C chữ không có điều kiện được hoc ta tập với các nghệ nhơn gạo
II. THỜI GIAN XUẤT HIỆN
Tính từ năm “Mậu Ngọ, năm thứ I [1558] (Lê - Chính Trị năm 1, Minh - Gia Tĩnh năm 37), mua đông, tháng 10, chúa bắt đâu vào trấn Thuận Hóa, 34 tuổi”U) nghĩa là Nguyễn Hoàng bắt đầu mở cõi Đàng Trong về phía Nam khởi điểm
từ xứ Thuận Hóa, khi ấy thì danh từ về Nam bộ, Nam kỳ, Lục tỉnh, xứ Đồng Nai vẫn chưa được hình thành. Cư dân Việt
bắt đầu theo Nguyễn Hoàng từ Bắc vào mở cõi phương Nann, mãi đến năm 1658, Đại Nam thực lục tiên biên % thị E BRAN có chép một đoạn sử liệu: | |
Tháng 9, vua nước Chân Lap (vốn tên là Cao Miên) là
Nặc Ông Chân xâm lấn biên thùy. Dinh Trấn Biên báo lên.
Chúa sai Phó tướng Trấn Biên là Tôn Thất Yến, Cai đội là Xuân Thắng, Tham mưu là Minh Lộc (2 người đểu không
l.- Quốc sử quán triểu Nguyễn, Đại Nưm thực lục tiển biên, Tập 1, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr. 28.
26
chi
r6 ho) dem 3.000 quan dén thanh Hung Phuc (bay gid goi la Moi Xuy, nay thudc huyén Phuc Chinh, tinh Bién Hoa) ủỏnh phỏ được, bắt Nặc ễng Chõn đưa về. Chỳa tha lội
cho và sai hộ tống về nước, khiến lam phién than, hang nam nop cong.)
Còn đây là một đoạn ghi chép trong Gia Định thành thông của Trịnh Hoài Đức, quyển “Cương vực chỉ:
Kể thì Gia Định, xưa là đất cua nuéc Thuy Chan Lap (tức là nước Cao Miên ngày nay, nòi giống chia lam Thuy Chân Lạp và Lục Chân Lạp), đất ruộng béo tốt, sông nhiều, bể trăn, có nhiều địa lợi nhu thoc, dau, cd, mudi.
Các đấng tiên hoàng triểu ta chưa nhàn roi muu tinh xa, tam cho đất ấy là đất của nước Cao Môn, đời đời xing là nước phiên ở phương Nam, cống hiến không ngét. Dén năm Mậu Tuất đời Thái Tông Hiếu Triết hoàng đễ năm thứ 11 (1658) (Lê Thần Tông Vĩnh Thọ năm thứ ]; ngang với miên hiệu Minh Vĩnh Lịch năm thứ 12, Thanh Thuận Trị năm thứ 14), mua thu, tháng 9, vua nước Cao Môn là Nặc Ông Chăn xâm phạm biên giới (...). Vua sai Phó tướng dinh Trấn Bién (...), la Yén Vii hau, Tham muu Minh Lộc hầu, Cai đội suất tiên phong la Xuan Thang hau, dem 2.000 quan, di hai tudn dén thành Mỗi Xoài®) nước Cao Miên, đánh phá tan được, bắt vua nước ấy là Nac Ong Chan, đóng gông đem đến hành tại ở dinh Quảng Bình. Vua dụ tha tội, vẫn phong Nặc Ông Chăn
làm vua nước Cao Miên, cho làm phiên thần nộp cống, không được đi cho dân phiên xâm nhiều. Bèn sai quan
Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, Tập 1, sđỏ, tr. 72.
Bản dịch của Lý Việt Dũng là 3.000 quân, có so sánh hai bản chữ Hán của hai sách thì thấy có sai lệch một bên là 2.000 một bên là 3.000.
Mỗi Xoài (Mô Xoài, Mỗi Xuy) tức Bà Rịa sau này.
Hành tại: chỗ vua chúa đi tuần thú tạm ở gọi là hành tại, cung đang ở gọi là hành cung.
27
quan ho téng vé nuéc. Khi ấy địa dau tran Gia Dinh la hai xứ Mỗi Xoài, Đồng Nai (đất trấn Bien Hoa ngay nay)
a1 tan rata 12145
8 # we # 8 W4 ve tt Liki Pewee
nate 4 Aw 3i: +?ưi của Lan
£ f on #
Ga Cui ig C7 lan Yue eR wWUE Whey
Miên, để khai khẩn ruộng đất, tà người Cao Mén so phuc uy đúc của triểu đình, lại nhường ma tránh, không dám tranh giành ngăn trở.
cs
a5 rida
a
Sử liệu cho thấy kể từ năm 1658 thì xứ Biên Hòa -
Đồng Nai (Trấn Biên) đã được cắt đặt cơ quan cai trị, có Phó tướng là Tôn Thất Yến. Qua đó có thể suy ra rằng, cư dân Việt đã hiện diện trên xứ này, còn về dân số như thế nao thì không rõ, nhưng qua số lượng 3.000 quân, chưa kể dân, thì chúng ta cũng hạo được một con số không nhỏ,
Điểu này được xác nhận ở quyển “Thành trì chí - Thành Gia Định” như sau:
Gia Dinh trudc nhiéu rung cham ram rap, doi Thái Tong” sai tướng mở cối chọn chỗ bằng phẳng tiện lợi, lập dinh đôn ở chợ Diéu Khiến ngày nay, làm nơi cho Thống suất tham mưu đóng quân. Lại đặt dinh Phiên Trấn ở lân.
