CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG ĐTM Chương này sẽ cung cấp cho người đọc các thuật ngữ được sử dụng thường xuyên trong quá trình thực hiện một ĐTM, các khái niệm cơ
Trang 1MỤC LỤC CHƯƠNG I CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
(ĐTM) 2
1.1 Môi trường và ĐTM 2
1.2 Khái niệm về ĐTM 3
1.3 Định nghĩa ĐTM 3
1.4 Mục đích của ĐTM 5
1.5 Ý nghĩa của ĐTM 5
1.6 Nội dung và yêu cầu của ĐTM 6
1.7 Lịch sử phát triển 11
CHƯƠNG II QUY TRÌNH THỰC HIỆN VÀ NỘI DUNG CHI TIẾT CỦA ĐTM 18
2.1 Lược duyệt (Screening) 18
2.2 Đánh giá tác động môi trường sơ bộ (Preliminary Environmental Impact Assessment) 20
2.3 Đánh giá tác động môi trường đầy đủ (Full Environmental Impacts Assessment) 21
CHƯƠNG III CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 28
3.1 Khái quát về các phương pháp ĐTM (EIA Methodologies) 28
3.2 Phương pháp liệt kê các thông số môi trường (Index methods) 29
3.3 Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường (Checklists) 29
3.4 Phương pháp ma trận môi trường (Matrices) 31
3.5 Phương pháp chập bản đồ (Overlay maps) 33
3.6 Phương pháp sơ đồ mạng lưới (Networks) 34
3.7 Phương pháp mô hình (Modellings) 35
3.8 Phương pháp phân tích chi phí lợi ích mở rộng (Sound Ecological Principles) 37
3.9 Phương pháp sử dụng hệ số phát thải 41
CHƯƠNG IV: TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ LOẠI HÌNH DỰ ÁN VÀ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU 52
4.1 Giới thiệu chung 52
4.2 Dự án sản xuất xi măng 52
4.3 Dự án dệt nhuộm 60
4.4 Dự án sản xuất giấy và bột giấy 68
4.5 Dự án sản xuất bia 83
4.6 Dự án phát triển đô thị và khu dân cư 91
Trang 2CHƯƠNG I CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
MÔI TRƯỜNG (ĐTM)
Chương này sẽ cung cấp cho người đọc các thuật ngữ được sử dụng thường xuyên trong quá trình thực hiện một ĐTM, các khái niệm cơ bản về ĐTM cũng như vai trò của ĐTM trong công tác quản lý môi trường ở Việt Nam
1.1 Môi trường và ĐTM
Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến một vật thể hoặc một sự kiện nào đó
Theo Luật BVMT Việt Nam 2005 thì: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên
và yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Điều 2, Luật BVMT 2005)
Môi trường theo cách hiểu tương đối thì có thể là rất rộng (như vũ trụ, Trái đất, không khí,…) và cũng có thể là hẹp (môi trường bề mặt nước, môi trường sông,…) Các yếu tố tạo ra môi trường được gọi là thành phần môi trường
Môi trường có thành phần hết sức quan trọng đó là con người và các hoạt động của con người kể cả tự nhiên và văn hóa-xã hội Con người, trong quá trình tồn tại và phát triển dù bằng ngẫu nhiên hay cố tình cũng luôn luôn tác động vào môi trường Ngược lại, môi trường cũng luôn có tác động đến con người Quá trình phát triển luôn kèm theo sử dụng tài nguyên thiên nhiên (gỗ, đất, nước, không khí, nhiên liệu hóa thạch,…) đồng thời cũng thải vào môi trường các chất phế thải (chất thải rắn, khí, lỏng
từ sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, y tế,…) Những chất thải đó dần dần làm ô nhiễm môi trường Chính vì vậy, người ta đã cho rằng phát triển là đồng hành với
ô nhiễm
Chúng ta biết rằng sự phân huỷ chất bẩn trong môi trường tự nhiên là một quy luật đã có từ hàng vạn năm Quá trình phân huỷ chất bẩn như vậy là nhờ tác động tích cực của đất, các VSV trong đất, nước, bức xạ, năng lượng mặt trời, các loài động thực vật… Quá trình đó gọi là quá trình “tự làm sạch” Các quá trình “tự làm sạch” luôn tuân theo một quy luật riêng của chúng và ứng với một “tốc độ làm sạch” xác định
Như vậy, con người muốn tồn tại và phát triển trong môi trường của mình thì nhất thiết phải xác lập tốt một mối tương quan giữa phát triển với tự làm sạch của môi trường Để làm được điều này, cần hiểu được ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế -xã hội (KTXH), hoạt động sản xuất đến các yếu tố cấu thành môi trường Ngược lại cũng
Trang 3cần hiểu được các phản ứng của môi trường đến các thành phần môi trường Quá trình hiểu, xác định và đánh giá đó được gọi là đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
1.2 Khái niệm về ĐTM
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM):
Là sự đánh giá chính thức các tác động đối với môi trường có thể có của một chính sách, chương trình hay dự án (sau đây gọi là dự án) Qua đó, các giải pháp, các phương án (về kỹ thuật hay quản lý) được đề xuất và chấp nhận nhằm giảm thiểu các tác động đó đến môi trường Khái niệm này được áp dụng từ khi bắt đầu dự án, trong quá trình vận hành cho tới khi chấm dứt dự án
Tác động: Có thể sử dụng từ ảnh hưởng"
Là hiệu ứng của một sự vật, một hoạt động lên một vật thể hoặc một hoạt động khác Tác động có thể thay đổi theo không gian và thời gian trong phạm vi của hiệu ứng Đáng kể: Có nghĩa tương đương với các từ "có ý nghĩa, đáng chú ý " Là tác động nằm ngoài giới hạn chịu đựng, ngoài giới hạn chấp nhận được của một vật thể hay một hoạt động khác (ngưỡng trong KHXH thường là 5%) Sự đáng kể là sự biến động vượt quá ngưỡng chịu đựng (khoảng 5%) của một vật thể Tuy nhiên, đối với cảnh quan, quần thể các sinh vật quý hiếm,… thì sự đáng kể này khó được chấp nhận mà chủ yếu phụ thuộc vào người đánh giá
Khái niệm về ĐTM:
ĐTM là sự phân tích một cách có khoa học những tác động có lợi hoặc có hại do các hoạt động phát triển có thể mang lại cho tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện môi trường Qua đó, đề xuất các phương án hợp lý nhằm giải quyết những mâu thuẫn giữa hoạt động phát triển và BVMT
- Hoạt động phát triển: Dự án xây dựng một nhà máy, chương trình, các loại hình dịch vụ Ví dụ: Dự án mở rộng đường, xây dựng mới một Bệnh viện, quy hoạch khu dân
Trang 4Clark và những người khác (1980) định nghĩa ĐTM: ĐTM là một quá trình phân tích có hệ thống các tác động có thể có của việc thực hiện các dự án, các chính sách và các chương trình Mục tiêu chính của ĐTM là cung cấp cho những nhà ra quyết định chủ động lựa chọn những phương án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ thuật trước khi ra quyết định, để thay đổi (nếu có) thiết kế dự án cuối cùng
Tuy nhiên, tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio
De Janeiro (Brazil) năm 1992 đã thống nhất đưa ra Tuyên bố: ĐTM -một công cụ quốc gia- sẽ được thực hiện vì các hoạt động đã đề xuất mà có thể có tác động bất lợi đáng
kể đến môi trường và được các nhà chức trách sử dụng để ra quyết định về các hoạt động đó
Năm 1998, Nick Harvey, một chuyên gia môi trường của Australia đã định nghĩa ĐTM như sau: ĐTM là một quá trình xác định và dự báo các tác động môi trường tiềm tàng (bao gồm môi trường sinh học, địa chất và vật lý học, văn hoá và kinh tế xã hội) của các hoạt động, các chính sách, các chương trình và các dự án, và thông báo những nội dung này đến những nhà ra quyết định trước khi họ ra những quyết định về các hoạt động đó (Harvey, N 1998)
Trong điều kiện của Việt Nam, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 23/06/2014, luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, định nghĩa ĐTM như sau: ĐTM là quá trình phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án
đó (Điều 3 - mục 23)
- Phân tích, đánh giá tác động và dự báo:
o Xác định tác động: nguồn gốc phát sinh tác động từ các hoạt động o Phân tích: theo không gian và thời gian
o Đánh giá: theo mức độ (cường độ), tốt hay không tốt, đáng kể hay không đáng kể
o Dự báo
- Đề xuất các giải pháp:
oPhòngtránh oKiểmsoát
o Khắc phục
Như vậy, có thể thấy rằng ở Việt Nam mặc dù những bức xúc về môi trường chỉ
Trang 5mới xuất hiện vào những năm 1990, nhưng ĐTM không còn là một khái niệm riêng trong đội ngũ các nhà khoa học nữa mà nó đã chuyển vào đội ngũ các nhà quản lý, khoa học kỹ thuật rộng hơn, đồng thời đã được đưa vào luật Bảo vệ Môi trường (1994)
Như vậy, việc thực hiện một ĐTM cho dự án đã trở thành yếu tố rất quan trọng trong khoa học môi trường, hơn thế nữa nó cũng đã trở thành yếu tố bắt buộc trong công tác quản lý Nhà nước về BVMT Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế ở Việt Nam chưa mạnh nên từ những năm 1985 đến 1992 các dự án lớn và trung bình của nước ta
về cơ bản đã chưa được lập báo cáo ĐTM mà chỉ đề cập sơ bộ đến một số vấn đề về môi trường có thể xảy ra Sau 1992, một số dự án quan trọng đã được đánh giá tác động môi trường như thuỷ điện Sơn La, Sông Hinh, dự án nhà máy mía đường Đài Loan (Thanh Hoá), nhiều công trình thăm do dầu khí cũng được lập báo cáo ĐTM Gần đây, nhiều dự án trọng điểm quốc gia đã được lập báo cáo ĐTM như dự án đường
Hồ Chí Minh, khu công nghiệp Dung Quất, cảng nước sâu Cái Lân, và nhiều công trình khác
ĐTM còn giúp cơ quan xét duyệt, những nhà ra quyết định và triển khai các hoạt động có đủ cơ sở để ra một quyết định đúng đắn và toàn diện hơn về vấn đề cần xem xét, đánh giá
