được đem ra đấu giá thường lànhững mặt hàng khó tiêu chuẩn hóa như da,lông thú,len thô,chè…
Các loại hình đấu giá ngày nay có thể được chia làm 2 loại chính:
-Trả giá lên:là hình thức bán đấu giá,theo đó người trả giá cao nhất so vớigiá khởi điểm sẽ là người có quyền mua hàng
-Đặt giá xuống:là hình thức đấu giá theo đó người đầu tiên chấp nhậnngay mức giá khởi điểm hoặc mức giá được hạ thấp là người có quyền muahàng.Đây còn được gọi là đấu giá kiểu Hà Lan
2.9 Đấu thầu hàng hóa quốc tế
Đấu thầu hàng hóa quốc tế (International bidding) là 1 phương thức hoạtđộng thương mại,theo đó 1 bên mua hàng hóa gọi là bên mời thầu,thông qua mờithầu nhằm lựa chọn trong số các thương nhân tham gia đấu thầu,gọi là bên dựthầu,thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và đượclựa chọn để kí kết và thực hiện hợp đồng,được gọi là bên trúng thầu
Trang 161 6
Ngày nay,trong buôn bán quốc tế,các mặt hàng lớn như thiết bị toànbộ,những mặt hàng tập hợp thành các chuỗi thiết bị…thường áp dụng phươngpháp này
Đấu thầu hàng hóa gồm 2 loại chính:
-Đấu thầu rộng rãi:là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu không hạn chế
số lượng các bên dự thầu
-Đấu thầu hạn chế:là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời 1 sốnhà thầu nhất định tham dự thầu
Ngoài ra,nếu xét về phương thức đấu thầu thì còn có đấu thầu 1 túi hồ sơ
và đấu thầu 2 túi hồ sơ.Nếu xét về thủ tục thẩm định còn có đấu thầu có sơ tuyển
và đấu thầu không sơ tuyển
2.10.Sở giao dịch hàng hóa
Mua bán qua sở giao dịch hàng hóa là hoạt động thương mại,theo đóthông qua những người môi giới do Sở chỉ định,người ta mua bán các lượnghàng nhất định,theo những tiêu chuẩn của Sở giao dịch,với giá cả được thỏathuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định trongtương lai.Sở giao dịch hàng hóa thể hiện tập trung quan hệ cung cầu về 1 số mặthàng giao dịch ở 1 số khu vực,tại 1 thời điểm nhất định.Do đó giá công bố tại Sởgiao dịch có thể được coi là 1 tài liệu quan trọng để tham khảo khi muốn xácđịnh giá quốc tế của các mặt hàng
Các loại giao dịch tại Sở giao dịch hàng hóa bao gồm:
-Giao dịch kỳ hạn (Forward transaction):Là giao dịch mà tại đó,giá cảđược ấn định tại lúc kí kết hợp đồng nhưng việc giao hàng và thanh toán dềuđược tiến hành sau 1 kỳ hạn nhất định,nhằm mục đích thu lợi nhuận do chênhlệch giá giữa lúc ký kết hợp đồng với lúc giao hàng
-Giao dịch giao ngay (Spot transaction):Là giao dịch trong đó hàng hóađược giao ngay và thanh toán ngay khi kí kết hợp đồng
Trang 17Ngoài ra,trong các giao dịch có kỳ hạn,vì các giao dịch này mang tínhchất thời gian nên rủi ro xảy ra là rất lớn.Do vậy,tại các sở giao dịch hàng hóacòn có các hoạt động bảo hiểm dành cho các bên mua bán như hợp đồng vềquyền chọn(Options) hay nghiệp vụ tự bảo hiểm (Hedging).
2.11.Nhượng quyền mua bán hàng hóa
Nhượng quyền mua bán hàng hóa (Franchising) là 1 hoạt động thươngmại,theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận nhượng quyền tựmình tiến hành việc mua bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ theo các điều kiện đãđược quy định trước
Trong thực tế,nếu sự nhượng quyền này cho một người thì người ta gọi lànhượng quyền độc quyền (Exchesive franchise).Nếu việc nhượng quyền này chonhiều người thì người ta gọi là nhượng quyền không độc quyền (Non exchesivefranchise)
2.12.Giao dịch tại hội chợ-triển lãm
Hội chợ là thị trường hoạt động định kì,được tổ chức vào 1 thời gian và ở
1 địa điểm nhất định trong 1 thời hạn nhất định.Tại đó,người bán đem trưng bàyhàng hóa của mình và tiếp xúc với người mua để kí kết hợp đồng mua bán
Triển lãm là việc trưng bày giới thiệu những thành tựu của 1 nền kinh tếhay của 1 ngành kinh tế,văn hóa,khoa học kĩ thuật…Nhằm mục đích quảng cáo
để mở rộng khả năng tiêu thụ.Ngày nay triển lãm không chỉ là nơi trưng bày giớithiệu hàng hóa,mà còn là nơi thương nhân hoặc tổ chức kinh doanh tiếp xúc giaodịch kí kết hợp đồng mua bán cụ thể.xu hướng ngày nay người ta dần xóa mờ điranh giới giữa hội chợ và triển lãm.Thay vào đó,người ta thường kết hợp cả 2hoạt động này với nhau nhằm nâng cao tính hiệu quả của hoạt động
2.13.Thương mại điện tử
Thương mại điện tử (E-Commerce) là việc sử dụng các phương pháp điện
tử tiến hành các hoạt động thương mại,hay rõ rang hơn là việc trao đổi thông tinthương mại thông qua các phương tiện kĩ thuật điện tử mà không cần phải in ra
Trang 181 8
giấy bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch.Trong đó,thương mại đượchiểu theo nghĩa rộng,bao quát các vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tínhchất kinh doanh như cung cấp,trao đổi hàng hóa,dịch vụ, đại lý thương mại,ủythác hoa hồng,cho thuê,ngân hàng,bảo hiểm…
Các phương tiện kĩ thuật của thương mại điện tử gồm có: điện thoại,điệnbáo,fax,truyền hình,thiết bị thanh toán điện tử,mạng nội bộ và internet
Thương mại điện tử tiến hành các hoạt động thương mại rất nhanh, đỡ tốnkém và rất linh hoạt.Nhưng chỉ có thể thực hiện được thương mại điện tử nếu cơ
sở vật chất thiết bị của nó được trang bị đầy đủ.Mặt khác,nhà nước cần có luậtcho phép sử dụng máy tính trong mua bán,chữ kí điện tử…
III-CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG XK HÀNG HOÁ,DỊCH
VỤ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG XK HÀNG HOÁ,DỊCH
VỤ CỦA DOANH NGHIỆP SX-KD.
