Nội dung của bài giảng gồm 4 chương: Chương 1 - Những vấn đề chung về đánh giá đất đai Chương 2 - Đơn vị bản đồ đất đai Chương 3 - Xác định loại hình sử dụng đất Chương 4 - Phân hạng thí
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI
Giới thiệu về môn học
Môn đánh giá đất đai cấu trúc gồm bốn chương:
Chương 1 Những vấn đề chung về đánh giá đất đai
Bài viết này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về đánh giá đất đai, bao gồm mục đích, yêu cầu và mối liên hệ với các môn học khác Nó cũng điểm qua tình hình đánh giá đất đai trên thế giới và trong nước, đồng thời trình bày phương pháp đánh giá theo FAO (Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc) Cuối cùng, bài viết sẽ đề cập đến các phương pháp, nguyên tắc và quy trình đánh giá đất đai theo tiêu chuẩn của FAO.
Học xong chương này người học nhận thức được tầm quan trọng của đánh giá đất đai, tiếp cận được phương pháp đánh giá đất đai theo FAO
Chương 2 Đơn vị bản đồ đất đai
Chương này giới thiệu về kiến thức đất đai và đơn vị bản đồ đất đai, bao gồm cách xác định chất lượng đất của một vùng nghiên cứu cũng như phương pháp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai hiệu quả.
Sau khi hoàn thành chương này, người học sẽ có khả năng áp dụng kiến thức lý thuyết và thực hành công nghệ GIS để tạo ra bản đồ đơn vị đất đai cho một khu vực nghiên cứu cụ thể.
Chương 3 Xác định loại hình sử dụng đất
Chương này trình bày kiến thức về sử dụng đất và các loại hình sử dụng đất, đồng thời đánh giá hiện trạng sử dụng đất trong vùng nghiên cứu Nó cũng mô tả quy trình lựa chọn các loại hình sử dụng đất để tiến hành đánh giá, cùng với việc xác định yêu cầu sử dụng đất cho từng loại hình đã được chọn.
Sau khi hoàn thành chương này, người học cần áp dụng kiến thức vào thực tiễn tình hình sử dụng đất tại một khu vực cụ thể Điều này bao gồm việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất, mô tả các kiểu sử dụng đất phổ biến và xác định các yêu cầu sử dụng đất cho từng loại hình Mục tiêu là đạt được tiêu chí sử dụng đất hiệu quả và hướng tới sản xuất bền vững.
Chương 4 Phân hạng thích hợp đất đai
Chương này giới thiệu kiến thức về khái niệm, phương pháp và cấu trúc phân hạng thích hợp đất đai theo FAO
Sau khi hoàn thành chương này, người học sẽ có khả năng áp dụng kiến thức để xác định mức phân hạng thích hợp cho đất đai giữa các đơn vị và loại hình sử dụng đất trong vùng nghiên cứu Họ cũng có thể tạo ra bản đồ phân hạng thích hợp đất đai cho một khu vực nghiên cứu cụ thể.
1.1.2 Mối liên quan của môn học “đánh giá đất đai” với các môn học khác
Môn học "Đánh giá đất đai" đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích tiềm năng sử dụng đất, từ đó giúp đề xuất quy hoạch sử dụng đất hợp lý, định giá đất chính xác và thu thuế sử dụng đất hiệu quả, góp phần vào công tác quản lý đất đai của Nhà nước.
Nội dung học tập bao gồm các môn cơ bản như Toán, Lý, Hóa Sinh và các môn cơ sở như Thổ nhưỡng, Trắc địa, Bản đồ, Viễn thám, Hệ thống thông tin địa lý và Hệ thống nông nghiệp Ngoài ra, nó còn liên quan chặt chẽ đến các môn chuyên môn như Quy hoạch sử dụng đất, Quản lý hành chính về đất đai, Định giá đất và bất động sản, Thị trường bất động sản, cũng như Quy hoạch đô thị và khu dân cư nông thôn.
Trong đánh giá đất đai, cần phân biệt rõ ba khái niệm quan trọng: Đánh giá đất đai, Phân hạng đất và Định giá đất Mỗi khái niệm này có ý nghĩa và mục đích riêng, đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý và sử dụng đất.
Đánh giá đất đai là quá trình xác định khả năng thích hợp của đất nhằm lựa chọn các loại hình sử dụng đất phù hợp Điều này tạo cơ sở cho việc bố trí và quản lý sử dụng đất hiệu quả trong các vùng nhất định.
- Phân hạng đất nhằm xác định mức độ phì nhiêu của một vùng đất làm cơ sở cho việc đánh thuế nông nghiệp
- Định giá đất nhằm xác định giá trị của một vùng đất bằng tiền làm cơ sở cho việc trao đổi, chuyển nhượng, bồi thường, …
1.1.3 Mục đích, yêu cầu của môn học
1.1.3.1 Mục đích a) Về kiến thức
+ Nâng cao hiểu biết và nhận thức đánh giá đất đai theo phương pháp FAO cho sinh viên;
+ Giúp sinh viên hiểu và vận dụng được các phương pháp, kĩ thuật tiên tiến trong các nội dung đánh giá đất đai;
Sinh viên sẽ được trang bị khả năng áp dụng các kết quả đánh giá đất để phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất, đồng thời quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên đất trong sản xuất nông - lâm nghiệp Kỹ năng này không chỉ giúp tối ưu hóa việc sử dụng đất mà còn nâng cao hiệu quả trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.
+ Xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai và mô tả các đơn vị đất đai;
+ Biết chọn lọc và mô tả các loại hình sử dụng đất từ đó xác định yêu cầu sử dụng đất của chúng;
Xây dựng bảng phân cấp yếu tố chẩn đoán cho từng loại sử dụng đất là cần thiết, cùng với việc tạo ra các bảng biểu và bản đồ thích hợp với đất đai.
+ Tham gia học, thảo luận nhóm đầy đủ, nhiệt tình trong giờ lý thuyết và thực hành trên lớp;
+ Vận dụng đúng theo quy trình hướng dẫn của FAO trong quá t rình thực hiện các bài tập và thực hành
- Quán triệt phương pháp, nguyên tắc và quy trình đánh giá đất đai theo FAO;
- Nắm vững các khái niệm cơ bản có liên quan đến công tác đánh giá đất đai.;
- Biết sử dụng kết quả đánh giá đất đai cho việc đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và bền vững.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về đánh giá đất đai
Từ những năm 1950, các nhà khoa học đã nghiên cứu không chỉ đặc điểm và tài nguyên đất đai mà còn khả năng thích nghi của chúng để đưa ra giải pháp sử dụng hợp lý Đến năm 1970, nhiều quốc gia châu Âu đã phát triển hệ thống đánh giá đất đai, chú trọng vào phương pháp đánh giá như một chuyên ngành nghiên cứu quan trọng.
Mỹ, Anh, Canada, Ấn Độ, Liên Xô cũ, Ba Lan và Bungaria đã tiến hành nghiên cứu và đánh giá đất đai, xác định khả năng thích nghi, ít thích nghi và không thích nghi cho sản xuất nông - lâm nghiệp dựa trên các chỉ tiêu riêng của từng quốc gia.
Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng cần thống nhất và tiêu chuẩn hóa việc đánh giá đất đai trên toàn cầu Để thực hiện điều này, hai Ủy ban nghiên cứu đã được thành lập, bao gồm Ủy ban Hà Lan và FAO tại Rome, Ý Kết quả của quá trình này là một dự thảo đầu tiên được công bố vào năm 1972, sau đó được chỉnh sửa và in ấn bởi Brinkman và Smyth vào năm 1973.
Năm 1975, hội nghị tại Rome đã có nhiều ý kiến đóng góp cho bản dự thảo năm
Năm 1973, các chuyên gia hàng đầu về đánh giá đất đai của FAO đã biên soạn phương pháp đánh giá đất đai đầu tiên, được công bố vào năm 1976 dưới tên "A Framework for Land Evaluation" và sau đó được bổ sung, chỉnh sửa vào năm 1983 Ngoài tài liệu tổng quát này, FAO còn cung cấp nhiều hướng dẫn cụ thể về đánh giá đất đai cho từng đối tượng chuyên biệt.
- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (FAO, 1983);
- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tưới (FAO, 1985);
- Đánh giá đất đai cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh (FAO, 1989);
- Đánh giá đất đai cho mục tiêu phát triển (FAO, 1990);
- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho việc quy hoạch sử dụng đất (FAO, 1992);
- Đánh giá đất cho quản lý sử dụng đất bền vững (FAO, 1993b);
- Đánh giá đất đai theo quan điểm bền vững (FAO, 2007)
1.2.2 Tại Việt Nam Ở Việt Nam khái niệm đánh giá đất, phân hạng đất đã có từ rất lâu qua việc phân chia “Tứ hạng điền, lục hạng thổ” Công tác đánh giá được nhiều cơ quan khoa học nghiên cứu và thực hiện Từ những bước sơ khai, ngành khoa học đánh giá đất đai đã dần dần trưởng thành và hoàn thiện cơ sở lý luận cả về khoa học và thực tiễn
Từ những năm 1970, Bùi Quang Toản và các nhà khoa học tại Viện Nông Hoá Thổ Nhưỡng, bao gồm Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân, và Đinh Văn Tỉnh, đã thực hiện đánh giá phân hạng đất đai tại 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh.
Phân loại khả năng thích hợp đất đai (Land Suitability Classification) của FAO lần đầu tiên được áp dụng trong nghiên cứu “Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang Việt Nam” (Bùi Quang Toản và nnk, 1985) Đánh giá phân hạng đất ở quy mô toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nnk, 1986) được thực hiện với tỷ lệ 1/500.000, dựa trên Phân loại khả năng đất đai của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, sử dụng các chỉ tiêu về thổ nhưỡng và địa hình.
Kể từ năm 1978, việc đánh giá đất đai đã được tổ chức thành một đơn vị thuộc Hội đồng Chuyên ngành Công nghệ về đất của Hội đồng Khoa học đất Quốc tế, theo nghiên cứu của Trần Công Tấu, Đỗ Ánh và Đỗ Đình Thuận vào năm 1991.
Năm 1993, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã thực hiện đánh giá đất đai trên 09 vùng sinh thái cả nước với bản đồ tỷ lệ 1:250.000 Kết quả ban đầu xác định tiềm năng đất đai của các vùng, khẳng định phương pháp và nội dung của FAO phù hợp với điều kiện hiện tại.
Một số tỉnh đã áp dụng phương pháp đánh giá đất đai của FAO với tỷ lệ 1/50.000 và 1/100.000, như Hà Tây (Phạm Dương Ưng và cộng sự, 1994) và Bình Định (Trần).