1.5 Ý nghĩa của ĐTM
Hai ý nghĩa lớn của ĐTM:
- ĐTM đóng vai trò rất quan trọng trong việc xét duyệt và ra quyết định đối với hoạt động phát triển Tại thời điểm này các nhân tố môi trường được xem là tương đương với các nhân tố kỹ thuật, công nghệ và kinh tế xã hội
- ĐTM không có ý nghĩa phủ quyết đối với các hoạt động phát triển Người lập báo cáo ĐTM và chủ dự án cũng như người ra quyết định (cơ quan QLNN) không nên nhìn nhận sự đối lập của môi trường và phát triển
Trang 61.6 Nội dung và yêu cầu của ĐTM
Nội dung và yêu cầu của công tác ĐTM phụ thuộc rất nhiều vào nội dung của hoạt động phát triển Điều này có nghĩa rằng, nếu hoạt động phát triển càng lớn, phạm
vi không gian rộng và thời gian hoạt động càng dài thì việc đánh giá càng phức tạp, đòi hỏi công việc đánh giá phải ở nhiều mức độ chuyên môn khác nhau Trong tài liệu này, chúng tôi sẽ trình bày những nội dung và yêu cầu chính của công tác ĐTM được dựa trên luật BVMT, các văn bản pháp quy, Nghị định và Thông tư hướng dẫn mới nhất của Việt Nam
Trong luật BVMT Việt Nam 2005 cũng có một số điều quy định rất chặt chẽ về thực hiện ĐTM đối với chủ các dự án, cụ thể là:
Điều 19 (mục 1): Chủ các dự án quy định tại điều 18 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Điều 19 (mục 4): Trường hợp có thay đổi về quy trình, nội dung, thời gian triển khai, thực hiện, hoàn thành dự án thì chủ dự án có trách nhiệm giải trình với cơ quan phê duyệt; trường hợp cần thiết phải lập báo cáo ĐTM bổ sung
* Những điểm mới cơ bản về nội dung ĐMC, ĐTM trong luật Bảo vệ môi trường năm 2014:
- Đánh giá môi trường chiến lược (Mục 2)
Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) về cơ bản giống đối tượng được quy định tại Luật BVMT năm 2005 (Điều 13) Tuy nhiên, trong điều kiện mới có QHBVMT và bảo đảm tính cần thiết, thực thi của một số báo cáo ĐMC, Luật quy định giao Chính phủ quy định danh mục các đối tượng phải lập ĐMC
Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định rõ, ngoài việc ĐMC phải được thực hiện đồng thời với quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch gồm chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế - xã hội, vùng kinh tế trọng ðiểm, hành lang kinh tế, vành đai kinh tế; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; chiến lược, quy hoạch phát triển khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghiệp; chiến lýợc, quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên quy mô từ 02 tỉnh trở lên; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh
Trang 7vực quy mô quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh có tác ðộng lớn đến môi trường Kết quả ĐMC phải được xem xét, tích hợp vào nội dung chiến lược, quy hoạch, kế hoạch này (Khoản 2 và 3 Điều 14)
Điều 15 quy định rõ 10 nội dung chính của ĐMC Trong khi đó, Điều 16 của Luật BVMT năm 2005 quy định có 05 nội dung chung
Có một số nội dung về tổ chức, trách nhiệm, phương thức hoạt động của hội đồng thẩm định ĐMC tại Điều 17 Luật BVMT năm 2005 đã được lược bỏ bởi vì trách nhiệm tổ chức thẩm định và phê duyệt thuộc về cơ quan quản lý nhà nước; các hội đồng thẩm định chỉ giúp các cơ quan quản lý nhà nước thẩm định nên chỉ cần quy định
cụ thể trong các văn bản dưới luật
- Đánh giá tác động môi trường (Mục 3)
Với mục đích hạn chế lạm dụng yêu cầu phải làm báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và tính lý thuyết của một số ĐTM, Luật bảo vệ môi trường năm
2014 quy định chỉ có 3 nhóm đối tượng phải lập ĐTM tại Điều 18, đó là: (i) Các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; (ii) Các dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịc sử-văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam đã được xếp hạng và (iii) Các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường Để làm rõ hơn các dự án nhóm (ii) và tiêu chí “nguy cơ tác động xấu đến môi trường” của các dự án nhóm (iii), Luật giao Chính phủ quy định danh mục các dự án phải lập ĐTM
Điều 20 về lập lại báo cáo ĐTM quy định chủ dự án phải lập lại ĐTM trong các trường hợp: những dự án không triển khai trong vòng 24 tháng; thay đổi địa điểm dự án; tăng quy mô, công suất, thay đổi công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường thì phải lập lại báo cáo ĐTM
Nội dung của báo cáo ĐTM cũng được quy định cụ thể hơn tại Điều 22 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 Những quy định về tổ chức, yêu cầu, trách nhiệm của hội đồng thẩm định cũng đã được lược bỏ vì cơ quan chịu trách nhiệm trước pháp luật
về kết quả thẩm định và phê duyệt kết quả thẩm định là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Khoản 1 Điều 27); các hội đồng thẩm định chỉ có chức năng tư vấn cho
cơ quan thẩm định và phê duyệt kết quả thẩm định
Điều 23 Luật BVMT năm 2005 quy định chủ dự án có trách nhiệm “thông báo
Trang 8cho cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM để kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM” (Điểm d Khoản 1); “Chỉ được đưa công trình vào sử dụng khi đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đầy đủ các yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c của điều khoản này” (Điểm d Khoản 1 Điều 23) Quy định này dẫn tới tính thiếu thực thi nên tỷ lệ kiểm tra xác nhận thực hiện báo cáo ĐTM (hậu thẩm định) trong thời gian vừa qua quá thấp, nhiều tỉnh chỉ dưới 10%, trong khi các dự án không thể không vận hành
Để khắc phục hạn chế này, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định “chủ đầu tư phải báo cáo cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM kết quả thực hiện các công trình BVMT phục vụ vận hành dự án đối với dự án lớn, có nguy cơ tác động xấu đến môi trường do Chính phủ quy định Những dự án này chỉ được vận hành sau khi cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình BVMT” (Khoản 2 Điều 27) Đồng thời, để tránh việc gây khó dễ cho chủ dự án, Điều 28 quy định “trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo hoàn thành công trình BVMT quy định tại Khoản 2 Điều 27 của Luật này, cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM phải tổ chức kiểm tra và cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình BVMT của dự án Trường hợp phải phân tích các chỉ tiêu môi trường phức tạp thì thời gian cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình BVMT của dự án có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày” Như vậy, chỉ có những dự án do Chính phủ quy định mới có hậu thẩm định và hậu thẩm định bị ràng buộc trong thời gian nhất định
- Kế hoạch bảo vệ môi trường (Mục 4)
Qua thời gian thực hiện quy định về cam kết BVMT theo Luật BVMT năm
2005, thực tế cho thấy có nhiều khó khăn, thiếu tính thực thi, mang tính lý thuyết và trong nhiều trường hợp đã dẫn đến tiêu cực trong công tác quản lý, dù từ “cam kết” cũng có ý nghĩa tích cực nhất định
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, tạo điều kiện cho chủ dự án thực hiện trách nhiệm và chủ động trong BVMT, mặt khác sẽ thuận lợi cho công tác quản lý BVMT đối với các đối tượng không lập ĐTM, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định 06 điều mới về kế hoạch BVMT (Điều 29,30,31,32,33, và Điều 34)
Luật bảo vệ môi trường năm 2014 giao Chính phủ quy định cụ thể đối tượng phải lập kế hoạch BVMT, 06 nội dung của kế hoạch BVMT, trách nhiệm tổ chức xác
Trang 9nhận kế hoạch BVMT của cơ quan chuyên môn về BVMT cấp tỉnh, ủy ban nhân dân cấp huyện và có thể ủy quyền cho ủy ban nhân dân cấp
1.6.1 Nội dung chính
1 Mô tả địa điểm nơi hoạt động phát triển dự kiến sẽ triển khai Phạm vi rộng: Lưu vực, vùng lãnh thổ
Phạm vi hẹp: Một khu phố, cụm dân cư, phân xưởng sản xuất,
2 Xác định các điều kiện đánh giá: Biên không gian và thời gian
3 Mô tả hiện trạng môi trường trong phạm vi đánh giá (MT được hiểu theo nghĩa rộng)
- Môi trường tự nhiên:
+ Môi trường không khí: các điều kiện về khí hậu, thời tiết, chất lượng môi trường không khí
+ Môi trường nước: nước mặt, nước ngầm + Môi trường đất
+ Các hệ sinh thái tự nhiên
- Môi trường xã hội: Y tế, giáo dục, văn hoá, mức sống, điều kiện sống, Ghi chú: Trường hợp không có đủ điều kiện, số liệu thì cần giới hạn điều kiện biên không gian và thời gian Giới hạn vẫn phải thể hiện đủ mức độ tác động của dự án đối với môi trường Phải đủ rộng tức là phải đẩy đủ các tác động chính, trực tiếp của
dự án
4 Xác định các tác động đến môi trường do hoạt động của dự án Lần lượt các đối tượng chịu tác động:
- Môi trường không khí
- Môi trường nước
- Môi trường đất
- Chất thải rắn
- Môi trường xã hội
5 Dự báo các tác động có thể xảy ra khi hoạt động được triển khai
6 Xem xét khả năng hoàn nguyên khi hoạt động phát triển chấm dứt hoặc khi
dự án đi vào hoạt động ổn định
7 Các biện pháp phòng tránh, kiểm soát và khắc phục: các chính sách, các biện pháp kỹ thuật & công nghệ, các chương trình & chính sách