1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ.
Kết quả hoạt động kinh doanh XNK hàng hoá không những có ảnhhưởng ở tầm vi mô đối với bản thân các doanh nghiệp đó,mà còn ảnh hưởngtrực tiếp đến những nhân tố thuộc tầm vĩ mô như sự đóng góp của ngoạithương vào phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế,tăng năng suất lao động
xã hội,tích luỹ ngoại tệ,tăng thu cho ngân sách nhà nước,giải quyết việclàm…
Trong giới hạn đề tài này,em xin trình bày các chỉ tiêu đánh giá kết quảhoạt động xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ở tầm vi mô, đối với các doanhnghiệp và sự phát triển của các doanh nghiệp ngoại thương
1.1.Các chỉ tiêu đánh giá kết quả cụ thể của hoạt động xuất khẩu hàng hoá
và dịch vụ.
Trang 19Kim ngạch xuất khẩu là chỉ tiêu đầu tiên cần nhắc tới.Trong buôn bánnội địa,thì kim ngạch đó chính là doanh số bán hàng của 1 doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh.Trong kinh doanh ngoại thương,kim ngạch xuất khẩu làlượng hàng hoá và dịch vụ tính bằng giá trị mà 1 doanh nghiệp xuất sang chođối tác nước bạn.Kim ngạch xuất khẩu thường được tính trong một khoảngthời gian nhất định,có thể là 1 quý,1 tháng,1năm…tuỳ vào mục đích nghiêncứu.
Chỉ tiêu lợi nhuận xuất khẩu:đây là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với cácdoanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu.Chỉ tiêu này cho biết hiệu qủa trực tiếpcủa quá trình kinh doanh xuất khẩu,lượng tiền ròng mà doanh nghiệp thu vềsau khi đã trừ hết các chi phí xuất khẩu
Chỉ tiêu so sánh giá xuất khẩu so với giá quốc tế.Trong trao đổi ngoạithương,giá quốc tế là mức giá chung,các doanh nghiệp phải lấy giá quốc tếlàm tiêu chuẩn để so sánh với giá xuất khẩu đã thực hiện để qua đó có thểđánh giá được hiệu quả kinh tế xuất khẩu về mặt đối ngoại
Chỉ tiêu so sánh doanh thu xuất khẩu tính ra đồng Việt Nam theo tỉ giáhiện hành của ngân hàng nhà nước Việt Nam với giá thành xuất khẩu ở trongnước của từng mặt hàng,nhóm hàng,của từng chuyến hàng hay của từng thời
kì xuất khẩu khác nhau
Chỉ tiêu hiệu quả xuất khẩu kết hợp tính cho cả nước hay với từng dịch
vụ đổi hàng riêng lẻ
Các chỉ tiêu này thể hiện sự tiết kiệm lao động xã hội được thể hiệntrực tiếp qua hoạt động xuất khẩu.Qua các chỉ tiêu đó,phạm trù giá cả đolường chi phí lao động mang tính quốc tế trong việc sản xuất ra hàng hoá xuấtkhẩu được thể hiện.Cần lưu ý rằng,khi áp dụng các chỉ tiêu trên,hai yếu tố giátrị tiền tệ và phương thức thanh toán có ý nghĩa rất quan trọng trong việc so
Trang 202 0
sánh chi phí XK với doanh thu XK,giá bán trong nước so sánh với giá quốctế,XK trả tiền ngay,thanh toán sau…
1.2.Xác định 1 số chỉ tiêu hiệu quả tài chính của hoạt động kinh doanh xuất khẩu không kèm theo các điều kiện tín dụng.
Tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu:là đại lượng so sánh giữa khoản thu ngoại
tệ do xuất khẩu hàng hoá (DTXK) đem lại với số chi phí nội tệ phải chi ra(CPXK) để có được số ngoại tệ đó.Gọi Rxk là kí hiệu cho tỉ xuất ngoại tệ XK
ta có:
Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận:
Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận là các chỉ tiêu tổng hợp thể hiện kết quảkinh doanh.Lợi nhuận được thể hiện dưới dạng số tương đối và số tuyệt đối
Ở dạng số tuyệt đối,lợi nhuận là hiệu số giữa khoảng doanh thu và chiphí bỏ ra trong quá trình sản xuất,kinh doanh.Lợi nhuận về nguyên tắc đượctính theo công thức:
P= D – CP
Trong đó:
P: tổng lợi nhuận đạt được
D: doanh thu từ việc xuất khẩu sản phẩm hoặc dịch vụ
CP: chi phí phải bỏ ra trong quá trình sản xuất,xuất khẩu sản phẩmhoặc dịch vụ
Khi sử dụng lợi nhuận dưới dạng số tuyệt đối để đánh giá hiệu quả kinh
tế của 1 thương vụ xuất khẩu hay nói chung là ngoại thương cần lưu ý cả đếncác yếu tố khách quan như giá cả đầu vào,chính sách thuế…chứ không chỉquan đến nỗ lực của doanh nghiệp mà thôi
Ở dạng số tương đối lợi nhuận được thể hiện bằng tỷ suất lợi nhuận
Trang 21Tỷ suất lợi nhuận có thể tính theo giá thành,vốn sản xuất,doanh thu…Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từ một đơn vị chi phí cho hoạtđộng xuất khẩu.
