1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Đờn ca tài tử nam bộ pdf

398 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ
Tác giả Nguyễn Phỳc An
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn
Chuyên ngành Âm nhạc
Thể loại Khảo và Luận
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 398
Dung lượng 90,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách tổng quan về nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, tương đối trực quan, chi tiết, dễ hiểu. Thông qua cuốn sách, bạn đọc có thể có cái nhìn khái quát và thêm yêu hơn về loại hình nghệ thuật đã được UNESCO công nhận này.

Trang 2

1 Đờn ca tài tử Nam bộ 2 Âm nhạc dân tộc Việt Nam I Ts

1 Đờn ca tài tử Nam Bộ 2 Folk music Vietnam

_ 781.6295922 ddc 23

N573-A53

Trang 3

oe

lôi dành ting quyén sách này cho ông Nội tôi, người đã

Bạc phước, vô duyên xu số nhứt trên đương

tràn, đồnh chịu sồu ihương|

Vì mang nghiệp chướng tiền khiên,

Ngày nay nặng gảnh hận phiền,

QUYNH-NGA ; Hoàng-MinhÌ Cầu xin anh thứ thơ tộ

tình,

HOÀNG-MINH : Gương bề, khó mong lành,

Tôi đõ đành vui sống đời lầm than

Trang 5

LỜI TỰA seo 9 LỜI TRIÂN G1011 1 10111111155 5111111101105 E1 1 ng 8 g3x5 13

DAN NHAP _ su 15

CHƯƠNG MỘT

KHẢO VỀ NGUỒN GỐC ĐỜN CA TÀI TỬ

l VỊ trí địa lý và thời điểm ccceccsssssssesssessssssssessscesseesees 26

TT, Thời gian xuất hiện 4 HH 21 HH 90211111121 5esrceeg 26 1H Khảo về hai nhóm tài tử miền Đông và miển Tây 34

1 Nhóm miền Đông - sọ vEsrersrrrreea 34

2 Nhóm miễn Tây - cán HH ng ng crrgrgree 50

„ _ Vẫn đề về lý con sáo và Lý tam thất cscce 73 1V Kết chương SH HH trerereree 76

CHƯƠNG HAI

HÌNH THỨC VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỜN CA TÀI TỬ

I Hinh thức của Đờn ca tài tử so onnnnre ¬ 80

5o Khảo về chữ fải Hử c nT TH TH nghe Hee 84

HH Đối tượng của Đờn ca tài tỬ uc nen 94

DON CA TAI TU - XOAY QUANH VẤN DE AM NHAC

[ Luận về âm nhạc tài CỬ HH nh Hee 118

se - Nhạc cung đình Huế & ca Huế -corsos.ccee 127

s Nhạc lễ Nam bộ QQ Q QQS HH HỖ HH ng na 132

© Nhac 1é Cao Dai ccccccssscessssscscssssessesssccssessecseseresecseees 134

Trang 6

© Darn ca Nam DO cieecceccsccsscscesssceceessssecessessesssceeecsssecenees 137

Luận về ngũ cung thất thanh Việt Nam trong nhac tai tt 142

„ = Người Trung Quốc cố đại

đã tìm ra ngũ cung như thế nào? ¬ 145

ø 12 luật lữ lrung Hoa

tương đương 12 âm quân bình phương Tây 147

„ Lối ký âm công xích phổ - Hò xu xang xé cống 148

HH Hơi và điệu trong nhạc tài tỬ co nhe 161

IV Nhịp trong nhạc tài tỬ chen HeHiee 172

V Định nghĩa hò và các loại day, day hò trong nhạc tài tử 184

CHƯƠNG BON

I 20 BÀI BẢN TỔ VÀ CÁC LOẠI BÀI BẢN NHẠC TÀI TỬ 190

0 67 bai Lé (7 bai Bac 16n, 7 bài Cò) ccecsses 206

E_ Bộ Thập thủ liên huờn T† TT:iŠ#Z c.c 220

G._ Bộ Cửu nhĩ ÿ\(,-[ G S2 Set 2t nen 223

T Bộ Bát ngự ¿VẾP reerrrrrrrrrrree 224

J._ Bộ Aioán Ä #Ä uc reerrde 228

K Bộ Tam Bắc nhị oán =3L-CTỈỂŠ Lee 229

Trang 7

| Ỉ KHẢO VỀ NHẠC CỤ TRONG D

(8) Dây Nhị ngũ co 25

(9) Dây Sa Giang eceeeeeii 2Ó 2 Đờn tranh và các loại dây c 29

(2) Dây Nam ai - S2 sevsvesereesersreceec.v TỔ Z

(3) Dây Nam xuân -ccccecseeecsccec.c.ce , 207 (4) Dây hò nhì cai TỐ

Trang 8

MOT SO VAN DE VỀ DON CA TAI TU

Il Bài Dạ cổ hoài lang trong nhạc tài tử be 349

HI Bản Vọng cổ với nhạc tài tỬ Hi 351

PHỤ LỤC

I PHULUC1

Nhạc sư Giáo Thỉnh (1907 - 199]) co 360

1 Ban Liéu Giang trong quyén Nhac tdi tử Nam bộ 379

2 Bản Liêu Giang

trong quyển Ca nhạc cổ điển điệu Bạc Liêu 380

TÌM LƯU DẤU CHỈ NGƯỜI XƯA 382

TÀI LIỆU THAM KHẢO khe 385

Trang 9

KHAO & LUAN

của Nguyễn Phúc An

uyển ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ KHẢO VÀ LUẬN

của Nguyễn Phúc An ra đời đúng với sự mong đợi

của các tầng lớp nhạc sĩ và nhạc sinh âm nhạc dân tộc Việt

Nam, đặc biệt là giới mộ điệu nhạc tài tử Nam bộ!

That thế! Nhạc tài tử Việt Nam là một loại hình nghệ

thuật rất cao, trong đó có kết hợp đầy đủ tính khoa học, triết học phương Đông, nó đòi hỏi người chơi phải có một trình

độ khá tốt về văn hóa, lịch sử, v.v Nhạc tài tử Nam bộ được cấu kết và hình thành thuận theo âm luật tự nhiên của con

người cũng giống như âm nhạc của phương Tây và các dan tộc khác trên thế giới Điều đáng buổn là ở Việt Nam ta tài

liệu và sách vở âm nhạc thì không đầy đủ để có thể tìm hiểu

và khảo cứu Thật ra thì mọi lý luận và ý tưởng trong những

tác phẩm âm nhạc dân tộc có thể nói là hầu hết ta đều có thể

dẫn chứng, hoặc giải thích được Vấn để phát sinh ở chỗ là

chúng ta không có điều kiện, không đủ quyết tâm và kiến thức để tìm tòi, tra cứu trong sách vở và tài liệu cổ Vì những

Trang 10

tài liệu có giá trị còn sót lại ngày xưa thường được viết bằng

chữ Hán hoặc bảng tiếng Pháp nên chúng ta gặp nhiều khó

khăn trong việc tra cứu

Tác giả Nguyễn Phúc An có được cái lợi thế là rất rành về

Hán văn và một số ngoại ngữ khác, cho nên ông có thể đọc

được và nghiên cứu rất nhiều tài liệu âm nhạc ở các thư viện

nước ngoài và những tài liệu chữ Hán ở Việt Nam Ngoài ra

do sở học cá nhân, tác giả có một trình độ lý luận rất là vững

chắc, có tính logic dựa vào lý luận địch học phương Đông mà

cũng không thiếu tính khoa học phương Tây, cho nên ở hầu

hết mọi vấn để sau khi nêu được những chứng minh, truy

nguyên được nguồn gốc bằng sách vở, tài liệu, báo chí, tác

giả đã đưa ra được những kết luận của riêng mình với lối lý

luận sắc sảo, nhạy bén không lập lờ, hợp lý mà ta hầu như có

thể chấp nhận được!