An Phong và Nguyễn Chiến Thắng (1994) đã thực hiện nghiên cứu tại Gia Lai-Kontum (Nguyễn Ngọc Tuyển, 1994) Tỉnh Bình Phước được nghiên cứu bởi Phạm Quang Khánh và cộng sự vào năm 1999 Năm 2000, Phạm Quang Khánh và Phan Xuân Sơn đã tiến hành nghiên cứu tại Bà Rịa-Vũng Tàu, trong khi Nguyễn Văn Nhân và cộng sự thực hiện nghiên cứu tại Bạc Liêu cùng năm Cuối cùng, Cà Mau cũng được nghiên cứu bởi Phạm Quang Khánh và cộng sự vào năm 2001.
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã xác định rằng việc đánh giá đất là một bước cần thiết trong quy trình đánh giá đất của Viện Điều này được quy định bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhằm đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong công tác quản lý đất đai.
Năm 2012, 5 thôn đã ban hành tiêu chuẩn ngành TCVN 8409:2012 về quy trình đánh giá đất sản xuất nông nghiệp, dựa trên nội dung và phương pháp của FAO, phù hợp với điều kiện và tiêu chuẩn cụ thể của Việt Nam Đến năm 2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phát hành Thông tư số 60/2015/TT-BTNMT quy định kỹ thuật điều tra và đánh giá đất đai.
Khái quát phương pháp đánh giá đất đai theo FAO
1.3.1 Hướng dẫn của FAO về đánh giá đất đai
Theo FAO (1976), đánh giá đất đai (LE - Land Evaluation) là quá trình so sánh các tính chất tự nhiên của khu đất cần đánh giá với yêu cầu về tính chất đất đai của các loại hình sử dụng đất Quá trình này nhằm xem xét khả năng thích nghi của đất đai với các loại hình sử dụng khác nhau.
Quá trình đánh giá đất đai trả lời cho chúng ta các câu hỏi sau:
Chất lượng của các đơn vị đất đai trong khu vực nghiên cứu cần được đánh giá một cách chi tiết để xác định khả năng sử dụng và phát triển Các loại hình sử dụng đất được lựa chọn cho mục tiêu đánh giá đất đai bao gồm nông nghiệp, công nghiệp, và đô thị, nhằm phản ánh tính đa dạng trong quản lý đất Yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất (LUTs) cần được xác định rõ ràng để đảm bảo tính khả thi và bền vững trong quy hoạch và phát triển đất đai.
+ Các đơn vị đất thích hợp với những LUTs nào?
+ Cho biết mức độ thích hợp của từng LUT?
+ Cho biết yếu tố hạn chế của đơn vị đất đó, nếu có?
+ Sau khi LE thì những LUSs nào được chọn?
+ Đề xuất sử dụng đất một cách hợp lý trên cơ sở LE?
Bản đồ thích nghi đất đai và bản đồ đề xuất sử dụng đất là hai sản phẩm quan trọng trong quá trình đánh giá đất đai Những tài liệu này cung cấp thông tin chi tiết về các thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng đất, hỗ trợ các nhà quy hoạch và quản lý đất ra quyết định hợp lý và hiệu quả cho việc sử dụng tài nguyên đất.
1.3.1.2 Mức độ đánh giá Đề cương đánh giá đất của FAO cũng như các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất cụ thể cho các đối tượng sản xuất nông lâm nghiệp đều có 3 mức độ đánh giá: Sơ lược, bán chi tiết và chi tiết, phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể của khu vực nghiên cứu
Đánh giá đất toàn quốc được thực hiện sơ lược với tỷ lệ bản đồ 1/1.000.000, nhằm định hướng chiến lược Tuy nhiên, để có đánh giá chi tiết ở cấp huyện hoặc xã, cần thiết phải tiến hành điều tra thực địa, so sánh giữa thực tế và bản đồ Các tỷ lệ bản đồ thường được sử dụng trong quá trình này bao gồm 1/25.000, 1/10.000 và 1/5.000.
1.3.1.3 Mục đích và yêu cầu trong đánh giá đất đai
Tăng cường nhận thức và hiểu biết về phương pháp đánh giá đất là rất quan trọng trong quy hoạch sử dụng đất, nhằm đảm bảo an ninh lương thực cho các quốc gia trên toàn cầu Việc áp dụng các phương pháp đánh giá hiệu quả sẽ giúp tối ưu hóa nguồn tài nguyên đất, phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp và phát triển bền vững.
- Giữ gìn nguồn tài nguyên đất không bị thoái hoá, sử dụng đất hiệu quả và bền vững b) Yêu cầu
- Thu thập những thông tin chính xác về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của khu vực nghiên cứu
Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp bao gồm việc phỏng vấn nông hộ theo bộ phiếu điều tra để thu thập số liệu thô, cùng với việc phỏng vấn ý kiến của các chuyên gia đầu ngành và các nhà lãnh đạo địa phương.
Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp bao gồm việc thu thập thông tin từ các cơ quan chức năng liên quan, tài liệu chuyên ngành và nguồn dữ liệu từ Internet.
- Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất với các loại hình sử dụng đất khác nhau theo mục đích và nhu cầu của con người
- Xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm vi quy hoạch là: toàn quốc, tỉnh, huyện, xã hoặc cơ sở sản xuất
- Mức độ thực hiện đánh giá đất luôn phụ thuộc vào cấp tỷ lệ bản đồ
1.3.2 Các khái niệm cơ bản đánh giá đất đai theo FAO
1.3.2.1 Đất Đất là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cây trồng [TCVN 8409 : 2012] Đất (hay còn gọi là soil hoặc thổ nhưỡng) là phần tơi xốp của lớp vỏ trái đất mà trên đó có các hoạt động của sinh vật Độ dày thường được quy định từ 120 – 150 cm kể từ lớp đất mặt Ở những nơi có tầng đất mỏng thì được tính từ lớp đá mẹ hay tầng cứng rắn mà rễ cây không thể xuyên qua được trở lên, có khi chỉ 10 – 20 cm Để nghiên cứu các tính chất lý, hoá, sinh học đất; nghiên cứu phát sinh, phân hạng và lập bản đồ đất thuộc lĩnh vực nghiên cứu của môn thổ nhưỡng học
Thí dụ về một số loại đất như: Đất phù sa (tương ứng với tên gọi theo FAO/UNESCO là Fluvisols), đất đỏ (Ferrasols), đất xám (Acrisols), …
Theo nhà khoa học Mỹ Jenny, đất được hình thành từ sự tương tác giữa khí hậu (Cl) và đá mẹ (p), cùng với sự ảnh hưởng của thực vật và các sinh vật khác (o), địa hình (r) và thời gian (t) Mối quan hệ này được thể hiện qua công thức: Đất = f(p, Cl, t, r, o), trong đó bao gồm 5 yếu tố chính tạo nên đất.
Bản đồ đất là một loại bản đồ chuyên ngành thể hiện sự phân bố không gian của các đơn vị đất (Soil Mapping Units), bao gồm vị trí, quy mô diện tích và phân bố không gian của từng đơn vị Đi kèm với bản đồ là báo cáo chú dẫn chi tiết, cung cấp thông tin đầy đủ về các thuộc tính của từng đơn vị đất.
Hình 1.1 Bản đồ đất Việt Nam xây dựng năm 1995
Theo Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janeiro, Brazil (1993), khái niệm đất đai được hiểu rộng rãi là "diện tích cụ thể của bề mặt trái đất", bao gồm tất cả các thành phần của môi trường sinh thái trên và dưới bề mặt Điều này bao gồm khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước như hồ, sông, suối, đầm lầy, các lớp trầm tích, nước ngầm, khoáng sản trong lòng đất, hệ thực vật và động vật, cũng như tình trạng cư trú của con người và các dấu ấn do con người để lại trong quá khứ và hiện tại.
8 tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá , nhà cửa ) (UN,
Theo FAO, đất đai được coi là một yếu tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất, ảnh hưởng đến hiện trạng và tiềm năng sử dụng của nó.
Theo FAO đất đai bao gồm:
- Thảm thực vật tự nhiên: các loại cây cỏ, rừng…
- Các loại động vật tự nhiên
- Các loại hình sử dụng đất do con người hình thành lên: trồng rừng, trồng cây ngắn ngày, chăn nuôi…
Đất đai không chỉ đơn thuần là một thành phần, mà còn bao gồm các điều kiện môi trường vật lý khác như địa hình, độ dốc, độ cao và khí hậu Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển đất đai.
1.3.2.3 Sử dụng đất và loại hình sử dụng đất
Sử dụng đất là việc tác động vào đất đai với mục đích đạt được kết quả mong muốn, bao gồm nhiều kiểu như cây trồng hàng năm, lâu năm, đồng cỏ, trồng rừng và cảnh quan du lịch Ngoài ra, còn có hình thức sử dụng đa mục đích, kết hợp hai hoặc nhiều kiểu sử dụng trên cùng một diện tích Kiểu sử dụng đất có thể phản ánh hiện tại hoặc dự kiến trong tương lai, đặc biệt khi các điều kiện kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng và tiến bộ khoa học công nghệ thay đổi Trong lĩnh vực Nông - Lâm nghiệp, mỗi kiểu sử dụng đất thường gắn liền với các loại cây trồng cụ thể.
- Trực tiếp sản xuất: các loại cây trồng, đồng cỏ, rừng
- Gián tiếp sản xuất: chăn nuôi, các sản phẩm của chăn nuôi: thịt, sữa…
- Mục đích bảo vệ: chống suy thoái đất, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các loài quý hiếm…
- Sử dụng đất theo các chức năng đặc biệt: khu dân cư, phát triển đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, giao thông, thuỷ lợi …
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT):
* Loại hình sử dụng đất:
LUT (LUT) là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với
ĐƠN VỊ BẢN ĐỒ ĐẤT ĐAI
Khái niệm về đơn vị bản đồ đất đai (LMU)
Đơn vị bản đồ đất đai là thành phần quan trọng trong hệ thống sử dụng đất, góp phần vào việc đánh giá đất Hệ thống sử dụng đất (LUS) bao gồm các đơn vị bản đồ đất đai (LMU) và các loại hình sử dụng đất (LUT) hiện tại cũng như dự kiến trong tương lai.
LMU, hay Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit), là một hoặc nhiều khoanh đất được xác định trên bản đồ với các đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt Mỗi LMU có điều kiện quản lý đất và khả năng sản xuất đồng nhất, phù hợp cho từng loại sử dụng đất cụ thể Điều này cho thấy rằng mỗi đơn vị đất đai thích hợp với một hoặc một số loại sử dụng đất nhất định.