Trong đó:
Pv: tỷ suất lợi nhuận tính theo vốn
Vcd: giá trị còn lại bình quân của tài sản cố định trong kì
Vld: Vốn lưu động bình quân trong kì
Tỷ suất lợi nhuận tính theo doanh thu phản ánh mức lợi nhuận thu được
từ 1 đơn vị doanh thu tiêu thụ của sản phẩm xuất khẩu
Trong đó:
Pdt: lợi nhuận tính trên doanh thu
D: doanh thu từ xuất khẩu sản phẩm
Trang 222 2
Khi sử dụng Pdt cần tránh quan niệm cho rằng tỷ suất lợi nhuận càngcao,hiệu quả kinh tế càng lớn.Điều quan trọng là kinh doanh phải có lãi Đâychỉ là một trong những cách đánh giá hiệu quả kinh doanh chứ không phải làcăn cứ duy nhất để đưa ra các quyết định kinh doanh
Thời gian hoàn vốn:
Đây là chỉ tiêu áp dụng trong điều kiện kinh doanh với thời giandài.Thời gian hoàn vốn là 1 chỉ tiêu hiệu quả kinh tế đơn giản phản ánhkhoảng thời gian mà vốn đầu bỏ ra có thể thu hồi được nhờ lợi nhuận và khấuhao cơ bản thu được hàng năm.Thời gian hoàn vốn tính theo công thức:
Trong đó:
Tv: Thời gian hoàn vốn(năm)
Vdt: Tổng vốn đầu tư cho kinh doanh
P: Lợi nhuận thu được trong năm
Kc: Mức khấu hao cơ bản hàng năm
Để đơn giản hoá công thức,người ta coi lãi suất bằng 0%.Thời hạnhoàn vốn càng ngắn,hiệu quả kinh tế càng cao.Từ công thức trên ta thấy,thờigian hoàn vốn phụ thuôc vào những nhân tố cấu thành nên công thức tính chỉtiêu đó:Vdt , P , Kc
Trong hoạt động ngoại thương,người ta đồng thời tính cùng với chỉ tiêuthời gian hoàn vốn chỉ tiêu Hệ số hoàn vốn đầu tư.Chỉ tiêu này cho biết trong
1 năm,1 đơn vị vốn đầu tư sẽ được bồi hoàn bao nhiêu với giả định lãi suấtbằng 0%.Công thức tính:
Trong đó:
E: hệ số hoàn vốn đầu tư
Trang 231.3.Xác định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của hoạt động ngoại thương trong điều kiện có tín dụng.
Trong kinh doanh nói chung và trong kinh doanh ngoại thương nóiriêng,muốn thúc đẩy quá trình kinh doanh,các doanh nghiệp thường linh độngtrong thời gian giao hàng hay thu tiền.Thực tế đó là các hoạt động mua bánchịu,trả tiền chậm…Vì vậy,để tính toán hiệu quả tài chính của các hoạt độngXNK và đầu tư trong trường hợp này,người ta thường phải tính toán nhữngchi phí và lợi nhuận thông qua đồng tiền mang tính thời gian.Đó là đồng tiềnchịu sự ảnh hưởng của lãi suất.Trong trường hợp để đơn giản hoá vấn đề,giả
sử rằng nền kinh tế ổn định không có lạm phát hoặc lạm phát thấp.Lãi suất làlãi tức trong 1 đơn vị thời gian chia cho vốn gốc,tính theo %
Đối với người cho vay thì lãi suất chính là lãi suất thu lợi tức là tỷ sốgiữa giá trị gia tăng của giá trị thu được do việc cho vay vốn mang lại so vớigiá trị vốn cho vay ban đầu
Đối với các doanh nghiệp ngoại thương,nếu họ tự bỏ vốn thì lãi suấtchính là suất thu lợi tính theo % của giá trị gia tăng của giá trị thu được do sảnxuất kinh doanh mang lại so với vốn bỏ ra ban đầu
Đối với người tiêu dùng,lãi suất được xem là 1 nguyên nhân làm cho
họ giảm bớt sự tiêu thụ ngày hôm nay để dành cho 1 ngày nào đó trong tươnglai
Sau đây là các chỉ tiêu chính:
Hiệu quả xuất khẩu trong điều kiện buôn bán bình thường:
Trong đó:
Hxk: hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp
Hiệu quả xuất khẩu trong điều kiện bán chịu:
Trang 242 4
Trong đó:
I:lãi suất doanh nghiệp thu được từ hoạt động bán chịu
Kv:Hệ số hiệu quả vốn kinh tế quốc dân
Trong khi áp dung công thức trên,cần lưu ý đến tính chất của lãi suất.Lãi suất có thể là lãi suất đơn hay lãi suất kép
Lãi suất đơn là lãi suất chỉ tính 1 lần cho cả kì
Lãi suất kép là lãi suất tính gộp nhiều lần trong 1 kì.Công thức tính lãikép:
Trong đó:
R:lãi suất kép của 1 khoản vay
r :lãi suất đơn của khoản vay đó
n:số lấn xuất hiện của lãi suất đơn trong 1 kì
t :thời gian của 1 kì kinh doanh
2.Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động XK hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp ngoại thương.