Về mặt nội dung, tuy chưa thể khai thác hết nền nhạc cổ

miền Nam, nhưng sách đã gói ghém gần như là đầy đủ hết

những hiểu biết, những tỉnh hoa trong mảnh đất màu mỡ

của âm nhạc tài tử miền Nam, nhưng tác giả đã cho ta thấy

được những kiến thức rất có giá trị và hữu ích về loại hình

âm nhạc này mà mỗi nhạc sĩ, người nghiên cứu hay giới mộ

điệu chúng ta không thể thiếu được

Nói thêm là ở xứ ta, một số sách vở về âm nhạc thường là

nơi bày tỏ những lời phát biểu đúng cũng có mà chưa đúng

cũng có của một số nhân vật nào đó mà ở đó người viết

ít khi dám cho biết ý nghĩ và quan điểm của riêng mình, vì

sợ đụng chạm hoặc ngại làm mếch lòng người khác, hoặc

khẳng định cái gì đúng, cái gì sai và cái nào cần chỉnh lại cho

hợp lý để cho các lớp thế hệ sau có thể noi theo mà mạnh

dạn bước đi Những người viết đó có lẽ còn chưa tin tưởng

được mình thì làm sao mà mọi người tin theo được Vì lý

Trang 11

OC I

đẹp hơn cho văn hóa âm nhạc Việt Nam Cuối cùng ta phải

khang dinh mét di eu là một nền t dep day mau sac

như âm nhạc dân tộc Việt Nam mà chỉ để trưng bày trong

viện bảo tàng để cho mọi người ngắm nhìn để biết được thế

nào là thời vàng son của dan tộc Việt thì quá uống phí cho

công sức của tiền nhân đã dầy céng vun dap Chứ ở hiện tại

thì nói đúng ra như con số không vì cổ thì nằm ở viện bảo

tàng và cái mới, phát triển thì lệch lạc và cũng không có được

bao nhiêu, đồng thời lại đang đi ngược với trào lưu tiến hóa

của xã hội!

Có thể nói là nhờ những bước đầu mạnh dạn như tiêu

chí của quyển sách này, thì các lớp sau có thể có được một

sự hiểu biết dù sơ lược nhưng đúng hoặc ít ra là những khía

cạnh đúng về nhạc tài tử miền Nam; để từ đó có thể mạnh

đạn phát triển nền tri thức và hiểu biết âm nhạc Việt Nam

vốn giàu đậm màu sắc dân tộc theo con đường nghệ thuật

chân chánh mà những bậc tiền nhân đã vạch đường đưa lối

Sài Gòn, ngày 22 tháng 10 năm 2018

Hoàng Cơ Thụy & Nguyễn Xuân Yên

Cựu giảng viên bộ môn đờn tranh

và ký xướng ôm Việt Nam

tại Trường Quốc gia Âm nhạc

và Kịch nghệ Sài Gòn

và Trường Cao đẳng Sân khấu - Điện ảnh

11

Trang 13

¡ là Nguyễn Phúc An, người chấp bút cho nghiên

Ẳ cứu Đờn ca tài tỉ Nam bộ - Khảo & Luận này, xin có

đôi lời tâm tình dành cho những người đã là chỗ dựa tỉnh thần, là nguồn kiến thức, là cái nôi để nung đúc, ắp ủ cho

mọi thành quá của nghiên cứu này

Đầu tiên, là gia đình Gia đình đã là cái nôi vô tình như

một duyên may để nuôi nấng cái hồn nhạc tài tử cho tôi từ

khi chưa biết âm nhạc là gì

Kế đến là thầy Hoàng Cơ Thụy và cô Nguyễn Xuân Yên là

hai người thầy trân quý nhất trong quá trình đào tạo cho tôi

về kiến thức nhạc tài tử và kỹ thuật đờn tranh, đờn tỳ và đờn kìm Ngoài những ngón đờn hoa mỹ mà thầy đã truyền dạy, thì những bài giảng, những câu chuyện kể liên quan đến nhạc tài tử ngoài những buổi học đờn góp phần hình thành một cơ sở kiến thức quan trọng cho tôi để đi đến nghiên cứu này Cùng cảm ơn cô Thu Huệ, giảng viên đờn tranh tại

Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn học trò

trong những năm học tập tại Nhạc viện

Thứ ba, tôi xin cảm ơn những người bạn, người anh, người

em đã nhiệt tình cung cấp cho tôi về tư liệu như nhà sưu

tập Nguyễn Doãn Tiệp, nhà sưu tầm tư liệu điển đã Nguyễn

Mạnh Hùng đã không ngần ngại tặng cho tôi những tư liệu

13

Trang 14

quý báu về nhạc tài tử trong quá trình nghiên cứu, đồng thời

Hung da tan tam đọc bản thảo giúp tôi cũng như nghiên cứu

viên Viện Nghiên cứu Hán Nôm Bùi Quốc Linh đã năng nổ

đọc bản thao gấp rúi và góp ý cho tôi vài điều cần lưu lý, góp

phần hoàn thiện bản thảo Nhạc sĩ Văn Môn đã nhiệt tình trả

lời tôi những câu hỏi có liên quan đến nghiên cứu, bên cạnh

đó còn có một số nghệ sĩ đờn tranh, đờn nguyệt, đờn ghi-ta

phím lõm mà tôi không tiện nêu tên

Cảm ơn kiến trúc sư Nguyễn Mạnh Hùng, đồng thời

cũng là rnột tài tử mộ điệu tri âm với tôi, đã vui lòng phác

thảo bìa sách cho tôi với một thẩm mỹ thật là nho nhã

thanh bai |

Thứ tư, xin cảm ơn Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố

Hồ Chí Minh đã đồng ý cho xuất bản quyển sách này -

Cuối cùng, mọi cố gắng nào cũng chỉ mong muốn được

một kết quả mỹ mãn, nhưng không có một kết quả nào có thể

hoàn toàn mỹ mãn, chắc chắn sẽ có tổn tại ít nhiều những sai

sót, bất cập và những vụng về yếu kém Xin dành lời cảm ơn

chân thành cho những góp ý của quý vị sau khi quyển sách

này ra đời Mọi ý kiến đóng góp là cơ sở vững chắc để nghiên

cứu được chính xác hơn, có giá trị hơn, hoàn thiện hơn

Sai Gon, Tan Phu ngày 22 tháng 6 năm 2018

Trang 15

On ca tai tu hay còn được gọi là Nhạc tài tử Nam

bộ, Nhạc tài tử tiễn Nam, là rnột loại hình âm nhac

thuộc về phạm trù âm nhạc cổ điển của dân tộc ta, tức là

nhạc cổ hay nhạc cổ truyền Một loại hình âm nhạc cổ truyền,

nhưng lại sanh sau để muộn so với các loại hình âm nhạc cổ

truyền đàn anh đàn chị, có một bể dày lịch sử về văn hóa cũng

như văn hiến như: ca trù, quan họ, chèo, tuổng (hát bội),

xam, hat ví, hát trống quân ở miền Bắc và miễn Trung Các

loại hình âm nhạc đàn anh đàn chị đó, ngoài bề dày lịch sử

ra, còn có một số lượng lớn về văn bản tồn lưu cũng như văn

bản nghiên cứu về chúng, có một số lượng về đội ngũ nghệ

nhân, nghệ sĩ và tầng lớp mến mộ, thưởng thức, phê bình,

nghiên cứu, đánh giá rất là đông đảo

Với tuổi đời ngót trăm năm, Đờn ca tài tử đã vững vàng

như là một trong những tượng đài biểu trưng cho văn hóa

âm nhạc miền Nam từ cuối thế kỷ XIX qua suốt thế kỷ XX và

cho đến nay Được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa

Liên Hiệp Quốc (Dnited Nations Educational Scientific and

Cultural Organization, gọi tất là UNESCO) công nhận là đi

sản văn hóa phi vật thể thế giới vào tháng 12 năm 2013

Don ca tài tử ra đời tại một vùng đất mới, xứ Đồng Nai

từ thuở mới có lưu dân Việt từ Quảng Nam (Đàng Trong)

