Cuốn sách tổng quan về nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, tương đối trực quan, chi tiết, dễ hiểu. Thông qua cuốn sách, bạn đọc có thể có cái nhìn khái quát và thêm yêu hơn về loại hình nghệ thuật đã được UNESCO công nhận này.
Trang 21 Đờn ca tài tử Nam bộ 2 Âm nhạc dân tộc Việt Nam I Ts
1 Đờn ca tài tử Nam Bộ 2 Folk music Vietnam
_ 781.6295922 ddc 23
N573-A53
Trang 3
oe
lôi dành ting quyén sách này cho ông Nội tôi, người đã
Bạc phước, vô duyên xu số nhứt trên đương
tràn, đồnh chịu sồu ihương|
Vì mang nghiệp chướng tiền khiên,
Ngày nay nặng gảnh hận phiền,
QUYNH-NGA ; Hoàng-MinhÌ Cầu xin anh thứ thơ tộ
tình,
HOÀNG-MINH : Gương bề, khó mong lành,
Tôi đõ đành vui sống đời lầm than
Trang 5LỜI TỰA seo 9 LỜI TRIÂN G1011 1 10111111155 5111111101105 E1 1 ng 8 g3x5 13
DAN NHAP _ su 15
CHƯƠNG MỘT
KHẢO VỀ NGUỒN GỐC ĐỜN CA TÀI TỬ
l VỊ trí địa lý và thời điểm ccceccsssssssesssessssssssessscesseesees 26
TT, Thời gian xuất hiện 4 HH 21 HH 90211111121 5esrceeg 26 1H Khảo về hai nhóm tài tử miền Đông và miển Tây 34
1 Nhóm miền Đông - sọ vEsrersrrrreea 34
2 Nhóm miễn Tây - cán HH ng ng crrgrgree 50
„ _ Vẫn đề về lý con sáo và Lý tam thất cscce 73 1V Kết chương SH HH trerereree 76
CHƯƠNG HAI
HÌNH THỨC VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỜN CA TÀI TỬ
I Hinh thức của Đờn ca tài tử so onnnnre ¬ 80
5o Khảo về chữ fải Hử c nT TH TH nghe Hee 84
HH Đối tượng của Đờn ca tài tỬ uc nen 94
DON CA TAI TU - XOAY QUANH VẤN DE AM NHAC
[ Luận về âm nhạc tài CỬ HH nh Hee 118
se - Nhạc cung đình Huế & ca Huế -corsos.ccee 127
s Nhạc lễ Nam bộ QQ Q QQS HH HỖ HH ng na 132
© Nhac 1é Cao Dai ccccccssscessssscscssssessesssccssessecseseresecseees 134
Trang 6© Darn ca Nam DO cieecceccsccsscscesssceceessssecessessesssceeecsssecenees 137
Luận về ngũ cung thất thanh Việt Nam trong nhac tai tt 142
„ = Người Trung Quốc cố đại
đã tìm ra ngũ cung như thế nào? ¬ 145
ø 12 luật lữ lrung Hoa
tương đương 12 âm quân bình phương Tây 147
„ Lối ký âm công xích phổ - Hò xu xang xé cống 148
HH Hơi và điệu trong nhạc tài tỬ co nhe 161
IV Nhịp trong nhạc tài tỬ chen HeHiee 172
V Định nghĩa hò và các loại day, day hò trong nhạc tài tử 184
CHƯƠNG BON
I 20 BÀI BẢN TỔ VÀ CÁC LOẠI BÀI BẢN NHẠC TÀI TỬ 190
0 67 bai Lé (7 bai Bac 16n, 7 bài Cò) ccecsses 206
E_ Bộ Thập thủ liên huờn T† TT:iŠ#Z c.c 220
G._ Bộ Cửu nhĩ ÿ\(,-[ G S2 Set 2t nen 223
T Bộ Bát ngự ¿VẾP reerrrrrrrrrrree 224
J._ Bộ Aioán Ä #Ä uc reerrde 228
K Bộ Tam Bắc nhị oán =3L-CTỈỂŠ Lee 229
Trang 7| Ỉ KHẢO VỀ NHẠC CỤ TRONG D
(8) Dây Nhị ngũ co 25
(9) Dây Sa Giang eceeeeeii 2Ó 2 Đờn tranh và các loại dây c 29
(2) Dây Nam ai - S2 sevsvesereesersreceec.v TỔ Z
(3) Dây Nam xuân -ccccecseeecsccec.c.ce , 207 (4) Dây hò nhì cai TỐ
Trang 8MOT SO VAN DE VỀ DON CA TAI TU
Il Bài Dạ cổ hoài lang trong nhạc tài tử be 349
HI Bản Vọng cổ với nhạc tài tỬ Hi 351
PHỤ LỤC
I PHULUC1
Nhạc sư Giáo Thỉnh (1907 - 199]) co 360
1 Ban Liéu Giang trong quyén Nhac tdi tử Nam bộ 379
2 Bản Liêu Giang
trong quyển Ca nhạc cổ điển điệu Bạc Liêu 380
TÌM LƯU DẤU CHỈ NGƯỜI XƯA 382
TÀI LIỆU THAM KHẢO khe 385
Trang 9
KHAO & LUAN
của Nguyễn Phúc An
uyển ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ KHẢO VÀ LUẬN
của Nguyễn Phúc An ra đời đúng với sự mong đợi
của các tầng lớp nhạc sĩ và nhạc sinh âm nhạc dân tộc Việt
Nam, đặc biệt là giới mộ điệu nhạc tài tử Nam bộ!
That thế! Nhạc tài tử Việt Nam là một loại hình nghệ
thuật rất cao, trong đó có kết hợp đầy đủ tính khoa học, triết học phương Đông, nó đòi hỏi người chơi phải có một trình
độ khá tốt về văn hóa, lịch sử, v.v Nhạc tài tử Nam bộ được cấu kết và hình thành thuận theo âm luật tự nhiên của con
người cũng giống như âm nhạc của phương Tây và các dan tộc khác trên thế giới Điều đáng buổn là ở Việt Nam ta tài
liệu và sách vở âm nhạc thì không đầy đủ để có thể tìm hiểu
và khảo cứu Thật ra thì mọi lý luận và ý tưởng trong những
tác phẩm âm nhạc dân tộc có thể nói là hầu hết ta đều có thể
dẫn chứng, hoặc giải thích được Vấn để phát sinh ở chỗ là
chúng ta không có điều kiện, không đủ quyết tâm và kiến thức để tìm tòi, tra cứu trong sách vở và tài liệu cổ Vì những
Trang 10tài liệu có giá trị còn sót lại ngày xưa thường được viết bằng
chữ Hán hoặc bảng tiếng Pháp nên chúng ta gặp nhiều khó
khăn trong việc tra cứu
Tác giả Nguyễn Phúc An có được cái lợi thế là rất rành về
Hán văn và một số ngoại ngữ khác, cho nên ông có thể đọc
được và nghiên cứu rất nhiều tài liệu âm nhạc ở các thư viện
nước ngoài và những tài liệu chữ Hán ở Việt Nam Ngoài ra
do sở học cá nhân, tác giả có một trình độ lý luận rất là vững
chắc, có tính logic dựa vào lý luận địch học phương Đông mà
cũng không thiếu tính khoa học phương Tây, cho nên ở hầu
hết mọi vấn để sau khi nêu được những chứng minh, truy
nguyên được nguồn gốc bằng sách vở, tài liệu, báo chí, tác
giả đã đưa ra được những kết luận của riêng mình với lối lý
luận sắc sảo, nhạy bén không lập lờ, hợp lý mà ta hầu như có
thể chấp nhận được!