8 So sánh các phương án hoạt động khác nhau của dự án & trong trường hợp
Trang 10dự án không được triển khai
2 Phải đề xuất được các phương án phòng tránh, kiểm soát, giảm bớt các tác động tiêu cực, tăng cường các mặt có lợi mà vẫn đạt được đầy đủ các mục tiêu và yêu cầu của phát triển Có thể nói rằng, không có hoạt động phát triển nào có thể đáp ứng những lợi ích và yêu cầu cấp bách trước mắt của con người mà không làm tổn hại ít nhiều đến TNMT ĐTM phải làm rõ điều đó, không phải để ngăn cản sự phát triển kinh tế - xã hội mà để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các hoạt động phát triển đó Vì vậy, ĐTM có trách nhiệm nghiên cứu, góp phần đề xuất biện pháp bảo vệ, thậm chí cải thiện được tình hình TNMT Khi phương án đã đề xuất không thể chấp nhận được vì gây tổn hại quá lớn về TNMT thì phải đề xuất phương án khác thay thế
3 Phải là công cụ có hiệu lực để khắc phục những hậu quả, các tác động tiêu cực đến môi trường của các hoạt động đã được hoàn thành hoặc đang tiến hành Các biện pháp khắc phục đòi hỏi có tính khả thi cao về mặt kỹ thuật, công nghệ, kinh tế cũng như xã hội, nghĩa là các biện pháp này phải được xem xét, cân nhắc và đánh giá
cụ thể Trong thực tế, nhất là tại các nước đang phát triển, nhiều hoạt động phát triển
đã được tiến hành hoặc đã được hoàn thành, nhưng có lúc chưa hề có ĐTM Do đó, việc hình thành các tập thể khoa học có đủ kiến thức, kinh nghiệm và phương pháp luận cần thiết, phù hợp với nội dung và yêu cầu của ĐTM trong từng trường hợp cụ thể là hêt sức quan trọng
4 Báo cáo ĐTM phải rõ ràng, dễ hiểu Các thuật ngữ sử dụng cần đơn giản và phổ thông Khoa học môi trường rất phức tạp, nội dung khoa học được xem xét trong
Trang 11ĐTM rất phong phú Tuy nhiên, người sử dụng kết quả cuối cùng của ĐTM không phải là nhà khoa học mà là người quản lý Vì vậy, bố cục ĐTM phải rõ ràng, dễ hiểu, dùng ngôn ngữ, thuật ngữ phổ thông, cách diễn đạt và trình bày phải cụ thể, thiết thực,
có sức thuyết phục, giúp cho người ra quyết định thấy được vấn đề một cách rõ ràng, khách quan, từ đó quyết định đúng đắn, kịp thời
5 Báo cáo ĐTM phải chặt chẽ về tính pháp lý, phải có đầy đủ cơ sở khoa học
và cơ sở pháp lý vì nó liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ cũng như tinh thần của các cộng đồng dân cư ở các khu vực, hoặc các tầng lớp dân cư ở địa phương
6 Để cụ thể hóa việc thực hiện ĐTM ở Việt N am, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định, Quyết định, Thông tư quy định cụ thể và hướng dấn việc thực hiện ĐTM Tại tại thời điểm hiện tại, những người thực hiện ĐTM phải thực hiện theo một
số văn bản pháp luật sau:
- Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 quy định về Quy hoạch Bảo vệ môi trường, Đánh giá môi trường chiến lược, Đánh giá tác động môi trường và
kế hoạch bảo vệ môi trường;
- Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 5 năm 2015 về Đánh giá môi trường chiến lược, Đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
1.7 Lịch sử phát triển
1.7.1 Lịch sử phát triển của ĐTM
Lịch sử phát triển của ĐTM có thể được tóm tắt như sau:
- Năm 1969: Mỹ ban hành Luật và các chính sách môi trường quốc gia, có hiệu lực ngày 1/1/1970 Luật này yêu cầu phải đánh giá các hoạt động phát triển lớn trong Liên bang có gây ra những tác động đáng kể đến môi trường
- Năm 1972: Singapore là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên hình thành Bộ Môi trường nhằm đánh giá tác động môi trường của các dự án phát triển Nhật cũng là quốc gia đầu tiên của Châu Á thực hiện các thủ tục về ĐTM đối với các dự án phát triển lớn
- Năm 1973: Canada ban hành Chỉ thị về ĐTM
- Năm 1974: Anh, Australia, New Zealand và Columbia banh hành luật pháp cụ thể về ĐTM ở các mức độ khác nhau
- Năm 1975: Thái lan cũng giới thiệu bộ luật về ĐTM
- Năm 1976: Pháp và Ireland cũng ban hành Luật cụ thể về ĐTM, nhưng ở Ireland thì ĐTM không phải là điều bắt buộc ở thời điểm đó Tây Đức cũng ban hành
Trang 12Luật về ĐTM
- Năm 1977: Philippines thiết lập hệ thống ĐTM thông qua Nghị định của Tổng thống
- Năm 1979: Lần lượt các quốc gia Hà Lan, Trung Quốc và Đài Loan ban hành
bộ Luật về ĐTM Ở Trung Quốc, quốc hội khoá V thông qua Luật BVMT trong đó có quy định chi tiết về các nguyên tắc ĐTM Đài Loan thì áp dụng các nguyên tắc ĐTM trong các ngành kinh tế khác nhau bắt đầu năm 1979
- Ở Việt Nam: Năm 1984 đã có Báo cáo thông tin ban đầu về ĐTM ở Hồ Trị
An Năm 1985 bắt đầu triển khai công tác điều tra về việc sử dụng TNTN Đến 30/12/1993, quốc hội thông qua Luật BVMT và đến 4/1994 bắt đầu có hiệu lực
1.7.1 Trình tự thực hiện ĐTM trên thế giới
Đánh giá tác động môi trường phải tiến hành trong tất cả các giai đoạn thực hiện
của chu trình dự án với yêu cầu, mức độ và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào mỗi giai đoạn thực hiện Trình tự thực hiện đánh giá tác động môi trường của dự án trong chu trình dự án phổ biến hiện nay ở nhiều nước trên thế giới
a) Giai đoạn quy hoạch: sàng lọc (hay lược duyệt) môi trường
Trong giai đoạn quy hoạch, tùy thuộc vào quy mô của quy hoạch mà có thể phải thực hiện đánh giá về mặt môi trường cho các phương án quy hoạch để lựa chọn phương án tối ưu N ếu quy hoạch có quy mô lớn cấp quốc gia hoặc liên vùng, liên tỉnh hoặc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội mang ý nghĩa chiến lược (Mục 1 Luật BVMT 2005) thì giai đoạn này phải thực hiện đánh giá môi trường chiến lược (ĐGMTCL) N ếu quy mô quy hoạch không thuộc đối tượng phải thực hiện ĐGMTCL thì phải tiến hành sàng lọc môi trường (sàng lọc MT) hay còn gọi là lược duyệt môi trường để xem xét một cách sơ lược xem khả năng gây tác động đến môi trường của các hoạt động (hoặc dự án cụ thể) được đề xuất trong các phương án quy hoạch, đặc biệt là đối với phương án quy hoạch được chọn
Thí dụ như trong quy hoạch thuỷ lợi của một lưu vực sông có thể đề xuất sự cần thiết xây dựng một công trình cung cấp nước tưới cho một khu vực nông nghiệp quan trọng còn đang rất thiếu nước, nhưng chưa xác định rõ nên dùng hồ chứa hay đập dâng hoặc quy mô công trình tưới cho bao nhiêu ha là hợp lý nhất
Trang 13Qua xem xét các phương án khác nhau của quy hoạch, kết hợp với kết quả của sàng lọc môi trường cho các phương án về công trình, có thể đánh giá được phương án nào gây ít tác động tiêu cực đến môi trường để đưa ra ý kiến lựa chọn N hư vậy, sàng lọc môi trường có thể giúp cho hình thành rõ hơn về dự án đề xuất trong quá trình quy hoạch
Trong Sàng lọc môi trường, cần phải phân tích để nhận biết các tác động môi trường của dự án đề xuất và sau đó tiến hành sàng lọc để thấy được các vấn đề môi trường chủ yếu có liên quan đến dự án, đặc biệt là quy mô dự án, vị trí xây dựng công trình
Qua sàng lọc môi trường, người làm quy hoạch có thể loại ra các vấn đề môi trường không quan trọng và chỉ ra các hoạt động nào của dự án có khả năng gây ra những tác động đáng kể và những vấn đề môi trường tiềm tàng nào chứa ẩn trong vùng dự án cần phải quan tâm khi tiến hành dự án Từ đó, phán đoán những tác động đến môi trường của dự án đang nghiên cứu nhằm đề xuất ý kiến để điều chỉnh dự án theo hướng tốt hơn
b) Giai đoạn lập báo cáo đầu tư
Ở nước ta giai đoạn lập báo cáo đầu tư trước đây còn gọi là giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi (N CTKT) Trong giai đoạn này nhiều nước trên thế giới quy định phải đánh giá tác động môi trường sơ bộ
ĐTM sơ bộ có yêu cầu cao hơn sàng lọc môi trường, trong đó yêu cầu là đánh giá
một cách khái quát các tác động môi trường của dự án và chỉ ra được trong các tác động môi trường thì tác động tiêu cực nào là đáng kể nhất Cũng như sàng lọc môi trường, ĐTM sơ bộ cũng cần trợ giúp cho việc hình thành rõ hơn khái niệm về dự án nếu trong quy hoạch dự án trước đây vẫn còn những vấn đề chưa kết luận rõ ràng Thí
dụ như vấn đề chọn vị trí tuyến công trình nào trong một số vị trí tuyến có thể được trong dự án xây dựng hồ chứa nước Phương án chọn phải là phương án vừa đảm bảo các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật, lại phải đảm bảo sao cho các tổn hại đối với môi trường là ít nhất Kết quả của đánh giá tác động môi trường sơ bộ cũng cần chỉ ra có tiếp tục tiến hành đánh giá tác động môi trường chi tiết ở giai đoạn tiếp sau hay không
c) Giai đoạn lập dự án đầu tư
Trang 14Giai đoan lập dự án đầu tư trước đây còn gọi là giai đoạn nghiên cứu khả thi (N CKT) của dự án Lập dự án đầu tư là giai đoạn quan trọng có ý nghĩa quyết định dự
án có được thực hiện hay không Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định đối với các dự án lớn, phức tạp hoặc dự án có liên quan tới các vùng nhạy cảm về môi trường đều phải thực hiện lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chi tiết và trình cho cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có thNm quyền thNm định và phê duyệt