15

Trang 16

hay xa hơn là từ xứ Bac Ha (Dang Ngoai) lục tục rủ nhau

vào khai hoang lập ấp, chiến đấu với rừng thiêng nước độc,

lúc kình địch, lúc ôn hòa với dân bản địa, và kể cả lưu dân

en eet det TIO 4s oo Tee LTA ti ned te ng TA VLAZAL 42.4 CS“ ~

4i6LLUi +@d@W Cli All TT ils fivtd lui ilies la BV! 4Œ INTiatli Liu, Wat

chú hay Cắc chú Lưu dân Việt mang theo vốn văn hóa, âm

nhạc vến có của mình, giao lưu và hòa nhập với cư dân bản

địa, lưu dân Tàu, dân dân hình thành nên một loại hình âm

nhạc riêng biệt mang tính vùng miền, không thể lẫn vào đâu

được, từ hơi điệu, giọng điệu, cách phát âm, luyến láy, rung

nhấn thể hiện một nét riêng, một nét rất Nam bộ mà Đờn

ca tài tử chính là một hình hài cóp nhặt đầy đủ những nét

đặc trưng ấy

Tôi viết về Đờn ca tài tử không bởi vì chính nó đang mang

tính thời sự, hay vì Đờn ca tài tử vừa đã được vinh danh trên

tầm quốc tế Tôi viết về Đờn ca tài tử như một món nợ tỉnh

thần, một món nợ tự vay tự trả, và hơn thế nữa là trên một

tinh thần có ý thức, hay nói một cách gọn ghé hon đó là

chính vì tôi ham mê

Nói về nợ, tôi nợ gì? Tôi nợ chính gia đình tôi, tuy không

được sinh ra trong một gia đình nhà nòi có ông này bà nọ là

những nghệ nhân, nhạc sư, ca sĩ gì cho kham, nhưng ít ra thì

tôi được sinh ra trong một gia đình có những bực tiền bối

ham mê âm nhạc, mà lại là Nhạc tải tử Đoán là từ thuở còn

nằm nôi thì tôi đã được rót vào bên tai những giai điệu, lời

ca, tiếng đờn văng vắng của ông, của cha, của chú rồi, chính

nó đã chat chiu cho tôi cái máu âm nhạc hằng chảy cho tới

nay Lớn hơn nữa, ở cái tuổi chập cha chập chững, thuở mà

tôi đã có chút ý thức, có thể tích cóp vài kỷ niệm nho nhỏ của

mình về những điều chung quanh, tôi còn nhớ những đêm

lần nằm mép chiếu, mép đệm, đầu gác lên đùi cha đùi chú để

lắng nghe họ nhập cuộc đờn ca, tay đập muỗi, lắm khi chúng

Trang 17

Pee S: a) Lộ fo» E Lộ CE) Ads OD E—— © A2 fost a HO

Sau lớn lên, được học hành đàng hoàng với thầy với cô có tâm có tầm, cộng với niềm đam mê học hỏi tìm tòi và nghiên cứu, tôi tự nhận thấy mình cần phải đóng góp một phần nào

đó vào công việc giữ gìn văn hóa bằng văn bản, tức phải viết

ra được những gì mình học được, hiểu được, một cách có hệ

thống, bài bản

Ngoài việc học ở thầy ở cô, những kiến thức về Đờn ca tài

tử truyền miệng được tôi sử dụng như một dẫn chứng sống, hay như một tư liệu điển đã Bên cạnh đó, trong quá trình

tìm đọc tư liệu có xuất bản hay không xuất bản, hoặc chưa

xuất bản từ đầu thế kỷ XX cho đến nay, đại để cũng ngót trăm

cuốn: có quyển về bài bản nhạc tài tử, có quyển mang tính tư

liệu cao, có quyển hữu dụng, có quyển đọc chơi, có quyển ki cóp nhiều nơi, có quyển sai lệch cần phải hiệu chỉnh để đảm

bảo về tính học thuật của một loại hình nghệ thuật đã định

hình, hòng tránh tình trạng tam sao thất bổn, sai riết rổi cứ

tưởng là đúng, dẫn đến tình trạng sai trại so với nguyên bản,

đi riết thành lối nói riết thành quen, mà không biết là lỗi sai

thói trật

Tôi xác định rằng mình không viết nhạc sử, tức không

viết về lịch sử âm nhạc của Đờn ca tài tử Vì vấn để này đã được quá nhiều nhà nghiên cứu nêu ra ở nhiều công trình

1/

Trang 18

khac nhu: Don ca tai tử Nam bộ của ông Võ Trường KỳU qua

hai bản in năm 2013 của Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin

và bản in năm 2015 của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà

Nội, so sánh hai bản thì về nội dụng hoàn toàn như nhau,

không có gì đổi khác; rải rác bên trong quyển Bước đường

của cải lương”) của ông Nguyễn Tuấn Khanh xuất bản tại

Mỹ vào tháng 5 năm 2014 và được tái bản phát hành ở Việt |

Nam vào tháng 3 năm 2018, trong đó có chương về Nhạc

tái H cũng thuật lại đôi điều về bước khởi đầu sản sanh ra

Đờn ca tài tử; quyển Đờn ca tài tử đặc trưng và đóng góp

(tuyển tập 2)#) của Nguyễn Thụy Loan do Nhà xuất bản Văn

hóa - Thông tin - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật in năm 2014

cũng có chương Phát họa về mấy chặng đường của Đờn ca tài

tử Quyển Góp phần nghiên cứu Đờn ca tài tử Nam bộ của

cô Nguyễn Thị Mỹ Liêm cũng có nhắc đến trong chương 1

“Don ca tài tử Nam bộ - con đường xây dựng và phát triển”

Sơ sơ bấy nhiêu đó thôi, với những sách viết về lịch sử

diễn tiến của Đờn ca tài tử, tưởng cũng đã quá nhiều, tôi

không hệ thống lại một lần nữa, để dành trang cho những

vấn để cần nêu lên trong nghiên cứu này Những cột mốc sự

kiện thuộc về Đờn ca tài tử được nêu ra như là một tư liệu

mang tính chất lịch sử mà thôi

Điều tôi quan tâm cho nghiên cứu này chính là tất cả

những gì thuộc về đặc trưng của Đờn ca tài tử aguyên thủy,

những gì sinh ra Đờn ca tài tử, những gì làm nên đặc sắc của

loại hình nghệ thuật này, về nguồn cội, về phong trào phát

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015

2 Nguyễn Tuấn Khanh, Bước đường của cải lương, Viện Việt học xuất bản, 2014

3 Nguyễn Thụy Loan, Đời ca tài tử - đặc trưng và đóng góp (tuyển tập 2), Nxb Văn

hóa - Thông tin - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2014

4 Nguyễn Thị Mỹ Liêm, Góp phẩn nghiên cứu Đờn ca tài tử Nam bộ, Nxb Âm nhạc,

"2011

18

Trang 19

#

Trong nghiên cứu này tôi giới hạn phạm Vv

thuộc về loại hình Đờn ca tài tử, tức là không nói về một loại hình nghệ thuật khác thuộc về sân khấu là Cái ldng

Cải lương hay những loại hình âm nhạc khác nếu có được

nhắc đến, thì đó là một phương tiện so sánh để làm rõ hơn

cho Đờn ca tài tử Tôi sẽ dành để nói về Cải luong cho mot nghiên cứu khác có tính khu biệt và tập trung hơn

Với nghiên cứu này, tôi mong muốn được nói về một loại

hình Đờn ca tài tử gốc vốn dĩ, ban đầu, thuở mà Đờn ca tài

tử được ngồi ở vị trí hoàng kim, được định hình định dạng

hắn hòi, được những người biết chơi, biết thưởng thức đánh

giá một cách có hiểu biết và nghệ thuật, ay la tai tử vậy Kể

từ sau khi Sân khấu cải lương ra đời, và cải lương dần phát

triển, lớn lên, định hình, phân tược chia ngôi, biến dang, va

gia nua, thi cho dau nó được sinh ra là cũng nhờ một phần

đóng góp của nghệ thuật Đờn ca tài tử, nhưng chính nó cũng

là nguyên nhân làm cho Đờn ca tài tử không những dần suy,

suy không chỉ về đội ngũ hưởng ứng, mà suy luôn cả mặt

loại hình, tức là hình thức của Đờn ca tài tử bị cải lương hóa,

làm cho biến chất, không còn như ban đầu nữa, một phần vì

thiếu hiểu biết, thậm chí đến nay người ta vầy một cuộc chơi

toàn băng bài bản cải lương, nhưng lại ngộ nhận nó là đang

Chơi tài tử? ấy là chưa kể về hình thức Hoặc thậm chí có

người còn hỏi răng bài Vọng cổ có phải thuộc về nhạc tài tử

không, hoặc mặc định nó là nhạc tài tử, cũng như không ít

19

Trang 20

người cho rằng các bài bản hơi Quảng của âm nhạc sân khấu

cải lương là nhạc tài tử là thậm bay vay

Đân canh ddA AAi vAi mAt IA A MEAKAR SERY RARZE VAs a BEAL 5 ANY i hinh 4m nhac thud