Tan Thuan ngay nay, lam nha thự cho giám quan cai ba, ký lục, bảo vệ bằng trại quân, ngăn bang rào. Ngoài ra thì _ cho dân trưng chiếm, chia đặt làng xớm phố chợ, nhà dân lộn xộn, đường đi cong, thẳng, cho dân tủy tiện, ngăn nắp chưa kịp sửa sang.°)
Từ việc hiện diện người Việt trên xứ Đồng Nai, chúng ta có thể hiểu răng người dân không chỉ mang theo mỗi con
1, Trinh Hoai Duc, Gia Định thành thông chí, Đỗ Mộng Khương và Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính và chú thích, Viện Sử học, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1999, tr. 75, có tham khảo bản dịch của Lý Việt Dũng, Nxb Tổng hợp Đồng
Nai, 2006.
2. Đời chúa Nguyễn Phúc Tan (1648 - 1686).
3. _ Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, sảd, tr. 175.
28
s . NV, A? | i ~ A A x Ag fe À xX Z A - a
người để sinh hoại trên vung đât mới, raá còn có thê hiểu
= . * we & ow 1 ⁄ af _- `... ằ " x A
được răng gồrn cả nếp sống, văn hóa, tín ngưỡng, ván nghệ, âm nhạc
Sử liệu chính thức ghi dấu về việc xác lập cơ quan hành chánh chính thức ở Nam bộ từ năm 1698, đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1692 - 1725), Đại Nam thực lạc tiễn biên chép:
Bắt đầu đặt phủ Gia Định. Sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lẫy xử Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay thăng làm phủ), dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay thăng làm phủ), dựng đinh Phiên Trấn (túc Gia Định ngày nay), mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền thủy bộ tỉnh bình và thuộc binh. Mô rộng đất được nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ những dân xiêu dạt tử Bố Chính trỗ vê Nam cho đến ở cho đông. Thiết lập xã thông phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệnh thuế tô dung, làm số đinh điễn. Lại lấy người Thanh đến buôn bán 6 Tran Biên lập làm xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn, lập làm xó Minh Hương BÄ”ẹ- (nay là 8đ). Từ đú người
Thanh ở buôn bán đếu thành dân hộ [cua ta].
Nguyễn Hữu Kính tức Nguyễn Hữu Cảnh, mà ở đâu trong cõi Nam bộ này người ta cũng biết, sau khi mất ông được người dân ở Nam bộ thờ ở đình như một vị thần trấn
cuộc đất này, cho thấy uy tín cũng như uy linh của ông đối với công cuộc khai phá miền Nam. Kể từ đó đến nay, Nam bộ với tuổi đời có cư dân Việt kể cũng trên dưới 300 năm.
Với nền văn hóa lâu đời của cư dân Việt, có dân sẽ lập làng, có làng tức có đình, đình làng là một cơ quan hành chánh
coi sóc mọi việc trong làng, từ dân số, thuế má, cúng tế, xử
1. _ Quốc sử quán triểu Nguyễn, Đại Nam thực lục tiên biên, sđỏ, tr. 111.
29
kiện... tượng trưng cho một tổ chức cá thể nhỏ để từ đó gộp nên thành một quốc gia, các luật lệ do làng định ra sẽ thành một nếp lâu đời, nhiều khi vượt ra khỏi phép nước, miễn sao Sảo toàn được an ninh, lề lối và truyển thống văn hóa của một quốc gia thì không vấn để gì, do đó chúng ta đã từng nghe nói đến câu tục ngữ “phép vua thua lệ làng” cho thấy u tín và quyền lực của đơn vị làng trong văn hóa Việt, mà ở đó “<
quyển lực tập trung vào đình làng.
Mặc dù quy rnô và cơ cấu của làng Nam bộ so với Bắc bộ có phần lỏng lẻo và thoáng hơn, nhưng đại thể vẫn giữ được những nét đặc trưng không thể thiếu để có thể duy trì quyền lực và chức năng của làng. Nói đến đình làng như một yếu tố để hình thành nên loại hình Đờn ca tài tử sau này đó chính là nhạc lễ trong cúng đình. Dù sao đi nữa ta cũng phải khẳng định một điều rằng nhạc lễ cúng đình là một trong những yếu tố thai nghén cho Đờn ca tài tử vì hầu như tất cả những bài bản trong nhạc lễ và một phần nhạc cụ trong dàn nhạc lễ đã được chuyển sang cho nhạc tài tử, tôi sẽ trở lại vấn đề này sau ở phần sau.