Về mặt nội dung, tuy chưa thể khai thác hết nền nhạc cổ
miền Nam, nhưng sách đã gói ghém gần như là đầy đủ hết
những hiểu biết, những tỉnh hoa trong mảnh đất màu mỡ
của âm nhạc tài tử miền Nam, nhưng tác giả đã cho ta thấy
được những kiến thức rất có giá trị và hữu ích về loại hình
âm nhạc này mà mỗi nhạc sĩ, người nghiên cứu hay giới mộ
điệu chúng ta không thể thiếu được
Nói thêm là ở xứ ta, một số sách vở về âm nhạc thường là
nơi bày tỏ những lời phát biểu đúng cũng có mà chưa đúng
cũng có của một số nhân vật nào đó mà ở đó người viết
ít khi dám cho biết ý nghĩ và quan điểm của riêng mình, vì
sợ đụng chạm hoặc ngại làm mếch lòng người khác, hoặc
khẳng định cái gì đúng, cái gì sai và cái nào cần chỉnh lại cho
hợp lý để cho các lớp thế hệ sau có thể noi theo mà mạnh
dạn bước đi Những người viết đó có lẽ còn chưa tin tưởng
được mình thì làm sao mà mọi người tin theo được Vì lý
Trang 11OC I
đẹp hơn cho văn hóa âm nhạc Việt Nam Cuối cùng ta phải
khang dinh mét di eu là một nền t dep day mau sac
như âm nhạc dân tộc Việt Nam mà chỉ để trưng bày trong
viện bảo tàng để cho mọi người ngắm nhìn để biết được thế
nào là thời vàng son của dan tộc Việt thì quá uống phí cho
công sức của tiền nhân đã dầy céng vun dap Chứ ở hiện tại
thì nói đúng ra như con số không vì cổ thì nằm ở viện bảo
tàng và cái mới, phát triển thì lệch lạc và cũng không có được
bao nhiêu, đồng thời lại đang đi ngược với trào lưu tiến hóa
của xã hội!
Có thể nói là nhờ những bước đầu mạnh dạn như tiêu
chí của quyển sách này, thì các lớp sau có thể có được một
sự hiểu biết dù sơ lược nhưng đúng hoặc ít ra là những khía
cạnh đúng về nhạc tài tử miền Nam; để từ đó có thể mạnh
đạn phát triển nền tri thức và hiểu biết âm nhạc Việt Nam
vốn giàu đậm màu sắc dân tộc theo con đường nghệ thuật
chân chánh mà những bậc tiền nhân đã vạch đường đưa lối
Sài Gòn, ngày 22 tháng 10 năm 2018
Hoàng Cơ Thụy & Nguyễn Xuân Yên
Cựu giảng viên bộ môn đờn tranh
và ký xướng ôm Việt Nam
tại Trường Quốc gia Âm nhạc
và Kịch nghệ Sài Gòn
và Trường Cao đẳng Sân khấu - Điện ảnh
11
Trang 13
¡ là Nguyễn Phúc An, người chấp bút cho nghiên
Ẳ cứu Đờn ca tài tỉ Nam bộ - Khảo & Luận này, xin có
đôi lời tâm tình dành cho những người đã là chỗ dựa tỉnh thần, là nguồn kiến thức, là cái nôi để nung đúc, ắp ủ cho
mọi thành quá của nghiên cứu này
Đầu tiên, là gia đình Gia đình đã là cái nôi vô tình như
một duyên may để nuôi nấng cái hồn nhạc tài tử cho tôi từ
khi chưa biết âm nhạc là gì
Kế đến là thầy Hoàng Cơ Thụy và cô Nguyễn Xuân Yên là
hai người thầy trân quý nhất trong quá trình đào tạo cho tôi
về kiến thức nhạc tài tử và kỹ thuật đờn tranh, đờn tỳ và đờn kìm Ngoài những ngón đờn hoa mỹ mà thầy đã truyền dạy, thì những bài giảng, những câu chuyện kể liên quan đến nhạc tài tử ngoài những buổi học đờn góp phần hình thành một cơ sở kiến thức quan trọng cho tôi để đi đến nghiên cứu này Cùng cảm ơn cô Thu Huệ, giảng viên đờn tranh tại
Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn học trò
trong những năm học tập tại Nhạc viện
Thứ ba, tôi xin cảm ơn những người bạn, người anh, người
em đã nhiệt tình cung cấp cho tôi về tư liệu như nhà sưu
tập Nguyễn Doãn Tiệp, nhà sưu tầm tư liệu điển đã Nguyễn
Mạnh Hùng đã không ngần ngại tặng cho tôi những tư liệu
13
Trang 14quý báu về nhạc tài tử trong quá trình nghiên cứu, đồng thời
Hung da tan tam đọc bản thảo giúp tôi cũng như nghiên cứu
viên Viện Nghiên cứu Hán Nôm Bùi Quốc Linh đã năng nổ
đọc bản thao gấp rúi và góp ý cho tôi vài điều cần lưu lý, góp
phần hoàn thiện bản thảo Nhạc sĩ Văn Môn đã nhiệt tình trả
lời tôi những câu hỏi có liên quan đến nghiên cứu, bên cạnh
đó còn có một số nghệ sĩ đờn tranh, đờn nguyệt, đờn ghi-ta
phím lõm mà tôi không tiện nêu tên
Cảm ơn kiến trúc sư Nguyễn Mạnh Hùng, đồng thời
cũng là rnột tài tử mộ điệu tri âm với tôi, đã vui lòng phác
thảo bìa sách cho tôi với một thẩm mỹ thật là nho nhã
thanh bai |
Thứ tư, xin cảm ơn Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố
Hồ Chí Minh đã đồng ý cho xuất bản quyển sách này -
Cuối cùng, mọi cố gắng nào cũng chỉ mong muốn được
một kết quả mỹ mãn, nhưng không có một kết quả nào có thể
hoàn toàn mỹ mãn, chắc chắn sẽ có tổn tại ít nhiều những sai
sót, bất cập và những vụng về yếu kém Xin dành lời cảm ơn
chân thành cho những góp ý của quý vị sau khi quyển sách
này ra đời Mọi ý kiến đóng góp là cơ sở vững chắc để nghiên
cứu được chính xác hơn, có giá trị hơn, hoàn thiện hơn
Sai Gon, Tan Phu ngày 22 tháng 6 năm 2018
Trang 15
On ca tai tu hay còn được gọi là Nhạc tài tử Nam
bộ, Nhạc tài tử tiễn Nam, là rnột loại hình âm nhac
thuộc về phạm trù âm nhạc cổ điển của dân tộc ta, tức là
nhạc cổ hay nhạc cổ truyền Một loại hình âm nhạc cổ truyền,
nhưng lại sanh sau để muộn so với các loại hình âm nhạc cổ
truyền đàn anh đàn chị, có một bể dày lịch sử về văn hóa cũng
như văn hiến như: ca trù, quan họ, chèo, tuổng (hát bội),
xam, hat ví, hát trống quân ở miền Bắc và miễn Trung Các
loại hình âm nhạc đàn anh đàn chị đó, ngoài bề dày lịch sử
ra, còn có một số lượng lớn về văn bản tồn lưu cũng như văn
bản nghiên cứu về chúng, có một số lượng về đội ngũ nghệ
nhân, nghệ sĩ và tầng lớp mến mộ, thưởng thức, phê bình,
nghiên cứu, đánh giá rất là đông đảo
Với tuổi đời ngót trăm năm, Đờn ca tài tử đã vững vàng
như là một trong những tượng đài biểu trưng cho văn hóa
âm nhạc miền Nam từ cuối thế kỷ XIX qua suốt thế kỷ XX và
cho đến nay Được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
Liên Hiệp Quốc (Dnited Nations Educational Scientific and
Cultural Organization, gọi tất là UNESCO) công nhận là đi
sản văn hóa phi vật thể thế giới vào tháng 12 năm 2013
Don ca tài tử ra đời tại một vùng đất mới, xứ Đồng Nai
từ thuở mới có lưu dân Việt từ Quảng Nam (Đàng Trong)
15
Trang 16hay xa hơn là từ xứ Bac Ha (Dang Ngoai) lục tục rủ nhau
vào khai hoang lập ấp, chiến đấu với rừng thiêng nước độc,
lúc kình địch, lúc ôn hòa với dân bản địa, và kể cả lưu dân
en eet det TIO 4s oo Tee LTA ti ned te ng TA VLAZAL 42.4 CS“ ~
4i6LLUi +@d@W Cli All TT ils fivtd lui ilies la BV! 4Œ INTiatli Liu, Wat
chú hay Cắc chú Lưu dân Việt mang theo vốn văn hóa, âm
nhạc vến có của mình, giao lưu và hòa nhập với cư dân bản
địa, lưu dân Tàu, dân dân hình thành nên một loại hình âm
nhạc riêng biệt mang tính vùng miền, không thể lẫn vào đâu
được, từ hơi điệu, giọng điệu, cách phát âm, luyến láy, rung
nhấn thể hiện một nét riêng, một nét rất Nam bộ mà Đờn
ca tài tử chính là một hình hài cóp nhặt đầy đủ những nét