điển mang tính địa phương của nước nhà, theo một tiến

trình di trú của cư dân Việt, rối hòa nhập với bản địa, dân

dần được hình thành và rồi định hình, hắn Đờn ca tài tử có

hình thức không, mà còn thể hiện ngay cả trong ngôn ngữ,

ngôn ngữ lời ca, ngôn từ định danh cho từng loại hình, từng

bài bản, từng thuật ngữ nhà nghề mà chỉ riêng Đờn ca tài

tử mới sử dụng, nó tạo nên cái đặc trưng Chúng ta có thể

áp dụng những kiến thức tiếp thu được từ hệ thống nghiên

cứu lý luận âm nhạc phương Tây để so sánh thậm chí là áp

dụng vào trong việc nghiên cứu Đờn ca tài tử, nhưng xin

lưu ý là chúng ta không được lạm dụng và gượng ép gò bó

nó vào khuôn khổ đó, bởi vì Đờn ca tài tử thuộc về chúng

ta, về âm nhạc của phương Đông, hẹp hơn là âm nhạc: Việt

Nam mà càng hẹp hơn nữa là âm nhạc của vùng đất phương

Nam mới mẻ, cho dù trên chính một đất nước mà giọng nói,

âm nhạc đã khác nhau, những lý luận âm nhạc của loại hình

âm nhạc này còn không hẳn là thích hợp để đi suy xét hay

lý luận cho một loại hình âm nhạc khác, huống chỉ là đem

toàn bệ cái lý luận âm nhạc phương Tây để gò ép vào nghiên

cứu Đờn ca tài tử Ví như: cái mà hiện tại bây giờ người ta

gọi Nhạc tai tử là “nhạc thính phòng) riêng tôi sẽ có phần

lý luận cho việc này ở sau, hay những tên gọi thông thường

riéng cho no: don thay vì là “đàn, ca thay vì là “hat’, chau,

mô, nhịp, thòng, lái, khuông Những từ ngữ nhà nghề rặc

ròng ấy làm nên cái sự duyên đáng cho riêng Đờn ca tài tử,

mà chúng ta cần phải định nghĩa cũng như xác định lại cho

Trang 21

thu vậy, do đó tôi chủ trương sử dụng những thuật ngữ, lối

nói, lối giải thích các chữ dùng truyền thống hoặc dân gian

mà ta gọi là tiếng nhà nghề, ngõ hầu cho những nghệ nhân

dân gian đặng thêm dễ hiểu vậy Ví dụ như: øhjp ngoại khác

với đảo phách như thế nào, chuyển hò khác với địch giọng

ra sao, hoặc như cô Nguyễn Thụy Loan cho rằng hình thức

kéo giãn bài Dạ cổ hoài lang tới bài Vọng cổ qua các thời kỳ

tương tự như những dị bản, tôi thì không nghĩ thế, hẳn sẽ

được trình bày trong phần luận về bản Dạ cổ hoài lang và

bản Vọng cổ

Bên cạnh đó, xác định lại về “dây” và “hò” trong nhạc tài

tử, sự giống và khác nhau giữa hai danh từ ấy, những bất cập

hiện nay trong việc gọi Hò với quá nhiều sai lệch, mà nguyên

nhân là do cải lương gây ra, do sự đối hệ thống dây đờn kìm

dẫn đến, rồi bây giờ có người còn rõ được đâu là xưa đâu là

nay, đâu là gốc đâu là ngọn, đâu là đúng đâu là sai, ngược lại

thì phần đông chỉ biết nay mà không biết xưa, thành ra sai

vậy Nghiên cứu này mong muốn sẽ xác định lại một lần nữa

những vấn đề bất cập nêu trên

Chương viết về bài bản của nhạc tài tử với quan điểm

không phải là một tập ký lục về bản đờn, nên tôi cố gắng

chỉ nêu lên những vấn đề xoay quanh nguồn gốc ra đời, quá

trình hệ thống “20 bài bản tổ” cùng các bài bản được sáng tác

trong phong trào sáng tác bài bản nhạc tài tử của hai nhóm

21

Trang 22

miền Đông và nhóm miền Tây, sự giao lưu của hai nhóm

nhạc, tức sự sáng tác của bên này để hầu đối lại với bên kia,

TH nnc F14 A kA ea TC +4@áY dai KRAGaO bia aa CÁ) pilail Laid

thố thể hiện, để tạo ra một hệ thống bài bản phong phú ngoài

720 bài bản tổ” thì các bộ cũng nhân đó ra đời

Chương viết về nhạc cụ, ngoài những nhạc cụ nằm trong

tầm hiểu biết, tức là có học qua về những kỹ thuật sử dụng

nó cho nhạc tài tử, tôi xin mạnh dạn khảo cứu về nguồn gốc

của nó từ nơi khai sinh cho đến những nơi du nhập, tiếp thu

và biến đổi như thế nào trong quá trình thâm nhập vào một

loại hình âm nhạc mang tính địa phương, đồng thời cố gắng

phân tích những tính năng cũng như kỹ thuật của nó trong

dàn nhạc tài tử, tức nhiên không bỏ qua vấn đề tham vẫn ở

thay cô dạy tôi, cùng với những bạn bè có chuyên môn qua

từng chữ từng nhịp đờn,

Sự hình thành, hòa nhập và thịnh hành của một vài

loại nhạc cụ từng đóng vai trò là cây đờn chánh của nhạc

tài tử nhưng nay vì thế cuộc đổi dời mà phải lánh mặt đi,

thất truyền, thậm chí được phục hồi biến chất, như cây đờn

tỳ bà chẳng hạn, mà thay vào đó thì cây ghi-ta phím lõm

lại nghiễm nhiên được chễm chệ ngồi mâm cỗ, rồi dần dần

được mặc định như là một cây đờn chủ đạo cho nhạc tài tử

Còn về các nhạc cụ khác tuy không thuộc phạm vi sử dụng

về kỹ thuật của mình, tôi xin phép được hỏi han những thầy

đờn có hiểu biết, từ đó ghi nhận và phân tích suy xét theo

mạch lý luận của nghiên cứu này Rất mong nhận được sự

quan tâm, phê bình và chia sẻ của quý vị là những người am

tường và mộ điệu, từ đó góp phần hoàn thiện nghiên cứu này

hơn nữa

- Nghiên cứu này cũng như một nghiên cứu bất kỳ nào

đó là tiếp thu những nghiên cứu có trước để làm tiển để,

Trang 23

Xuân Yên, hai nhà trí thức về nhạc tài tử cũng là học trò của

| tiếng trong giới nÏ ac tài tử xưa như nhạc

sư, nhà giáo Nguyễn Văn Thinh, ông Phạm Văn Nghi (Tư

Nghị), nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, thầy Năm An, thầy Trần

Thanh Tâm (Chín Tâm) Pừ những nghiên cứu trước đó, dựa trên những tư liệu xuất bản, tôi sẽ nêu lên quan điểm của mình về tương đồng hoặc phản bác một cách khách quan,