So với thương mại nội địa,thương mại quốc tế có tầm bao quát rộng hơn rất nhiều.Những hoạt động trao đổi buôn bán không chỉ gói gọn trong biên giới hải quan của 1 quốc gia,mà chúng vươn rộng ra toàn cầu.Do phạm
vi hoạt động rộng lớn như vậy,việc tiến hành các hoạt động ngoại thương chịurất nhiều sự ảnh hưởng.Những nhân tố ảnh hưởng này được phân làm 2
nhóm.Những nhân tố bên ngoài tác động tới quá trình hoạt động ngoại thươngcủa doanh nghiệp,nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp được gọi là những nhân tố ảnh hưởng tầm vĩ mô.Những nhân tố thuộc bản thân doanh nghiệp có ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp mà
Trang 25doanh nghiệp có thể kiểm soát được gọi là những nhân tố ảnh hưởng tầm vi mô.Sau đây chúng ta sẽ xem xét cụ thể từng nhân tố.
2.1.Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng tới quá trình hoạt động ngoại thương của doanh nghiệp
2.1.1.Dân số và thu nhập của dân cư.
Con người là yếu tố chính tạo nên thị trường.Vì vậy,chúng ta cần xem xét những yếu tố cơ bản của dân cư để biết những ảnh hưởng của nó đến hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.Dân số là 1 trong các nhân tố hình thành nên dung lượng thị trường.Nhưng nhân tố quan trọng để hình thành nêndung lượng thị trường đó là thu nhập của dân cư.Thật vậy,muốn mua hàng thìmọi người phải có tiền Đó là điều kiện để họ trở thành khách hàng thực sự của doanh nghiệp.1 thị trường đông dân cư,thu nhập dân cư tốt sẽ tạo ra 1 thị trường có dung lượng lớn,nhu cầu phong phú Đó sẽ là thị trường với mức tiêu thụ hàng hóa lớn với lợi nhuận tiềm năng cao mà doanh nghiệp cần tiếp cận
2.1.2.Sự phát triển nền kinh tế của 1 quốc gia.
Sự phát triển nền kinh tế của 1 quốc gia đến 1 giai đoạn nào đó được gọi là nền kinh tế tiên tiến.Nền kinh tế tiên tiến được biểu hiện ở 1 số đặc điểm như mức tiêu dùng trên đầu người cao,GDP và thu nhập cao, áp dụng phương tiện hiện đại trong giao thông,thông tin và trao đổi hàng hóa Vì vậy,
1 quốc gia với nền kinh tế tiên tiến sẽ là 1 quốc gia với kim ngạch xuất nhập khẩu lớn,tỷ lệ tiêu dùng các sản phẩm cá nhân cao,là nơi hấp dẫn các doanh nghiệp ngoại thương trên thị trường quốc tế.Những đặc điểm trong 1 nền kinh
tế kém phát triển thì hoàn toàn ngược lại.Vậy liệu những quốc gia nghèo có thể trở thành những quốc gia tiên tiến được không? Điều này là rất khó trả lời
vì nó còn chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng khác như vị trí địa lý,khí hậu,lịch sử phát triển
Trang 262 6
Có gì khác ở thị trường Hoa kì với thị trường Nigeria? Điều này có thể
lí giải 1 cách đơn giản đó là Hoa Kì là 1 quốc gia có nền kinh tế bậc nhất thế giới,GDP, kim ngạch XNK và thu nhập dân cư đều cao hơn rất nhiều so với Nigeria.Do vậy,Hoa Kì từ xưa đến nay luôn là thị trường hàng đầu của các doanh nghiệp Việt Nam hơn là thị trường Nigeria nói riêng và thị trường Châu Phi nói chung
2.1.3.Cơ cấu tiêu dùngcủa 1 quốc gia.