đặc trưng ấy
Tôi viết về Đờn ca tài tử không bởi vì chính nó đang mang
tính thời sự, hay vì Đờn ca tài tử vừa đã được vinh danh trên
tầm quốc tế Tôi viết về Đờn ca tài tử như một món nợ tỉnh
thần, một món nợ tự vay tự trả, và hơn thế nữa là trên một
tinh thần có ý thức, hay nói một cách gọn ghé hon đó là
chính vì tôi ham mê
Nói về nợ, tôi nợ gì? Tôi nợ chính gia đình tôi, tuy không
được sinh ra trong một gia đình nhà nòi có ông này bà nọ là
những nghệ nhân, nhạc sư, ca sĩ gì cho kham, nhưng ít ra thì
tôi được sinh ra trong một gia đình có những bực tiền bối
ham mê âm nhạc, mà lại là Nhạc tải tử Đoán là từ thuở còn
nằm nôi thì tôi đã được rót vào bên tai những giai điệu, lời
ca, tiếng đờn văng vắng của ông, của cha, của chú rồi, chính
nó đã chat chiu cho tôi cái máu âm nhạc hằng chảy cho tới
nay Lớn hơn nữa, ở cái tuổi chập cha chập chững, thuở mà
tôi đã có chút ý thức, có thể tích cóp vài kỷ niệm nho nhỏ của
mình về những điều chung quanh, tôi còn nhớ những đêm
lần nằm mép chiếu, mép đệm, đầu gác lên đùi cha đùi chú để
lắng nghe họ nhập cuộc đờn ca, tay đập muỗi, lắm khi chúng
Trang 17Pee S: a) Lộ fo» E Lộ CE) Ads OD E—— © A2 fost a HO
Sau lớn lên, được học hành đàng hoàng với thầy với cô có tâm có tầm, cộng với niềm đam mê học hỏi tìm tòi và nghiên cứu, tôi tự nhận thấy mình cần phải đóng góp một phần nào
đó vào công việc giữ gìn văn hóa bằng văn bản, tức phải viết
ra được những gì mình học được, hiểu được, một cách có hệ
thống, bài bản
Ngoài việc học ở thầy ở cô, những kiến thức về Đờn ca tài
tử truyền miệng được tôi sử dụng như một dẫn chứng sống, hay như một tư liệu điển đã Bên cạnh đó, trong quá trình
tìm đọc tư liệu có xuất bản hay không xuất bản, hoặc chưa
xuất bản từ đầu thế kỷ XX cho đến nay, đại để cũng ngót trăm
cuốn: có quyển về bài bản nhạc tài tử, có quyển mang tính tư
liệu cao, có quyển hữu dụng, có quyển đọc chơi, có quyển ki cóp nhiều nơi, có quyển sai lệch cần phải hiệu chỉnh để đảm
bảo về tính học thuật của một loại hình nghệ thuật đã định
hình, hòng tránh tình trạng tam sao thất bổn, sai riết rổi cứ
tưởng là đúng, dẫn đến tình trạng sai trại so với nguyên bản,
đi riết thành lối nói riết thành quen, mà không biết là lỗi sai
thói trật
Tôi xác định rằng mình không viết nhạc sử, tức không
viết về lịch sử âm nhạc của Đờn ca tài tử Vì vấn để này đã được quá nhiều nhà nghiên cứu nêu ra ở nhiều công trình
1/
Trang 18khac nhu: Don ca tai tử Nam bộ của ông Võ Trường KỳU qua
hai bản in năm 2013 của Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin
và bản in năm 2015 của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà
Nội, so sánh hai bản thì về nội dụng hoàn toàn như nhau,
không có gì đổi khác; rải rác bên trong quyển Bước đường
của cải lương”) của ông Nguyễn Tuấn Khanh xuất bản tại
Mỹ vào tháng 5 năm 2014 và được tái bản phát hành ở Việt |
Nam vào tháng 3 năm 2018, trong đó có chương về Nhạc
tái H cũng thuật lại đôi điều về bước khởi đầu sản sanh ra
Đờn ca tài tử; quyển Đờn ca tài tử đặc trưng và đóng góp
(tuyển tập 2)#) của Nguyễn Thụy Loan do Nhà xuất bản Văn
hóa - Thông tin - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật in năm 2014
cũng có chương Phát họa về mấy chặng đường của Đờn ca tài
tử Quyển Góp phần nghiên cứu Đờn ca tài tử Nam bộ của
cô Nguyễn Thị Mỹ Liêm cũng có nhắc đến trong chương 1
“Don ca tài tử Nam bộ - con đường xây dựng và phát triển”
Sơ sơ bấy nhiêu đó thôi, với những sách viết về lịch sử
diễn tiến của Đờn ca tài tử, tưởng cũng đã quá nhiều, tôi
không hệ thống lại một lần nữa, để dành trang cho những
vấn để cần nêu lên trong nghiên cứu này Những cột mốc sự
kiện thuộc về Đờn ca tài tử được nêu ra như là một tư liệu
mang tính chất lịch sử mà thôi
Điều tôi quan tâm cho nghiên cứu này chính là tất cả
những gì thuộc về đặc trưng của Đờn ca tài tử aguyên thủy,
những gì sinh ra Đờn ca tài tử, những gì làm nên đặc sắc của
loại hình nghệ thuật này, về nguồn cội, về phong trào phát
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015
2 Nguyễn Tuấn Khanh, Bước đường của cải lương, Viện Việt học xuất bản, 2014
3 Nguyễn Thụy Loan, Đời ca tài tử - đặc trưng và đóng góp (tuyển tập 2), Nxb Văn
hóa - Thông tin - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2014
4 Nguyễn Thị Mỹ Liêm, Góp phẩn nghiên cứu Đờn ca tài tử Nam bộ, Nxb Âm nhạc,
"2011
18
Trang 19
#
Trong nghiên cứu này tôi giới hạn phạm Vv
thuộc về loại hình Đờn ca tài tử, tức là không nói về một loại hình nghệ thuật khác thuộc về sân khấu là Cái ldng
Cải lương hay những loại hình âm nhạc khác nếu có được
nhắc đến, thì đó là một phương tiện so sánh để làm rõ hơn
cho Đờn ca tài tử Tôi sẽ dành để nói về Cải luong cho mot nghiên cứu khác có tính khu biệt và tập trung hơn
Với nghiên cứu này, tôi mong muốn được nói về một loại
hình Đờn ca tài tử gốc vốn dĩ, ban đầu, thuở mà Đờn ca tài
tử được ngồi ở vị trí hoàng kim, được định hình định dạng
hắn hòi, được những người biết chơi, biết thưởng thức đánh
giá một cách có hiểu biết và nghệ thuật, ay la tai tử vậy Kể
từ sau khi Sân khấu cải lương ra đời, và cải lương dần phát
triển, lớn lên, định hình, phân tược chia ngôi, biến dang, va
gia nua, thi cho dau nó được sinh ra là cũng nhờ một phần
đóng góp của nghệ thuật Đờn ca tài tử, nhưng chính nó cũng
là nguyên nhân làm cho Đờn ca tài tử không những dần suy,
suy không chỉ về đội ngũ hưởng ứng, mà suy luôn cả mặt
loại hình, tức là hình thức của Đờn ca tài tử bị cải lương hóa,
làm cho biến chất, không còn như ban đầu nữa, một phần vì
thiếu hiểu biết, thậm chí đến nay người ta vầy một cuộc chơi
toàn băng bài bản cải lương, nhưng lại ngộ nhận nó là đang
Chơi tài tử? ấy là chưa kể về hình thức Hoặc thậm chí có
người còn hỏi răng bài Vọng cổ có phải thuộc về nhạc tài tử
không, hoặc mặc định nó là nhạc tài tử, cũng như không ít
19
Trang 20
người cho rằng các bài bản hơi Quảng của âm nhạc sân khấu
cải lương là nhạc tài tử là thậm bay vay
Đân canh ddA AAi vAi mAt IA A MEAKAR SERY RARZE VAs a BEAL 5 ANY i hinh 4m nhac thud
điển mang tính địa phương của nước nhà, theo một tiến
trình di trú của cư dân Việt, rối hòa nhập với bản địa, dân
dần được hình thành và rồi định hình, hắn Đờn ca tài tử có
hình thức không, mà còn thể hiện ngay cả trong ngôn ngữ,
ngôn ngữ lời ca, ngôn từ định danh cho từng loại hình, từng
bài bản, từng thuật ngữ nhà nghề mà chỉ riêng Đờn ca tài
tử mới sử dụng, nó tạo nên cái đặc trưng Chúng ta có thể
áp dụng những kiến thức tiếp thu được từ hệ thống nghiên
cứu lý luận âm nhạc phương Tây để so sánh thậm chí là áp