ĐTM chi tiết có yêu cầu đánh giá cao hơn so với ĐTM sơ bộ, thể hiện ở:
- Phải đánh giá một cách chi tiết các tác động môi trường, tập trung vào các tác động tiêu cực được coi là đáng kể đã xác định được trong ĐTM sơ bộ
- Ngoài đánh giá định tính còn phải định lượng và dự báo các tác động môi trường chủ yếu của dự án
- Phải đề xuất và thiết kế biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực chủ yếu của
dự án
- Phải đề xuất chương trình giám sát môi trường dự án trong giai đoạn vận hành
dự án
d) Giai đoạn thiết kế
Trong thiết kế kỹ thuật cần xem xét và giải quyết các vấn đề môi trường liên quan đến thiết kế, như là:
- Chọn các thông số thiết kế các công trình chủ yếu của dự án sao cho thật hợp
lý
và hạn chế tới mức thấp nhất ảnh hưởng xấu tới môi trường khi dự án bước vào vận hành;
- Tính toán thiết kế các công trình giảm thiểu các tác động tiêu cực của dự án
mà trong giai đoạn đánh giá tác động môi trường chi tiết đã đề xuất;
- Xem xét chọn phương án thi công và lập kế hoạch thi công sao cho việc thi công thực hiện dự án được thuận lợi và ít ảnh hưởng xấu tới môi trường khu vực thi công xây dựng công trình (đường thi công, bãi khai thác vật liệu, lán trại công nhân )
e) Giai đoạn thi công xây dựng
Trong giai đoạn này cần xem xét và giải quyết các vấn đề môi trường trong thi công xây dựng các công trình, bao gồm một số vấn đề sau:
Trang 15- Tổ chức thi công hợp lý để hạn chế thấp nhất ảnh hưởng xấu của thi công tới môi trường khu vực (xói lở đất xuống sông, bụi, khói, tiếng ồn ) và giám sát chặt chẽ
ô nhiễm môi trường trong thi công;
- Tổ chức khu lán trại công nhân hợp lý và giải quyết tốt các vấn đề ăn ở, nước sinh hoạt, nước thải, rác thải, chăm sóc y tế, sức khoẻ, giữ gìn vệ sinh môi trường không để dịch bệnh phát sinh và lây lan;
- Thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của dự án trong thi công
và các biện pháp giảm thiểu cần thiết khác Thí dụ quản lý kiểm soát ô nhiễm MT trong thi công, thực hiện thu dọn lòng hồ, di dân tái định cư, xây dựng các công trình
- Thực hiện chương trình giám sát môi trường khu vực dự án trong suốt cả giai đoạn vận hành công trình đã đề xuất trong đánh giá môi trường chi tiết;
Nói chung, với các dự án lớn có ảnh hưởng nhiều đến môi trường thì đều phải thực hiện lần lượt các bước như sàng lọc môi trường, ĐTM sơ bộ và ĐTM chi tiết Còn đối với một số dự án nhỏ, không quan trọng thì các nước đều quy định có thể hoặc không phải đánh giá, hoặc chỉ tiến hành sàng lọc hoặc đánh giá tác động môi trường sơ bộ là đủ Muốn xác định một dự án cần thực hiện đến bước nào là đủ cần dựa vào quy định cụ thể trong các văn bản hướng dẫn về phân cấp thực hiện ĐTM của mỗi nước
1.7.1 Trình tự thực hiện ĐTM ở Việt Nam
Quy trình thực hiện ĐTM như trên là quy trình chung của các nước trên thế giới đang thực hiện, trong đó việc thực hiện ĐTM phù hợp với từng giai đoạn thực hiện của dự án
Tại Việt N am trình tự thực hiện ĐTM được quy định trong luật Bảo vệ MT năm 2005 và các nghị định của Chính phủ N hìn chung, quy trình thực hiện trước đây
ở Việt N am có một số sai khác so với quy trình chung của thế giới, nhưng cho đến nay
Trang 16đã được điều chỉnh cho hợp lý Sau đây là tóm lược quy trình thực hiện ĐTM ở Việt N
am quá các thời kỳ để tham khảo
a) Giai đoạn 1993 đến 2005
Trong thời gian từ sau khi có luật Bảo vệ môi trường (năm 1993) cho đến trước khi có lưật Bảo vệ môi trường mới có sửa đổi (năm 2005), thì việc thực hiện ĐTM ở Việt N am được quy định chậm hơn một bước so với thế giới, cụ thể là:
- Giai đoạn lập báo cáo đầu tư (NCTKT): chỉ sàng lọc dự án để xem dự án loại nào phải thực hiện ĐTM Sàng lọc dự án dựa theo quy định của N hà nước trong thông tư 490/1998/TT-BKHCN MT;
- Giai đoạn lập dự án đầu tư (NCKT): quy định thực hiện ĐTM sơ bộ;
- Giai đoạn Thiết kế kỹ thuật: quy đinh lập báo cáo ĐTM chi tiết và trình thẩm định, phê duyệt;
Nhận xét: Việc thực hiện lập báo cáo ĐTM ở nước ta trong giai đoạn này đã chậm hơn các nước trên thế giới một bước Điều đó đã gây nên một số khó khăn và bất cập, ảnh hưởng đến kết quả của việc thực hiện ĐTM, như là:
- Phần lớn các dự án đã thiết kế xong thì mới xong báo cáo ĐTM để trình thẩm định Không ít dự án đã thi công một số năm mới lập xong báo cáo ĐTM và trình thẩm định Vì thế, nếu trong thẩm định có yêu cầu dự án phải có một số thay đổi hoặc
bổ sung biện pháp giảm thiểu, bổ sung thiết kế cho phù hợp với môi trường thì một só phần trong thiết kế phải làm lại gây chậm trễ thời gian và tốn kém kinh phí Điều này khiến cho việc lập báo cáo ĐTM chi tiết và thNm định báo cáo nhiều khi trở thành hình thức vì công trình đã thiết kế xong rồi rất khó thay đổi;
- Do không có Báo cáo ĐTM tại thời điểm Nhà nước phê duyệt báo cáo NCKT
và chuẩn bị nguồn vốn cho dự án thì phần lớn các dự án đều không dự trù được kinh phí cho thực hiện báo cáo ĐTM chi tiết cũng như kinh phí cho các biện pháp giảm thiểu Vì thế, các kinh phí này phải xin bổ sung sau này rất khó khăn và chậm chễ, thường phải mượn trong kinh phí của thiết kế kỹ thuật Khó khăn nhiều cho thực hiện ĐTM
b) Giai đoạn từ 2006 đến nay
Để khắc phục sự bất cập trên, Luật Bảo vệ Môi trường 2005 đã có sự điều chỉnh
để việc thực hiện ĐTM trong chu trình dự án ở nước ta cũng gần phù hợp với trình tự thực hiện của thế giới cụ thể như sau:
Trang 17- Giai đoạn quy hoạch và lập báo cáo đầu tư (NCTKT): trong hai giai đoạn này
hiện nay Nhà nước không quy định bắt buộc có phải sàng lọc môi trường hay đánh giá tác động môi trương sơ bộ hay không Tuy nhiên, chủ dự án phải dựa vào phân cấp của
N hà nước (thông tư 05/2008) để “ sàng lọc dự án ” xem dự án của mình có phải lập báo cáo ĐTM và trình thẩm định hay không Nếu dự án thuộc diện phải lập báo cáo ĐTM thì phải làm công việc chuNn bị như lập đề cương ĐTM, chuẩn bị đội ngũ cho việc lập báo cáo ĐTM ở giai đoạn tiếp sau
Riêng đối với các dự án lập quy hoạch (như dự án quy hoạch phát triển KTXH vùng, dự án quy hoạch lưu vực sông,…) thì N hà nước đã quy định các dự án này phải lập báo cáo “ đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) ” và trình thẩm định phê quyệt
- Giai đoạn lập dự án đầu tư (NCKT): nếu các dự án qua sàng lọc ở trên thuộc diện phải lập báo cáo ĐTM, thì giai đoạn này phải tiến hành đánh giá tác động môi trường chi tiết cho dự án và trình thNm định, phê duyệt
- Sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt thì chủ dự án phải thực hiện đúng các cam kết như trong báo cáo ĐTM, đặc biệt là thực hiện các biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực trong các giai đoạn thi công, quản lý vận hành cũng như và thực hiện chương trình giám sát môi trường dự án
Trang 18CHƯƠNG II QUY TRÌNH THỰC HIỆN VÀ NỘI DUNG CHI TIẾT CỦA
ĐTM
Đánh giá tác động môi trường là một việc làm rất quan trọng và hữu ích, có ý nghĩa thiết thực đối với các hoạt động phát triển của một khu vực, một quốc gia Tuy nhiên, do ĐTM là một quá trình nghiên cứu, phân tích tổng hợp phức tạp, đòi hỏi chuyên gia cókinh nghiệm, tốn kém về thời gian, kinh phí Vì vậy, chỉ cần thực hiện ĐTM cho một số các dự án phát triển quan trọng Đối với mốt số dự án phát triển hoặc các hoạt động kinh tế xã hội khác sau khi xem xét thấy các hành động của nó tác động không nhiều đến môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên thì có thể bỏ qua ĐTM, hoặc thực hiện ĐTM ở mức độ sơ bộ Việc xem xét vấn đề này đã được các tổ chức, các quốc gia có các quy định cụ thể đối với việc thực hiện ĐTM cho từng dự án Theo chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP - United Nations Environment Programme) thì quy trình đánh giá tác động môi trường được thực hiện theo 3 bước lớn:
Bước 1: Lượt duyệt các tác động môi trường (Screening)
Bước 2: Đánh giá sơ bộ các tác động môi trường (Preliminary Assessment) Bước 3: Đánh giá đầy đủ các tác động môi trường (Full Assessment)
Trong chương này chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết các nội dung đó để sinh viên nắm bắt rõ hơn về công tác ĐTM
2.1 Lược duyệt (Screening)
Lược duyệt là yêu cầu tối thiểu phải thực hiện đối với các dự án thuộc diện bắt buộc phải xét đến các tác động môi trường của chúng Về nguyên tắc, quá trình lược duyệt phải được thực hiện từ khi dự án bắt đầu hình thành, bắt đầu về quy mô, khu vực thực hiện dự án, trình độ công nghệ, trình độ quản lý và đặc điểm riêng về phong tục tập quán, văn hoá xã hội của khu vực lân cận
Mục tiêu của lược duyệt là giúp cho việc hình thành, xây dựng dự án được tốt hơn, đầy đủ hơn Vì vậy, công tác lược duyệt phải do chủ dự án thực hiện
Nội dung chính của lượt duyệt bao gồm:
- Rà soát, điểm lại các dự án tương tự trước đây được thực hiện tại địa phương hoặc ở các địa phương khác trong và ngoài nước đã gây ra tác động gì?