Các doanh nghiệp rất cần chú trọng đến đặc điểm này ở mỗi quốc gia.Bởi vì,các quốc gia có đặc điểm nền kinh tế khác nhau sẽ chú trọng vào tiêu dùng các loại hàng hóa khác nhau.Có những quốc gia quốc gia thường tiêu thụ hàng tư liệu sản xuất,trong khi 1 số nước khác lại tiêu dùng nhiều hơnhàng tiêu dùng.Nếu 1 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng tiêu dùng lại đi xuất khẩu những mặt hàng đó sang những thị trường có cơ cấu tiêu dùng nghiêng về tư liệu sản xuất thì kết quả kinh doanh đó sẽ không hiệu quả.Trên thực tế thì qua việc nghiên cứu thị trường,cơ cấu tiêu dùng của 1 nước sẽ quyết định các doanh nghiệp cần phải xuất khẩu những gì,với số lượng là bao nhiêu
2.1.4.Các chính sách ngoại thương điều tiết kinh tế của mỗi quốc gia
Tùy vào mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước và thực trạng kinh tế của mỗi quốc gia mà các quốc gia đó đưa ra những chính sách ngoại thương phù hợp.Những chính sách đó có thể là thiết lập các hàng rào thương mại đối với từng quốc gia cụ thể,từng mặt hàng cụ thể;kí kết các hiệp định thương mạisong phương, đa phương
Các hàng rào thương mại là 1 trong những công cụ điều tiết hoạt động ngoại thương thường gặp hiện nay.Hàng rào thương mại như thuế quan,hạn ngạch,các hàng rào phi thuế quan là những công cụ được dùng để điều chỉnhkim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa,dịch vụ của quốc gia đó.Trong điều kiện
Trang 27nền kinh tế đang bị thâm hụt cán cân thanh toán, ở 1 góc độ nào đó các hàng rào thương mại sẽ được nâng cao để phần nào giảm bớt hiện tượng nhập vượt qua xuất.Tuy nhiên hiện tượng này chỉ xảy ra nếu quốc gia đó muốn và có khả năng sử dụng các công cụ hàng rào thuế quan.Bởi vì trên thực tế các quốcgia chậm phát triển, đang phát triển luôn rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán do nền kinh tế chưa đủ sức đáp ứng hết nhu cầu trong nước.Trong
1 số trường hợp,do sự khan hiếm nguồn lực,các quốc gia kể các quốc gia pháttriển đều phải nhập khẩu 1 số mặt hàng nào đó mà họ không thể sản xuất nổi.Trong điều kiện như vậy,thì các hàng rào thương mại sẽ được hạ thấp hay loại bỏ mà thay vào đó là các hiệp định thương mại,hợp tác phát triển kinh tế Nhật Bản là 1 ví dụ cho tình huống này.Nước Nhật là 1 nước có nguồn tài nguyên hạn hẹp,bù lại họ lại có được 1 nền khoa học công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới.Họ phải nhập khẩu những mặt hàng như quặng sắt,thép,các mặt hàng nông nghiệp,nhưng đồng thời họ cũng 1 trong những nước xuất khẩu các mặt hàng điện tử hàng đầu thế giới
Một thị trường với các rào cản thương mại không cao,nhiều hiệp định thương mại được kí kết sẽ là đòn bẩy để các doanh nghiệp tiếp cận thị trường
đó Đó cũng chính là cơ hội cho các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển như Việt Nam có điều kiện thuận lợi tham gia thị trường thế giới trong điều kiện nguồn vốn eo hẹp,năng lực cạnh tranh còn hạn chế
Ngoài ra, một chính sách ngoại thương cũng có ảnh hưởng rất lớn tới cán cân thanh toán của 1 quốc gia Đó là những chính sách về tỉ giá hối
đoái.Khi tỉ giá giữa đồng nội tệ với ngoại tệ tăng thì đó chính là dấu hiệu khuyến khích các nhà nhập khẩu.Còn ngược lại,tỷ giá đó giảm,nhà nước khuyến khích việc xuất khẩu
2.1.5.Các tập quán thương mại quốc tế
Trang 282 8
Các tập quán thương mại quốc tế hay còn gọi là thông lệ quốc tế là những điều luật mang tính khuyên răn dành cho các nhà buôn quốc tế.Vì nó chỉ mang tính khuyên răn nên không mang tính chất bắt buộc.Các bên buôn bán có thể thỏa thuận với nhau về các điều khoản trong thông lệ quốc tế sao cho có lợi nhất nhưng cũng đồng thời được nhất trí bởi các bên tham gia.Hiệnnay có rất nhiều các tập quán thương mại quốc tế được áp dụng như Công ước Vien 1980 về hợp đồng mua bán XNK;Incoterms1990;Incoterms
2000,Công ước La haye-Visby về tàu biển và trách nhiệm của chủ
tàu;UCP500-luật mẫu về thực hành tín dụng chứng từ,các luật khác về thanh toán quốc tế như luật về hối phiếu-ULB,luật về các phương thức thanh toán
Các nhà buôn bán quốc tế cần nắm rõ các thông lệ quốc tế để mang lại lợi ích cho mình cũng như cho đất nước, đẩy nhanh quá trình buôn bán ngoại thương,tạo tính hiệu quả trong kinh doanh
2.1.6 Ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên.
Ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu Nhân tố này chủ yếu ảnh hưởng đếnchủng loại mặt hàng và thời gian vận chuyển hàng hoá xuất khẩu Ảnh hưởngcủa vị trí địa lí: hoạt động xuất khẩu bao giờ cũng thuận lợi hơn nếu vị trí địa
lí của hai bên đối tác gần hơn, giao thông đi lại dễ dàng hơn
2.1.7 Ảnh hưởng của các nhân tố văn hoá
Mỗi quốc gia đều có nền văn hoá khác nhau trong đó nổi lên là nhữngnhân tố như phong tục tập quán, tôn giáo, lối sống, ngôn ngữ, thói quen tiêudùng, thị hiếu của các tầng lớp dân cư Tất cả đều ảnh hưởng sâu sắc tới qui
mô cơ cấu nhu cầu thị trường, có nghĩa nó tác động trực tiếp đến cầu từng mặthàng và thị trường sản phẩm của doanh nghiệp
Các nhân tố này được coi như “một lá chắn vững chắc” đối với cácdoanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Vì thế doanh nghiệp cần phải biết
Trang 29rõ và hành động sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể của môi trườngvăn hoá
2.1.8 Môi trường chính trị xã hội
Môi trường chính trị và xã hội đóng vai trò quan trọng trong kinhdoanh quốc tế Hoạt động xuất khẩu trong thời gian qua đã bị ảnh hưởng bởinhiều chính sách chuyển đổi nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Nếuquốc gia có tình hình chính trị không ổn định thì sẽ không có điều kiện để ổnđịnh và phát triển kinh tế, lành mạnh hoá xã hội hơn
Sự ổn định hay bất lợi về xã hội cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Các quan điểm về chính trị xã hội xét chocùng cũng là tác động đến phạm vi lĩnh vực mặt hàng của đối tác kinh doanh
Xung đột về quân sự dù lớn hay nhỏ trong nội bộ các quốc gia hay giữacác quốc gia với nhau sẽ làm thay đổi lớn đến các mặt hàng sản xuất Nhưxung đột quân sự sẽ phá vỡ những đối tác kinh doanh truyền thống, làm thayđổi hệ thống vận tải và chuyển hướng sản xuất phục vụ tiêu dùng sang sảnxuất phục vụ mục đích quân sự, làm cho kinh doanh thay đổi, quan hệ giữacác quốc gia xấu đi và là rào cản vô hình ngăn cản hoạt động kinh doanhquốc tế
2.2-Các nhân tố vi mô ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương của doanh nghiệp
2.2.1.Các nguồn cạnh tranh
Khi 1 doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường nước ngoài có thể sẽ gặp phải cạnh tranh từ 3 nguồn:
-Doanh nghiệp địa phương
-Doanh nghiệp của nước mình cùng thâm nhập vào thị trường đó
-Các doanh nghiệp nước ngoài khác
Trang 303 0
Đây là những đối tượng sẽ chia sẻ thị phần với doanh nghiệp,họ cùngtồn tại song song với chúng ta,có mục tiêu giống chúng ta.Chỉ có cách duynhất để chiến thắng cạnh tranh đó là tiên phong nắm bắt đúng nhu cầu thịtrường đặc biệt là nhu cầu tiềm ẩn, áp dụng các biện pháp Marketing,xúc tiếnbán hàng,tiên phong chiếm lĩnh thị trường
Một thị trường với tốc độ tăng trưởng cao, áp lực cạnh tranh thấp đượccoi là lí tưởng cho các doanh nghiệp khi muốn tiếp cận thị trường đó.Tuynhiên,trên thực tế hầu như có rất ít những thị trường như vậy.Do đó,chú trọngnâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp là vấn đề sống còn đối vớimỗi doanh nghiệp,nhất là những doanh nghiệp ở các nước chậm và đang pháttriển.1 doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thấp sẽ không có cơ hội trụ vữngtrên thị trường quốc tế Để nâng cao sức cạnh tranh cho mình,mỗi doanhnghiệp sẽ có cách làm riêng.Do vậy,cùng với cạnh tranh,các doanh nghiệp sẽ
tự điều chỉnh phương pháp kinh doanh dựa trên những lợi thế cạnh tranh củamình sao cho có hiệu quả nhất
2.2.2.Quy mô của doanh nghiệp
Quy mô của doanh nghiệp ở đây muốn nói đến quy mô sảnxuất,vốn,nguồn nhân lực hay còn gọi là khả năng thực của doanh nghiệp Đây
là yếu tố không thể thiếu của doanh nghiệp kinh doanh XNK.Chúng có liênquan trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Mở rộng quy mô sảnxuất để tăng doanh số bán,chất lượng hàng hóa;mở rộng quy mô vốn để táiđầu tư,thay đổi công nghệ;phát triển quy mô nhân lực để nâng cao khả nănghoạt động của doanh nghiệp,giúp doanh nghiệp phát triển bền vững và đúnghướng.1 doanh nghiệp với quy mô nhỏ khó có thể tham gia vào môi trườngkinh doanh quốc tế khắc nghiệt Điều này được liên tưởng tới 1 con thuyềnđộc mộc đi ra biển lớn,sớm muộn cũng chìm bởi sóng lớn và bão tố
Trang 31Các doanh nghiệp cần hiểu rõ về năng lực của mình,từ đó tìm hướng điphù hợp cho mình,lựa chọn thị trường đúng đắn và đầu tư đúng mực Điềunày đặc biệt quan trọng.Người xưa có câu:”biết mình biết người,trăm trậntrăm thắng”.
2.2.3.Kĩ năng của doanh nghiệp
Đó là những kĩ năng về quản trị doanh nghiệp;kĩ năng về giao dịch,đàm phán kinh doanh;kĩ năng về quản lý nguồn nhân lực và khả năng nắm bắtthời cơ Điều này có ảnh hưởng rất lớn tới doanh nghiệp.Kĩ năng của doanhnghiệp giống như chất xúc tác giúp doanh nghiệp có được lợi thế trong buônbán ngoại thương,phát triển nhanh chóng và giảm thiểu rủi ro trong đầu tưquốc tế
Trang 323 2
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU NHỮNG MẶT
HÀNG CHỦ LỰC CỦA UNIMEX HÀ NỘII-GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC 1 THÀNH VIÊN XNK VÀ ĐẦU
TƯ HÀ NỘI-UNIMEX HÀ NỘI.
1.Sự ra đời và phát triển của UNIMEX Hà Nội
Công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên XNK và đầu tư Hà Nội,têntiếng Anh là UNIMEX Ha Noi có tiền thân là Công ty XNK và đầu tư HàNội
Công ty được thành lập theo quyết định số 1203/QĐ-UB của Uỷ bannhân dân TP Hà Nội ngày 24/3/1993
Tên công ty:Công ty XNK và đầu tư Hà Nội
Tên giao dịch quốc tế:
HANOI IMPORT-EXPORT AND INVESTMENT CORPORATION viết tắt là UNIMEX HANOI.