dụng vào trong việc nghiên cứu Đờn ca tài tử, nhưng xin
lưu ý là chúng ta không được lạm dụng và gượng ép gò bó
nó vào khuôn khổ đó, bởi vì Đờn ca tài tử thuộc về chúng
ta, về âm nhạc của phương Đông, hẹp hơn là âm nhạc: Việt
Nam mà càng hẹp hơn nữa là âm nhạc của vùng đất phương
Nam mới mẻ, cho dù trên chính một đất nước mà giọng nói,
âm nhạc đã khác nhau, những lý luận âm nhạc của loại hình
âm nhạc này còn không hẳn là thích hợp để đi suy xét hay
lý luận cho một loại hình âm nhạc khác, huống chỉ là đem
toàn bệ cái lý luận âm nhạc phương Tây để gò ép vào nghiên
cứu Đờn ca tài tử Ví như: cái mà hiện tại bây giờ người ta
gọi Nhạc tai tử là “nhạc thính phòng) riêng tôi sẽ có phần
lý luận cho việc này ở sau, hay những tên gọi thông thường
riéng cho no: don thay vì là “đàn, ca thay vì là “hat’, chau,
mô, nhịp, thòng, lái, khuông Những từ ngữ nhà nghề rặc
ròng ấy làm nên cái sự duyên đáng cho riêng Đờn ca tài tử,
mà chúng ta cần phải định nghĩa cũng như xác định lại cho
Trang 21thu vậy, do đó tôi chủ trương sử dụng những thuật ngữ, lối
nói, lối giải thích các chữ dùng truyền thống hoặc dân gian
mà ta gọi là tiếng nhà nghề, ngõ hầu cho những nghệ nhân
dân gian đặng thêm dễ hiểu vậy Ví dụ như: øhjp ngoại khác
với đảo phách như thế nào, chuyển hò khác với địch giọng
ra sao, hoặc như cô Nguyễn Thụy Loan cho rằng hình thức
kéo giãn bài Dạ cổ hoài lang tới bài Vọng cổ qua các thời kỳ
tương tự như những dị bản, tôi thì không nghĩ thế, hẳn sẽ
được trình bày trong phần luận về bản Dạ cổ hoài lang và
bản Vọng cổ
Bên cạnh đó, xác định lại về “dây” và “hò” trong nhạc tài
tử, sự giống và khác nhau giữa hai danh từ ấy, những bất cập
hiện nay trong việc gọi Hò với quá nhiều sai lệch, mà nguyên
nhân là do cải lương gây ra, do sự đối hệ thống dây đờn kìm
dẫn đến, rồi bây giờ có người còn rõ được đâu là xưa đâu là
nay, đâu là gốc đâu là ngọn, đâu là đúng đâu là sai, ngược lại
thì phần đông chỉ biết nay mà không biết xưa, thành ra sai
vậy Nghiên cứu này mong muốn sẽ xác định lại một lần nữa
những vấn đề bất cập nêu trên
Chương viết về bài bản của nhạc tài tử với quan điểm
không phải là một tập ký lục về bản đờn, nên tôi cố gắng
chỉ nêu lên những vấn đề xoay quanh nguồn gốc ra đời, quá
trình hệ thống “20 bài bản tổ” cùng các bài bản được sáng tác
trong phong trào sáng tác bài bản nhạc tài tử của hai nhóm
21
Trang 22
miền Đông và nhóm miền Tây, sự giao lưu của hai nhóm
nhạc, tức sự sáng tác của bên này để hầu đối lại với bên kia,
TH nnc F14 A kA ea TC +4@áY dai KRAGaO bia aa CÁ) pilail Laid
thố thể hiện, để tạo ra một hệ thống bài bản phong phú ngoài
720 bài bản tổ” thì các bộ cũng nhân đó ra đời
Chương viết về nhạc cụ, ngoài những nhạc cụ nằm trong
tầm hiểu biết, tức là có học qua về những kỹ thuật sử dụng
nó cho nhạc tài tử, tôi xin mạnh dạn khảo cứu về nguồn gốc
của nó từ nơi khai sinh cho đến những nơi du nhập, tiếp thu
và biến đổi như thế nào trong quá trình thâm nhập vào một
loại hình âm nhạc mang tính địa phương, đồng thời cố gắng
phân tích những tính năng cũng như kỹ thuật của nó trong
dàn nhạc tài tử, tức nhiên không bỏ qua vấn đề tham vẫn ở
thay cô dạy tôi, cùng với những bạn bè có chuyên môn qua
từng chữ từng nhịp đờn,
Sự hình thành, hòa nhập và thịnh hành của một vài
loại nhạc cụ từng đóng vai trò là cây đờn chánh của nhạc
tài tử nhưng nay vì thế cuộc đổi dời mà phải lánh mặt đi,
thất truyền, thậm chí được phục hồi biến chất, như cây đờn
tỳ bà chẳng hạn, mà thay vào đó thì cây ghi-ta phím lõm
lại nghiễm nhiên được chễm chệ ngồi mâm cỗ, rồi dần dần
được mặc định như là một cây đờn chủ đạo cho nhạc tài tử
Còn về các nhạc cụ khác tuy không thuộc phạm vi sử dụng
về kỹ thuật của mình, tôi xin phép được hỏi han những thầy
đờn có hiểu biết, từ đó ghi nhận và phân tích suy xét theo
mạch lý luận của nghiên cứu này Rất mong nhận được sự
quan tâm, phê bình và chia sẻ của quý vị là những người am
tường và mộ điệu, từ đó góp phần hoàn thiện nghiên cứu này
hơn nữa
- Nghiên cứu này cũng như một nghiên cứu bất kỳ nào
đó là tiếp thu những nghiên cứu có trước để làm tiển để,
Trang 23Xuân Yên, hai nhà trí thức về nhạc tài tử cũng là học trò của
| tiếng trong giới nÏ ac tài tử xưa như nhạc
sư, nhà giáo Nguyễn Văn Thinh, ông Phạm Văn Nghi (Tư
Nghị), nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, thầy Năm An, thầy Trần
Thanh Tâm (Chín Tâm) Pừ những nghiên cứu trước đó, dựa trên những tư liệu xuất bản, tôi sẽ nêu lên quan điểm của mình về tương đồng hoặc phản bác một cách khách quan,
đồng thời sẽ có một vài khái niệm của riêng mình như là một
nhận định mới cho Đờn ca tài tử Nam bộ
23
Trang 26I VI TRI DIA LY VA THOI DIEM
Don ca tai tt hay Nhạc tài tử Nam bộ chắc chắn là phải ở
Nam 06 ma ta oiét rang G6 la Nar ky Luc tinh ttic: Bién Hoa,
Gia Dinh, Dinh Tường thuộc miền Đông và Vĩnh Long, An
Giang, Hà Tiên thuộc miền Tây thời bấy SN
Nếu làm một cuộc khảo sát về vùng đất này kể từ khi có
dấu chân của lưu dân Việt vào khai hoang lập ấp, thì hẵn đã
có quá nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, địa lý tốn
nhiều giấy mực cho để tài này rồi, do đó để đảm bảo về tính
chất của phạm vi để tài này ở đây tôi xin phép không đi sâu
vào dẫn giải vấn để này nữa, mà chỉ nêu sơ lược để làm bật
lên sự lưu truyền, giao lưu, tiếp thu và biến đối của đời sống
âm nhạc của cư dân Nam bộ; để tạo tién dé cho ra đời loại
hình Đờn ca tài tử Nam bộ
II THỜI GIAN XUẤT HIỆN
Tính từ năm “Mậu Ngọ, năm thứ I [1558] (Lê - Chính
Trị năm 1, Minh - Gia Tĩnh năm 37), mua đông, tháng 10,
chúa bắt đâu vào trấn Thuận Hóa, 34 tuổi”U) nghĩa là Nguyễn
Hoàng bắt đầu mở cõi Đàng Trong về phía Nam khởi điểm
từ xứ Thuận Hóa, khi ấy thì danh từ về Nam bộ, Nam kỳ, Lục
tỉnh, xứ Đồng Nai vẫn chưa được hình thành Cư dân Việt
bắt đầu theo Nguyễn Hoàng từ Bắc vào mở cõi phương Nann,
mãi đến năm 1658, Đại Nam thực lục tiên biên % thị E BRAN
Tháng 9, vua nước Chân Lap (vốn tên là Cao Miên) là
Nặc Ông Chân xâm lấn biên thùy Dinh Trấn Biên báo lên
Chúa sai Phó tướng Trấn Biên là Tôn Thất Yến, Cai đội là
Xuân Thắng, Tham mưu là Minh Lộc (2 người đểu không
l.- Quốc sử quán triểu Nguyễn, Đại Nưm thực lục tiển biên, Tập 1, Nguyễn Ngọc Tỉnh
dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr 28
Trang 27chi
r6 ho) dem 3.000 quan dén thanh Hung Phuc (bay gid goi
la Moi Xuy, nay thudc huyén Phuc Chinh, tinh Bién Hoa)
ñánh phá được, bắt Nặc Ông Chân đưa về Chúa tha lội
cho và sai hộ tống về nước, khiến lam phién than, hang
nam nop cong.)