Khoanh đất được xác định bởi vị trí địa lý, diện tích, xác định trên bản đồ…
Trong một xã, nếu tất cả các thửa ruộng có cùng tính chất đất, độ dày, địa hình và khả năng tưới tiêu, cũng như có thể trồng cùng loại cây, thì chúng được phân loại vào một đơn vị bản đồ đất đai Các thửa ruộng này có thể nằm liền kề nhau hoặc độc lập.
Chất lượng đất đai (LQ) là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tính bền vững của đất đối với các loại hình sử dụng đất khác nhau Các loại đất như đất cát, đất mặn, đất phèn và đất phù sa, cùng với độ dốc của đất (0 - 3°; >3 - 8°; ) đều đóng vai trò quyết định trong việc xác định khả năng sử dụng và phát triển bền vững của đất.
Mỗi đơn vị bản đồ đất đai đều có chất lượng riêng biệt, cho thấy rằng mỗi loại đất đai phù hợp với một hoặc một số loại hình sử dụng đất (LUT) nhất định.
- Đơn vị đất đai có các đặc tính: loại đất là đất xám feralit, độ cao 800m, độ dốc
> 25 0, độ dày tầng đất > 50 cm chỉ thích hợp với LUT lâm nghiệp, nương rẫy, trồng ngô,
Trong một huyện có sự đa dạng về địa hình, bao gồm đồng bằng, vùng thấp trũng và đồi núi, các đơn vị đất đai ở khu vực đồng bằng thường có đặc tính và tính chất phù hợp cho việc trồng các loại cây hàng năm và cây ngắn ngày như lúa nước và rau màu Tuy nhiên, khu vực này không thích hợp cho các loại hình sử dụng đất lâm nghiệp (LUT).
Các đơn vị đất đai khu vực đồi núi có đặc tính và tính chất đất đai phù hợp với loại hình sử dụng đất (LUT) lâm nghiệp và cây công nghiệp, trong khi không thích hợp cho các loại hình LUT cây trồng hàng năm như lúa nước, cây chuyên màu và LUT lúa – cá.
Các đơn vị đất đai tại khu vực vùng thấp trũng có đặc tính và tính chất đất chỉ phù hợp cho các loại hình sử dụng đất (LUT) như nuôi trồng thủy sản và LUT lúa - cá, trong khi không phù hợp cho các loại hình LUT lâm nghiệp hay rau màu.
Tùy thuộc vào mục đích, phạm vi, quy mô và tỷ lệ bản đồ của khu vực đánh giá đất, việc xác định đơn vị bản đồ đất đai là rất quan trọng Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cách thức định hình các khoanh đất mà còn quyết định số lượng khoanh đất trên bản đồ.
Các đặc điểm của LMU:
(1) Các LMU có diện tích, có vị trí, có toạ độ cụ thể trên bản đồ đơn vị đất đai;
(2) Các LMU có các đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt;
(3) Các LMU thể hiện các điều kiện sản xuất, khả năng sản xuất, khả năng quản lý cho các LUT;
(4) Các LMU thể hiện yêu cầu sử dụng đất của các LUT
Bản đồ đơn vị đất đai (Land Unit Map - LUM) là tập hợp các đơn vị bản đồ đất đai trong khu vực đánh giá đất, được xác định trên khung địa lý với ranh giới cụ thể Mỗi đơn vị đất đai (LMU) có tọa độ và diện tích rõ ràng, được thể hiện chi tiết trên bản đồ này.
Bản đồ đơn vị đất đai thể hiện sự phân bố không gian của các đơn vị đất đai dựa trên vị trí, độ dốc, độ dày tầng đất, độ phì, thành phần cơ giới, quy mô diện tích và các thuộc tính khác Để xây dựng bản đồ này, các loại bản đồ đơn tính về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến chất lượng đất đai được chồng xếp lên nhau.
Xác định các đơn vị bản đồ đất đai
2.2.1 Thông tin, dữ liệu về vùng sinh thái nông nghiệp và tài nguyên đất
Các đơn vị bản đồ đất đai sở hữu những đặc tính và tính chất riêng biệt, liên quan chặt chẽ đến các điều kiện sinh thái và môi trường tự nhiên của từng vùng.
Trước khi xác định các LMU, cần thu thập tài liệu về môi trường, sinh thái, nguồn tài nguyên đất và khả năng sản xuất của vùng nghiên cứu Tài liệu này có thể được tìm thấy tại các cơ quan thống kê, trung tâm lưu trữ, hoặc các cơ quan quản lý như phòng nông nghiệp, phòng lâm nghiệp và phòng thủy lợi Nếu tài liệu chưa có sẵn, các dự án đánh giá đất cần tiến hành điều tra để thu thập thông tin cần thiết.
Các tài liệu này cung cấp thông tin và số liệu kỹ thuật quan trọng để xác định các chỉ tiêu chất lượng của LMU và các chỉ tiêu phân cấp trong quá trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai.
1) Vùng sinh thái nông nghiệp
Là các vùng hoặc khu vực tương đối đồng nhất về các điều kiện tự nhiên và sinh
18 thái thích hợp cho trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp
VSTNN được xem như các đơn vị đất đai - LMU với khái niệm rộng, thường xuất hiện trên các bản đồ có tỷ lệ nhỏ hơn 1/25.000 Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định LMU cho cấp quốc gia và khu vực, bao gồm nhiều quốc gia như hạ lưu sông MêKông, cụ thể là Việt Nam, Lào và Campuchia.