Địa chỉ:41 Ngô Quyền – Hoàn Kiếm – Hà Nội
Điện thoại:84 4 8264188 – 84 4 8264159
Fax: 84 4 8259246
Đây là doanh nghiệp hoạt động với 100% vốn nhà nước có tư cáchpháp nhân đầy đủ và được đăng kí hoạt động theo luật doanh nghiệp nhànước,Luật doanh nghiệp và các điều lệ công ty được UBND thành phố phêchuẩn
Trang 331.1.Quá trình hoạt động sản xuất kd từ khi thành lập đến nay.
1.1.1.Quá trình hình thành:
Công ty XNK và đầu tư Hà Nội được thành lập theo Quyết định số123/QĐ-UB ngày 24/3/1993 của UBND TP Hà Nội trên cơ sở tách bộ phậnkinh doanh và quản lý của văn phòng thuộc Liên hiệp công ty XNK và đầu tư
Hà Nội.Có thể tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của UNIMEX HàNội qua từng giai đoạn sau:
Tháng 6/1962,khi mới thành lập UNIMEX Hà Nội là công ty thu muahang xuất khẩu Hà Nội với chức năng chủ yếu là thu gom hàng nông sản,thủcông mỹ nghệ xuất khẩu bán cho các tổng công ty TW theo kế hoạch hàngnăm
Năm 1976,công ty được đổi tên thành Công ty Ngoại thương Hà Nội
do nhu cầu sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng Sau đó lại được nâng lênthành sở Ngoại thương Hà Nội
Tháng 4 /1980 cùng với hoạt động ngoại thương của cả nước phát triểnmạnh mẽ, hoạt động ngoại thương của thành phố Hà Nội được nhà nước chophép tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp nên UBND Thành phố đã quyết địnhthành lập Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu & Đầu tư Hà Nội đóng vai trò làmột đơn vị kinh tế làm chức năng kinh doanh XNK tổng hợp và tổ chức sảnxuất hàng xuất khẩu kết hợp kinh doanh dịch vụ và kinh doanh trong nước
Cuối năm 1991, hoạt động của Liên hiệp Công ty XNK & Đầu tư HàNội được tăng thêm chức năng đầu tư vào cơ sở sản xuất, đầu tư liên doanhvới nước ngoài nên UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định số 3310/QĐUBngày 16/12/1991 thành lập Liên hiệp công ty XNK & Đầu tư Hà Nội nhằmphù hợp với yêu cầu phát triển và mở rộng kinh doanh theo tình hìnhmới.Trong đó bộ phận kinh doanh của văn phòng tách ra thành công ty XNK
Trang 343 4
và đầu tư Hà Nội theo quyết định số 1203/QĐ-UB ngày 24/3/1993 củaUBNDTP Hà Nội
Cuối năm 2003 và đầu năm 2005 thực hiện các quyết định của Thủtướng chính phủ và UBNDTP Hà Nội về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới,pháttriển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà Nước,các công ty Thương mạibao bì Hà Nội (HATRAPACO),công ty XNK hàng tiêu dùng và thủ công mỹnghệ (ARTEX Hà Nội),công ty Thương mại và XNK tổng hợp (GENEXIM)lần lượt sáp nhập vào công ty XNK và Đầu tư Hà Nội Đó là các quyết định:
-Quyết định số 1152/QĐ-UB ngày 02/03/2004 của UBNDTP Hà Nộiquyết định sáp nhập Công ty Thương mại và bao bì Hà Nội vào Công ty XNK
và đầu tư Hà Nội
- Quyết định số 715/QĐ-UB ngày 28/10/2004 của UBNDTP Hà Nộiquyết định sáp nhập Công ty XNK hàng tiêu dùng và thủ công mỹ nghệ HàNội vào Công ty XNK và đầu tư Hà Nội
-Quyết định số 189/QĐ-UB ngày 11/01/2005 của UBNDTP Hà Nộiquyết định sáp nhập Công ty Thương mại và XNK tổng hợp vào Công tyXNK và đầu tư Hà Nội
1.1.2-Các giai đoạn kinh doanh chủ yếu
Giai đoạn 1:Từ khi thành lập đến năm 1990:
Từ năm 1962-1976 là thời kì công ty thu mua hàng XK,mới có 1 số cơ
sở thu gom và sơ chế hàng nông sản, thu mua, gia công hàng XK, giao hàngcho các Công ty và Tổng công ty của Bộ ngoại thương
Từ năm 1976 – 1980 giai đoạn này Công ty Ngoại thương Hà Nội đã
mở rộng và phát triển mạnh mẽ
Từ năm 1980 – 1990 giai đoạn này là giai đoạn thực hiện chủ trươngcủa UBND, UNIMEX Hà Nội triển khai việc sắp xếp tổ chức của các đơn vịtrực thuộc
Trang 35Giai đoạn 2 : Từ năm 1991 đến nay đây là thời kỳ nền kinh tế đất nước
chuyển mạnh sang kinh tế thị trường
Năm 1991 các đơn vị trực thuộc UNIMEX Hà Nội đều được giao nhậnvốn của Nhà nước, việc sản xuất kinh doanh XNK và dịch vụ theo cơ chế thịtrường
Trong sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, UNIMEX Hà Nội đãcùng các đơn vị tìm mọi biện pháp giải quyết tổ chức lại sản xuất kinh doanhXNK cho phù hợp, tinh giảm lao động gián tiếp đào tạo bổ sung và bồi dưỡngnâng cao trình độ quản lý nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên chức
1.2 - Sự cần thiết phải chuyển đổi công ty thành Công ty TNHH Nhà nước một thành viên.
1.2.1 – Phân tích dự báo về thị trường.
Thị trường trong nước:
Trên cơ sở đã có mối quan hệ thương mại với hầu hết các tỉnh và địaphương trong cả nước, Công ty XNK và Đầu tư Hà Nội (UNIMEX Hà Nội)kiên trì thực hiện đa dạng hoá mặt hàng với phương thức kinh doanh: thu mua
- hợp tác sản xuất – liên doanh, đầu tư vào cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu tạonguồn hàng xuất khẩu lớn, ổn định và lâu dài, tìm thị trường tiêu thụ hàngnhập khẩu, tăng cường đầu tư xây dựng các công trình lớn
Thị trường nước ngoài:
Là đơn vị có quan hệ thương mại với trên 40 nước trên thế giới,có uytín trong kinh doanh XNK và thanh toán quốc tế UNIMEX Hà Nội tiềm năngtrở thành 1 trong những đầu mối XNK có uy tín của Việt Nam trên thị trườngthế giới
Việt Nam đang trong giai đoạn CNH-HĐH, đó sẽ là tiền đề để chúng taxuất khẩu mạnh các mặt hàng nông sản,nông sản chế biến,may mặc,dệt kim,
Trang 363 6
đồ giả da…và cũng là 1 thị trường nhập khẩu lớn các mặt hàng máy móc thiếtbị,nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất,hàng tiêu dùng cao cấp…
Để hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra như trên cần thiết phải có nhữngdoanh nghiệp XNK với tiềm lực lớn về vốn, đội ngũ CBCNV giỏi nghiệpvụ,tiến hành chuyên môn hoá ,tập trung cao,có mạng lưới chi nhánh kinhdoanh trong và ngoài nước
Công ty XNK và đầu tư Hà Nội là DNNN trực thuộc Tổng Công ty TM
Hà Nội đóng vai trò quan trọng trong việc kinh doanh XNK của thủ đô HàNội,đã có bề dày kinh nghiệm trong kinh doanh XNK,liên doanh,liên kết vớicác tỉnh thành trong cả nước.Qua từng năm,công ty vẫn trụ vững và khôngngừng phát triển, vốn nhà nước được bảo toàn và tăng trưởng,nộp ngân sáchnăm sau cao hơn năm trước,thu nhập của người lao động không ngừng đượccải thiện
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà Nước về hội nhập kinh tế quốc
tế và để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,cần phải có doanh nghiệp XNKnhà nước đủ mạnh làm đối trọng,chủ động nắm giữ thị phần quan trọng trongkinh doanh XNK của thủ đô
1.2.2-Việc thành lập công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên XNK và đầu tư Hà Nội tạo khả năng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Điều đó có được là do những nguyên nhân sau:
-Việc thành lập Công ty TNHH NN 1 thành viên XNK và Đầu tư HàNội nhằm tạo nên 1 tổ chức kinh tế tập trung có 1 lượng vốn đủ lớn để có đủkhả năng tổ chức sản xuất,gia công,liên doanh liên kết, đầu tư với các tổ chứctrong và ngoài nước đảm bảo cả về chất và lượng trong kinh doanh XNK
-Tạo điều kiện nâng cao trình độ cho cán bộ CNV thông qua việc phâncông chuyên doanh hợp lý giữa các đơn vị thành viên,tạo điều tập trungnghiên cứu đào tạo cán bộ nghiệp vụ và quản lý chuyên sâu theo theo các
Trang 37nhóm hàng kinh doanh,lĩnh vực kinh doanh,sản xuất và đầu tư,cán bộ có trình
độ cao đáp ứng với đòi hỏi của thị trường hiện tại và trong tương lai
-Tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và chuyển dần sự phân côngchuyên doanh hợp lý cho từng đơn vị thành viên,khắc phục dần sự kinh doanhtrùng lắp và tạo được mối quan hệ chặt chẽ giữa các cơ sở sản xuất hàng xuấtkhẩu với các đơn vị kinh doanh XNK ,giữa các đơn vị kinh doanh XNK trongnước với các đơn vị kinh doanh và đầu tư nước ngoài.Trên cơ sở đó từngbước giải quyết các vấn đề về đổi mới máy móc thiết bị,công nghệ,phối hợpsản xuất kinh doanh trong và ngoài nước
-Trong sự phát triển đó,Công ty TNHH NN 1 thành viên XNK và Đầu
tư Hà Nội đã và đang phát triển thêm các thành viên mới Đó là các trung tâmXNK,trung tâm kinh doanh TM tổng hợp,các XN sản xuất chế biến hàngXK,may mặc,sản xuất hàng thay thế hàng NK
-Việc thành lập Công ty TNHH NN 1 thành viên XNK và Đầu tư HàNội như hiện nay với hoạt động của Đảng và các tổ chức quần chúng nhưhiện nay sẽ đảm bảo sự thống nhất giữa lãnh đạo chuyên môn,các tổ chứcquần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng
1.2.3.Việc thành lập Công ty TNHH NN 1 thành viên XNK và Đầu tư Hà Nội
sẽ giúp tăng cường khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực XNK và đầu tư.
Trong tình hình hiện nay trên cả nước có trên 1000 doanh nghiệp kinhdoanh XNK nhưng số làm ăn có hiệu quả không nhiều,Công ty TNHH NN 1thành viên XNK và Đầu tư Hà Nội đã, đang và sẽ là 1 đơn vị kinh doanhXNK có uy tín cao trong phạm vi cả nước kết hợp với việc tổ chức sản xuất -chế biến các mặt hàng XK,hàng thay thế hàng nhập khẩu và xây dựng các cơ
sở kinh doanh dịch vụ có hiệu quả tạo thế ổn định vững chắc,lâu dài