Còn đây là một đoạn ghi chép trong Gia Định thành thông
của Trịnh Hoài Đức, quyển “Cương vực chỉ:
Kể thì Gia Định, xưa là đất cua nuéc Thuy Chan Lap
(tức là nước Cao Miên ngày nay, nòi giống chia lam Thuy
Chân Lạp và Lục Chân Lạp), đất ruộng béo tốt, sông
nhiều, bể trăn, có nhiều địa lợi nhu thoc, dau, cd, mudi
Các đấng tiên hoàng triểu ta chưa nhàn roi muu tinh xa,
tam cho đất ấy là đất của nước Cao Môn, đời đời xing
là nước phiên ở phương Nam, cống hiến không ngét Dén
năm Mậu Tuất đời Thái Tông Hiếu Triết hoàng đễ năm
thứ 11 (1658) (Lê Thần Tông Vĩnh Thọ năm thứ ]; ngang
với miên hiệu Minh Vĩnh Lịch năm thứ 12, Thanh Thuận
Trị năm thứ 14), mua thu, tháng 9, vua nước Cao Môn
là Nặc Ông Chăn xâm phạm biên giới ( ) Vua sai Phó
tướng dinh Trấn Bién ( ), la Yén Vii hau, Tham muu
Minh Lộc hầu, Cai đội suất tiên phong la Xuan Thang
hau, dem 2.000 quan, di hai tudn dén thành Mỗi Xoài®)
nước Cao Miên, đánh phá tan được, bắt vua nước ấy là
Nac Ong Chan, đóng gông đem đến hành tại ở dinh
Quảng Bình Vua dụ tha tội, vẫn phong Nặc Ông Chăn
làm vua nước Cao Miên, cho làm phiên thần nộp cống,
không được đi cho dân phiên xâm nhiều Bèn sai quan
Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, Tập 1, sđỏ, tr 72
Bản dịch của Lý Việt Dũng là 3.000 quân, có so sánh hai bản chữ Hán của hai sách
thì thấy có sai lệch một bên là 2.000 một bên là 3.000
Mỗi Xoài (Mô Xoài, Mỗi Xuy) tức Bà Rịa sau này
Hành tại: chỗ vua chúa đi tuần thú tạm ở gọi là hành tại, cung đang ở gọi là hành cung
27
Trang 28quan ho téng vé nuéc Khi ấy địa dau tran Gia Dinh la
hai xứ Mỗi Xoài, Đồng Nai (đất trấn Bien Hoa ngay nay)
Ga Cui ig C7 lan Yue eR wWUE Whey
Miên, để khai khẩn ruộng đất, tà người Cao Mén so phuc
uy đúc của triểu đình, lại nhường ma tránh, không dám
tranh giành ngăn trở
a5 rida
Sử liệu cho thấy kể từ năm 1658 thì xứ Biên Hòa -
Đồng Nai (Trấn Biên) đã được cắt đặt cơ quan cai trị, có
Phó tướng là Tôn Thất Yến Qua đó có thể suy ra rằng, cư
dân Việt đã hiện diện trên xứ này, còn về dân số như thế
nao thì không rõ, nhưng qua số lượng 3.000 quân, chưa kể
dân, thì chúng ta cũng hạo được một con số không nhỏ,
Điểu này được xác nhận ở quyển “Thành trì chí - Thành
Gia Định” như sau:
Gia Dinh trudc nhiéu rung cham ram rap, doi Thái
Tong” sai tướng mở cối chọn chỗ bằng phẳng tiện lợi, lập
dinh đôn ở chợ Diéu Khiến ngày nay, làm nơi cho Thống
suất tham mưu đóng quân Lại đặt dinh Phiên Trấn ở lân
Tan Thuan ngay nay, lam nha thự cho giám quan cai ba,
ký lục, bảo vệ bằng trại quân, ngăn bang rào Ngoài ra thì
_ cho dân trưng chiếm, chia đặt làng xớm phố chợ, nhà dân
lộn xộn, đường đi cong, thẳng, cho dân tủy tiện, ngăn nắp
chưa kịp sửa sang.°)
Từ việc hiện diện người Việt trên xứ Đồng Nai, chúng ta
có thể hiểu răng người dân không chỉ mang theo mỗi con
1, Trinh Hoai Duc, Gia Định thành thông chí, Đỗ Mộng Khương và Nguyễn Ngọc
Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính và chú thích, Viện Sử học, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1999, tr 75, có tham khảo bản dịch của Lý Việt Dũng, Nxb Tổng hợp Đồng
Nai, 2006
2 Đời chúa Nguyễn Phúc Tan (1648 - 1686)
3 _ Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, sảd, tr 175
Trang 29người để sinh hoại trên vung đât mới, raá còn có thê hiểu
Phúc Chu (1692 - 1725), Đại Nam thực lạc tiễn biên chép:
Bắt đầu đặt phủ Gia Định Sai Thống suất Nguyễn Hữu
Kính kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lẫy xử Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay thăng làm phủ), dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay thăng làm phủ), dựng đinh Phiên Trấn (túc Gia Định ngày nay), mỗi dinh đều đặt các chức
lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền thủy bộ tỉnh bình
và thuộc binh Mô rộng đất được nghìn dặm, được hơn 4
vạn hộ, bèn chiêu mộ những dân xiêu dạt tử Bố Chính trỗ
vê Nam cho đến ở cho đông Thiết lập xã thông phường
ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệnh thuế tô dung, làm số đinh điễn Lại lấy người Thanh đến
buôn bán 6 Tran Biên lập làm xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn,
lập làm xã Minh Hương BÄ”Ñ- (nay là 8®) Từ đó người
Thanh ở buôn bán đếu thành dân hộ [cua ta]
Nguyễn Hữu Kính tức Nguyễn Hữu Cảnh, mà ở đâu
trong cõi Nam bộ này người ta cũng biết, sau khi mất ông
được người dân ở Nam bộ thờ ở đình như một vị thần trấn
cuộc đất này, cho thấy uy tín cũng như uy linh của ông đối
với công cuộc khai phá miền Nam Kể từ đó đến nay, Nam
bộ với tuổi đời có cư dân Việt kể cũng trên dưới 300 năm Với nền văn hóa lâu đời của cư dân Việt, có dân sẽ lập làng,
Trang 30kiện tượng trưng cho một tổ chức cá thể nhỏ để từ đó gộp
nên thành một quốc gia, các luật lệ do làng định ra sẽ thành
một nếp lâu đời, nhiều khi vượt ra khỏi phép nước, miễn sao
Sảo toàn được an ninh, lề lối và truyển thống văn hóa của
một quốc gia thì không vấn để gì, do đó chúng ta đã từng
nghe nói đến câu tục ngữ “phép vua thua lệ làng” cho thấy u
tín và quyền lực của đơn vị làng trong văn hóa Việt, mà ở đó “<
quyển lực tập trung vào đình làng
Mặc dù quy rnô và cơ cấu của làng Nam bộ so với Bắc bộ
có phần lỏng lẻo và thoáng hơn, nhưng đại thể vẫn giữ được
những nét đặc trưng không thể thiếu để có thể duy trì quyền
lực và chức năng của làng Nói đến đình làng như một yếu tố
để hình thành nên loại hình Đờn ca tài tử sau này đó chính
là nhạc lễ trong cúng đình Dù sao đi nữa ta cũng phải khẳng