Từ những dẫn chứng trên, với sự xuất hiện của cư dân
Việt ở Nam bộ từ thế kỷ XVII, chúng ta có thể xác định được
thời gian thai nghén cho Don ca tài tử kể từ đó, với loại hình nhạc lễ cúng đình và những loại hình văn nghệ dân gian khác của người Việt đó là dân ca, hò, lý... tất cá những loại hình văn nghệ dân gian như dân ca, hò, lý ấy được người Việt mang từ Bắc bộ, vào Trung bộ rồi dần di chuyển đến Nam bộ. Một minh chứng cho các phong tục từ miền ngoài theo di dân đi vào Nam như tục hát Sắc bùa, Gia Định thành thông chí chép ở quyển “Phong tục ch”:
Ở Nông Nại (tức Đồng Nai), đến cuối năm, vào đêm 28
tháng chạp, có na nhân (tục danh Nậu Sắc bùa ) đánh trống
30
tọi, gõ bản phách, mươi lăm người làm mét bon, di dong
khắp phố, xóm, nhà nào hào phú thì đẩy cửa mà vào, dán bùa vào các cửa, niệm doc than chú, trống phách, tiếp đến loi hat chuc mung. Chu nha lap tic dem cỗ bàn chè rượu thét dai, va phong tién thudng ta. Lai di dén nha khdc cting nhu thé, dén trv tich (30 tét). Ciing la y dudi ta tong ma, bd năm cũ đón năm tới vậy.)
Cho thấy sự du nhập phong tục va loai hinh 4m nhac tín ngưỡng cũng hiện diện ở đất Nam bộ. Tất nhiên theo sự biến thiên về khoảng cách địa lý, cùng với sự dung hợp những tính chất văn nghệ địa phương của dân Chân Lạp tức dân Khmer bây giờ, hò miền Nam và hò miển Trung, cũng như lý miền Nam và lý miễn Trung đã khác nhau về thang âm, hơi điệu và kỹ thuật rung luyến thanh nhạc, tạo nên nét đặc trưng phân biệt. Từ sự khác biệt và đặc tính tiếp thu, thay đổi đó được du nhập vào Đờn ca tài tử, ra đời hơi oán và hơi Vọng cổ như là một huyền thoại của âm nhạc Nam bộ, giúp cho âm nhạc Nam bộ có thể khẳng định chính mình.
Rất có thể trong thời kỳ thai nghén ấy, loại hình Đờn ca tài tử đã tốn tại âm thầm trong dân gian thông qua các nhạc công của ban nhạc lễ, của nhạc công các ban hát bội, họ tụ hội chơi với nhau thông qua hình thức tập dượt, cũng như thư giãn lúc trà dư tửu hậu, sau các công việc đồng áng với mục đích giải khuây. Và mãi cho đến phong trào Cần Vương nổi lên sau khi Pháp chiếm hoàn toàn nước ta, các sĩ phu, nhạc công từ miền Trung lánh vào Nam bộ, trong đó có một nhạc công của triểu đình Huế vào Nam, đó là ông Nguyễn Quang Đại (tục xưng cụ Ba Đợi) và ông được biết đến như là hậu tổ của nghề Đờn ca tài tử Nam bộ nhóm miền Đông.
Điều này có nghĩa là ông Ba Đợi đã có công đem nghề đờn
1. _ Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, sảd, tr. 143.
ở]
của mình từ vùng đất Kinh kỳ vào Nam, từ dé gop phan
làm sôi nổi lên phong trào Đờn ca tài tử, do đó mà trong
quyển Hát bội, Đờn ca tài tử và Cải lương cuối TK 19 đâu TK
IW rvia hai Ana Nour An T
“4V Của ii Vi AN Guy eis ty
rang “nhac tai tt cé nguén géc tut nhac Cung dinh Hué™ toi A
cho việc định danh này là thiếu sót, trong khi trước khi cụ Ba Đợi vào Nam thì bản thân tại Nam bộ đã có ban nhạc lễ của các đám cúng đình, ban nhạc công của các gánh hát bội, chính những người này vô hình trung đã là một thành phan của loại hình Đờn ca tài tử cho dù là đang trong quá trình thai nghén hay là còn non nớt. Do đó tôi cho rằng nhạc cung
ệ Tuy ên và Nguyên Pric Hiện cho
đình Huế cũng chỉ là một yếu tố góp phần làm cho Đờn ca tài tử trở nên hoàn thiện hơn vậy.
Song song với nhóm nhạc miền Đông của cụ Ba Đợi, ta
còn được biết đến nhóm nhạc miền Tây mà Nhạc Khi (1870 - 1948) (tức Lê Tài Khí) được hậu thế tôn xưng là hậu tổ nhạc
tài tử, chủ chốt nhóm miển Tây. Trong quyển Tìm hiếu cổ nhạc Bạc Liêu, ông Trần Phước Thuận chép:
Nhạc Khị - người khai sinh ra trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, đã được anh em nghệ nhân, nghệ sĩ |ỏ] tôn xưng là
Hậu Tổ. Tư tưởng và sáng tác của ông không những đã làm
- kim chỉ nam cho các hoạt động cổ nhạc 6 Bac Liéu, ma con