đồng thời sẽ có một vài khái niệm của riêng mình như là một

nhận định mới cho Đờn ca tài tử Nam bộ

23

Trang 26

I VI TRI DIA LY VA THOI DIEM

Don ca tai tt hay Nhạc tài tử Nam bộ chắc chắn là phải ở

Nam 06 ma ta oiét rang G6 la Nar ky Luc tinh ttic: Bién Hoa,

Gia Dinh, Dinh Tường thuộc miền Đông và Vĩnh Long, An

Giang, Hà Tiên thuộc miền Tây thời bấy SN

Nếu làm một cuộc khảo sát về vùng đất này kể từ khi có

dấu chân của lưu dân Việt vào khai hoang lập ấp, thì hẵn đã

có quá nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, địa lý tốn

nhiều giấy mực cho để tài này rồi, do đó để đảm bảo về tính

chất của phạm vi để tài này ở đây tôi xin phép không đi sâu

vào dẫn giải vấn để này nữa, mà chỉ nêu sơ lược để làm bật

lên sự lưu truyền, giao lưu, tiếp thu và biến đối của đời sống

âm nhạc của cư dân Nam bộ; để tạo tién dé cho ra đời loại

hình Đờn ca tài tử Nam bộ

II THỜI GIAN XUẤT HIỆN

Tính từ năm “Mậu Ngọ, năm thứ I [1558] (Lê - Chính

Trị năm 1, Minh - Gia Tĩnh năm 37), mua đông, tháng 10,

chúa bắt đâu vào trấn Thuận Hóa, 34 tuổi”U) nghĩa là Nguyễn

Hoàng bắt đầu mở cõi Đàng Trong về phía Nam khởi điểm

từ xứ Thuận Hóa, khi ấy thì danh từ về Nam bộ, Nam kỳ, Lục

tỉnh, xứ Đồng Nai vẫn chưa được hình thành Cư dân Việt

bắt đầu theo Nguyễn Hoàng từ Bắc vào mở cõi phương Nann,

mãi đến năm 1658, Đại Nam thực lục tiên biên % thị E BRAN

Tháng 9, vua nước Chân Lap (vốn tên là Cao Miên) là

Nặc Ông Chân xâm lấn biên thùy Dinh Trấn Biên báo lên

Chúa sai Phó tướng Trấn Biên là Tôn Thất Yến, Cai đội là

Xuân Thắng, Tham mưu là Minh Lộc (2 người đểu không

l.- Quốc sử quán triểu Nguyễn, Đại Nưm thực lục tiển biên, Tập 1, Nguyễn Ngọc Tỉnh

dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr 28

Trang 27

chi

r6 ho) dem 3.000 quan dén thanh Hung Phuc (bay gid goi

la Moi Xuy, nay thudc huyén Phuc Chinh, tinh Bién Hoa)

ñánh phá được, bắt Nặc Ông Chân đưa về Chúa tha lội

cho và sai hộ tống về nước, khiến lam phién than, hang

nam nop cong.)

Còn đây là một đoạn ghi chép trong Gia Định thành thông

của Trịnh Hoài Đức, quyển “Cương vực chỉ:

Kể thì Gia Định, xưa là đất cua nuéc Thuy Chan Lap

(tức là nước Cao Miên ngày nay, nòi giống chia lam Thuy

Chân Lạp và Lục Chân Lạp), đất ruộng béo tốt, sông

nhiều, bể trăn, có nhiều địa lợi nhu thoc, dau, cd, mudi

Các đấng tiên hoàng triểu ta chưa nhàn roi muu tinh xa,

tam cho đất ấy là đất của nước Cao Môn, đời đời xing

là nước phiên ở phương Nam, cống hiến không ngét Dén

năm Mậu Tuất đời Thái Tông Hiếu Triết hoàng đễ năm

thứ 11 (1658) (Lê Thần Tông Vĩnh Thọ năm thứ ]; ngang

với miên hiệu Minh Vĩnh Lịch năm thứ 12, Thanh Thuận

Trị năm thứ 14), mua thu, tháng 9, vua nước Cao Môn

là Nặc Ông Chăn xâm phạm biên giới ( ) Vua sai Phó

tướng dinh Trấn Bién ( ), la Yén Vii hau, Tham muu

Minh Lộc hầu, Cai đội suất tiên phong la Xuan Thang

hau, dem 2.000 quan, di hai tudn dén thành Mỗi Xoài®)

nước Cao Miên, đánh phá tan được, bắt vua nước ấy là

Nac Ong Chan, đóng gông đem đến hành tại ở dinh

Quảng Bình Vua dụ tha tội, vẫn phong Nặc Ông Chăn

làm vua nước Cao Miên, cho làm phiên thần nộp cống,

không được đi cho dân phiên xâm nhiều Bèn sai quan

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, Tập 1, sđỏ, tr 72

Bản dịch của Lý Việt Dũng là 3.000 quân, có so sánh hai bản chữ Hán của hai sách

thì thấy có sai lệch một bên là 2.000 một bên là 3.000

Mỗi Xoài (Mô Xoài, Mỗi Xuy) tức Bà Rịa sau này

Hành tại: chỗ vua chúa đi tuần thú tạm ở gọi là hành tại, cung đang ở gọi là hành cung

27

Trang 28

quan ho téng vé nuéc Khi ấy địa dau tran Gia Dinh la

hai xứ Mỗi Xoài, Đồng Nai (đất trấn Bien Hoa ngay nay)

Ga Cui ig C7 lan Yue eR wWUE Whey

Miên, để khai khẩn ruộng đất, tà người Cao Mén so phuc

uy đúc của triểu đình, lại nhường ma tránh, không dám

tranh giành ngăn trở

a5 rida

Sử liệu cho thấy kể từ năm 1658 thì xứ Biên Hòa -

Đồng Nai (Trấn Biên) đã được cắt đặt cơ quan cai trị, có

Phó tướng là Tôn Thất Yến Qua đó có thể suy ra rằng, cư

dân Việt đã hiện diện trên xứ này, còn về dân số như thế

nao thì không rõ, nhưng qua số lượng 3.000 quân, chưa kể

dân, thì chúng ta cũng hạo được một con số không nhỏ,

Điểu này được xác nhận ở quyển “Thành trì chí - Thành

Gia Định” như sau:

Gia Dinh trudc nhiéu rung cham ram rap, doi Thái

Tong” sai tướng mở cối chọn chỗ bằng phẳng tiện lợi, lập

dinh đôn ở chợ Diéu Khiến ngày nay, làm nơi cho Thống

suất tham mưu đóng quân Lại đặt dinh Phiên Trấn ở lân

Tan Thuan ngay nay, lam nha thự cho giám quan cai ba,

ký lục, bảo vệ bằng trại quân, ngăn bang rào Ngoài ra thì

_ cho dân trưng chiếm, chia đặt làng xớm phố chợ, nhà dân

lộn xộn, đường đi cong, thẳng, cho dân tủy tiện, ngăn nắp

chưa kịp sửa sang.°)

Từ việc hiện diện người Việt trên xứ Đồng Nai, chúng ta

có thể hiểu răng người dân không chỉ mang theo mỗi con

1, Trinh Hoai Duc, Gia Định thành thông chí, Đỗ Mộng Khương và Nguyễn Ngọc

Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính và chú thích, Viện Sử học, Nxb Giáo dục, Hà

Nội, 1999, tr 75, có tham khảo bản dịch của Lý Việt Dũng, Nxb Tổng hợp Đồng

Nai, 2006

2 Đời chúa Nguyễn Phúc Tan (1648 - 1686)

3 _ Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, sảd, tr 175

Trang 29

người để sinh hoại trên vung đât mới, raá còn có thê hiểu

Phúc Chu (1692 - 1725), Đại Nam thực lạc tiễn biên chép:

Bắt đầu đặt phủ Gia Định Sai Thống suất Nguyễn Hữu

Kính kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lẫy xử Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay thăng làm phủ), dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay thăng làm phủ), dựng đinh Phiên Trấn (túc Gia Định ngày nay), mỗi dinh đều đặt các chức

lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền thủy bộ tỉnh bình

và thuộc binh Mô rộng đất được nghìn dặm, được hơn 4

vạn hộ, bèn chiêu mộ những dân xiêu dạt tử Bố Chính trỗ

vê Nam cho đến ở cho đông Thiết lập xã thông phường

ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệnh thuế tô dung, làm số đinh điễn Lại lấy người Thanh đến

buôn bán 6 Tran Biên lập làm xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn,

lập làm xã Minh Hương BÄ”Ñ- (nay là 8®) Từ đó người

Thanh ở buôn bán đếu thành dân hộ [cua ta]

Nguyễn Hữu Kính tức Nguyễn Hữu Cảnh, mà ở đâu

trong cõi Nam bộ này người ta cũng biết, sau khi mất ông

được người dân ở Nam bộ thờ ở đình như một vị thần trấn

cuộc đất này, cho thấy uy tín cũng như uy linh của ông đối

với công cuộc khai phá miền Nam Kể từ đó đến nay, Nam

bộ với tuổi đời có cư dân Việt kể cũng trên dưới 300 năm Với nền văn hóa lâu đời của cư dân Việt, có dân sẽ lập làng,