định một điều rằng nhạc lễ cúng đình là một trong những
yếu tố thai nghén cho Đờn ca tài tử vì hầu như tất cả những
bài bản trong nhạc lễ và một phần nhạc cụ trong dàn nhạc lễ
đã được chuyển sang cho nhạc tài tử, tôi sẽ trở lại vấn đề này
sau ở phần sau
Từ những dẫn chứng trên, với sự xuất hiện của cư dân
Việt ở Nam bộ từ thế kỷ XVII, chúng ta có thể xác định được
thời gian thai nghén cho Don ca tài tử kể từ đó, với loại hình
nhạc lễ cúng đình và những loại hình văn nghệ dân gian
khác của người Việt đó là dân ca, hò, lý tất cá những loại
hình văn nghệ dân gian như dân ca, hò, lý ấy được người Việt
mang từ Bắc bộ, vào Trung bộ rồi dần di chuyển đến Nam
bộ Một minh chứng cho các phong tục từ miền ngoài theo
di dân đi vào Nam như tục hát Sắc bùa, Gia Định thành thông
chí chép ở quyển “Phong tục ch”:
Ở Nông Nại (tức Đồng Nai), đến cuối năm, vào đêm 28
tháng chạp, có na nhân (tục danh Nậu Sắc bùa ) đánh trống
Trang 31tọi, gõ bản phách, mươi lăm người làm mét bon, di dong
khắp phố, xóm, nhà nào hào phú thì đẩy cửa mà vào, dán
bùa vào các cửa, niệm doc than chú, trống phách, tiếp đến
loi hat chuc mung Chu nha lap tic dem cỗ bàn chè rượu
thét dai, va phong tién thudng ta Lai di dén nha khdc cting
năm cũ đón năm tới vậy.)
Cho thấy sự du nhập phong tục va loai hinh 4m nhac tín
ngưỡng cũng hiện diện ở đất Nam bộ Tất nhiên theo sự biến
thiên về khoảng cách địa lý, cùng với sự dung hợp những
tính chất văn nghệ địa phương của dân Chân Lạp tức dân
Khmer bây giờ, hò miền Nam và hò miển Trung, cũng như
lý miền Nam và lý miễn Trung đã khác nhau về thang âm,
hơi điệu và kỹ thuật rung luyến thanh nhạc, tạo nên nét đặc
trưng phân biệt Từ sự khác biệt và đặc tính tiếp thu, thay
đổi đó được du nhập vào Đờn ca tài tử, ra đời hơi oán và hơi
Vọng cổ như là một huyền thoại của âm nhạc Nam bộ, giúp
cho âm nhạc Nam bộ có thể khẳng định chính mình
Rất có thể trong thời kỳ thai nghén ấy, loại hình Đờn ca
tài tử đã tốn tại âm thầm trong dân gian thông qua các nhạc
công của ban nhạc lễ, của nhạc công các ban hát bội, họ tụ
hội chơi với nhau thông qua hình thức tập dượt, cũng như
thư giãn lúc trà dư tửu hậu, sau các công việc đồng áng với
mục đích giải khuây Và mãi cho đến phong trào Cần Vương
nổi lên sau khi Pháp chiếm hoàn toàn nước ta, các sĩ phu,
nhạc công từ miền Trung lánh vào Nam bộ, trong đó có một
nhạc công của triểu đình Huế vào Nam, đó là ông Nguyễn
Quang Đại (tục xưng cụ Ba Đợi) và ông được biết đến như
là hậu tổ của nghề Đờn ca tài tử Nam bộ nhóm miền Đông
Điều này có nghĩa là ông Ba Đợi đã có công đem nghề đờn
1 _ Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, sảd, tr 143
ở]
Trang 32của mình từ vùng đất Kinh kỳ vào Nam, từ dé gop phan
làm sôi nổi lên phong trào Đờn ca tài tử, do đó mà trong
quyển Hát bội, Đờn ca tài tử và Cải lương cuối TK 19 đâu TK
IW rvia hai Ana Nour An T
“4V Của ii Vi AN Guy eis ty
A
rang “nhac tai tt cé nguén géc tut nhac Cung dinh Hué™ toi
cho việc định danh này là thiếu sót, trong khi trước khi cụ
Ba Đợi vào Nam thì bản thân tại Nam bộ đã có ban nhạc lễ của các đám cúng đình, ban nhạc công của các gánh hát bội,
chính những người này vô hình trung đã là một thành phan
của loại hình Đờn ca tài tử cho dù là đang trong quá trình
thai nghén hay là còn non nớt Do đó tôi cho rằng nhạc cung
ệ Tuy ên và Nguyên Pric Hiện cho
đình Huế cũng chỉ là một yếu tố góp phần làm cho Đờn ca
tài tử trở nên hoàn thiện hơn vậy
Song song với nhóm nhạc miền Đông của cụ Ba Đợi, ta
còn được biết đến nhóm nhạc miền Tây mà Nhạc Khi (1870 - 1948) (tức Lê Tài Khí) được hậu thế tôn xưng là hậu tổ nhạc
tài tử, chủ chốt nhóm miển Tây Trong quyển Tìm hiếu cổ nhạc Bạc Liêu, ông Trần Phước Thuận chép:
Nhạc Khị - người khai sinh ra trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, đã được anh em nghệ nhân, nghệ sĩ |ỏ] tôn xưng là
Hậu Tổ Tư tưởng và sáng tác của ông không những đã làm
- kim chỉ nam cho các hoạt động cổ nhạc 6 Bac Liéu, ma con
gây ảnh hưởng sâu rộng đến các phong trào ca nhạc cổ ở nhiễu nơi, nhiễu tỉnh trong những thập nién dau thé ky
XX Có thể nói: Nhạc Khi là cây đòn bấy cứng cáp đã tạo được sức bật ban đầu trong quá trình phát triển cổ nhạc
- Nam bộ nói chung và Bạc Liêu nói riêng
19 đầu TK 20, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, TP.HCM, 2013, tr 45
2 _ Trần Phước Thuận, Tìm hiểu cổ nhạc Bạc Liêu, Nxb Âm nhạc, Liên hiệp hội Văn
học Nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu, 2014, tr 20
Trang 33thể là “ở đây” hoặc “ở Bạc Liêu” nhưng viết thiếu, tạm đặt
vào ngoặc vuông để đảm bảo tính chính xác với bản gốc đã
trích dẫn Từ hai dẫn chứng trên cho thay cudi thé ky XIX,
tức trước phong trào Cần Vương (1885) thì ở Nam bộ đã tồn
tại một loại hình âm nhạc mà ta tạm gọi là fiển Nhạc
nếu không như thế thì các nhạc công chung quanh ông Nhạc
Khi, và các bạn nhạc với ông Ba Đợi sau khi ông vào Nam
không thể nào bỗng chốc nổi lên để tạo tiển để cho hai cụ có
dịp phát triển Đờn ca tài tử được Cụ Ba Đợi vào Nam ngụ Ở
Gia Định (Long An ngày nay), còn Nhạc Khi thì ở Bạc Liều
(thời ấy còn thuộc về An Giang theo bản dé luc tinh Nam kỳ)
Dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của hai ông thì phong trào
Đờn ca tài tử được lớn mạnh, cũng chính trong thời kỳ này
bài bản Đờn ca tài tử được sáng tác ổ ạt Hơi oán, một hơi
đặc trưng của Nam bộ được sinh ra từ sự phát triển, hay nói