Trang 19- Dự đoán theo định tính xem các hoạt động của dự án có tác động như thế nào đến môi trường sinh thái, nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như kinh tế xã hội tại địa phương
- Việc dự đoán đúng và đầy đủ sẽ giúp cho chúng ta kịp thời điều chỉnh, bổ sung hoặc thay đổi một phần dự án một cách nhanh chóng, tránh lãng phí về tài chính
và thời gian
Phương pháp đánh giá:
- So sánh chi tiết quan trọng của dự án đang xem xét với các dự án tương đương
đã thực hiện thông qua một số chỉ tiêu sơ bộ như quy mô, địa điểm thực hiện, công nghệ
- So sánh dự án đang xem xét với 2 loại dự án khác: dự án không cần làm ĐTM (trường học, trạm xá) và dự án nhất thiết phải làm ĐTM (nhà máy, khu công nghiệp, bến cảng,…) từ đó chúng ta có thể xác định được nhu cầu cần hay không cần làm ĐTM
- Dự đoán bằng suy luận dựa trên cơ sở khoa học công nghệ, kinh nghiệm thực tiễn về các tác động mà dự án sẽ gây ra cho môi trường và đánh giá khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên đối với các tác động đó (phương pháp nội suy)
- Phân tích toàn diện và chi tiết về các chỉ tiêu kinh tế, chi phí và lợi nhuận trên
cơ sở các chỉ tiêu kinh tế - xã hội (chỉ lấy các dữ liệu sẵn có)
Như trên đã đề cập, lược duyệt phải do chủ dự án thực hiện với sự tư vấn của chuyên gia (nếu cần thiết), và cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường thẩm định
Ở khu vực Đông Nam Á, Singapore được xem là quốc gia có cấu trúc tổ chức
và kinh nghiệm hàng đầu trong công tác BVMT Do tiếp cận với ĐTM sớm nhất Đông Nam Á (1972) nên Singapore sớm có cơ quan quản lý môi trường, cơ quan kiểm soát ô nhiễm môi trường Các cơ quan này có nhiệm vụ và quyền hạn rất lớn, thậm chí họ được phép ra quyết định thay đổi phương án, thay đổi công nghệ và ngay cả đình chỉ hoạt động của dự án hoặc đình chỉ hoạt động của một cơ sở gây ô nhiễm môi trường vượt quá mức cho phép
Ở Việt Nam, mặc dù công tác BVMT mới phát triển nhưng ở cấp Trung ương chúng ta đã có Cục Bảo vệ Môi trường, Vụ thẩm định và đánh giá tác động môi trường Ở cấp địa phương, chúng ta có các Sở TN&MT Các cơ quan này tham mưu cho Chính phủ cũng như UBND các thành phố/tỉnh hoàn chỉnh các quy định, chính
Trang 20sách quản lý môi trường để chúng ta có thể thực hiện tốt công tác ĐTM nói riêng và BVMT nói chung
Kết quả của quá trình lược duyệt là một văn bản quyết định cuối cùng của cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường (có thẩm quyền quyết định) Văn bản này đưa ra kết luận:
Dự án này không có các tác động đáng kể đến môi trường nên không cần thực hiện ĐTM, và Dự án cần tiếp tục thực hiện ĐTM
2.2 Đánh giá tác động môi trường sơ bộ (Preliminary Environmental Impact Assessment)
Đánh giá tác động môi trường sơ bộ (PEIA) còn được gọi là đánh giá tác động môi trường ban đầu (Initial Environmental Examination - IEE) hay đánh giá nhanh các tác động môi trường (Rapid Environmental Impacts Assessment - REIA) ĐTM này đòi hỏi sự phân tích, xem xét và đánh giá với trình độ chuyên môn cao hơn
Nội dung chính của ĐTM sơ bộ:
- Xác định các tác động chính của dự án đối với môi trường tại địa điểm dự kiến thực hiện dự án
- Mô tả chung các tác động môi trường, dự báo phạm vi và mức độ của các tác động đó
- Trình bày rõ tính chất và tầm quan trọng của các tác động đó đến môi trường trước người ra quyết định (cơ quan ra quyết định) để họ có thể ra quyết định phù hợp
ĐTM sơ bộ được thực hiện ngay trong giai đoạn đầu lập luận chứng kinh tế kỹ thuật sơ bộ (nghiên cứu tiền khả thi) Đánh giá này giúp chúng ta thu hẹp những tranh cãi về một số vấn đề quan trọng như vị trí, quy mô của dự án Nếu làm tốt đánh giá sơ
bộ, kịp thời điều chỉnh về khái niệm dự án thì có thể không cần thực hiện ĐTM đầy đủ nữa
ĐTM sơ bộ do cơ quan chủ trì dự án thực hiện theo các hướng dẫn trong các quy định ĐTM của các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế
Trang 21đến 2 kết luận: cần thiết làm ĐTM chi tiết và không cần thiết làm ĐTM chi tiết
So với quá trình lượt duyệt thì quá trình ĐTM sơ bộ tương đối khó hơn và phức tạp hơn Vì vậy, khi thực hiện ĐTM sơ bộ (hay ĐTM nhanh) thì chúng ta nên lựa chọn một nhóm chuyên gia có trình độ cao hơn, nhiều kinh nghiệm hơn và đúng phạm vi chuyên môn mà dự án đang xem xét có liên quan đến
2.3 Đánh giá tác động môi trường đầy đủ (Full Environmental Impacts Assessment)
Đánh giá tác động môi trường đầy đủ là khung cơ bản của ĐTM Đây là bước thực hiện sau khi lượt duyệt và ĐTM sơ bộ có kết luận là phải làm ĐTM chi tiết
2.3.1 Các điều kiện để thực hiện ĐTM
2.3.2.1 Cơ sở pháp lý
Luật BVMT, các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư, Quy định, Chỉ thị, Công ước quốc tế, thoả thuận,…
2.3.2.2 Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
Các bộ Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường không khí, nước (mặt, ngầm, biển ven bờ…), đất, vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn của Bộ Y tế,…
2.3.2 Phân biệt giữa ĐTM và ĐMC (Đánh giá môi trường chiến lược)
Phần trên chúng ta đã nắm rõ về khái niệm, định nghĩa và các quy trình thực hiện ĐTM Tuy nhiên, cần phân biệt giữa ĐTM và ĐMC đối với các dự án phát triển trong tiến trình phát triển của Việt Nam
2.3.2.1 Định nghĩa ĐMC
Trang 22Theo Therivel và cộng sự, 1992 thì ĐMC là quá trình đánh giá các tác động môi trường của một chính sách, một kế hoạch, quy hoạch hoặc một chương trình phát triển
và các phương án thay thế một cách có hệ thống và toàn diện, là việc chuẩn bị một báo cáo về kết quả đã đánh giá và sử dụng chúng cho việc ra quyết định một cách có trách nhiệm
Luật BVMT Việt Nam 2005 (điều 3, mục 19) định nghĩa ĐMC như sau: ĐMC
là quá trình phân tích, dự báo các tác động đến MT của các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm PTBV
2.3.2.2 Mục tiêu và ý nghĩa của ĐMC
ĐMC có các mục tiêu và ý nghĩa sau đây:
- ĐMC tạo nên cơ sở để chọn lọc các phương án thay thế của dự án
- ĐMC ở mức kế hoạch cung cấp các chiến lược chắc chắn để lựa chọn các phương án thay thế thích hợp, xác định những dữ liệu thiếu và tiến hành xem xét đánh giá tác động môi trường ở mức dự án một cách tiết kiệm hơn, nhanh hơn và thiết thực hơn Đó là quá trình tiếp cận thứ bậc trong đánh giá tác động môi trường
- ĐMC theo vùng cung cấp tóm tắt các tác động của toàn thể các hoạt động của mỗi dự án được thực hiện trong vùng, điều đó giúp cho thắng lợi hơn trong
a Thành lập nhóm chuyên gia ĐTM
Nhóm chuyên gia này phải:
Trang 23- Đảm bảo số chuyên gia có đủ chuyên môn về ĐTM và các lĩnh vực hoạt động của dự án
- Có tư cách độc lập (Independent Assessment Team) và có đủ quyền lực độc lập với nhóm xây dựng dự án
- Có nhóm trưởng chịu trách nhiệm chỉ đạo và điều phối các hoạt động ĐTM cho dự án
- Có cán bộ liên lạc (điều phối viên) chịu trách nhiệm là cầu nốithông tin giữa nhóm chuyên gia và các cơ quan có liên quan đến dự án
b Xác định phạm vi cần thực hiện ĐTM (cả về không gian, thời gian và mức độ sâu cạn của việc đánh giá)
- Nhóm đánh giá cần đi vào những vấn đề trọng điểm, làm rõ các vấn đề gay cấn nhất dựa trên cơ sở khoa học và đáp ứng được yêu cầu của cơ quan quản lý
- Khi xác định vấn đề, nhóm chuyên gia cần dựa trên yêu cầu đã đặt ra về thời gian thực hiện ĐTM, về điều kiện tài chính cho phép
c Xác định các cơ quan có thẩm quyền quyết định về tài chính, kế hoạch, cấp giấy phép và kiểm tra việc thực hiện dự án (ĐTM) Thiết lập các mối quan hệ cần thiết giữa nhóm đánh giá với cơ quan quản lý
d Thu thập các luật, quy định có liên quan đến ĐTM và lĩnh vực hoạt động của
dự án
e Xây dựng đề cương cho ĐTM, trong đề cương phải làm rõ các nội dung sau:
- Giới thiệu về dự án cần ĐTM (tên dự án), mục đích cụ thể của việc đánh giá (nhằm giải quyết vấn đề gì?)
- Các phương pháp, văn bản hướng dẫn được sử dụng trong quá trình đánh giá
- Các tài liệu, tư liệu tham khảo (số liệu, báo cáo,…) dùng trong quá trình đánh giá
- Dự kiến về chương trình quan trắc môi trường (monitoring)
- Dự kiến chương trình làm việc của nhóm đánh giá (các việc cần phải làm, kế hoạch và chương trình làm việc, kế hoạch hội thảo, trao đổi ý kiến chuyên gia, in ấn, thời gian nộp hồ sơ và bảo vệ báo cáo, thời gian biểu,…)
- Kinh phí thực hiện báo cáo, viện trợ cần xin
- Và các công việc khác
Trang 24Cần lưu ý rằng, đề cương ĐTM của các dự án quan trọng phải được cơ quan quản lý môi trường cấp Trung ương, cấp địa phương tương ứng với mức độ, phạm vi của dự án, xét duyệt và nhất trí trước khi chính thức tiến hành Nên hạn chế, tránh các bất đồng về nội dung, mức độ, phạm vi và phương pháp đánh giá
2.3.3.2 Đánh giá tác động môi trường
1 Xác định khả năng tác động đến môi trường của dự án
Bước 1: Xác định các hoạt động quan trọng (key actions) của dự án
Một dự án thường có các hoạt động quan trọng cần được làm rõ từ giai đoạn xây dựng dự án và khi dự án đi vào hoạt động Các hoạt động này là nguồn gây tác động chính đến môi trường sinh thái và nguồn tài nguyên thiên nhiên
Ví dụ 1: ĐTM của một Dự án xây dựng Nhà máy chế biến thuỷ sản 1000 tấn sản phẩm/năm Các hoạt động bao gồm:
1 Giai đoạn trước khi Dự án đi vào hoạt động
- Công tác giải toả mặt bằng: đập phá, phát quang khu vực gây nên bụi, tiếng
ồn
- San lấp mặt bằng: gây bụi, tác động đến nước ngầm, nước cấp, nước mặt
- Thi công xây dựng:
+ Tập trung nguyên vật liệu, thiết bị thi công, công nhân,…
+ Thi công xây dựng: bụi, ồn, nước thải, khí thải giao thông, CTR,… + Lắp đặt thiết bị: bụi, ồn, CTR,…
2 Giai đoạn dự án đi vào hoạt động
Trang 25giấy, lignin, NaOH sẽ gây biến đổi chất lượng nước mặt, nước ngầm…, hoạt động khai thác cây làm nguồn nguyên liệu cho sản xuất giấy gây nên mất cân bằng sinh thái,…
Bước 3: Xác định mức độ tác động của dự án đến TNTN và chất lượng môi trường sống của con người
Các biến đổi môi trường nói trên (biến đổi bậc 1) sẽ có tác động đến tài nguyên thiên nhiên, các HST, sức khoẻ và các điều kiện sống của con người ở các mức độ khác nhau tuỳ theo tính chất và quy môi dự án (biến đổi bậc 2) Ví dụ: từ các biến đổi bậc 1 nêu trên thì các biến đổi bậc 2 sẽ là sức khoẻ cộng đồng bị ảnh hưởng do ô nhiễm không khí, đất bị thoái hoá do lignin, xút, gia súc bị bệnh dịch, cá chết hoặc nhiễm độc… Vì vậy, mục tiêu của ĐTM là phải xác định đúng và đủ các hoạt động của dự án, xem xét đánh giá toàn diện cả biến đổi môi trường tự nhiên đồng thời biến đổi về kinh tế - văn hoá- xã hội Cần phải luôn luôn so sánh, đối chiếu để có được sự hoà hợp giữa hoạt động phát triển (dự án) với khả năng chịu đựng của môi trường
Bước 4: Dự báo diễn biến của các tác động môi trường
Dự án phát triển thường xuyên hoạt động trong một thời gian, trong quá trình
đó sẽ có các diễn biến của các tác động môi trường Dự báo diễn biến môi trường là một quá trình dự đoán theo thời gian (5 năm, 10 năm hoặc 20 năm), theo không gian (tác động các mở rộng phạm vi địa giới không), và theo cường độ tác động (tăng hay giảm) Dữ liệu dự báo là các dữ liệu đã dùng trong việc xác định các tác động hoặc từ kinh nghiệm hoặc từ các dự án tương tự Các phương pháp sử dụng trong dự báo gồm:
- Phương pháp chuyên gia dựa trên các kết quả quan trắc môi trường để đánh giá
- Phương pháp mô hình hoá, ma trận hoặc GIS
- Cần phải đánh giá độ tin cậy của kết quả dự báo
Bước 5: Đánh giá tầm quan trọng của các tác động
Trong quá trình đánh giá tác động môi trường, dự báo diễn biến của các tác động đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, chúng ta cần xác định rõ các tác động, mức độ tác động và mức độ quan trọng của các tác động đến môi trường tự nhiên và chất lượng môi trường sống Trên cơ sở đó chúng ta có thể lập danh mục theo thứ tự
ưu tiên các loại tác động nào cần được kiểm soát, hành động nào theo thời gian triển khai của dự án trong không gian xem xét Sau đó, trên cơ sở tham khảo ý kiến của các
Trang 26nhà quản lý, cộng đồng dân cư nơi dự án được thực hiện tiến hành so sánh, đối chiếu với các yêu cầu, quy định của luật pháp, nghị định, quy chuẩn và các tiêu chuẩn
Như vậy, qua trình tự các bước như trên, việc ĐTM đã làm rõ được các nội dung sau:
- Dự án sẽ gây nên những tác động gì đến môi trường tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống?
