C chữ không có điều kiện được hoc ta tập với các nghệ nhơn gạo
XX. Có thể nói: Nhạc Khi là cây đòn bấy cứng cáp đã tạo được sức bật ban đầu trong quá trình phát triển cổ nhạc
1. Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp, Hát bội, Don ca tai tử và Cải lương cuối TK 19 đầu TK 20, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, TP.HCM, 2013, tr. 45.
2. _ Trần Phước Thuận, Tìm hiểu cổ nhạc Bạc Liêu, Nxb Âm nhạc, Liên hiệp hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu, 2014, tr. 20.
32
ti C2 Ad rs eee pty CD Se et C> = mem o> “ỉ 7 is > pd OQ 2 oDằ C â — cu
thể là “ở đây” hoặc “ở Bạc Liêu” nhưng viết thiếu, tạm đặt vào ngoặc vuông để đảm bảo tính chính xác với bản gốc đã
trích dẫn. Từ hai dẫn chứng trên cho thay cudi thé ky XIX,
tức trước phong trào Cần Vương (1885) thì ở Nam bộ đã tồn
h í
tại một loại hình âm nhạc mà ta tạm gọi là fiển Nhạc
nếu không như thế thì các nhạc công chung quanh ông Nhạc Khi, và các bạn nhạc với ông Ba Đợi sau khi ông vào Nam không thể nào bỗng chốc nổi lên để tạo tiển để cho hai cụ có dịp phát triển Đờn ca tài tử được. Cụ Ba Đợi vào Nam ngụ Ở Gia Định (Long An ngày nay), còn Nhạc Khi thì ở Bạc Liều (thời ấy còn thuộc về An Giang theo bản dé luc tinh Nam kỳ).
Dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của hai ông thì phong trào Đờn ca tài tử được lớn mạnh, cũng chính trong thời kỳ này bài bản Đờn ca tài tử được sáng tác ổ ạt. Hơi oán, một hơi đặc trưng của Nam bộ được sinh ra từ sự phát triển, hay nói theo thuật ngữ âm nhạc phương Tây chính là biến tấu của bản T1 đại cảnh từ vùng đất Kinh kỳ. Theo tài liệu của luật sư Nguyễn Tấn Nhì bút danh Nhị Tấn, vốn là một nhà nghiên cứu về nhạc tài tử có tiếng trong giới nhạc tài tử Nam bộ gần
đây thì chép rằng: “Ông Ba Đợi chuyến hơi, chuyển cung và phát triển bản Tứ Đại Cảnh của Nhạc miễn Trung từ hơi Bắc dựng thành hơi Oán.*? Còn thù pháp “chuyển hơi, chuyển
cung và phát triển” như thế nào thì chưa được phân tích cặn kẽ. Tiếp theo, bài bản được sáng tác, chỉnh lý, một số khuyết danh người sáng tác, một số còn lưu giữ được. 20 bài bản tổ được chỉnh lý và xác lập định hình, bên cạnh đó có sự đị bản nhỏ giữa hai nhóm miền Đông và miển Tây. Nhóm miển Đông được biết cụ Ba Đợi sáng tác bộ Bát ngự để nghinh
đón vua Thành Thái vào Sài Gòn, và qua đó gởi gắm tâm tư
1. Nhị Tấn, Nhạc tài tử Nam bộ (tập D), tài liệu nội bộ phổ biến trong giới nhạc tài tử của Trung tâm văn hóa quận 8 - Câu lạc bộ Đờn ca tài tử quận 8, 1997, tr. 8.
33
tình cảm của mình cũng như tâm tư tình cảm của người dân -
Nam bộ cho vua tỏ tường.