theo thuật ngữ âm nhạc phương Tây chính là biến tấu của
bản T1 đại cảnh từ vùng đất Kinh kỳ Theo tài liệu của luật sư
Nguyễn Tấn Nhì bút danh Nhị Tấn, vốn là một nhà nghiên
cứu về nhạc tài tử có tiếng trong giới nhạc tài tử Nam bộ gần
đây thì chép rằng: “Ông Ba Đợi chuyến hơi, chuyển cung và
phát triển bản Tứ Đại Cảnh của Nhạc miễn Trung từ hơi Bắc
dựng thành hơi Oán.*? Còn thù pháp “chuyển hơi, chuyển
cung và phát triển” như thế nào thì chưa được phân tích cặn
kẽ Tiếp theo, bài bản được sáng tác, chỉnh lý, một số khuyết
danh người sáng tác, một số còn lưu giữ được 20 bài bản tổ
được chỉnh lý và xác lập định hình, bên cạnh đó có sự đị bản
nhỏ giữa hai nhóm miền Đông và miển Tây Nhóm miển
Đông được biết cụ Ba Đợi sáng tác bộ Bát ngự để nghinh
đón vua Thành Thái vào Sài Gòn, và qua đó gởi gắm tâm tư
1 Nhị Tấn, Nhạc tài tử Nam bộ (tập D), tài liệu nội bộ phổ biến trong giới nhạc tài tử
của Trung tâm văn hóa quận 8 - Câu lạc bộ Đờn ca tài tử quận 8, 1997, tr 8
33
Trang 34
tình cảm của mình cũng như tâm tư tình cảm của người dân -
Nam bộ cho vua tỏ tường
RAy canh AA can cA oir cian hu œ117a hai nhéóm : 5! gt n nha ac Q
QB Nà Sun KF BA A
4 2€ Celt ees Cee eee ea OLE Sick Bk
tác của nhóm này để đối lại với nhóm kia như một sự thi thố
và lễ phép Từ đó, định hình hơi điệu nhạc tài tử, đồng thời hình thành sự phong phú về bài bản nhạc tài tử, từ bản vắn cho đến bản trường
thi tập của Nguyễn Liên Phong, mục Điếu Phan Hiển Đạo
co viet:
Ong Phan Hiến Đạo, người tỉnh Mỹ Tho, thi dau Tan si,
hình trạng thanh lịch, tánh nết thiệp liệp thông tỉnh, lúc
ngài ra Huế học cử nghiệp, thì có học đặng diéu don Hué
cũng nhiễu, đến khi thi đậu rối, vua ban cờ, bién, ao mao
cho về vinh quy, đặng ít lâu, quyến ngôi Đốc học chánh tại
tỉnh Mỹ, tác thành tôn đệ đông người, lúc Nhà nước lại thâu thủ Nam kỳ, ngài với ông Tôn Thọ Tường toan bễ ra
giúp việc nước với Langsa, hai ông cùng nhau trò chuyện
Trang 35thi ngai riéng nghi phan minh lam
r về làng Vink Kim Đông tục danh
la Cho Gitta, ngai ben tu tu, con mét minh ông Tường giúp
việc nhà nưúc làm tới đốc phủ sử Lớp sau ông Phan Thanh
Giản, duy ngài với ông Tường là văn học phẩm hạnh có
tiếng, thân hào trong.sáu tỉnh có đặt bốn câu hát rằng:
x
lấy làm tương đắc, rồi
sao không biét, ngai t
Lớp sau Thanh Giản tiếng đôn,
La Phan Hiến Đạo với Tôn Thọ Tường
Ông thời nho:nhã văn chương,
Ông thời thi phú tót Äường diệu công
Ông về thác:tại Kim Đông,
Ông ra giúp nước bụng đồng tương trí
Một còn một tất trọn nghì,
Ngàn thu gương tạc Nam kỳ danh nho
Thi rằng:
Nối dẫu văh tỉnh rạng vẻ:son, -
Rải ro thời thế tiếng không tròn
Céi bd chu méi.lam vun quén,
Cờ biến ơn xua nghi héo don
Tri kỹ mấy lời ghi bụng nhớ,
Da dai mét gidc.nin hơi ngon |
Khúc đờn Lưu thủy trôi dòng bích,
Ma giong kim tranh điệu Huế còn
Qua tài liệu trên cho thấy ông Phan Hiển Đạo “lúc ngài
ra Huế học cử nghiệp, thì có học đặng điệu:đờn Huế cũng
2013, tr 69
35
Trang 36nhiều” từ đó khi về quê hẳn phải có đem theo nghề ấy vào |
Nam, cũng như từ hai bài thơ sau cùng do ông Nguyễn Liên
Phong làm để điếu Phan Hiển Đạo “Khúc đờn Lưu thủy trôi
dong bich, Ma giong kim tranh điệu Huế còn” ghì dấu ngày
đó khi ông học được ngón đờn cũng như bài bản nhạc miền
Trung, vẫn giữ được nét “Huế còn” ấy, từ đó chúng ta có thể
hiểu, thời ông làm đốc học tỉnh Định Tường, sau khi đỗ tiến
sĩ năm Bính Thìn (1856), nhạc tài tử vẫn chưa định hình, nét
miền Trung vẫn còn hiện diện trong tiếng đờn, chứ không
được Nam bộ và tài tử như ta nghe hiện nay Ngoài ra ông
Tôn Thọ Tường cũng là một nhân vật không chỉ có tiếng tắm
trên trường chính trị, mà còn có “vai vế” trong giới chơi bời,
tài tử Tôn Thọ Tường vốn sinh ra trong một gia đình khoa
hoạn, cháu nội Tôn Thọ Vinh công thần thời Nguyễn Ánh,
con của lồn Thọ Đức, một cử nhân khoa Tân Ty, năm Minh
Mạng thứ hai (1821)
Tôn Thọ Tường sinh ra trên đất Bình Dương tỉnh Gia
Định theo quy hoạch hành chính cũ, từ thuở lọt lòng ông đã
là một công tử, cuộc sống phồn hoa, lớn lên được lên kinh
kỳ học tập, giữa đường học vấn, năm mười bốn tuổi được
tin cha mất, ông quày quả về quê thọ tang, rồi có vợ ở Vũng
Liệm, năm mười tám tuổi lại ra Huế dâng sé xin tap 4m™, va
được vua chấp nhận cho tập ấm, nhưng với ngạch võ bang, vì
triều đình cho rằng ông vốn xin tập ấm tổ tiên là công thần
ngạch võ, nhưng bản thân ông lại sở đắc về văn học, ông cố
gắng kêu nài nhưng không lung lay được, nên uất hận, ông
về học tập để lại thi cho vào được văn bang, nhưng không
may là ông trượt, từ đó uất hận càng thêm sâu nặng, dẫn đến
những việc làm không hay cho lắm của ông về sau
1 Tập ấm là một chế độ trong thời phong kiến, chỉ việc con cháu của các quan có
công với triểu đình được hưởng chế độ như họ
Trang 371
Vé 2 8
on tư chất văn học, tài tử và nghệ sĩ ông đã đứn
tỉnh cảm Trong Hồi ký 50 năm mê hát của học giả Vương
ồng Sển, có đoạn ông nói đến Tôn Thọ Tường về van dé
Nay tôi cũng không ngồ nhơn nói chuyện đờn địch xú
Vĩnh Kim lại kéo ra chuyện ông Tôn Thọ Tường và ông
Phan Hiễn Đạo Ý tôi muốn nhấn manh rằng người Chợ
Gitta, Rạch Gâm học đờn có căn bản, có gốc gác, vì hai ông
Tưởng và Đạo có ra học nghiệp tại Huế và có thọ nghiệp
don ngoài ấy Chuyện theo Tây bỏ ra ngoài, phải nhìn nhận
hai người có công đem nghệ thuật đờn vào truyền bá trong
Nam Nhứt là cậu ba Tường, ai ai thuở ấy cũng biết tiéng,
ăn chơi hút xách, đờn địch, bạc bài, tứ đỗ tường ông nếm