- Những tác động nào có ảnh hưởng tích cực nhất, tiêu cực nhất đến chất lượng môi trường, và tác động nào ưu tiên cần phải có biện pháp kiểm soát thích hợp?
2 Đề xuất các phương án giảm thiểu các tác động đến môi trường
Mục tiêu của các biện pháp giảm thiểu tác động là:
- Tránh cho môi trường chịu nhiều tác động nhưng dự án vẫn phải hoạt động có hiệu quả
- Xác lập sự phù hợp giữa các tác động và mức độ chịu đựng của môi trường
- Đảm bảo chi phí khắc phục ở mức độ đủ mà cộng đồng và chủ dự án có thể chấp nhận được so với lợi nhuận
3 Đề xuất các nội dung và yêu cầu quan trắc môi trường
Mặc dù dự án ĐTM đã thực hiện xong trong thực tế, nhưng các dự báo, các phép đo đạc, các phương pháp so sánh và đánh giá không bao giờ không có sai số Mặc khác, môi trường tự nhiên, kinh tế-xã hội luôn có biến động do chịu ảnh hưởng của nhiều tác nhân bên trong cũng như bên ngoài Vì vậy, công tác quan trắc môi trường là rất cần thiết nhằm kiểm soát môi trường ngày càng tốt hơn Đồng thời, nó cũng là công cụ nhằm hiệu chỉnh các vướng mắc trên và đề xuất các biện pháp khắc phục kịp thời, giúp ích cho cơ quan quản lý theo dõi được các xu thế biến đổi của môi trường
4 Trình bày và thông báo kết quả ĐTM
Một ĐTM chỉ có giá trị và phát huy được tác dụng nếu thông báo đến cơ quan
có thẩm quyền kịp thời và đầy đủ Những thông tin này được gửi đi trong một khung quy định của báo cáo ĐTM Tuy theo quy định, báo cáo ĐTM được gửi về Sở TNMT, cục BVMT, Vụ thẩm định và đánh giá tác động môi trường để thẩm định
Các nội dung chính của ĐTM cần thông báo đến các cơ quan thẩm định bao gồm:
- Tóm tắt kết quả đánh giá
Trang 27- Mô tả khái quát dự án
- Các tác động chính của dự án phát triển
- Các biến đổi tài nguyên, môi trường do hoạt động của dự án gây nên
- Các phương án, các biện pháp kỹ thuật kiểm soát, giảm thiểu tác động
- Nhận xét về độ tin cậy của kết quả đánh giá
- Các yêu cầu về nội dung quan trắc
- Ý kiến của cộng đồng dân cư trên địa bàn dự án
- Kết luận và kiến nghị
5 Sử dụng kết quả ĐTM
Báo cáo ĐTM được sử dụng như sau:
- Gửi đến cơ quan có thẩm quyền để xét duyệt, qua chuyên viên hoặc hội đồng thầm định tuỳ theo quy mô, phạm vi ảnh hưởng của dự án
- Sau khi phê duyệt sẽ là tư liệu chính thức của hồ sơ dự án
- Gửi đến các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân khi có các yêu cầu chính thức
Trang 28CHƯƠNG III CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG ĐÁNH GIÁ
TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
Mục tiêu của chương III là cung cấp các phương pháp (công cụ) để tiến hành thực hiện ĐTM Các phương pháp này đã được thử nghiệm và tổng kết qua rất nhiều công trình ĐTM cho các loại dự án phát triển khác nhau Tuy nhiên, việc sử dụng các phương pháp này cũng phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của đội ngũ chuyên gia Do
đó, các bước thực hiện là rất quan trọng, nó có nhiệm vụ đảm bảo chất lượng và kiểm tra chất lượng (QA/QC) cho ĐTM Để tiến hành một ĐTM, người ta thường sử dụng 7 phương pháp, bao gồm:
Phương pháp liệt kế số liệu về thông số môi trường (index methods)
Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường (checklists) Phương pháp ma trận môi trường (matrices)
Phương pháp chồng ghép bản đồ môi trường (overlay maps)
Phương pháp sơ đồ mạng lưới (networks)
Phương pháp mô hình (simulation modelling)
Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích mở rộng (sound ecological principles)
3.1 Khái quát về các phương pháp ĐTM (EIA Methodologies)
Phân loại: Các phương pháp ĐTM được hình thành và sử dụng theo thời gian
và được chia thành các giai đoạn như sau:
Giai đoạn đầu những năm 1970 và thập kỷ 70: Ở giai đoạn này chỉ sử dụng các
kỹ thuật đơn giản Các phương pháp sử dụng phổ biến bao gồm phương pháp liệt kê các số liệu môi trường (index), phương pháp danh mục các điều kiện môi trường (checklists), ma trận môi trường (matrices) và mạng lưới (networks)
Giai đoạn thập kỷ 80 đến nay: Sử dụng các kỹ thuật phức tạp hơn với sự hỗ trợ của các lợi công cụ máy tính điện tử và các loại mô hình toán học như phương pháp
mô hình (modellings), phương pháp chập bản đồ môi trường (overlay maps) Sau này, khi xét đến các khía cạnh kinh tế thì phương pháp phân tích chi phí lợi ích mở rộng (sound ecological principles) được sử dụng nhiều hơn nhằm gắn kết ĐTM với các dự
án phát triển
Trang 29Theo mức độ phức tạp của kỹ thuật đánh giá: chia làm hai loại đơn giản và phức tạp Theo đối tượng đánh giá: phân loại nhóm dự án phát triển: xây dựng cơ sở hạ tầng, nông lâm ngư nghiệp và giao thông thuỷ lợi
Theo quan điểm và mối quan hệ qua lại giữa con người và môi trường: xem xét đến mối quan hệ ngược trở lại của các vấn đề môi trường đến con người
3.2 Phương pháp liệt kê các thông số môi trường (Index methods)
Theo phương pháp này, khi phân tích đánh giá ĐTM của một hoạt động phát triển, người đánh giá chỉ chọn ra một số các thông số có liên quan đến môi trường, liệt
kê ra và cho các số liệu có liên quan đến các thông số đó, chuyển đến người ra quyết định xem xét
Bản thân người đánh giá không có các ý kiến, nhận xét và đánh giá gì cả Người
ra quyết định sẽ lựa chọn phương án mà theo cảm tính sau khi đọc bản liệt kê các số liệu này Ví dụ:
Hệ thống công trình khai thác tài nguyên nước trên lưu vực sông có thể được thực hiện theo các phương án khác nhau Các phương án bao gồm A, B và C Phương
án C là phương án không thực hiện dự án
Theo kinh nghiệm và cảm tính, người thực hiện ĐTM đưa ra 11 thông số mà theo họ đó là các thông số thực sự có liên quan đến tài nguyên môi trường trên lưu vực
Ưu điểm:
- Đơn giản, sơ lược và rất có ích trong các đánh giá mang tính chất sơ bộ ban đầu hoặc không có đủ các điều kiện về chuyên gia, số liệu hoặc kinh phí để thực hiện việc ĐTM một cách đầy đủ
Nhược điểm:
- Các số liệu vẫn còn mang tính chất rất sơ sài, cảm tính, chung chung, chưa phản ánh được bản chất của sự tác động đến môi trường của các hoạt động phát triển
dự án
3.3 Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường (Checklists)
Đây là phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong ĐTM vì nó có vai trò rất lớn trong việc làm rõ các tác động xảy ra Phương pháp danh mục thường dựa trên cơ
sở các danh mục đặc trưng và các danh mục được phân chia theo mức độ phức tạp
Trang 30Nguyên tắc chung là liệt kê thành một danh mục tất cả các nhân tố môi trường
có liên quan đến hoạt động phát triển của dự án mà cần đánh giá Danh mục này sẽ được gửi đến tất cả các chuyên gia đánh giá để từng người cho ý kiến riêng của mình
Ý kiến có thể là của một nhóm chuyên gia, tập thể liên ngành thảo luận để đi đến đánh giá chung
Có nhiều loại danh mục gồm: danh mục đơn giản, danh mục mô tả, danh mục dạng câu hỏi, danh mục có ghi mức độ tác động, danh mục có ghi trọng số mức độ tác động
3.3.1 Danh mục đơn giản (Simple checklists)
Là loại danh mục chỉ cần liệt kê các nhân tố môi trường cần được xem xét tương ứng với từng giai đoạn hoạt động phát triển chứ không phải từng hoạt động cụ thể của dự án phát triển
3.3.2 Danh mục mô tả (Descriptive checklists)
Cùng với việc liệt kê các nhân tố môi trường danh mục mô tả có thuyết minh thêm về sự lựa chọn các nhân tố môi trường đó, phương pháp thu thập số liệu, đo đạc các số liệu đã ghi vào trong danh mục
3.3.3 Danh mục dạng câu hỏi (Questionnaire checklists)
Phương pháp này được sử dụng bằng cách xây dựng các câu hỏi liên quan đến từng khía cạnh môi trường cần đánh giá, phiếu trả lời sẽ nhận được từ chuyên gia và cả
ở cộng đồng, từ đó phân tích và đánh giá
3.3.4 Danh mục có ghi mức độ tác động (Scaling checklists)
Danh mục này cung cấp một phạm vi chủ quan chung đối với từng nhân tố môi trường (ví dụ -3 đến +3) nhằm xác định mức độ tác động của hoạt động phát triển đối với từng nhân tố môi trường
3.3.5 Danh mục có ghi trọng số mức độ tác động (Scaling-weighting checklists)
Danh mục này được xem là tương đối phức tạp hơn so với các danh mục khác
và là sự kết hợp với danh mục ghi mức độ tác động Trong danh mục này, ngoài việc ghi mức độ tác động còn phải có thêm trọng số (weighting), hay còn gọi là mức độ quan trọng của từng yếu tố môi trường chịu tác động vào Ở đây, ta tiến hành cho điểm
về chất lượng và mức độ quan trọng của các yếu tố Tiếp theo, có thể tổng hợp mọi yếu