Ms
RAy canh AA can cA oir cian hu œ117a hai nhéóm : 5! gt n nha QB ac Nà Sun KF BA Q A
4 2€ Celt ees Cee eee ea OLE . Sick Bk
tác của nhóm này để đối lại với nhóm kia như một sự thi thố
và lễ phép. Từ đó, định hình hơi điệu nhạc tài tử, đồng thời hình thành sự phong phú về bài bản nhạc tài tử, từ bản vắn cho đến bản trường.
x OfQ
IIL KHẢO VỀ HAI NHÓM TÀI TỬ MIỄN ĐÔNG VÀ MIỂN TÂY
1. Nhóm tiến Đông
Cổ nhạc miền Nam ban đầu chưa phân giới tuyến miền Đông và miền Tây như bây giờ, và cũng không phải kể từ
ngày cụ Ba Đợi vào Nam thì nhạc miền Trung mới vào được trong Nam. Trước xin lý luận một điểu là nhạc lễ đã theo di dân Việt vào Nam từ trước, kế là các nhân sĩ Nam kỳ một thời ra Kinh kỳ học tập, thi cử, hoặc làm quan nơi ấy một thời gian cũng có công đem cái vốn học được từ âm nhạc Kinh kỳ để rồi khi vào Nam phổ biến lại. Điển hình là hai nhân vật tiếng tăm như ông Tôn Thọ Tường (1825 - 1877) và ông Phan Hiển Đạo (1822 - 1864). Trong bộ Diéu cb ha kim thi tập của Nguyễn Liên Phong, mục Điếu Phan Hiển Đạo
co viet:
Ong Phan Hiến Đạo, người tỉnh Mỹ Tho, thi dau Tan si, hình trạng thanh lịch, tánh nết thiệp liệp thông tỉnh, lúc
ngài ra Huế học cử nghiệp, thì có học đặng diéu don Hué
cũng nhiễu, đến khi thi đậu rối, vua ban cờ, bién, ao mao cho về vinh quy, đặng ít lâu, quyến ngôi Đốc học chánh tại tỉnh Mỹ, tác thành tôn đệ đông người, lúc Nhà nước lại thâu thủ Nam kỳ, ngài với ông Tôn Thọ Tường toan bễ ra giúp việc nước với Langsa, hai ông cùng nhau trò chuyện
34
thi ngai riéng nghi phan minh lam r về làng Vink Kim Đông tục danh la Cho Gitta, ngai ben tu tu, con mét minh ông Tường giúp việc nhà nưúc làm tới đốc phủ sử. Lớp sau ông Phan Thanh Giản, duy ngài với ông Tường là văn học phẩm hạnh có tiếng, thân hào trong.sáu tỉnh có đặt bốn câu hát rằng:
x
lấy làm tương đắc, rồi sao không biét, ngai t
Lớp sau Thanh Giản tiếng đôn,
La Phan Hiến Đạo với Tôn Thọ Tường.
Ông thời nho:nhã văn chương,
Ông thời thi phú tót Äường diệu công.
Ông về thác:tại Kim Đông,
Ông ra giúp nước bụng đồng tương trí.
Một còn một tất trọn nghì,
Ngàn thu gương tạc Nam kỳ danh nho...
Thi rằng:
Nối dẫu văh tỉnh rạng vẻ:son, - Rải ro thời thế tiếng không tròn.
Céi bd chu méi.lam vun quén, Cờ biến ơn xua nghi héo don.
Tri kỹ mấy lời ghi bụng nhớ,
Da dai mét gidc.nin hơi ngon. | Khúc đờn Lưu thủy trôi dòng bích, Ma giong kim tranh điệu Huế còn.
Qua tài liệu trên cho thấy ông Phan Hiển Đạo “lúc ngài ra Huế học cử nghiệp, thì có học đặng điệu:đờn Huế cũng
1, Nguyễn Liên Phong, Điếu cổ hạ kim thi tập, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, TP.HCM,
2013, tr. 69.
35
nhiều” từ đó khi về quê hẳn phải có đem theo nghề ấy vào | Nam, cũng như từ hai bài thơ sau cùng do ông Nguyễn Liên Phong làm để điếu Phan Hiển Đạo “Khúc đờn Lưu thủy trôi dong bich, Ma giong kim tranh điệu Huế còn” ghì dấu ngày đó khi ông học được ngón đờn cũng như bài bản nhạc miền Trung, vẫn giữ được nét “Huế còn” ấy, từ đó chúng ta có thể hiểu, thời ông làm đốc học tỉnh Định Tường, sau khi đỗ tiến
sĩ năm Bính Thìn (1856), nhạc tài tử vẫn chưa định hình, nét
miền Trung vẫn còn hiện diện trong tiếng đờn, chứ không được Nam bộ và tài tử như ta nghe hiện nay. Ngoài ra ông Tôn Thọ Tường cũng là một nhân vật không chỉ có tiếng tắm trên trường chính trị, mà còn có “vai vế” trong giới chơi bời, tài tử. Tôn Thọ Tường vốn sinh ra trong một gia đình khoa
hoạn, cháu nội Tôn Thọ Vinh công thần thời Nguyễn Ánh,
con của lồn Thọ Đức, một cử nhân khoa Tân Ty, năm Minh Mạng thứ hai (1821).
Tôn Thọ Tường sinh ra trên đất Bình Dương tỉnh Gia Định theo quy hoạch hành chính cũ, từ thuở lọt lòng ông đã là một công tử, cuộc sống phồn hoa, lớn lên được lên kinh kỳ học tập, giữa đường học vấn, năm mười bốn tuổi được tin cha mất, ông quày quả về quê thọ tang, rồi có vợ ở Vũng Liệm, năm mười tám tuổi lại ra Huế dâng sé xin tap 4m™, va được vua chấp nhận cho tập ấm, nhưng với ngạch võ bang, vì triều đình cho rằng ông vốn xin tập ấm tổ tiên là công thần ngạch võ, nhưng bản thân ông lại sở đắc về văn học, ông cố gắng kêu nài nhưng không lung lay được, nên uất hận, ông về học tập để lại thi cho vào được văn bang, nhưng không may là ông trượt, từ đó uất hận càng thêm sâu nặng, dẫn đến những việc làm không hay cho lắm của ông về sau.
1. Tập ấm là một chế độ trong thời phong kiến, chỉ việc con cháu của các quan có công với triểu đình được hưởng chế độ như họ.
36
1 Vé 2 8
on tư chất văn học, tài tử và nghệ sĩ ông đã đứn
anh lap “Bach Mai thi x j :
tỉnh cảm. Trong Hồi ký 50 năm mê hát của học giả Vương ô
4 i L h ca i ce to jase) pty
i H
cổ nhạc như sau:
ồng Sển, có đoạn ông nói đến Tôn Thọ Tường về van dé Nay tôi cũng không ngồ nhơn nói chuyện đờn địch xú Vĩnh Kim lại kéo ra chuyện ông Tôn Thọ Tường và ông Phan Hiễn Đạo. Ý tôi muốn nhấn manh rằng người Chợ Gitta, Rạch Gâm học đờn có căn bản, có gốc gác, vì hai ông Tưởng và Đạo có ra học nghiệp tại Huế và có thọ nghiệp don ngoài ấy. Chuyện theo Tây bỏ ra ngoài, phải nhìn nhận hai người có công đem nghệ thuật đờn vào truyền bá trong Nam. Nhứt là cậu ba Tường, ai ai thuở ấy cũng biết tiéng, ăn chơi hút xách, đờn địch, bạc bài, tứ đỗ tường ông nếm du, vì bình sanh là người bất đắc chí, tuy đẫu Tây mà giúp bạn, cứu niguy nhiều người, va trọn đời chịu nghèo không tham của hối, chưa chắc người khác được như ông. Còn tài
đờn và làm thi phú thì khỏi nói” |
Ngoài hai ông Phan Hiển Đạo và Tôn Thọ Tường ra còn có Học Lạc, ông sanh năm bao nhiêu không rõ, nhưng Nguyễn Vấn Hầu suy đoán từ những cứ liệu mà phỏng chừng lối
1842 (Nhâm Dân), ông mất năm 1915, từng có tiếng trong lãnh vực cổ nhạc.
Nguyễn Văn Lạc biệt hiệu là Sẩm Giang, nối tiếng hay
chữ, được tuyến vào chân học sanh tại tỉnh nhà nên người ương thời gợi ông là thầy Học sanh Lạc hoặc gọn ghẽ hơn:
Hoc Lac. Gap thoi loan li, các cuộc thì Hương ở Gia Định đều bị đình hoãn kể tử 1859, Học Lạc không theo con đường khoa cử được nrữa nên xoay qua các nghề thầy thuốc, thầy
1, Vuong Hong Sén, Hoi ký 50 năm mê hát - Năm mươi năm cải lương, Cd sở Phạm Quang Khai xuất bản, Sài Gòn, 1968, tr. 41.
J/
giáo, có lúc thầy bói và biết chơi rất sành hai nhạc khí cổ là
ì ) pB——
bậc yêu thích Don ca tài tử và sân khấu cải ¡ lương cao tuổi, hoặc có nghiên cứu tìm hiểu về lịch sử cải lương đểu biết danh cô Ba Điểu, cô Năm Thoàn và cô Tám Hảo. Ông Lê Văn
Huệ chính là thân sinh của ba cô này.
Ông Lê Văn Huệ là thân phụ cô Ba Điều, cô Năm Thoàn và cô Tám Hảo (cô đào gánh hát cdi luong thay Nam Tu và về sau là vo cua thay Nam Tu). Nha ong giáo viên Lô
Văn Huệ ở gẩn bên nhà cụ Phan Hiến Đạo. Ông giáo Huệ thường hòa đờn với gia đình dòng họ Nguyễn Tri. Tự ông hướng dẫn cho hai cô con gái lớn là Lê Thị Điểu (tức Ba Điều) đờn tranh và Lê Thị Thoàn (Năm Thoan) ca tai tu tu
năm 1908 đến năm 1917 thì theo cải lương.
Ông Lê Văn Huệ cũng là một tay tài tử thạo đờn tranh và biết ca tài tử, để có thể hướng dẫn hai cô con gái chơi hai món này, đồng thời có giao du với gia đình họ Nguyễn Tri tức là bên phía họ ngoại Nguyễn Tri Khương, Nguyễn Tri Túc của ông Trần Văn Khê thì cũng thuộc bực tài danh.
- Ngoài ra còn có ông Trần Bá Thọ (1861 - 1909) là con ông Trần Bá Lộc, “ngài thường khi ham học chữ nho, hay dat thi nôm dung van Tu Thứ, ngài có học khảy đờn kừm đờn tranh, miệng ca tay đờn nghe cũng nhậm lẹ”?. Ta còn thấy kể cả Nguyễn Liên Phong là người miền Trung vào Nam, nhưng tiểu sử của ông rời rạc, chưa xác định rõ ràng được, Phan
Văn Hùm trong bài viết đăng trên báo Trí Tân ngày 23-3-
I. Nguyễn Văn Hầu, Văn học miễn Nam Lục tỉnh (tập 3), Nxb Trẻ, tr. 349-350.
2. _ Trần Minh Tiên, Lê Minh Chánh, T?m hiểu nghệ thuật sân khấu cải lương, Sở Văn - hóa - Thông tin Long An xuất bản, 1989, tr. 18,
3. Nguyễn Liên Phong, Điếu cổ hạ kim thi tập, sảd, tr. 89.
38
A 4
1944 tua la Mot bai thi cua D6 Chiéu cé dé cap dén Nguyér
pe —= D> mn) FCJ " © = paws OO rang “nghe dau 6 ong là ruột người Trun
ti
°
ín quốc sự pham ma bi day vao Nam ky. Ong cé dip di
nhiều nơi ở Nam kỳ từ đó cho ra đời tác phẩm Nam kỳ phong
vật điễn ca † Din
Thái Sơn phát hành, đến nay vẫn còn được tái bản. Ông mất nam 1917, dugc Nam Trung nhut bdo dua tin trong phan Ai
2 4,
Hin, ban thân ong giỏi thơ văn, chữ Nho lan qu uốc _- ngh
wx 32
của mình, ông viết L rong phần ° ‘Diéu Tran BA Hưư
Ong Tran Bd Huu la em ong Tran Ba Tho, anh ong Tran Bá Tường, ngài hình trạng khôi ngô thanh lich, tanh nét thiép liép thong minh, luc ngài làm Trị phủ tại xứ Long Thành, thì vừa gặp dịp tôi đi làm thầy thuốc nơi làng Phước Kiểng, ngài gặp tôi nơi chỗ nhà ngu, tro chuyện tương đắc lắm, ngài nghe tôi đờn kừm ca mấy bài ngự chế, ngài nghe không biết tỏi.)
Nguyễn Liên Phong có giao du với Học Lạc, ông Lạc vốn cũng sành cổ nhạc, do đó chắc hẳn hai ông có giao lưu với nhau đặng mà học hỏi. Một minh chứng cho thay sự truyền thụ gián tiếp của ông Nguyễn Liên Phong cho giới nhạc Nam kỳ đó là ông có con tên là Nguyễn Tùng Bá, mà ông Nguyễn Tùng Bá thì là một nhân vật cũng có tiếng tăm trong nhạc giới tài tử, Vương Hồng Sểến còn ghi dấu:
Lúc nhỏ, tôi từng biết mặt ông Nguyễn Tùng Bá khi ông
“thả cầm thi” xuống chợ Sốc Trăng ngối dạy đờn. Ông trắng
người, dỏng dảy tránh khánh đẹp trai, đầu tóc đen huyền, nhưng tóc bới theo xưa hay cất ngắn nay tôi không nhớ chắc, tánh phong lưu luôn luôn thích ngậm xi gà, khi khác
1, Phan Van Hum, Mét bai thi cua Dé Chiếu, tạp chí Trị Tân, 23-3-1944, tr. 7, 21.
2. Nguyễn Liên Phong, Điếu cổ hạ kim thi tập, sảd, tr. 90.
39
hut thuốc bao xanh “Bastos” thứ không phải cắt đâu dé y nguyên tra điễu thuốc trong ðng đót bọt nước và thỉnh
thodng gat gu vita day đờn vừa nhắp ly cỗ nhác “sec”. Ông
Alva 9# ala Li + rà LAA AAA anlad tae At L, Daa Te Avda Aa
tt ÿ cit0 UCL Vii PLU Wk 117D được Tội CAT it uw UUt; 2
nhận công năm dong bac, trong khi ấy cơm nước ăn ở tại nha ngudi hoc don, và phải nhó cung phung sang trong co rượu Tay cé dé nhap vi véo nhé!”
Ngoài ra riêng ông Nguyễn Tùng Bá vào thời điểm đầu thế
kỷ XX, đã xuất bản được ba quyển là Bản đờn kiểm do nhà in Imprimerie de Union ấn hành năm 1913, gốm khoảng 20 bản đờn kìm và có kèm bài ca, quyển thứ hai là tap Bai ca tới khác thứ + 3} + (Thất tài tử) do Phát Toán, Libraire
Imprimeur ấn hành năm 1912, và quyển thứ ba là tập bài ca tựa Bái tài tử cũng do Dinh Thái Sơn in năm 1915. Qua đó
cho thấy sức ảnh hưởng của ông Nguyễn Liên Phong qua ông Nguyễn Tùng Bá đến với nhạc giới tài tử Nam bộ.
Qua tài liệu của ông Trần Văn Khê thì ai cũng biết ông có ông nội là Trần Quang Diệm (1853 - 1925) đờn giỏi, mà ông Trần Văn Khải có ghi lại lời ông Diệp Văn Cương cho hay ông Diệm đờn tỳ bà rất xuất sắc: “Khi tôi nghe Tư Triếu don Kìm và cậu Năm Diệm đờn Tỷ tồi, tôi không còn muốn nghe ai đờn rrữa cả.) Và cô của ông là bà Trần Ngọc Viện (1885 -
1944) “thiện nghệ cây đàn tranh. Cũng trong tài liệu của Nguyễn Liên Phong:
Ông Trần Văn Sơn người ở Tân Dinh (Phú Hòa), tục `
kêu là Chợ Mới, thuộc về Sài Gòn, hình trạng khôi ngô
thanh lịch, nước da trắng, râu đài, tróng tay dài, tánh nết thông trỉnh khí khái, gốm biết đạo nho đạo y, hay khảy
1. Vuong Hong Sển, Hổi ký 50 năm mê hát - Năm muoi năm cải lương, sảd, tr. 69.
2. Trần Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Khai Trí, Sài Gòn, 1966 (Bính Ngọ),
— tr. 83,
40
don làm thị, riêng vui thu yén ha, nghé y dược nội khoa ngoại khoa đêu kiêm trị, cử xử với anh ern thì ruột gan hào huot™, có đi đấu xảo bên thành Paris.
Ong Trần Văn Sơn là ai, hiện khó rmà khảo cho ra,
e
g tôi trích ra đoạn trên cũng có cái lý của nó, căn cứ vào những điển có thể cho ta biết a những điều qua loa như ông ở lân Định, biết đạo Nh d
thì đại khái cũng có ảnh hưởng đến cổ nhạc, và thời gian thì chỉ còn biết căn cứ vào điểm là ông “có đi đấu xảo bên thành Paris, đấu xảo được hiểu là “hội chợ thuộc địa Pháp, được biết trong thời Nam kỳ thuộc Pháp có 4 cuộc đấu xảo
điễn ra vào năm 1889 (Hát bội), 1900 - 1906 - 1922 (Đờn ca tài tử) và 1931 (Cải lương) lần lượt tổ chức ở Paris hoặc Marseille (Pháp), thì chỉ có 3 mốc thời gian 1889 - 1900 - 1906 là thuộc về phạm vi trước khi quyển Điếu cổ hạ kim thi tập ra đời, nếu cho rang ông đi vào điểm cuối cùng của 3 mốc trên là năm 1906 thì cũng phải ở tuổi không nhỏ, tuy tài liệu không cho ta biết ông đi dự đấu xảo với chức năng ứỡ, nhưng điểu quan tõm của tụi ở đõy là từ đú cho ta một dự đoán là ông cũng thuộc dạng người chơi cổ nhạc trước khi ông Ba Đợi vào Nam.
Đại loại những nhân vật nói trên cho thấy kể từ trước khi
ông Nguyễn Quang Đại (tức cụ Ba Đợi) vào Nam đem theo nghề đờn miền Trung, thì trong Nam vốn có sẵn một lớp người tài tử rồi, và ngón đờn Huế đã đi được vào Nam qua các danh nho sĩ hoạn, từ đó âm thẩm duy trì đợi ngày được mưa mốc vun bổi tấn phát.
Với một đội ngũ cổ nhạc làm cơ sở như trên, nhưng ghi công đầu cho việc định hình nhạc tài tử, xin phải kể đến ông
1... Hào huợt: hào hoạt; hào hiệp hoạt bát, hào phóng, xởi lởi.
2. Nguyễn Liên Phong, Điếu cổ hạ kữn thi tập, sẵd, tr. 129.
41