VSTNN bao gồm nhiều vùng địa lý với đa dạng địa mạo, loại đất và thực vật Do đó, VSTNN được phân tích dựa trên các yếu tố đất đai đồng nhất trên diện rộng, trong đó khí hậu là yếu tố quan trọng nhất được xem xét.
VSTNN được xác định thông qua việc nghiên cứu mặt bằng, trong đó tổng hợp các dữ liệu, bản đồ và ảnh viễn thám, vệ tinh hiện có Các dữ liệu này thường bao gồm thông tin về khí hậu, địa hình, loại đất, thảm thực vật tự nhiên và hiện trạng sử dụng đất, nước.
Khi xem xét một VSTNN, các chỉ tiêu quan trọng bao gồm khí hậu, đất và nước Trong đó, khí hậu là yếu tố vĩ mô, khó thay đổi và cải tạo, do đó cần chú trọng đến tính thích hợp của nó Ngược lại, đất và nước có thể được cải tạo đến một mức độ nhất định thông qua các biện pháp kỹ thuật phù hợp.
Phân vùng sinh thái nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa sử dụng tài nguyên nông nghiệp, giúp phát huy tiềm năng sinh thái của khu vực Điều này cũng là cơ sở để lựa chọn các loại hình sử dụng đất (LUT) cho cây trồng, chăn nuôi và lâm nghiệp một cách hiệu quả.
Ví dụ : Ở Việt Nam hiện nay đã chia ra 9 vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau:
(1) Vùng Tây Bắc (6) Vùng Tây Nguyên
(2) Vùng Đông Bắc (7) Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ
(3) Vùng Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn (8) Vùng Đông Nam Bộ
(4) Vùng Đồng bằng Sông Hồng (9) Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
(5) Vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ
Trong các vùng, cần chia thành các tiểu vùng nhỏ hơn, như cấp tỉnh, để đảm bảo độ đồng nhất cao nhất Phương pháp phân chia này khác biệt so với cách phân chia trên bản đồ tỷ lệ lớn.
Ví dụ : Ở 1 tỉnh có thể chia ra các tiểu vùng là tiểu vùng cao núi đá, tiểu vùng cao núi đất, tiểu vùng đồng bằng, tiểu vùng ven biển, …
Các điều tra tiếp theo như điều tra tài nguyên đất là rất cần thiết để xác định và
19 mô tả chi tiết hơn các đơn vị đất đai có trong vùng sinh thái nông lâm nghiệp
2) Điều tra tài nguyên đất (thổ nhưỡng)
Để tiến hành điều tra đất đai một cách hiệu quả, cần thu thập các số liệu quan trọng như hình thái, đặc tính và tính chất của đất, cũng như thảm thực vật và hiện trạng sử dụng đất Bên cạnh đó, việc khảo sát các nguồn nước trong đất, bao gồm thủy văn, nước ngầm, hệ thống thủy lợi và chế độ nước của đất đối với cây trồng cũng là những yếu tố cần thiết.
Trong việc đánh giá đất nông nghiệp, các thông tin quan trọng cần xem xét bao gồm nguồn nước như nước mặt và nước ngầm, hình thái đất, loại đất, địa mạo, hiện trạng đất và cách sử dụng đất.
Trong đánh giá đất lâm nghiệp và đồng cỏ rộng lớn, các điều tra về rừng tự nhiên, xác nhận năng suất rừng và điều tra thảm thực vật
Số liệu được thu thập thông qua các phương pháp điều tra thực địa và khai thác từ ảnh hàng không, ảnh viễn thám, sau đó được thể hiện trên bản đồ đất và bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
2.2.2 Các đặc tính và tính chất đất đai của đơn vị bản đồ đất đai
Khi xây dựng một LMU, việc tìm hiểu các đặc tính và tính chất của khoanh đất là rất quan trọng, vì chúng phản ánh điều kiện tự nhiên và khả năng sản xuất cho các loại hình sử dụng đất Đặc tính và tính chất đất đai là những yếu tố quan trọng giúp xác định yêu cầu sử dụng đất trong đánh giá đất đai Chúng ảnh hưởng trực tiếp đến tính thích hợp của đất cho từng loại hình sử dụng, bao gồm chế độ cung cấp dinh dưỡng, khả năng thoát nước, độ sâu của lớp đất, địa hình và khả năng canh tác Những đặc tính này là yếu tố định tính, cung cấp câu trả lời cho yêu cầu sử dụng đất của các LUT.
Các đặc tính đất đai là những chỉ tiêu quan trọng để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong khu vực đánh giá Việc xác định các chỉ tiêu này phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu, phạm vi và tỷ lệ bản đồ, nhằm phù hợp với các điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội của khu vực được đánh giá.
Tính chất đất đai là các thuộc tính của đất có thể đo đếm hoặc ước tính được
Hay tính chất đất đai là các số liệu cụ thể hóa, chi tiết hóa, đơn vị hóa các đặc tính đất đai
Tính chất đất đai là yếu tố quan trọng để phân biệt các đơn vị quản lý đất đai (LMU) và mô tả đặc điểm của đất Nó cũng được sử dụng để phân cấp các chỉ tiêu trong việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai.
Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Hình 2.1 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
2.3.1 Xác định các chỉ tiêu phân cấp bản đồ đơn vị đất đai
Việc lựa chọn các chỉ tiêu phân cấp phù hợp là rất quan trọng trong việc xác định các đặc tính và tính chất đất đai cho các loại hình sử dụng đất (LUTs) Mỗi chỉ tiêu được thể hiện qua các bản đồ đơn tính, và số lượng chỉ tiêu cũng như cấp độ phân cấp cần được cân nhắc kỹ lưỡng Nếu số chỉ tiêu quá ít hoặc không đại diện cho yêu cầu của LUTs, kết quả đánh giá sẽ không chính xác Ngược lại, nếu số lượng chỉ tiêu quá nhiều, sẽ dẫn đến việc tạo ra quá nhiều đơn vị quản lý đất (LMUs) không phù hợp Theo kinh nghiệm, nên lựa chọn từ 5 đến 10 chỉ tiêu cho mỗi bản đồ đơn vị đất đai, với mỗi chỉ tiêu phân cấp từ 3 đến 6 cấp độ tính chất.
Các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai được xác định dựa vào các căn cứ sau:
- Đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu của dự án đánh giá đất đai
- Yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất được chọn
- Quy mô diện tích và tỉ lệ bản đồ cần xây dựng
Để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, cần xem xét nguồn tài liệu sẵn có và khả năng bổ sung Việc phân cấp các chỉ tiêu lựa chọn phải tuân thủ các yêu cầu cụ thể nhằm đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình lập bản đồ.
1) LMU cần phải bảo đảm tính đồng nhất tối đa Nếu không được thể hiện trên bản đồ thì cũng phải được mô tả chi tiết
2) Các LMU phải có ý nghĩa thực tiễn cho các loại hình sử dụng đất sẽ được đề xuất lựa chọn
3) Các LMU càng đơn giản càng tốt và có thể khoanh vẽ trên bản đồ
4) Các LMU phải được xác định một cách đơn giản dựa trên những đặc điểm quan sát trực tiếp trên đồng ruộng hoặc qua sử dụng kỹ thuật ảnh máy bay, viễn thám
5) Các đặc tính của LMU phải là những đặc tính và tính chất khá ổn định vì chúng sẽ là các nhu cầu sử dụng đất thích hợp cho các loại hình sử dụng đất trong LE
* Những chỉ tiêu để xác định đơn vị đất đai:
1) Các chỉ tiêu về khí hậu thời tiết
- Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm
- Nhiệt độ không khí trung bình tối cao tháng, năm
- Nhiệt độ không khí trung bình tối thấp tháng, năm
- Độ ẩm tương đối không khí trung bình tháng, năm
- Lượng mưa trung bình tháng, năm
- Số giờ nắng trung bình tháng, năm
- Số ngày mưa phùn trong năm
- Số ngày sương muối trong năm
2) Các chỉ tiêu về thổ nhưỡng
Loại hình thổ nhưỡng là yếu tố tổng quát phản ánh đặc tính chung của một khu đất, bao gồm các chỉ tiêu về lý hóa tính cơ bản, khả năng sử dụng và mức độ dinh dưỡng của loại đất đó.
- Độ sâu xuất hiện các tầng có ảnh hưởng đến chất lượng đất đai như tầng phèn, tầng tích muối, tầng đá lẫn, tầng cát xen, …
- Tỉ lệ các chất sỏi sạn (kết von, đá lẫn, …)
- Tỉ lệ đá lộ đầu
(3) Chỉ tiêu về địa hình, độ dốc
- Đối với miền núi: thường sử dụng chỉ tiêu độ dốc, độ cao tuyệt đối của địa hình
- Vùng đồng bằng: thường dùng địa hình tương đối như cao, vàn cao, vàn thấp,
- Xâm nhập mặn: Xâm nhập mặn là phổ biến đối với các vùng đất thấp ven biển, đặc biệt vào mùa khô
Có 2 chỉ tiêu cần lưu ý là thời gian ngập mặn và nồng độ mặn
- Độ chua, các độc tố Al3+, Fe3+, …
* Các chỉ tiêu về chế độ tưới và tiêu nước
Để quản lý chế độ tưới hiệu quả, trước hết cần phân chia các khu vực thành hai loại: vùng được tưới và vùng không được tưới Tiếp theo, trong các vùng được tưới, cần phân loại chi tiết theo các chế độ tưới khác nhau như tưới chủ động, tưới bán chủ động, tưới khó khăn và tưới rất khó khăn.
Chế độ tiêu nước được phân chia thành hai vùng chính: vùng có khả năng tiêu thoát nước và vùng không có khả năng tiêu thoát nước Đối với các vùng có khả năng tiêu thoát nước, cần phân loại chi tiết theo các chế độ tiêu nước như tiêu chủ động, tiêu bán chủ động, tiêu khó khăn và tiêu rất khó khăn.
* Các chỉ tiêu về chế độ ngập và hạn:
Để xác định vùng bị ngập và không bị ngập, cần dựa vào tài liệu bản đồ hiện có Đối với các khu vực bị ngập, cần phân chia chi tiết theo mức độ ngập (sâu, trung bình, ngập nông) và thời gian ngập.
Chế độ hạn được xác định dựa trên tài liệu bản đồ hiện có, giúp phân định rõ ràng vùng không bị hạn và vùng bị hạn Đối với vùng bị hạn, cần thực hiện phân chia chi tiết theo thời gian hạn để có cái nhìn rõ hơn về tình trạng và mức độ ảnh hưởng.
Việc phân chia chế độ ngập và hạn cần dựa vào điều kiện tưới, tiêu và khí hậu của từng vùng cụ thể để đảm bảo tính phù hợp Để tiết kiệm chi phí và giảm số lượng bản đồ chuyên đề, thông tin về tưới và hạn thường được thể hiện trên một bản đồ, trong khi thông tin về tiêu và ngập được thể hiện trên một bản đồ khác.
Dựa trên các bản đồ chuyên đề đã thu thập và số liệu điều tra tổng hợp, chúng tôi xây dựng bộ chỉ tiêu cho đơn vị đất đai trong vùng nghiên cứu Tất cả các chỉ tiêu được lựa chọn đều được phân cấp rõ ràng và ghi ký hiệu cụ thể.
Mức độ chi tiết, số lượng các yếu tố dùng trong việc xác định đơn vị đất phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ
Dựa trên các bản đồ chuyên đề và số liệu điều tra đã thu thập, chúng tôi xây dựng bộ chỉ tiêu cho đơn vị đất đai trong vùng nghiên cứu Tất cả các chỉ tiêu được phân cấp và ghi ký hiệu rõ ràng Mỗi yếu tố đặc trưng và phân cấp phân vị đều phải đáp ứng các điều kiện cụ thể.
- Có tác động quyết định đối với sản xuất nông - lâm nghiệp và thuỷ sản
- Có sự phân biệt về mức độ và cho phép bố trí các loại sử dụng đất
- Có thể khoanh vẽ được trên bản đồ dùng trong đánh giá đất đai
- Phù hợp với các đặc điểm sử dụng đất
Mức độ chi tiết, số lượng các yếu tố dùng trong việc xác định đơn vị đất phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ (bảng 2.1)
Bảng 2.1 Các yếu tố tạo lập đơn vị đất đai chia theo mức độ chi tiết của bản đồ Yếu tố sai khác rõ
Chia theo tỷ lệ bản đồ
I Yếu tố về địa hình - dáng đất
- Địa hình tương đối (3 cấp)
- Địa hình tương đối (5 cấp)
- Vi địa hình (khả năng tiêu nước, tình trạng ngập úng)
II Yếu tố về đất
- Nhóm đất phụ (Subsoil group: tổ hợp các đơn vị đất có đặc điểm sử dụng tương tự) Đơn vị đất (Soil unít)
- Độ dầy tầng đất hữu
- Đơn vị đất phụ (đến phases)
- Độ dầy tầng đất hữu hiệu (5 cấp)
- Độ dầy tầng đất canh tác (2 cấp)
- Đơn vị đất phụ dưới pha
- Độ dầy tầng đất hữu hiệu
- Độ dầy tầng đất canh tác
- Thành phần cơ giới (4 cấp)
- Độ phì nhiêu (2-3 chỉ tiêu)
- Điều kiện làm đất (đá lộ đầu 4 cấp)
- Điều kiện vùng rễ (đá lẫn 2 cấp) cấp)
- Độ phì nhiêu (3-5 chỉ tiêu)
- Độ chua, độ bão hòa bazơ Các chất độc trong đất
- Điều kiện làm đất (đá lộ đầu: 4 chỉ tiêu)
- Điều kiện vùng rễ (đá lẫn
III Yếu tố khí hậu thời tiết
- Nhiệt độ trung bình năm (°C)
- Nhiệt độ trung bình năm
- Số tháng có nhiệt độ trên 20 °C
- Nhiệt độ trung bình năm
- Số tháng có nhiệt độ 35 °C
- Số tháng có sương giá
- Số tháng có nhiệt độ trên
- Lượng mưa trung bình năm (mm)
- Tổng lượng mưa của mùa mưa, mùa khô
- Số tháng mùa mưa, độ dài mùa khô
- Số tháng có lượng mưa
- Bốc thoát hơi nước tiềm năng
- Tổng lượng mưa của mùa mưa, mùa khô
… Độ dài mùa sinh trưởng
- Độ dài mùa sinh trưởng
IV Yếu tố về thủy lợi (áp dụng cho nông nghiệp nhờ nước trời có tưới bổ sung và nông nghiệp được tưới)
(Nguồn: TCVN 8409:2012) 2.3.2 Xây dựng các bản đồ chuyên đề (BĐCĐ)
Bản đồ chuyên đề là bản đồ mà nội dung của nó chỉ thể hiện một, hai đối tượng hiện tượng địa lý
Bản đồ chuyên đề khác biệt so với bản đồ địa lý chung ở chỗ nó tập trung vào việc thể hiện các hiện tượng riêng biệt trong tự nhiên và kinh tế xã hội Điều này làm cho bản đồ chuyên đề phong phú và đa dạng hơn về chủ đề, thể loại và phương pháp biểu hiện.
Bản đồ cần được thành lập dựa trên phép chiếu bản đồ đã xác định, không phụ thuộc vào địa điểm thành lập BĐCĐ Các bản gốc phải sử dụng hệ thống ký hiệu quy ước và nội dung nền, với nét vẽ tương ứng với bảng chú giải đã được soạn thảo Những yêu cầu này là tiêu chuẩn bắt buộc cho tác phẩm bản đồ.
Trong quá trình tạo ra bản đồ, nếu các nội dung chuyên đề chưa đáp ứng yêu cầu, người thực hiện có thể chỉnh sửa bản gốc bằng cách điều chỉnh phép chiếu, kích thước ký hiệu và màu sắc trình bày để đảm bảo bản đồ đạt tiêu chuẩn cần thiết.