tố lại thành chỉ số (hay đơn vị đánh giá) để đánh
Trang 31- Chứa đựng nhiều nhân tố chủ quan của người đánh giá
- Phụ thuộc nhiều vào những quy ước có tính chất cảm tính về tầm quan trọng, các cấp bậc và các điểm số của từng thông số
- Hạn chế trong việc tổng hợp các tác động, đối chiếu, so sánh với các phương
án khác nhau
3.4 Phương pháp ma trận môi trường (Matrices)
Đây là phương pháp phối hợp liệt kê các hành động của hoạt động phát triển (hay hoạt động của dự án) và liệt kê các yếu tố môi trường (chỉ tiêu môi trường) có thể
bị tác động vào một ma trận (bảng) để tiến hành đánh giá
Trong ma trận, các nhân tố chịu tác động được liệt kê vào trục tung (cột đứng)
và các hoạt động phát triển được liệt kê vào trục hoành (cột ngang) hoặc ngược lại
Cách làm này có thể cho chúng ta thấy được mối quan hệ nhân-quả giữa các tác động khác nhau đến một nhân tố môi trường một cách đồng thời Các dạng ma trận môi trường thường được sử dụng bao gồm các loại sau:
3.4.1 Phương pháp ma trận tương tác đơn giản (Simple Interaction Matrices)
Đây còn gọi là phương pháp ma trận định tính và bán định lượng Trong ma trận này, trục tung là các hoạt động (hành động) của dự án và trục hoành là các yếu tố môi trường Tuỳ theo mức độ có thể làm được người ta thường sử dụng dấu (+) để
Trang 32biểu thị hành động có tác động đến yếu tố môi trường, đôi khi để rõ hơn người ta còn chia các tác động đó theo mức (ví dụ ++, +, 0, -)
Phương pháp này là một dạng danh mục các điều kiện môi trường cải tiến Tuy nhiên, nó có ưu điểm hơn là có thể cho chúng ta thấy đồng thời tác động của một hành động phát triển lên nhiều nhân tố môi trường và ngược lại, mặt khác cho chúng ta thấy toàn cảnh bức tranh tương tác của nhiều yếu tố
3.4.2 Phương pháp ma trận định lượng (Quantified Matrices) hay ma trận định cấp (Graded Matrices)
Phương pháp này định lượng hoá phương pháp ma trận tương tác đơn giản Trong ma trận này, cột đứng cũng ghi các hành động phát triển của dự án đang được xem xét, cột ngang ghi các yếu tố môi trường có thể chịu tác động do các hành động gây ra Tuy nhiên, trong mỗi ô của ma trận không chỉ ghi “có” hoặc “không” tác động
mà cần định lượng theo điểm Như vậy, ma trận này không những cho phép tìm ra được tác động có hay không, mà còn cho thấy mức độ tác động do hành động nào đó của dự án gây ra đối với yếu tố môi trường nào đó
Có thể phân chia mức độ tác động từ 1 đến 5, hoặc chọn khoảng nào đó phù hợp với yêu cầu Tuy nhiên, theo quy ước của Leopold (người đầu tiên đề nghị phương pháp này vào năm 1971) thì mức độ tác động được chia thành 10 cấp (thang điểm 10) Trong đó, tác động thấp nhất là 1 điểm, tác động cao nhất là 10 điểm, cụ thể như sau:
1-3: Mức độ tác động nhỏ, nhân tố môi trường ít quan trọng
4-7: Mức độ tác động và tầm quan trọng của nhân tố môi trường là vừa phải 8-10: Mức độ tác động rất lớn, nhân tố môi trường rất quan trọng
Trong mỗi ô của ma trận, người ta thường trình bày cả 2 đại lượng là mức độ của tác động và tầm quan trọng của tác động đó
- Tầm quan trọng của tác động được ghi ở góc dưới bên phải của ô ma trận
- Mức độ tác động được ghi ở góc trên bên trái của ô ma trận
Tầm quan trọng của tác động đánh giá vai trò, vị trí của tác động đó đến yếu tố môi trường ở trạng thái nào đó của dự án Thông thường là trạng thái thực hiện dự án
và trạng thái dự án đang vận hành (tại thời điểm 5 năm, 10 năm hay 20 năm) Mức độ tác động cho thấy khả năng định lượng của tác động đó đến môi trường
Trang 33Việc quy ước mức độ tác động phụ thuộc vào người đánh giá, tầm quan trọng của các nhân tố môi trường phụ thuộc vào cảm tính của người đánh giá hoặc của cùng một nhóm chuyên gia đánh giá Việc lựa chọn nhân tố nào quan trọng thường được quyết định sau khi xử lý các số liệu điều tra về xã hội học đối với cộng đồng dân cư và tham khảo ý kiến các nhà chuyên môn
Ưu điểm:
- Phương pháp ma trận môi trường tương đối đơn giản
- Được sử dụng một cách khá phổ biến, không đòi hỏi quá nhiều các số liệu về môi trường, sinh thái
- Cho phép chúng ta xem xét một cách tổng thể và đồng thời các tác động của hoạt động phát triển đến từng các nhân tố môi trường, cũng như nhân tố môi trường nào sẽ chịu tác động nhiều nhất khi dự án phát triển được triển khai
Nhược điểm:
- Chưa xem xét các mối quan hệ giữa các tác động với nhau
- Chưa xét được sự diễn biến của các tác động theo không gian và thời gian
- Chưa phân biệt được các tác động trước mắt, cũng như lâu dài đối với từng nhân tố môi trường
- Việc xác định tầm quan trọng của nhân tố môi trường, chỉ tiêu chất lượng môi trường còn mang tính chất chủ quan
- Việc quy tổng tác động của một phương án vào một con số không giúp gì thiết thực cho việc ra quyết định
- Sự phân biệt khu vực chịu tác động, khả năng tránh, giảm các tác động chưa thể hiện trên ma trận
3.5 Phương pháp chập bản đồ (Overlay maps)
Đây là phương pháp có tính khả thi rất cao do có sự kết hợp với công cụ hiện đại GIS (hệ thống thông tin địa lý), viễn thám và các phần mềm đặc trưng
- Sử dụng các bản đồ vẽ các đặc trưng cơ bản về môi trường tại các khu vực nghiên cứu Các bản đồ này thường được sử dụng ở dạng trong suốt
- Mỗi một bản đồ diễn tả từng đại lượng đặc trưng môi trường đã được xác định qua các số liệu, dữ liệu điều tra cơ bản hay thu thập được Các đặc trưng cơ bản được thể hiện qua độ đậm nhạt của màu sắc
Trang 34- Chập các bản đồ này lại với nhau theo các vấn đề cần quan tâm Việc đánh giá dựa trên cơ sở độ đậm nhạt của tổ hợp các màu sắc Từ đó đưa ra các đánh giá và nhận định theo các phương án khác nhau
- Chi phí tương đối cao nên ít được áp dụng rộng rãi
- Các yếu tố môi trường, tự nhiên chỉ được thực hiện ở trạng thái tĩnh
- Độ đo các yếu tố môi trường chỉ có tính khái quát, các đánh giá cuối cùng về tác động phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan của người đánh giá
3.6 Phương pháp sơ đồ mạng lưới (Networks)
Phương pháp này dựa trên nguyên lý của việc nghiên cứu các dòng năng lượng, dòng tuần hoàn vật chất trong mạng lưới, các chuỗi thức ăn trong các hệ thống tự nhiên (hệ sinh thái)
- Trên mạng lưới ta có thể phân biệt các tác động bậc I (do hành động trực tiếp gây ra) và các tác động bậc II là do các tác động bậc I gây ra Tiếp tục xem xét các tác động bậc III, IV và các tác động cuối cùng trong phạm vi không gian và trong khoảng thời gian mà chúng ta cần xem xét và đánh giá
Việc xem xét, đánh giá các tác động trên cơ sở các tác động có lợi hoặc không
có lợi đến các nhân tố môi trường
Trang 35Ưu điểm:
- Cho chúng ta biết được các nguyên nhân, con đường dẫn đến các tác động bất lợi đến môi trường Từ đó đề xuất các biện pháp phòng tránh ngay từ các khâu quy hoạch, thiết kế và tổ chức các hành động phát triển
Nhược điểm:
- Chỉ tập trung vào các tác động tiêu cực đến môi trường Nếu tập trung đến khía cạnh tích cực thì không thể so sánh được cái được và cái mất khi hoạt động phát triển được triển khai
- Không xem xét được sự thay đổi theo không gian và thời gian, trước mắt cũng như lâu dài
Phạm vi ứng dụng:
Phân tích các tác động đến môi trường sinh thái, khó sử dụng đối với các tác động xã hội, các vấn đề về thẩm mỹ và cảnh quan
3.7 Phương pháp mô hình (Modellings)
Đây là phương pháp dùng các mô hình để đánh giá tác động môi trường Trong các năm gần đây, phương pháp này được sử dụng tương đối rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực dự báo Phương pháp này thích hợp cho các mô tả về hoạt động phát triển, xác định những hành động chủ yếu của hoạt động
Trình tự diễn biến của hoạt động:
- Thành lập các mối quan hệ định lượng giữa các hành động của hoạt động phát triển với các nhân tố môi trường với nhau, cũng như mối quan hệ giữa các nhân tố đó với nhau
- Xây dựng mô hình toán học bằng các phương trình toán học chung cho toàn
bộ sự hoạt động, phản ánh một cách đầy đủ cấu trúc và các mối quan hệ trong mô hình
Như vậy, mô hình cho phép chúng ta dự báo được các diễn biến có thể xảy ra của môi trường Từ đó, chúng ta có thể lựa chọn các phương án tối ưu (các kịch bản khác nhau) để đưa môi trường vào trạng thái tối ưu và dự báo môi trường ở trong các thời điểm khác nhau cũng như các điều kiện khác nhau
Tổ chức thực hiện:
- Cần được thực hiện bởi các nhóm chuyên gia liên ngành cùng xây dựng mô hình Xác định các mối liên quan, các mối quan hệ giữa các thành phần trong mô hình
Trang 36Xác định các điều kiện biên, điều kiện ban đầu và giả định các chiến lược, chiến thuật khác nhau để điều khiển hoạt động Chạy mô hình để đoán nhận các kết quả mong muốn Cần tiến hành, hiệu chỉnh nhiều lần để có được các kết quả như mong muốn
- Phương pháp này được sử dụng rất rộng rãi và thích hợp trong các công tác quy hoạch và quan trắc môi trường
2 Xác định ranh giới không gian và thời gian nghiên cứu
3 Kiểm tra các số liệu, xây dựng các hoạt động nghiên cứu, xác lập mô hình và các thành phần của nó
4 Hiệu chỉnh mô hình, xác định các hệ số của các thông số, quá trình có liên quan
5 Phân tích các tác động có thể xảy ra theo các phương án khác nhau, các kịch bản giả định khác nhau
6 Chỉnh lại theo các tài liệu, các phương án khống chế, khắc phục và đưa ra các kết quả
Ưu điểm:
- Được sử dụng rất phổ biến (đối với mô hình toán học)
- Xem xét được các tác động theo không gian và thời gian
- Cho phép thực hiện ở các giả định khác nhau để lựa chọn phương án tối
ưu nhất
Nhược điểm:
Trang 37- Phương pháp này đòi hỏi kinh phí cao, tiến hành đo đạc và quan trắc môi trường để xác định các hệ số của các quá trình xảy ra trong hệ thống Đòi hỏi nhiều nhà chuyên gia và các tập thể các nhà khoa học chuyên ngành
- Thời gian kéo dài, kinh phí cao (đối với mô hình vật lý)
3.8 Phương pháp phân tích chi phí lợi ích mở rộng (Sound Ecological Principles)
Các phương pháp trình bày trước đây được sử dụng tuỳ theo yêu cầu của ĐTM
và tuỳ theo các yếu tố môi trường được chọn lọc để xem xét tác động đến nó Tuy vậy, các phương pháp đó thường được thực hiện tốt với yếu tố tài nguyên, môi trường tự nhiên Khi cần đánh giá tác động của các hành động dự án đến các thành phần kinh tế,
xã hội thì rất khó Trong trường hợp này người ta sử dụng phương pháp phân tích chi phí-lợi ích mở rộng Lợi ích và chi phí ở đây cần hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm tất
cả các chi phí lợi ích về môi trường và tài nguyên thiên nhiên Vì vậy, phương pháp này còn được gọi là phương pháp các nguyên tắc thân thiện với sinh thái (sound ecological principles)
Hệ tự nhiên ở đây bao gồm:
Các nhân tố về môi trường tài nguyên (hiểu theo nghĩa rộng)
Tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, chỉ đáp ứng được yêu cầu trong phạm vi của những quy luật điều khiển của hệ thống Do đó, cần tạo thêm các dòng năng lượng
và những quy luật đi vào hệ thống
Dòng đi vào là các dòng phát triển Những thay đổi về hệ tự nhiên sẽ thay đổi do chịu những tác động của các hoạt động phát triển
Trong phương pháp phân tích chi phí-lợi ích cần nắm được những thông tin trực tiếp và gián tiếp để có thể xem xét và đánh giá một cách toàn diện
Cơ sở để tiến hành suy luận và phân tích là những kiến thức chuyên môn thuộc ngành của các hoạt động phát triển, các kiến thức về kinh tế, môi trường và sinh thái
Trang 38Theo phương pháp này thì người đánh giá dù có thuộc chuyên môn nào đi chăng nữa cũng phải nắm được những kiến thức cơ bản về sinh thái học, về các dòng năng lượng, dòng tuần hoàn vật chất trong các hệ sinh thái, chuỗi thức ăn, mắt xích thức ăn, các chu trình sinh-địa-hoá, chu trình trao đổi chất như các chu trình carbon, nitơ, phốt pho và các diễn biến của hệ sinh thái
2 Cần nắm vững được những đặc điểm cơ bản của các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, các lưu vực của dòng chảy Các hệ sinh thái tự nhiên cũng như nhân tạo được điều khiển bởi con người Cần chú ý các yếu tố của hệ sinh thái nhân văn, sinh thái xã hội có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến các mục tiêu cơ bản của phát triển KT-XH
3 Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và vấn đề bảo vệ môi trường cần chú ý trước hết đến những vấn đề bảo vệ rừng, bảo vệ đất cũng như bảo vệ nguồn nước, các hệ sinh thái đặc hữu như cửa sông, các vùng cửa sông, ven biển, các vùng đất ngập nước, vùng đệm, vấn đề bảo vệ môi trường không khí, nước, đất, bảo vệ các danh lam thắng cảnh và các di tích văn hoá và lịch sử
Trình tự thực hiện:
- Liệt kê tất cả các tài nguyên được chi dùng trong mọi hoạt động của dự
án, kể cả tài nguyên con người Liệt kê tất cả các sản phẩm thu được, kể cả phế thải có giá trị hoàn nguyên
- Xác định tất cả mọi hành động tiêu thụ, hành động làm suy giảm tài nguyên, kể cả các hoạt động gây ô nhiễm
- Liệt kê những khía cạnh có lợi cho tài nguyên, nhưng chưa được xét đến trong đề án hoạt động, các khả năng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên
- Liệt kê vào đề án hoạt động những vấn đề cần bổ sung cho dự án để sử dụng hợp lý và phát huy được tối đa các khả năng của nguồn tài nguyên
- Diễn đạt các kết quả nêu trên vào báo cáo ĐTM Sử dụng phương pháp trình bàykiểu bảng so sánh chi phí - lợi ích (tương tự như trong các báo cáo kinh tế thuầntuý)
Cần lưu ý rằng: Sử dụng phương pháp phân tích chi phí-lợi ích mở rộng phải tính toán thực hiện cho toàn bộ dự án sau này sẽ đi vào hoạt động (ví dụ sau 30-50 năm) Tốt nhất nên tính toán cho từng giai đoạn, sau đó tiến hành tổng hợp cho toàn
bộ
Trang 39Các đại lượng thường được sử dụng trong phân tích chi phí-lợi ích là:
3.8.1 Giá trị lợi nhuận hiện tại (Net Present Value - NPV)
Giá trị lợi nhuận hiện tại (sau đây gọi là lợi nhuận) còn được gọi là lãi ròng, ký hiệu là
NPV
r: Hệ số chiết khấu theo thời gian
n: Số năm của thời gian hoạt động có lợi ích
Co: Chi phí ban đầu của dự án (tại năm thứ nhất)
Ct: Chi phí tại năm t
Bt: Lợi nhuận tại năm t
t: thời gian tính toán
Giá trị NPV chính là giá trị lợi nhuận tích luỹ, nó phụ thuộc nhiều vào yếu tố biến động, đặc biệt là hệ số chiết khấu (r) và thời gian (n) Thông thường, NPV tăng dần từ giá trị âm đến không (0), rồi đến một giá trị nào đó
Khi tiến hành so sánh việc thực hiện ĐTM của một số dự án cùng loại thì sử dụng NPV của dự án để so sánh Nếu NPV như nhau, ta chọn phương án có đầu tư ban đầu (C0) bé, nghĩa là chỉ hoàn toàn dựa vào yếu tố kinh tế Trong trường hợp như vậy,
ta tiếp tục tham khảo ma trận môi trường để xem xét đầy đủ các khía cạnh khác
3.8.2 Suất lợi nhuận hoặc tỷ suất lợi ích-chi phí (B/C)
Đại lượng NPV như đã trình bày ở trên cho thấy được lãi ròng tức là lượng lãi (tính theo tiền) trong khoảng thời gian hoạt động nào đó Giá trị này có thể cao hay thấp, song chưa phản ảnh được hiệu quả của hoạt động dự án so với đồng vốn đầu tư
Để hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng ta sử dụng đại lượng “suất lợi nhuận” (B/C), được tính bởi:
Ý nghĩa của các đại lượng B, C0, t, r, Ct giống như biểu thức (1) ở mục III.8.1
Trang 40Từ (2) thì ta thấy rằng, theo thời gian hoạt động, theo yêu cầu tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất và các yếu tố khác thì giá trị B/C tăng dần lên Lúc đầu có thể chỉ đạt B/C<1, rồi bằng 1 Sau đó, tỷ số này sẽ lớn hơn 1, rồi đạt đến một giá trị giới hạn của dự án hay một hoạt động KTXH nào đó
Ngoài ra, chúng ta còn sử dụng đại lượng “hệ số hoàn vốn nội tại - K” (Internal Return Rate), hoặc “tỷ số vốn đầu tư ban đầu so với tổng lợi nhuận sau một khoảng thời gian”
3.8.3 Hệ số hoàn vốn nội tại (K) (Internal Return Rate)
Hệ số hoàn vốn nội tại (K) được tính theo công thức sau:
Một dự án nếu có K lớn thì thường được chọn
3.8.4 Tỷ số vốn đầu tư ban đầu so với tổng số lợi nhuận
Đại lượng này cho thấy tỷ lệ vốn đầu tư so với lợi nhuận của toàn bộ dự án hoặc
so với một giai đoạn của dự án Bức tranh này cho phép các nhà quản lý thực thi các nhiệm vụ thu hồi vốn, quyết định thời gian dự án hoàn thành giai đoạn thi công, thời gian dự án được phép hoạt động Nó cũng cho phép các nhà quản lý xây dựng quy hoạch sản xuất hợp lý, tăng hoặc giảm thời gian sản xuất của dự án và các khía cạnh khác
Tỷ số vốn đầu tư ban đầu so với tổng số lợi nhuận được tính theo công thức sau:
Ở đây cần lưu ý rằng giá trị Bt và Ct không có ý nghĩa như chính bản thân nó ở biểu thức (1) và (2), mà cần phải hiểu đó là chi phí và lợi nhuận từ khi dự án vận hành cho đến năm thứ t
Phương pháp phân tích chi phí-lợi ích mở rộng chủ yếu xem xét trên khía cạnh kinh tế và kinh tế tài nguyên môi trường Trong một số trường hợp, các dự án quan trọng cần được thực hiện ĐTM theo một vài phương pháp kết hợp