du, vì bình sanh là người bất đắc chí, tuy đẫu Tây mà giúp
bạn, cứu niguy nhiều người, va trọn đời chịu nghèo không
tham của hối, chưa chắc người khác được như ông Còn tài
Ngoài hai ông Phan Hiển Đạo và Tôn Thọ Tường ra còn có
Học Lạc, ông sanh năm bao nhiêu không rõ, nhưng Nguyễn
Vấn Hầu suy đoán từ những cứ liệu mà phỏng chừng lối
1842 (Nhâm Dân), ông mất năm 1915, từng có tiếng trong
lãnh vực cổ nhạc
Nguyễn Văn Lạc biệt hiệu là Sẩm Giang, nối tiếng hay
chữ, được tuyến vào chân học sanh tại tỉnh nhà nên người
ương thời gợi ông là thầy Học sanh Lạc hoặc gọn ghẽ hơn:
Hoc Lac Gap thoi loan li, các cuộc thì Hương ở Gia Định
đều bị đình hoãn kể tử 1859, Học Lạc không theo con đường
khoa cử được nrữa nên xoay qua các nghề thầy thuốc, thầy
1, Vuong Hong Sén, Hoi ký 50 năm mê hát - Năm mươi năm cải lương, Cd sở Phạm
Quang Khai xuất bản, Sài Gòn, 1968, tr 41
J/
Trang 38
giáo, có lúc thầy bói và biết chơi rất sành hai nhạc khí cổ là
bậc yêu thích Don ca tài tử và sân khấu cải ¡ lương cao tuổi,
hoặc có nghiên cứu tìm hiểu về lịch sử cải lương đểu biết
danh cô Ba Điểu, cô Năm Thoàn và cô Tám Hảo Ông Lê Văn
Ông Lê Văn Huệ là thân phụ cô Ba Điều, cô Năm Thoàn
và cô Tám Hảo (cô đào gánh hát cdi luong thay Nam Tu
và về sau là vo cua thay Nam Tu) Nha ong giáo viên Lô
Văn Huệ ở gẩn bên nhà cụ Phan Hiến Đạo Ông giáo Huệ
thường hòa đờn với gia đình dòng họ Nguyễn Tri Tự ông
hướng dẫn cho hai cô con gái lớn là Lê Thị Điểu (tức Ba
Điều) đờn tranh và Lê Thị Thoàn (Năm Thoan) ca tai tu tu
năm 1908 đến năm 1917 thì theo cải lương
Ông Lê Văn Huệ cũng là một tay tài tử thạo đờn tranh
và biết ca tài tử, để có thể hướng dẫn hai cô con gái chơi hai
món này, đồng thời có giao du với gia đình họ Nguyễn Tri
tức là bên phía họ ngoại Nguyễn Tri Khương, Nguyễn Tri
Túc của ông Trần Văn Khê thì cũng thuộc bực tài danh
- Ngoài ra còn có ông Trần Bá Thọ (1861 - 1909) là con ông
Trần Bá Lộc, “ngài thường khi ham học chữ nho, hay dat thi
nôm dung van Tu Thứ, ngài có học khảy đờn kừm đờn tranh,
miệng ca tay đờn nghe cũng nhậm lẹ”? Ta còn thấy kể cả
Nguyễn Liên Phong là người miền Trung vào Nam, nhưng
tiểu sử của ông rời rạc, chưa xác định rõ ràng được, Phan
Văn Hùm trong bài viết đăng trên báo Trí Tân ngày 23-3-
2 _ Trần Minh Tiên, Lê Minh Chánh, T?m hiểu nghệ thuật sân khấu cải lương, Sở Văn
- hóa - Thông tin Long An xuất bản, 1989, tr 18,
Trang 391944 tua la Mot bai thi cua D6 Chiéu cé dé cap dén Nguyér
°
ín quốc sự pham ma bi day vao Nam ky Ong cé dip di
nhiều nơi ở Nam kỳ từ đó cho ra đời tác phẩm Nam kỳ phong
của mình, ông viết L rong phần ° ‘Diéu Tran BA Hưư
Ong Tran Bd Huu la em ong Tran Ba Tho, anh ong Tran
Bá Tường, ngài hình trạng khôi ngô thanh lich, tanh nét thiép liép thong minh, luc ngài làm Trị phủ tại xứ Long Thành, thì vừa gặp dịp tôi đi làm thầy thuốc nơi làng Phước
Kiểng, ngài gặp tôi nơi chỗ nhà ngu, tro chuyện tương đắc lắm, ngài nghe tôi đờn kừm ca mấy bài ngự chế, ngài nghe không biết tỏi.)
Nguyễn Liên Phong có giao du với Học Lạc, ông Lạc vốn
cũng sành cổ nhạc, do đó chắc hẳn hai ông có giao lưu với nhau đặng mà học hỏi Một minh chứng cho thay sự truyền thụ gián tiếp của ông Nguyễn Liên Phong cho giới nhạc Nam
kỳ đó là ông có con tên là Nguyễn Tùng Bá, mà ông Nguyễn
Tùng Bá thì là một nhân vật cũng có tiếng tăm trong nhạc
giới tài tử, Vương Hồng Sểến còn ghi dấu:
Lúc nhỏ, tôi từng biết mặt ông Nguyễn Tùng Bá khi ông
“thả cầm thi” xuống chợ Sốc Trăng ngối dạy đờn Ông trắng
người, dỏng dảy tránh khánh đẹp trai, đầu tóc đen huyền,
nhưng tóc bới theo xưa hay cất ngắn nay tôi không nhớ
chắc, tánh phong lưu luôn luôn thích ngậm xi gà, khi khác
1, Phan Van Hum, Mét bai thi cua Dé Chiếu, tạp chí Trị Tân, 23-3-1944, tr 7, 21
39
Trang 40hut thuốc bao xanh “Bastos” thứ không phải cắt đâu dé
y nguyên tra điễu thuốc trong ðng đót bọt nước và thỉnh
thodng gat gu vita day đờn vừa nhắp ly cỗ nhác “sec” Ông
tt ÿ cit0 UCL Vii PLU Wk 117D được Tội CAT it uw UUt; 2
nhận công năm dong bac, trong khi ấy cơm nước ăn ở tại
nha ngudi hoc don, và phải nhó cung phung sang trong co
rượu Tay cé dé nhap vi véo nhé!”
Ngoài ra riêng ông Nguyễn Tùng Bá vào thời điểm đầu thế
kỷ XX, đã xuất bản được ba quyển là Bản đờn kiểm do nhà
in Imprimerie de Union ấn hành năm 1913, gốm khoảng
20 bản đờn kìm và có kèm bài ca, quyển thứ hai là tap Bai
ca tới khác thứ + 3} + (Thất tài tử) do Phát Toán, Libraire
Imprimeur ấn hành năm 1912, và quyển thứ ba là tập bài ca
tựa Bái tài tử cũng do Dinh Thái Sơn in năm 1915 Qua đó
cho thấy sức ảnh hưởng của ông Nguyễn Liên Phong qua
ông Nguyễn Tùng Bá đến với nhạc giới tài tử Nam bộ
Qua tài liệu của ông Trần Văn Khê thì ai cũng biết ông có
ông nội là Trần Quang Diệm (1853 - 1925) đờn giỏi, mà ông
Trần Văn Khải có ghi lại lời ông Diệp Văn Cương cho hay
ông Diệm đờn tỳ bà rất xuất sắc: “Khi tôi nghe Tư Triếu don
Kìm và cậu Năm Diệm đờn Tỷ tồi, tôi không còn muốn nghe
ai đờn rrữa cả.) Và cô của ông là bà Trần Ngọc Viện (1885 -
1944) “thiện nghệ cây đàn tranh Cũng trong tài liệu của
Nguyễn Liên Phong:
Ông Trần Văn Sơn người ở Tân Dinh (Phú Hòa), tục `
kêu là Chợ Mới, thuộc về Sài Gòn, hình trạng khôi ngô
thanh lịch, nước da trắng, râu đài, tróng tay dài, tánh nết
thông trỉnh khí khái, gốm biết đạo nho đạo y, hay khảy
1 Vuong Hong Sển, Hổi ký 50 năm mê hát - Năm muoi năm cải lương, sảd, tr 69
2 Trần Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Khai Trí, Sài Gòn, 1966 (Bính Ngọ),