Trang 30

kiện tượng trưng cho một tổ chức cá thể nhỏ để từ đó gộp

nên thành một quốc gia, các luật lệ do làng định ra sẽ thành

một nếp lâu đời, nhiều khi vượt ra khỏi phép nước, miễn sao

Sảo toàn được an ninh, lề lối và truyển thống văn hóa của

một quốc gia thì không vấn để gì, do đó chúng ta đã từng

nghe nói đến câu tục ngữ “phép vua thua lệ làng” cho thấy u

tín và quyền lực của đơn vị làng trong văn hóa Việt, mà ở đó “<

quyển lực tập trung vào đình làng

Mặc dù quy rnô và cơ cấu của làng Nam bộ so với Bắc bộ

có phần lỏng lẻo và thoáng hơn, nhưng đại thể vẫn giữ được

những nét đặc trưng không thể thiếu để có thể duy trì quyền

lực và chức năng của làng Nói đến đình làng như một yếu tố

để hình thành nên loại hình Đờn ca tài tử sau này đó chính

là nhạc lễ trong cúng đình Dù sao đi nữa ta cũng phải khẳng

định một điều rằng nhạc lễ cúng đình là một trong những

yếu tố thai nghén cho Đờn ca tài tử vì hầu như tất cả những

bài bản trong nhạc lễ và một phần nhạc cụ trong dàn nhạc lễ

đã được chuyển sang cho nhạc tài tử, tôi sẽ trở lại vấn đề này

sau ở phần sau

Từ những dẫn chứng trên, với sự xuất hiện của cư dân

Việt ở Nam bộ từ thế kỷ XVII, chúng ta có thể xác định được

thời gian thai nghén cho Don ca tài tử kể từ đó, với loại hình

nhạc lễ cúng đình và những loại hình văn nghệ dân gian

khác của người Việt đó là dân ca, hò, lý tất cá những loại

hình văn nghệ dân gian như dân ca, hò, lý ấy được người Việt

mang từ Bắc bộ, vào Trung bộ rồi dần di chuyển đến Nam

bộ Một minh chứng cho các phong tục từ miền ngoài theo

di dân đi vào Nam như tục hát Sắc bùa, Gia Định thành thông

chí chép ở quyển “Phong tục ch”:

Ở Nông Nại (tức Đồng Nai), đến cuối năm, vào đêm 28

tháng chạp, có na nhân (tục danh Nậu Sắc bùa ) đánh trống

Trang 31

tọi, gõ bản phách, mươi lăm người làm mét bon, di dong

khắp phố, xóm, nhà nào hào phú thì đẩy cửa mà vào, dán

bùa vào các cửa, niệm doc than chú, trống phách, tiếp đến

loi hat chuc mung Chu nha lap tic dem cỗ bàn chè rượu

thét dai, va phong tién thudng ta Lai di dén nha khdc cting

năm cũ đón năm tới vậy.)

Cho thấy sự du nhập phong tục va loai hinh 4m nhac tín

ngưỡng cũng hiện diện ở đất Nam bộ Tất nhiên theo sự biến

thiên về khoảng cách địa lý, cùng với sự dung hợp những

tính chất văn nghệ địa phương của dân Chân Lạp tức dân

Khmer bây giờ, hò miền Nam và hò miển Trung, cũng như

lý miền Nam và lý miễn Trung đã khác nhau về thang âm,

hơi điệu và kỹ thuật rung luyến thanh nhạc, tạo nên nét đặc

trưng phân biệt Từ sự khác biệt và đặc tính tiếp thu, thay

đổi đó được du nhập vào Đờn ca tài tử, ra đời hơi oán và hơi

Vọng cổ như là một huyền thoại của âm nhạc Nam bộ, giúp

cho âm nhạc Nam bộ có thể khẳng định chính mình

Rất có thể trong thời kỳ thai nghén ấy, loại hình Đờn ca

tài tử đã tốn tại âm thầm trong dân gian thông qua các nhạc

công của ban nhạc lễ, của nhạc công các ban hát bội, họ tụ

hội chơi với nhau thông qua hình thức tập dượt, cũng như

thư giãn lúc trà dư tửu hậu, sau các công việc đồng áng với

mục đích giải khuây Và mãi cho đến phong trào Cần Vương

nổi lên sau khi Pháp chiếm hoàn toàn nước ta, các sĩ phu,

nhạc công từ miền Trung lánh vào Nam bộ, trong đó có một

nhạc công của triểu đình Huế vào Nam, đó là ông Nguyễn

Quang Đại (tục xưng cụ Ba Đợi) và ông được biết đến như

là hậu tổ của nghề Đờn ca tài tử Nam bộ nhóm miền Đông

Điều này có nghĩa là ông Ba Đợi đã có công đem nghề đờn

1 _ Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, sảd, tr 143

ở]

Trang 32

của mình từ vùng đất Kinh kỳ vào Nam, từ dé gop phan

làm sôi nổi lên phong trào Đờn ca tài tử, do đó mà trong

quyển Hát bội, Đờn ca tài tử và Cải lương cuối TK 19 đâu TK

IW rvia hai Ana Nour An T

“4V Của ii Vi AN Guy eis ty

A

rang “nhac tai tt cé nguén géc tut nhac Cung dinh Hué™ toi

cho việc định danh này là thiếu sót, trong khi trước khi cụ

Ba Đợi vào Nam thì bản thân tại Nam bộ đã có ban nhạc lễ của các đám cúng đình, ban nhạc công của các gánh hát bội,

chính những người này vô hình trung đã là một thành phan

của loại hình Đờn ca tài tử cho dù là đang trong quá trình

thai nghén hay là còn non nớt Do đó tôi cho rằng nhạc cung

ệ Tuy ên và Nguyên Pric Hiện cho

đình Huế cũng chỉ là một yếu tố góp phần làm cho Đờn ca

tài tử trở nên hoàn thiện hơn vậy

Song song với nhóm nhạc miền Đông của cụ Ba Đợi, ta

còn được biết đến nhóm nhạc miền Tây mà Nhạc Khi (1870 - 1948) (tức Lê Tài Khí) được hậu thế tôn xưng là hậu tổ nhạc

tài tử, chủ chốt nhóm miển Tây Trong quyển Tìm hiếu cổ nhạc Bạc Liêu, ông Trần Phước Thuận chép:

Nhạc Khị - người khai sinh ra trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, đã được anh em nghệ nhân, nghệ sĩ |ỏ] tôn xưng là

Hậu Tổ Tư tưởng và sáng tác của ông không những đã làm

- kim chỉ nam cho các hoạt động cổ nhạc 6 Bac Liéu, ma con

gây ảnh hưởng sâu rộng đến các phong trào ca nhạc cổ ở nhiễu nơi, nhiễu tỉnh trong những thập nién dau thé ky

XX Có thể nói: Nhạc Khi là cây đòn bấy cứng cáp đã tạo được sức bật ban đầu trong quá trình phát triển cổ nhạc

- Nam bộ nói chung và Bạc Liêu nói riêng

19 đầu TK 20, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, TP.HCM, 2013, tr 45

2 _ Trần Phước Thuận, Tìm hiểu cổ nhạc Bạc Liêu, Nxb Âm nhạc, Liên hiệp hội Văn

học Nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu, 2014, tr 20

Trang 33

thể là “ở đây” hoặc “ở Bạc Liêu” nhưng viết thiếu, tạm đặt

vào ngoặc vuông để đảm bảo tính chính xác với bản gốc đã

trích dẫn Từ hai dẫn chứng trên cho thay cudi thé ky XIX,

tức trước phong trào Cần Vương (1885) thì ở Nam bộ đã tồn

tại một loại hình âm nhạc mà ta tạm gọi là fiển Nhạc

nếu không như thế thì các nhạc công chung quanh ông Nhạc

Khi, và các bạn nhạc với ông Ba Đợi sau khi ông vào Nam

không thể nào bỗng chốc nổi lên để tạo tiển để cho hai cụ có

dịp phát triển Đờn ca tài tử được Cụ Ba Đợi vào Nam ngụ Ở

Gia Định (Long An ngày nay), còn Nhạc Khi thì ở Bạc Liều

(thời ấy còn thuộc về An Giang theo bản dé luc tinh Nam kỳ)

Dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của hai ông thì phong trào

Đờn ca tài tử được lớn mạnh, cũng chính trong thời kỳ này

bài bản Đờn ca tài tử được sáng tác ổ ạt Hơi oán, một hơi

đặc trưng của Nam bộ được sinh ra từ sự phát triển, hay nói

theo thuật ngữ âm nhạc phương Tây chính là biến tấu của

bản T1 đại cảnh từ vùng đất Kinh kỳ Theo tài liệu của luật sư

Nguyễn Tấn Nhì bút danh Nhị Tấn, vốn là một nhà nghiên

cứu về nhạc tài tử có tiếng trong giới nhạc tài tử Nam bộ gần

đây thì chép rằng: “Ông Ba Đợi chuyến hơi, chuyển cung và

phát triển bản Tứ Đại Cảnh của Nhạc miễn Trung từ hơi Bắc

dựng thành hơi Oán.*? Còn thù pháp “chuyển hơi, chuyển

cung và phát triển” như thế nào thì chưa được phân tích cặn

kẽ Tiếp theo, bài bản được sáng tác, chỉnh lý, một số khuyết

danh người sáng tác, một số còn lưu giữ được 20 bài bản tổ

được chỉnh lý và xác lập định hình, bên cạnh đó có sự đị bản

nhỏ giữa hai nhóm miền Đông và miển Tây Nhóm miển

Đông được biết cụ Ba Đợi sáng tác bộ Bát ngự để nghinh

đón vua Thành Thái vào Sài Gòn, và qua đó gởi gắm tâm tư

1 Nhị Tấn, Nhạc tài tử Nam bộ (tập D), tài liệu nội bộ phổ biến trong giới nhạc tài tử

của Trung tâm văn hóa quận 8 - Câu lạc bộ Đờn ca tài tử quận 8, 1997, tr 8

33

Trang 34

tình cảm của mình cũng như tâm tư tình cảm của người dân -

Nam bộ cho vua tỏ tường

RAy canh AA can cA oir cian hu œ117a hai nhéóm : 5! gt n nha ac Q

QB Nà Sun KF BA A

4 2€ Celt ees Cee eee ea OLE Sick Bk

tác của nhóm này để đối lại với nhóm kia như một sự thi thố

và lễ phép Từ đó, định hình hơi điệu nhạc tài tử, đồng thời hình thành sự phong phú về bài bản nhạc tài tử, từ bản vắn cho đến bản trường

thi tập của Nguyễn Liên Phong, mục Điếu Phan Hiển Đạo

co viet:

Ong Phan Hiến Đạo, người tỉnh Mỹ Tho, thi dau Tan si,

hình trạng thanh lịch, tánh nết thiệp liệp thông tỉnh, lúc

ngài ra Huế học cử nghiệp, thì có học đặng diéu don Hué

cũng nhiễu, đến khi thi đậu rối, vua ban cờ, bién, ao mao

cho về vinh quy, đặng ít lâu, quyến ngôi Đốc học chánh tại

tỉnh Mỹ, tác thành tôn đệ đông người, lúc Nhà nước lại thâu thủ Nam kỳ, ngài với ông Tôn Thọ Tường toan bễ ra

giúp việc nước với Langsa, hai ông cùng nhau trò chuyện

Trang 35

thi ngai riéng nghi phan minh lam

r về làng Vink Kim Đông tục danh

la Cho Gitta, ngai ben tu tu, con mét minh ông Tường giúp

việc nhà nưúc làm tới đốc phủ sử Lớp sau ông Phan Thanh

Giản, duy ngài với ông Tường là văn học phẩm hạnh có

tiếng, thân hào trong.sáu tỉnh có đặt bốn câu hát rằng:

x

lấy làm tương đắc, rồi

sao không biét, ngai t

Lớp sau Thanh Giản tiếng đôn,

La Phan Hiến Đạo với Tôn Thọ Tường

Ông thời nho:nhã văn chương,

Ông thời thi phú tót Äường diệu công

Ông về thác:tại Kim Đông,

Ông ra giúp nước bụng đồng tương trí

Một còn một tất trọn nghì,

Ngàn thu gương tạc Nam kỳ danh nho

Thi rằng:

Nối dẫu văh tỉnh rạng vẻ:son, -

Rải ro thời thế tiếng không tròn

Céi bd chu méi.lam vun quén,

Cờ biến ơn xua nghi héo don

Tri kỹ mấy lời ghi bụng nhớ,

Da dai mét gidc.nin hơi ngon |

Khúc đờn Lưu thủy trôi dòng bích,

Ma giong kim tranh điệu Huế còn

Qua tài liệu trên cho thấy ông Phan Hiển Đạo “lúc ngài

ra Huế học cử nghiệp, thì có học đặng điệu:đờn Huế cũng

2013, tr 69

35

Trang 36

nhiều” từ đó khi về quê hẳn phải có đem theo nghề ấy vào |

Nam, cũng như từ hai bài thơ sau cùng do ông Nguyễn Liên

Phong làm để điếu Phan Hiển Đạo “Khúc đờn Lưu thủy trôi

dong bich, Ma giong kim tranh điệu Huế còn” ghì dấu ngày

đó khi ông học được ngón đờn cũng như bài bản nhạc miền

Trung, vẫn giữ được nét “Huế còn” ấy, từ đó chúng ta có thể

hiểu, thời ông làm đốc học tỉnh Định Tường, sau khi đỗ tiến

sĩ năm Bính Thìn (1856), nhạc tài tử vẫn chưa định hình, nét

miền Trung vẫn còn hiện diện trong tiếng đờn, chứ không

được Nam bộ và tài tử như ta nghe hiện nay Ngoài ra ông

Tôn Thọ Tường cũng là một nhân vật không chỉ có tiếng tắm

trên trường chính trị, mà còn có “vai vế” trong giới chơi bời,

tài tử Tôn Thọ Tường vốn sinh ra trong một gia đình khoa

hoạn, cháu nội Tôn Thọ Vinh công thần thời Nguyễn Ánh,

con của lồn Thọ Đức, một cử nhân khoa Tân Ty, năm Minh

Mạng thứ hai (1821)

Tôn Thọ Tường sinh ra trên đất Bình Dương tỉnh Gia

Định theo quy hoạch hành chính cũ, từ thuở lọt lòng ông đã

là một công tử, cuộc sống phồn hoa, lớn lên được lên kinh

kỳ học tập, giữa đường học vấn, năm mười bốn tuổi được

tin cha mất, ông quày quả về quê thọ tang, rồi có vợ ở Vũng

Liệm, năm mười tám tuổi lại ra Huế dâng sé xin tap 4m™, va

được vua chấp nhận cho tập ấm, nhưng với ngạch võ bang, vì

triều đình cho rằng ông vốn xin tập ấm tổ tiên là công thần

ngạch võ, nhưng bản thân ông lại sở đắc về văn học, ông cố

gắng kêu nài nhưng không lung lay được, nên uất hận, ông

về học tập để lại thi cho vào được văn bang, nhưng không

may là ông trượt, từ đó uất hận càng thêm sâu nặng, dẫn đến

những việc làm không hay cho lắm của ông về sau

1 Tập ấm là một chế độ trong thời phong kiến, chỉ việc con cháu của các quan có

công với triểu đình được hưởng chế độ như họ

Trang 37

1

Vé 2 8

on tư chất văn học, tài tử và nghệ sĩ ông đã đứn

tỉnh cảm Trong Hồi ký 50 năm mê hát của học giả Vương

ồng Sển, có đoạn ông nói đến Tôn Thọ Tường về van dé

Nay tôi cũng không ngồ nhơn nói chuyện đờn địch xú

Vĩnh Kim lại kéo ra chuyện ông Tôn Thọ Tường và ông

Phan Hiễn Đạo Ý tôi muốn nhấn manh rằng người Chợ

Gitta, Rạch Gâm học đờn có căn bản, có gốc gác, vì hai ông

Tưởng và Đạo có ra học nghiệp tại Huế và có thọ nghiệp

don ngoài ấy Chuyện theo Tây bỏ ra ngoài, phải nhìn nhận

hai người có công đem nghệ thuật đờn vào truyền bá trong

Nam Nhứt là cậu ba Tường, ai ai thuở ấy cũng biết tiéng,

ăn chơi hút xách, đờn địch, bạc bài, tứ đỗ tường ông nếm

du, vì bình sanh là người bất đắc chí, tuy đẫu Tây mà giúp

bạn, cứu niguy nhiều người, va trọn đời chịu nghèo không

tham của hối, chưa chắc người khác được như ông Còn tài

Ngoài hai ông Phan Hiển Đạo và Tôn Thọ Tường ra còn có

Học Lạc, ông sanh năm bao nhiêu không rõ, nhưng Nguyễn

Vấn Hầu suy đoán từ những cứ liệu mà phỏng chừng lối

1842 (Nhâm Dân), ông mất năm 1915, từng có tiếng trong

lãnh vực cổ nhạc

Nguyễn Văn Lạc biệt hiệu là Sẩm Giang, nối tiếng hay

chữ, được tuyến vào chân học sanh tại tỉnh nhà nên người

ương thời gợi ông là thầy Học sanh Lạc hoặc gọn ghẽ hơn:

Hoc Lac Gap thoi loan li, các cuộc thì Hương ở Gia Định

đều bị đình hoãn kể tử 1859, Học Lạc không theo con đường

khoa cử được nrữa nên xoay qua các nghề thầy thuốc, thầy

1, Vuong Hong Sén, Hoi ký 50 năm mê hát - Năm mươi năm cải lương, Cd sở Phạm

Quang Khai xuất bản, Sài Gòn, 1968, tr 41

J/

Trang 38

giáo, có lúc thầy bói và biết chơi rất sành hai nhạc khí cổ là

bậc yêu thích Don ca tài tử và sân khấu cải ¡ lương cao tuổi,

hoặc có nghiên cứu tìm hiểu về lịch sử cải lương đểu biết

danh cô Ba Điểu, cô Năm Thoàn và cô Tám Hảo Ông Lê Văn

Ông Lê Văn Huệ là thân phụ cô Ba Điều, cô Năm Thoàn

và cô Tám Hảo (cô đào gánh hát cdi luong thay Nam Tu

và về sau là vo cua thay Nam Tu) Nha ong giáo viên Lô

Văn Huệ ở gẩn bên nhà cụ Phan Hiến Đạo Ông giáo Huệ

thường hòa đờn với gia đình dòng họ Nguyễn Tri Tự ông

hướng dẫn cho hai cô con gái lớn là Lê Thị Điểu (tức Ba

Điều) đờn tranh và Lê Thị Thoàn (Năm Thoan) ca tai tu tu

năm 1908 đến năm 1917 thì theo cải lương

Ông Lê Văn Huệ cũng là một tay tài tử thạo đờn tranh

và biết ca tài tử, để có thể hướng dẫn hai cô con gái chơi hai

món này, đồng thời có giao du với gia đình họ Nguyễn Tri

tức là bên phía họ ngoại Nguyễn Tri Khương, Nguyễn Tri

Túc của ông Trần Văn Khê thì cũng thuộc bực tài danh

- Ngoài ra còn có ông Trần Bá Thọ (1861 - 1909) là con ông

Trần Bá Lộc, “ngài thường khi ham học chữ nho, hay dat thi

nôm dung van Tu Thứ, ngài có học khảy đờn kừm đờn tranh,

miệng ca tay đờn nghe cũng nhậm lẹ”? Ta còn thấy kể cả

Nguyễn Liên Phong là người miền Trung vào Nam, nhưng

tiểu sử của ông rời rạc, chưa xác định rõ ràng được, Phan

Văn Hùm trong bài viết đăng trên báo Trí Tân ngày 23-3-

2 _ Trần Minh Tiên, Lê Minh Chánh, T?m hiểu nghệ thuật sân khấu cải lương, Sở Văn

- hóa - Thông tin Long An xuất bản, 1989, tr 18,

Trang 39

1944 tua la Mot bai thi cua D6 Chiéu cé dé cap dén Nguyér

°

ín quốc sự pham ma bi day vao Nam ky Ong cé dip di

nhiều nơi ở Nam kỳ từ đó cho ra đời tác phẩm Nam kỳ phong

của mình, ông viết L rong phần ° ‘Diéu Tran BA Hưư

Ong Tran Bd Huu la em ong Tran Ba Tho, anh ong Tran

Bá Tường, ngài hình trạng khôi ngô thanh lich, tanh nét thiép liép thong minh, luc ngài làm Trị phủ tại xứ Long Thành, thì vừa gặp dịp tôi đi làm thầy thuốc nơi làng Phước

Kiểng, ngài gặp tôi nơi chỗ nhà ngu, tro chuyện tương đắc lắm, ngài nghe tôi đờn kừm ca mấy bài ngự chế, ngài nghe không biết tỏi.)

Nguyễn Liên Phong có giao du với Học Lạc, ông Lạc vốn

cũng sành cổ nhạc, do đó chắc hẳn hai ông có giao lưu với nhau đặng mà học hỏi Một minh chứng cho thay sự truyền thụ gián tiếp của ông Nguyễn Liên Phong cho giới nhạc Nam

kỳ đó là ông có con tên là Nguyễn Tùng Bá, mà ông Nguyễn

Tùng Bá thì là một nhân vật cũng có tiếng tăm trong nhạc

giới tài tử, Vương Hồng Sểến còn ghi dấu:

Lúc nhỏ, tôi từng biết mặt ông Nguyễn Tùng Bá khi ông

“thả cầm thi” xuống chợ Sốc Trăng ngối dạy đờn Ông trắng

người, dỏng dảy tránh khánh đẹp trai, đầu tóc đen huyền,

nhưng tóc bới theo xưa hay cất ngắn nay tôi không nhớ

chắc, tánh phong lưu luôn luôn thích ngậm xi gà, khi khác

1, Phan Van Hum, Mét bai thi cua Dé Chiếu, tạp chí Trị Tân, 23-3-1944, tr 7, 21

39

Trang 40

hut thuốc bao xanh “Bastos” thứ không phải cắt đâu dé

y nguyên tra điễu thuốc trong ðng đót bọt nước và thỉnh

thodng gat gu vita day đờn vừa nhắp ly cỗ nhác “sec” Ông

tt ÿ cit0 UCL Vii PLU Wk 117D được Tội CAT it uw UUt; 2

nhận công năm dong bac, trong khi ấy cơm nước ăn ở tại

nha ngudi hoc don, và phải nhó cung phung sang trong co

rượu Tay cé dé nhap vi véo nhé!”

Ngoài ra riêng ông Nguyễn Tùng Bá vào thời điểm đầu thế

kỷ XX, đã xuất bản được ba quyển là Bản đờn kiểm do nhà

in Imprimerie de Union ấn hành năm 1913, gốm khoảng

20 bản đờn kìm và có kèm bài ca, quyển thứ hai là tap Bai

ca tới khác thứ + 3} + (Thất tài tử) do Phát Toán, Libraire

Imprimeur ấn hành năm 1912, và quyển thứ ba là tập bài ca

tựa Bái tài tử cũng do Dinh Thái Sơn in năm 1915 Qua đó

cho thấy sức ảnh hưởng của ông Nguyễn Liên Phong qua

ông Nguyễn Tùng Bá đến với nhạc giới tài tử Nam bộ

Qua tài liệu của ông Trần Văn Khê thì ai cũng biết ông có

ông nội là Trần Quang Diệm (1853 - 1925) đờn giỏi, mà ông

Trần Văn Khải có ghi lại lời ông Diệp Văn Cương cho hay

ông Diệm đờn tỳ bà rất xuất sắc: “Khi tôi nghe Tư Triếu don

Kìm và cậu Năm Diệm đờn Tỷ tồi, tôi không còn muốn nghe

ai đờn rrữa cả.) Và cô của ông là bà Trần Ngọc Viện (1885 -

1944) “thiện nghệ cây đàn tranh Cũng trong tài liệu của

Nguyễn Liên Phong:

Ông Trần Văn Sơn người ở Tân Dinh (Phú Hòa), tục `

kêu là Chợ Mới, thuộc về Sài Gòn, hình trạng khôi ngô

thanh lịch, nước da trắng, râu đài, tróng tay dài, tánh nết

thông trỉnh khí khái, gốm biết đạo nho đạo y, hay khảy

1 Vuong Hong Sển, Hổi ký 50 năm mê hát - Năm muoi năm cải lương, sảd, tr 69

2 Trần Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Khai Trí, Sài Gòn, 1966 (Bính Ngọ),

Ngày đăng: 19/02/2025, 11:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH  THỨC  VÀ  ĐỐI  TƯỢNG  CỦA  ĐỜN  CA  TÀI  TỬ - Đờn ca tài tử nam bộ pdf
HÌNH THỨC VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỜN CA TÀI TỬ (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN