1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới doc

39 335 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Kinh Tế Các Lựa Chọn Sử Dụng Đất Rừng Nhiệt Đới
Tác giả Camille Bann
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Môi Trường
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 474,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề của việc định giá tài nguyên môi trường là rất nhiều trong số đó có giá bằng không bởi vì không tồn tại một thị trường nào mà trong đó giá trị thực của chúng có thể được bộc lộ th

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KINH TẾ CÁC LỰA CHỌN SỰ

DỤNG ĐẤT RỪNG NHIỆT ĐỚI

CAMILLE BANN

Trang 2

PHẦN A : ĐỊNH GIÁ KINH TẾ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG

1.0 LÝ DO CƠ BẢN CỦA VIỆC ĐỊNH GIÁ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG

Chủ đề trung tâm của kinh tế môi trường, cũng như quyết định chủ yếu cho việc phát triển bền vững, là nhu cầu phải đặt ra một giá trị thích hợp cho các hàng hóa và dịch vụ môi trường Vấn đề của việc định giá tài nguyên môi trường là rất nhiều trong

số đó có giá bằng không bởi vì không tồn tại một thị trường nào mà trong đó giá trị thực của chúng có thể được bộc lộ thông qua những hoạt động mua và bán Cho nên, chúng được cung cấp tự do Ví dụ như chức năng bảo vệ vùng đệm của rừng đước hay

sự đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới Từ khi những hàng hóa và dịch vụ môi trường thường sẵn có cho người tiêu dùng với giá bằng không, chúng không xuất hiện để tác động đến thị trường, và cũng không được đo lường một cách dễ dàng như những hàng hóa thương mại khác Đây là một vần đề nghiêm trọng bởi vì, một cách đặc trưng, hàng hóa và dịch vụ môi trường có một giá trị nhất định (chứ không phải giá bằng không) và nhiều người sẵn lòng trả tiền để đảm bảo cho những lợi ích của họ.(Pearce et all, 1989)

Những nhà kinh tế trung thành với nguyên tắc mà hiệu quả kinh tế nên là tiêu chuẩn cơ bản trong việc đầu tư công cộng hay đưa ra những chính sách Điều này có nghĩa là lợi ích của các nguồn tài nguyên khan hiếm và chi phí thuần để sử dụng chúng nên được tận dụng triệt để trong từng trường hợp Nguyên tắc này được bảo vệ trong phân tích chi phí lợi ích (CBA), đây là một công cụ giải quyết được sử dụng rộng rãi CBA là phương pháp thẩm định dự án và hoạch định chính sách dựa trên khoảng lãi ròng của chúng

Tuy nhiên, CBA truyền thống không nắm bắt đầy đủ các lợi ích môi trường mà không gia nhập vào thị trường hoặc vì nhiều nguyên nhân khác nhau không được định giá một cách thỏa đáng trong lĩnh vực kinh tế Kết quả là, các dự án và chính sách được chọn lựa không thực sự hiệu quả

Từ khi các tác động môi trường chưa được ghi nhận trong CBA, người ta cho rằng có quá nhiều dự án gây suy thoái môi trường nhưng lại có quá ít các họat động có lợi cho môi trường.Trong thực tế, việc chọn lựa dự án có khuynh hướng thiên về quyền lựa chọn phát triển mà đầu ra của chúng có giá thị trường và vì thế được đo lường dễ dàng, ngược lại dựa trên các chức năng bảo tồn mà lợi ích của chúng không được mua bán trên thị trường thì việc đo lường khó khăn hơn

Bởi thế, thông tin về định giá kinh tế của các dịch vụ và hàng hóa môi trường quan trọng đối với những người đưa ra những quyết định gây ảnh hưởng môi trường nếu các lựa chọn tối ưu được đưa ra Việc so sánh giữa các chọn lựa không thể thực

Trang 3

hiện một cách công bằng, trừ phi có đủ các lọai phí và lợi ích của dự án bao gồm cả tác động môi trường, được tính toán một cách đầy đủ Một dự án tồi có thể được lựa chọn

và các dự án hợp lý sẽ không được xem xét

2.0 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỂ XÁC ĐỊNH CÁC GIÁ TRỊ KINH TẾ :

Đối với nhà kinh tế, sự khan hiếm là cái tạo ra giá trị cho hàng hóa và dịch vụ Ở đâu có thị trường hàng hóa và dịch vụ tồn tại thì ở đó sự khan hiếm được đo bằng giá

cả Thị trường là nơi cung cấp sản phẩm dịch vụ đáp ứng được nhu cầu đặt ra Giá cả thị trường được xác lập thông qua sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ ở nơi mua bán, và sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa giá trị sản xuất (cung) và giá trị tiêu dùng (cầu)

Về lý thuyết, một thị trường “hiệu quả” phải có sự cạnh tranh cao với nhiều người mua và nhiều người bán, tất cả họ đều có những thông tin đầy đủ về thị trường Một thị trường như vậy, hàng hóa và dịch vụ được định giá bằng giá trị biên của sản phẩm và phản ánh chi phí cơ hội của việc sử dụng nguồn tài nguyên Một giá hoàn hảo đạt được khi giá đó rõ ràng trên thị trường để cung bằng cầu, tính hiệu quả ở đây đề cập đến việc tối đa hóa lợi ích xã hội từ việc sử dụng nguồn tài nguyên (IIED 1994)

Theo cách đó, giá cả đóng vai trò như dấu hiệu của chi phí cơ hội của việc sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ, là lợi ích liên quan mà người tiêu dùng có được từ hàng hóa và dịch vụ

Ở đâu mà thị trường hoạt động tốt giá cả sẽ đưa ra chỉ dẫn đáng tin cậy cho sự khan hiếm hàng hóa Tuy nhiên, rất quan trọng để nhận ra rằng thị trường thất bại bởi một số lý do và bởi thế nên giá thị trường không tượng trưng cho giá trị thật (sự khan hiếm) của hàng hóa hay dịch vụ

Hơn thế, giá cả được xác định theo cách này gần như là chỉ đưa ra giá trị ước lượng nhỏ nhất

Đường biểu diễn nhu cầu của người tiêu dùng phản ánh người tiêu dùng sẵn lòng trả bao nhiêu để tiêu thụ hàng hóa ở những mức giá khác nhau trong khi đường biểu diễn sự cung cấp của nhà sản xuất phản ánh mức sẵn lòng cung cấp hàng hóa ở những mức giá khác nhau của nhả sản xuất Tổng thỏa mãn của người tiêu dùng được đặc trưng bởi toàn bộ khu vực nằm dưới đường cầu Vì vậy vùng thuộc đường cầu nằm trên mức giá phải trả là thặng dư người tiêu dùng, chỉ ra một cách khái quát những gì người tiêu dùng sẽ sẵn lòng trả trên mức mà họ thực tế phải trả Thặng dư người sản xuất là vùng phía trên đường cung, phía dưới giá thị trường Lợi ích xã hội là tổng thặng dư người tiêu dùng và người sản xuất (Hình 1)

D-D1 tượng trưng cho đường cầu, nó chỉ ra nhu cầu hàng hóa ở những mức giá khác nhau (nghĩa là mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng cho hàng hóa hay dịch vụ được đòi hỏi) Nói chung, cầu tương quan nghịch với cung, có nghĩa là giá tăng cầu sẽ giảm S-S1 tượng trưng cho đường cung, chỉ ra bao nhiêu hàng hóa được cung cấp với

Trang 4

mức giá đã cho Nói chung, cung tương quan thuận với giá cả, nghĩa là giá cả tăng cung cũng tăng

Hình 1 Cung, cầu, giá cả và thặng dư người tiêu dùng

Giá trị hàng hóa hoặc dịch vụ môi trường bằng với giá thị trường (P*Q) cộng với thặng dư người tiêu dùng (D-P1-P) Thực tế, vùng D-P1-P thường thay đổi vì hình dạng của đường cầu không tuyến tính Chính xác là ước tính thặng dư người tiêu dùng cần được tính toán khoa học

Nghiêm túc mà nói, đường cầu tìm thấy WTP cho lượng hàng hóa hay dịch vụ thêm vào ( hay biên tế) Do đó đường cầu là một bảng thống kê về mức sẵn lòng trả Chi phí biên, hay lợi nhuận biên là phần chênh lệch trong tổng chi hay thu từ mức tăng hay giảm trong lượng cung cấp hay tiêu dùng Đường cung và đường cầu càng dốc thì chi phí biên và lợi nhuận biên càng cao Các chênh lệch trong thặng dư người tiêu dùng

và nhà sản xuất được dùng để đo lường tổng hiệu quả trợ cấp xã hội Nếu chênh lệch này dương, nó là lợi nhuận Nếu chênh lệch âm thì nó là tổn thất

Toàn bộ khu vực nằm dưới đường cầu biểu diễn cho Thặng dư người tiêu dùng

Nếu giá cả được cố định ở P, thặng dư người tiêu dùng sẽ bằng khu vực nằm trên giá này, tức trên P, và dưới đường cầu, nghĩa là khu vực D-P1-P Trong trường hợp này việc định giá sẽ hạ thấp giá trị của những tài sản được yêu cầu

Việc định giá đúng là mức sẵn lòng trả tối đa của mỗi người để ngăn chặn sự suy thoái môi trưòng hay nhận rõ lợi ích từ môi trường ( được biểu diễn bởi khu vực dưới đường cầu)

P1

Số lượng cung cấp hoặc nhu cầu

Trang 5

Giá trị kinh tế bao gồm giá phải trả trên thị trường và thặng dư người tiêu dùng

mà người sử dụng thu được

2.1 Thất bại thị trường và thất bại chính sách :

Nhiều sự quản lý sai lầm và sử dụng không hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự thoái hóa môi trường có thể được giải thích bằng thất bại chính sách và thất bại thị trường

Một nền kinh tế thành công phụ thuộc vào hoạt động tốt của thị trường Nó báo hiệu sự khan hiếm của những nguồn khác nhau thông qua giá cả, và phân phối chúng ở mức giá trị sử dụng cao nhất Tuy nhiên, thị trường hoạt động sai lệch bởi rất nhiều nguyên nhân Ví dụ như, do tồn tại của nhiều ngoại tác, tài sản không được định giá và

sự không hoàn hảo của thị trường, chi phí giao dịch, quyền sở hữu không được xác định

rõ, và thông tin không đầy đủ (Khung A 2.2) Một số nguyên nhân đó có thể xảy ra trong những lĩnh vực kinh tế khác, nhưng chúng xuất hiện đặc biệt rõ ràng trong ngành tài nguyên thiên nhiên Giá cả do các loại thị trường đó tạo ra không phản ánh đúng những lợi ích và chi phí xã hội của việc sử dụng tài nguyên; giá cả đó truyền đạt những thông tin sai lạc về sự khan hiếm tài nguyên và không tạo được những lợi ích khuyến khích cho sự quản lý, sử dụng hiệu quả và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên (Panayotou, 1993)

Ví dụ như, nếu có quá nhiều tài nguyên môi trường được tiêu thụ ( nhiều cây bị chặt, nhiều cá bị bắt, quá nhiều nhánh đổ vào sông) đây là một dấu hiệu cho thấy thị trường thất bại làm tăng sự khan hiếm nguồn tài nguyên môi trường (rừng, các loại cá, khả năng hòa tan các chất thải của sông) Nhìn từ khía cạnh cung cấp, sự thất bại tương

tự là rõ ràng Người ta không đầu tư vào môi trường (trồng rừng, bảo tồn thiên nhiên hoang dã, làm sạch các con sông) bởi vì nó không có lợi cho họ Vì nhiều nguyên nhân khác thị trường thất bại đối với những nhà đầu tư và các nhà đầu tư môi trường

Theo đó thì một chính sách môi trường của chính phủ nên chỉ ra thất bại thị trường ở trên Điều này gọi là một chương trình hành động không phải là một đạo luật cho học thuyết chống sự can thiệp của chính phủ vào quản lý kinh tế, hoặc là để cho giá

cả tự điều chỉnh đến một mức tự nhiên Chẳng hạn như, nếu như các ngoại tác được nội hóa bằng cách nào đó, sự chuyển nhượng tài chính phải được sắp xếp giữa người gây phạm và nạn nhân Tuy nhiên, trong thực tế thì chính phủ thường can thiệp và làm cho

tình huống xấu đi Từ một thất bại chính sách bao gồm những điều bỏ sót và các ủy ban

Hội đồng Đây không chỉ là thất bại trong việc sửa chữa các biến dạng thị trường và các định kiến, mà còn tạo ra các biến dạng mới hoặc làm cho các tình trạng hiện có xấu đi

đó là kết quả của các chính sách không thích hợp

Thất bại chính sách xảy ra khi :

(i) Thiếu sự can thiệp của các chính sách cần thiết để sửa chữa thất bại thị

trường hoặc sửa chữa quá đáng hoặc là không sửa chữa gì cả (ví dụ: thiếu sự quản lý các khu rừng khai thác tự do)

Trang 6

(ii) Các quyết định của chính phủ - thay đổi quyền kiểm soát, định giá mức

lương và mức trợ cấp, các khoảng trợ cấp hoặc thuế, điều này tạo ra động cơ thúc đẩy việc sử dụng rừng không bền vững, các cách cải tạo đất đai không thích hợp thì sẽ gây ra sự chiếm hữu không bảo đảm, sự quốc hữu hóa đất rừng mà không có công cụ điều hành và quản lý – là nguyên nhân của sự biến dạng giá cả thị trường

KHUNG A1.1:

ƯỚC TÍNH LỢI TỨC THẤP VÀ MỨC SẴN LÒNG TRẢ

Mức sẵn lòng trả (WTP) biểu thị mức thõa dụng của một người đối với chất lượng môi trường, và nó bị ảnh hưởng bởi một vài yếu tố đặc trưng, bao gồm thu nhập

cá nhân, giới tính, sở thích văn hóa, giáo dục, tuổi tác

Mặc dù ước đoán tài chính của WTP có thể có giá trị thấp ở các nước đang phát triển khi so sánh với các nước phát triển, nó không có nghĩa là người dân ở những nước đang phát triển hoàn toàn có giá trị tài nguyên môi trường thấp

Nhiều cá nhân ở những đất nước có thu nhập thấp được chỉ dẫn sử dụng phần thu nhập của họ một cách ý nghĩa trên những sản phẩm có liên quan đến chất lượng môi trường Những người khác đầu tư cẩn trọng thời gian và nỗ lực để có được những lợi ích môi trường như là nước sạch Các phí tổn và nổ lực đó nên được phản ánh trong các ước tính WTP khi có thể làm được

Một cách nữa để nhìn vào WTP là khẩu phần của tổng thu nhập gia đình mà nó phản ánh hơn là giá trị tuyệt đối Điều này cung cấp một thước đo giá trị hàng hóa liên quan đến các dịch vụ và sản phẩm đã mua khác (nhưng không cung cấp giá trị tuyệt đối

để có thể sử dụng trực tiếp trong việc so sánh lợi ích chi phí)

Nguồn ADP, 1995

KHUNG A2.2 NHỮNG LOẠI THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG

Ngoại tác là những tác động của một hoạt động (lên những tổ chức khác) mà không được người gây ra tính đến Ví dụ, một ngành công nghiệp tư nhân thải ra sông

sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt đã tạo ra những ngoại tác bằng cách giảm chất lượng cuộc sống hoặc tăng chi phí cho những phần khác, từ khi những ảnh hưởng đó không được đưa vào dự trù của công ty Nói cách khác, thị trường không báo lại cho người gây ra cái giá phải trả của các ngoại tác, người mà không có sự khuyến khích nào để hạn chế những hoạt động đi ngược lại xã hội như thế (trừ khi những hoạt động đó là các quy định quản lý) Ngoại tác cũng có thể có lợi, ví dụ, giá trị của việc trồng cây để mang lại sản lượng gỗ đồng thời cũng là hàng rào chắn gió cho những người nông dân

Trang 7

gần đó Nhiệm vụ của người hoạch định chính sách là phải nội hóa các ngoại tác bằng cách : người gây phạm phải trả hoàn toàn chi phí cho các hoạt động của họ

Nhiều tài sản môi trường được định giá bởi xã hội, như không khí sạch, cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học; không được mua và bán trên thị trường Dẫn đến nhiều tài sản môi trường không có giá Nếu không bị kìm hãm lại bởi những giới hạn thì các cá nhân không có lý do gì để giảm mức sử dụng những tài sản đó, hay để đầu tư vào bảo tồn và phát triển chúng

Trong một số trường hợp, nguồn tài nguyên không được định giá bởi vì chúng là hàng hóa công cộng và sẽ khó hay thậm chí không thể định giá chúng Hàng hóa công cộng là thứ sẵn có cho mọi người và không thể từ chối ai Do vậy chúng là những nguồn tài nguyên tự do khai thác (open access resources) Trong trường hợp như vậy, đầu tư sẽ không sinh lãi vì sự khó khăn khi thu phí từ người tiêu dùng Ở đây chẳng có

lý do gì để người sử dụng tránh không sử dụng vì sẽ có những người khác nhảy vào thay thế ngay Đặc tính này của hàng hóa công cộng được gọi là không có tính độc chiếm

Đối với hàng hóa công cộng cạn kiệt, sự sử dụng của một người là trả giá bằng

sự sử dụng của những người khác (ví dụ, sử dụng rừng để lấy củi đốt và gỗ, săn bắt thú hoang dã, khai thác hải sản, sử dụng nước tưới tiêu, chăn thả súc vật trên những đồng cỏ) Một số suy thoái môi trường nghiêm trọng nhất xảy ra do nguồn tài nguyên cạn kiệt, nhưng trên thực tế là không kiểm soát Hoàn cảnh đó được gọi là Thảm cảnh của dân chúng (nó áp dụng cho nguồn tài nguyên tự do khai thác và có thể phóng đại vấn đề trong trường hợp mà ở đó có những hệ thống hiệu quả - thường thuộc truyền thống- của quản lý tài nguyên tài sản chung)

Không còn nghi ngờ gì nữa, thảm cảnh của dân chúng là điều sẽ xảy ra mà người

sử dụng những nguồn tài nguyên chung ( ví dụ : đồng cỏ) không thể hoặc không sẵn lòng liên kết với nhau để đồng ý cho một hệ thống quản lý tồn tại Trong khi mỗi người trong họ có một thời hạn rất ngắn sử dụng cực đại nguồn tài nguyên chung, thì càng có

lý do mạnh mẽ hơn để giữ gìn chúng trong một thời gian dài dù cho điều đó có nghĩa là đồng ý với sự giới hạn trong tiếp cận

Có rất nhiều lý do vì sao những người còn lại thất bại trong việc có được sự đồng tình, đó là chi phí và khó khăn của việc thực thi hợp đồng và thỏa thuận, thời gian

và sự phiền hà trong việc liên kết những người khác lại với nhau, chi phí của việc cung cấp thông tin Tập hợp những chi phí trên được biết đến như phí giao dịch Nếu chúng ảnh hưởng nhiều đến lợi ích mong đợi thì sự đồng tình sẽ không như ý, môi trường tiếp tục suy thoái

Trang 8

Thị trường hoạt động tốt cần được giữ vững bởi nhiều thể chế, đặc biệt một hệ thống các quyền sở hữu tài sản Một trường hợp dễ thấy là người nông dân Người nông dân sở hữu đất đai của họ, hay đạt được và có thời gian chiếm hữu lâu, có sự khuyến khích rõ ràng để trông coi và tái đầu tư đất, đặc biệt là nếu chúng có thể bán được và có nhiều lợi ích thấy rõ Nông dân lĩnh canh, người thuê đồng cỏ của chính phủ và những người chỉ đơn thuần là sử dụng đất thì có ít khuyến khích hơn để quản lý khu đất của họ hay đầu tư vào chúng và quả thực là có rất nhiều lý do để họ sử dụng nhiều đến mức có thể dù cho họ vẫn còn ở trên đó Với điều kiện quyền sở hữu tài sản, theo đánh giá chung, phải được xác định rõ ràng, mang tính độc chiếm, bảo đảm, mang tính cưỡng chế và chuyển nhượng được; thì chủ sở hữu có mọi sự khuyến khích để bảo vệ tài sản của họ Nếu một vài hoặc tất cả các điều kiện đó thiếu vắng thì sự khuyến khích sẽ giảm đi Ở những nước phát triển, nhiều suy thoái môi trường do sự mưu toan của chính quyền để cai quản những luật lệ thông thường hay quốc hữu hóa tài nguyên (rừng, đất đai chung) Trong thực tế, những hoạt động đó thường gây ra sự hỗn loạn và mất thăng bằng Hệ thống điều khiển truyền thống sẽ phá sản nếu không được thay thế bằng lựa chọn hiệu quả hơn

Các thông tin không hoàn chỉnh (thiếu hiểu biết và không chắc chắn) cũng gây trở ngại cho việc thực hiện các chức năng của môi trường Trong những trường hợp như vậy thì thị trường sẽ không hoàn hảo Chức năng của thị trường là dấu hiệu nổi lên sự khan hiếm như là các nguồn tài nguyên môi trường Bởi vì các qúa trình bị hiểu nhầm trầm trọng, những thay đổi (và hàm ý của nó) có thể không được nhận thấy kịp thời đối với giá cả hoạt động Tầm nhìn thiển cận làm trầm trọng thêm vấn đề này Hầu hết các

cá nhân đều có kế hoạch ngắn hạn, nghĩa là họ phải tập trung cao độ các mối quan tâm đến phúc lợi có được từ chính sách xảy ra trong tương lai gần Lợi ích sau 30 năm của việc trồng cây không ảnh hưởng lớn đến hầu hết các quyết định của cá nhân Kết quả là

cả lợi ích và chi phí dài hạn đều có xu hướng bị giảm giá nặng nề khi các đưa ra quyết định Những dự án môi trường đặc biệt có nguy cơ chịu những định kiến này

Thị trường thất bại khi các tiến trình môi trường không thể đảo ngược hay hủy

bỏ Nếu tương lai không chắc chắn thì cần thiết mở ra những lựa chọn phát triển tương lai Nếu một thung lũng hấp dẫn bị ngập lụt có thể gợi nên kế hoạch làm thủy điện, xã hội làm mất đi quyền lựa chọn bảo tồn cảnh quan dành cho thế hệ tương lai Thay vì vậy vẫn có thể duy trì được lựa chọn bảo tồn bằng cách sử dụng trạm nhiệt năng, nhưng thị trường sẽ hướng đến dự án thủy điện nếu nó rẻ hơn Nói cách khác thị trường sẽ lờ

đi những giá trị lựa chọn mà bị hủy đi bởi việc xây đập Đây là một vấn đề rất quan trọng trong thực tế bởi vì xã hội đang tăng dần mối quan tâm về chất lượng môi trường còn có nghĩa là giá trị lựa chọn đang tăng lên trong suốt thời gian này

Trang 9

PHẦN B ĐÁNH GIÁ KINH TẾ NHỮNG LỰA CHỌN SỬ DỤNG

Việc phát quang rừng là một vấn đề kinh tế bởi vì giá trị quan trọng đã bị đánh mất, một vài giá trị không thể nào thay thế được, một khi những khu rừng nguyên sinh hay còn gọi là rừng tự nhiên bị suy thoái hoặc chuyển sang mục đích sử dụng khác Chẳng hạn như, nếu rừng bị đốn sạch để sử dụng cho nông nghiệp, không những tốn các chi phí trực tiếp cho việc chuyển đổi (ví dụ đốn sạch hoặc đốt rừng và việc tái tạo các vụ mùa) bao gồm cả chi phí cho việc sử dụng đất mà còn các giá trị trước đây đã bị biến đổi Điều này bao gồm các chức năng môi trường quan trọng bị mất đi (ví dụ việc bảo vệ lưu vực sông, việc duy trì vi khí hậu và đa dạng sinh học) và giá trị của nguồn tài nguyên bị mất (ví dụ như gỗ thương mại, những sản phẩm không phải là gỗ và động vật hoang dã)

Mặt khác, bảo tồn rừng bao gồm phí trực tiếp của việc duy trì và thiết lập các khu vực được bảo vệ, chi phí cho những người trông nom và bảo vệ để bảo quản những khu vực đó, có lẽ một phần chi phí dành cho việc thiết lập lại vùng đệm để các cộng đồng địa phương có thể sử dụng Hơn nữa các lựa chọn phát triển như là sử dụng rừng

để khai thác gỗ thương mại hoặc chuyển đất rừng sang đất nông nghiệp, khai mỏ hoặc

để dùng làm thủy điện, phải bỏ đi nếu như đã chọn lựa sự bảo tồn Bởi thế, những lợi ích phát triển đã biết này là chi phí thêm vào liên quan đến lựa chọn bảo tồn

Quyết định lựa chọn mục đích sử dụng rừng nào để tiếp tục theo đuổi cho những diện tích rừng chọn trước có thể được thực hiện nếu tất cả những điều đạt được và những điều mất đi liên quan đến mục đích lựa chọn được đánh giá một cách hợp lí

Trong khi lợi nhuận của các lựa chọn phát triển thì dễ dàng được nhận ra vì chúng thường bao gồm các sản phẩm có thể tiêu thụ được (ví dụ như lợi tức từ gỗ và lợi tức từ nông nghiệp) nhiều giá trị của rừng tự nhiên và rừng nhân tạo không có thị trường và vì thế thường bị lờ đi trong các quyết định sử dụng Ví dụ, giá thị trường của đất rừng chuyển sang đất nông nghiệp thường thất bại trong việc phản ánh lợi ích môi trường mất đi như là bảo vệ lưu vực sông có thể quan trọng hơn Vì thế các lựa chọn sử

Trang 10

dụng đất có khuynh hướng thiên về lựa chọn hướng phát triển Mặc dù vậy, nếu các chủ

sở hữu trả chi phí xã hội đầy đủ cho việc phát triển đất rừng (nghĩa là các chi phí xã hội

và phí môi trường còn lại ngoài khung dự án) một ít đất sẽ được chuyển đổi hoặc được khai thác

Nhiệm vụ của các nhà phân tích là phải tính toán một cách rõ ràng và đầy đủ cho các dịch vụ và sản phẩm môi trường không có tính thương mại ở rừng nhiệt đới Nếu đánh giá sai lầm sẽ dẫn đến các dự án và chính sách rừng không thích hợp Rõ ràng, đây không phải là cuộc tranh cãi cho việc bảo vệ rừng, mà phải cần có những quyết định hợp lý hơn trong việc thực hiện dự án Việc bảo tồn không hẳn là lựa chọn kinh tế cần thiết nhất trong trường hợp này, thậm chí khi những giá trị không mang tính thương mại được xem xét một cách rõ ràng Nếu nguồn lợi từ việc thay thế các mục đích sử dụng rừng cao hơn là để rừng nguyên vẹn, thì sự cải tạo vẫn phải được đảm bảo Tuy nhiên, cần thiết để những quyết định như vậy đầu tiên sẽ đưa vào xem xét tổng hàng hóa và dịch vụ được rừng cung cấp, ảnh hưởng tới cộng đồng và tác động lên sự bền

vững của hệ thống môi trường được chu cấp bởi rừng

Cuốn sách này trình bày một phương pháp luận cho việc so sánh các chọn lựa sử

dụng đất rừng khác nhau bằng cách dùng Phân tích chí phí và lợi ích (CBA) Nơi mà

những công việc tính toán không dùng để so sánh các lựa chọn sử dụng đất khác nhau, hơn là để đánh giá tác động những hoạt động lâm nghiệp hay định tổng giá trị kinh tế của chỉ một cách sử dụng đơn thuần, thì đánh giá tác động môi trường hay đánh giá tổng giá trị kinh tế nên được dùng đến hơn là CBA (Phần B15) Tuy nhiên, phương pháp luân và lý thuyết này được trình bày trên CBA, kết hợp với thảo luận về kỹ năng định giá (Phần C), bao gồm cả những vấn đề và thông tin cần thiết cho 3 phương thức đánh giá khác nhau

2.0 PHÂN TÍCH CHI PHÍ LỢI ÍCH

Phân tích chi phí lợi ích (CBA) là phương pháp phổ biến nhất đánh giá dự án kinh tế và chính sách CBA là công cụ quyết định việc thẩm định các dự án dựa theo sự

so sánh giữa các chi phí ( không thuận lợi) và lợi nhuận (thuận lợi) Nếu một dự án có lãi ròng nó có thể được chấp thuận, các dự án khác có thể được xếp loại theo mức lợi nhuận của chúng

Cho nên, một dự án hoặc chính sách được chấp thuận nếu :

( Ba – Ca ) > 0 (1)

Trong đó :

Ba = lợi ích của dự án a ( bao gồm lợi ích môi trường)

Ca = chi phí của dự án a (bao gồm chi phí môi trường)

Chi phí và lợi ích được định nghĩa dựa trên sự đáp ứng nhu cầu hay sự ưa thích Nếu một cái gì đó thỏa mãn được nhu cầu thì nó là lợi ích Nếu nó lấy ra từ nhu cầu nó

Trang 11

là chi phí Nói rõ hơn, lợi ích là những gì làm tăng sự sung sướng của con người, và chi phí thì làm giảm đi Đối với các nhà kinh tế, sự sung sướng có tăng hay không sẽ được khám phá bằng cách nhìn vào sự ưa thích của con người Nếu một cá nhân bày tỏ sự thích thú một công việc A trong điều kiện hiện tại, thì lợi ích của việc chuyển sang A là chắc chắn sẽ có cho cá nhân đó Sự ưa thích còn được nhấn mạnh thông qua mức sẵn lòng trả của một cá nhân (WTP) WTP vì thế còn được dùng để đo lường lợi nhuận (Xem phần A2.2)

Để CBA nghe có vẻ mang tính phân tích hơn, nó nên so sánh giữa việc dự án đã cho với hệ quả cuối cùng nếu thiếu dự án đó Đó là vì nguồn tài nguyên đưa vào dự án

đó có rất nhiều cách sử dụng khác nhau Nếu chúng không được sử dụng cho một dự án riêng biệt thì chúng có thể được dùng cho những mục đích khác, một số trong đó sẽ đem lại tỷ lệ lãi suất cao rõ rệt Nơi nguồn tài nguyên (nguồn vào) có nhiều cách sử dụng khác nhau, hiển nhiên chúng không thể bị cho là miễn phí hay là duy nhất dành riêng để tiến hành dự án Mỗi nguồn vào đều có một chi phí cơ hội riêng và chỉ nên góp phần vào sản lựơng của dự án càng ít càng tốt vì nó có thể sử dụng trong sự lựa chọn tốt nhất kế tiếp (chi phí cơ hội là lợi ích bỏ qua (cơ hội mất đi) khi quyết định thực hiện một dự án nào đó) Tuy nhiên, điều đó không đủ để chắc chắn lợi nhuận của dự án A Chi phí cơ hội khi quyết định làm dự án A phải được tính đến Chi phí cơ hội cân bằng với những lợi nhuận mà lựa chọn tốt nhất kế tiếp mang lại

Chi phí cơ hội của việc chọn A do đó chính là lãi ròng của chọn lựa B (phương

án tốt nhất tiếp theo) Lãi ròng của A (Nba) phải cao hơn lãi ròng của B (NBb) nếu A là lựa chọn sử dụng đất được ưu tiên hơn

NBA – NBb > 0 (2)

Ví dụ như, ta xét hai trường hợp sử dụng đất rừng : A (cải tạo cho nông nghiệp)

và B (duy trì sự bền vững truyền thống) Nếu : rừng bị chặt trụi cho nông nghiệp (lựa chọn A), không chỉ bao gồm chi phí trực tiếp của việc cải tạo (như : chặt phá và thiêu trụi rừng, hình thành những ruộng rẫy) như một phần chi phí sử dụng đất mà còn kể cả những lợi ích (Chi phí cơ hội) của khu rừng trước khi cải tạo Nếu không cải tạo, rừng

có thể được bảo tồn gần với tình trạng thiên nhiên thông qua sử dụng hạn chế và bền vững (lựa chọn B) Những lợi ích đã biết liên quan đến chọn lựa A có thể bao gồm cả

sự mất đi các chức năng cơ bản của môi trường (ví dụ : bảo vệ lưu vực sông và điều hòa khí hậu) và các tài nguyên ( ví dụ : gỗ cứng có tính thương mại cao, các sản phẩm không từ gỗ, đời sống hoang dã)

Một điểm quan trọng mà nhà phân tích phải nhớ là có thể không cần thiết để ước tính tất cả những giá trị liên quan đến lựa chọn B Một công việc như vậy sẽ là sự lãng phí thời gian Đó là vì việc định giá của một số ít trong số những giá trị đã biết của rừng

đã đủ để cho thấy rằng chọn lựa A là không kinh tế Vậy nên thật quan trọng phải xếp

Trang 12

loại các giá trị khác nhau của rừng một cách cẩn thận trước khi tiếp tục công việc đánh giá (xem phần B6.5) để có thể tập trung phân tích những giá trị đáng lưu ý

Công thức (2) không theo thời gian Nó không nói lên được khoảng thời gian mà qua đó chi phí và lợi nhuận được thêm vào Nhưng, có những thay đổi trong tình hình

có thể đã bao gồm cả chi phí và lợi nhuận xảy ra trong một thời gian dài, ngay lập tức

và sau đó biến mất hay xảy ra lâu hơn nữa Dòng chi phí và lợi nhuận cần được chiết khấu để có thể so sánh ở một trạng thái cân bằng cho cả những năm chúng xuất hiện

Có thể thu gọn cả 2 dòng trên thành một dạng đơn giản, tức là hiện giá Việc chiết khấu

sẽ được bàn thêm ở phần B9 CBA đã sửa đổi kết hợp với thời gian được trình bày dưới đây :

∑t(Bt – Ct)(1+r)t > 0

trong đó :

t : thời gian

B : lợi nhuận (bao gồm lợi ích môi trường)

C : chi phí (bao gồm chi phí môi trường)

r : tỷ lệ chiết khấu

2.1 PHÂN TÍCH TÀI CHÁNH SO VỚI PHÂN TÍCH KINH TẾ

CBA vạch ra sự khác biệt giữa giá trị tài chính và giá trị kinh tế

Phân tích tài chính thường là bước đầu tiên trong việc đánh giá chi phí và lợi ích tiền tệ của dự án hay các lựa chọn sử dụng đất Phân tích tài chính được vạch ra bởi nhà đầu tư đặc biệt quan tâm đến chi phí và lợi nhuận đối với dự án của anh ta Vì vậy nó

đo lường lợi nhuận của công ty dựa trên giá cả thị trường Trong khi phân tích tài chánh

có giá trị trong việc góp phần phát triển khu vực tư nhân nhưng lại không trả lời được vấn đề giá cả thị trường có thích hợp và phản ánh đúng giá trị thực tế hay không Bất cứ thất bại thị trường hoặc chính sách nào sẽ tạo ra sự tính toán không chính xác cái mà có thể bóp méo giá cả thị trường.(Xem phần A2.1)

Phân tích kinh tế đi xa hơn phân tích tài chánh để nhận thấy được chi phí và lợi ích kinh tế của một dự án dựa trên phúc lợi xã hội Bởi vì vậy nó kiểm tra tấ cả các tác động của dự án bao gồm các hậu quả môi trường

Phân tích kinh tế đòi hỏi nhiều điều chỉnh khác nhau cho giá cả tài chính để điều chỉnh thị trường không hoàn hảo, chính sách không rõ ràng và phân phối không công bằng Mục đích là để ước lượng giá ngầm hay chi phí xã hội biên tế

Trang 13

2.2 PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BÀY MỘT PHÂN TÍCH CHI PHÍ LỢI ÍCH CỦA NHỮNG LỰA CHỌN SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG NHIỆT ĐỚI KHÁC NHAU

Việc đánh giá kinh tế đối với những lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới khác nhau bằng CBA liên quan tới một số bước phân tích Dưới đây là phần tóm tắt và sẽ được thảo luận chi tiết hơn ở các phần sau của cuốn sách này

Trong khi các bước phân tích được trình bày tuần tự thì việc thực hiện thật sự cần đến quá trình lặp đi lặp lại hay phản hồi Đó là ở bất cứ giai đoạn nào của phân tích cũng cần thiết trở lại bước trước đó để xem lại quá trình đánh giá cải thiện việc phân tích hay xác định lại những thông tin cần thiết

Bước 1 : Xác định vấn đề hoặc mục tiêu phân tích.(Xem phần B3)

Bước 2 : Xác định việc phân tích bằng cách thiết lập phạm vi và tình hình của những việc quan trọng chắc chắn xảy ra một cách rõ ràng Mặt khác xác định cơ sở cho việc phân tích, giới hạn địa lý của hệ thống, bao gồm cả giới hạn thời gian của việc phân tích (Xem phần B4)

Bước 3 : Nhận dạng chức năng sinh thái của hệ sinh thái rừng (Xem phần B5) Bước 4 : Nhận ra các tác động cơ học của việc sử dụng đất khác nhau (có hay không có trong kế hoạch cơ bản của dự án) (xem phần B5)

Bước 5 : Nhận ra tổng giá trị kinh tế (TEV) của hệ sinh thái rừng và giá trị kinh

tế liên quan với tác động cơ học (Xem phần B6)

Bước 6 : Xếp hạng chi phí và lợi ích kinh tế dựa trên giá trị tiền tệ và nhận dạng những thông tin cần thiết (Xem phần B6)

Bước 7 : Xác định lượng chi phí và lợi nhuận trong kỳ hạn tiền tệ (xem phần B6, B7, C và D)

Bước 8 : Tiền tệ hóa chi phí và lợi ích môi trường cùng với các chi phí dự án truyền thống (ví dụ thiết bị quan trọng, vận hành và bảo trì, sự trượt giá)

Bước 9 : Xem lại các chi phí và lợi nhuận của dự án (thuộc về môi trường hay phi môi trường) để đảm bảo rằng chúng dựa trên những điều chắc chắn xảy ra trong tương lai

Bước 10 : Tổng hợp các thông tin hàng năm suốt dự án (hay với thời gian lâu hơn), chi phí và lợi ích có giá trị (môi trường và phi môi trường) để xác định dòng chi phí và lợi nhuận hàng năm

Bước 11 : Chiết khấu để ước lượng giá trị hiện tại của chi phí và lợi ích tương lai (Xem phần B9)

Bước 12 : Thiết lập các tiêu chuẩn quy định để thẩm định các lựa chọn khác nhau, 3 loại quy định chính thường được sử dụng là : hiện giá ròng (NBV) tỷ suất lợi nhuận nội sinh (IRR) tỷ suất lợi ích trên chi phí (BCR) (Xem phần B10)

Bước 13 : So sánh các phương án khác nhau dựa trên các tiêu chuẩn đầu tư đã chọn

Bước 14 : Nhận dạng các biến số với tính không ổn định và rủi ro cao (Xem phần B11)

Trang 14

Bước 15 : Thực hiện phân tích nhạy cảm để trình bày những điều chắc chắn xảy

ra khác nhau có ảnh hưởng đến kết quả như thế nào

Kinh nghiệm cho thấy các dự án thường xảy ra trái với những gì mong đợi Phân tích nhạy cảm cố gắng tập trung vào những sự kiện có ảnh hưởng lớn nhất đến kết quả

dự án Môi trường cũng như tài chính nên được đưa vào làm những biến chính của dự

án (trong phân tích nhạy cảm) Phân tích xác suất nên dẫn dắt cho các biến khác được nhận ra thông qua phân tích nhạy cảm như là các tác động quan trọng lên tiêu chuẩn đầu tư

Bước 16 : Kết hợp tiền bồi thường được phân chia (Xem B12)

Bước 17 : Báo cáo các sai sót, định kiến, điều không chắc chắn (Xem B13) Phân tích rủi ro và nhạy cảm nên được đưa ra để bao quát lợi ích và chi phí môi trường không thể định giá

Bước 18 : Kết hợp các kết quả giá trị kinh tế của những tác động môi trường thành phân tích dự án kinh tế

Các kết quả này nên được kết hợp thành tài liệu hoạch định sơ bộ cho dự án, bao gồm bảng tóm tắt dự án – được trình bày ở các hội nghị quản trị và trong suốt phân tích

dự án kinh tế

Bước 19 : Đưa ra kết luận cho việc đầu tư hay chính sách Mục tiêu của phân tích kinh tế chính là chỉ ra cho nhà hoạch định chính sách các lựa chọn mang tính khả thi

Khung B3.1 TÓM TẮT CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH PHÂN TÍCH CHI PHÍ LỢI

ÍCH (CBA)

Bước 1 : Xác định vấn đề/mục tiêu

Bước 2 : Xác định việc phân tích

Bước 3 : Nhận dạng những chức năng sinh thái của hệ sinh thái rừng nhiệt đới

Bước 4 : Nhận dạng và ưu tiên những tác động cơ học (có và không có dự án)

Bước 5 : Nhận dạng tổng giá trị kinh tế (TEV) của hệ sinh thái rừng và giá trị kinh tế liên quan với các tác động cơ học

Bước 6 : Xếp hạng các chi phí và lợi nhuận dựa trên giá trị và xác định những thông tin cần thiết

Bước 7 : Ước lượng chi phí và lợi ích môi trường trong kỳ hạn tiền tệ

Bước 8 : Chia phần chi phí lợi ích môi trường và truyền thống

Bước 9 : Xem lại toàn bộ các chi phí và lợi nhuận của dự án để kiểm tra rằng dự đoán kiên định

Bước 10 : Tổng hợp các chi phí và lợi nhuận trên cơ sở hàng năm

Bước 11 : Chiết khấu chi phí và lợi nhuận tương lai

Bước 12 : Thiết lập tiêu chuẩn quyết định

Bước 13 : So sánh những phương án khác nhau dựa trên tiêu chuẩn đã chọn

Bước 14 : Xác định các biến lượng với độ không chắc chắn cao

Bước 15 : Tiến hành phân tích nhạy cảm

Trang 15

Bước 16 : Sát nhập tiền bồi thường được phân chia

Bước 17 : Báo cáo những sai sót, định kiến và tình trạng không chắc chắn

Bước 18 : Kết hợp những kết quả vào phân tích dự án

Bước 19 : Đưa ra kết luận cho việc đầu tư hay chính sách

3.0 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ HAY MỤC TIÊU CỦA SỰ PHÂN TÍCH (BƯỚC 1)

Bước thứ nhất trình bày rõ vấn đề hay mục tiêu của sự phân tích Rõ ràng, bước này giữ một vị trí quan trọng và đòi hỏi có sự hiểu biết về khu rừng trước khi định giá, nghĩa là loại rừng và các vấn đề phát triển liên quan tới vùng đó (ví dụ liệu khu rừng này có gỗ thương mại cao hay không, hay là nó có đóng vai trò quan trọng là đường phân chia nước và mức độ ảnh hưởng đến các cộng đồng ở khu vực này)

Phương pháp so sánh kinh tế sẽ bao gồm so sánh hai hay nhiều lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới của khu rừng đã chọn (xem ô B3.2) Nhiều giả thuyết về các vấn đề này được phân tích nổi bật hơn dưới đây

(i) Chúng ta muốn biết liệu một khu rừng nên khai thác để lấy gỗ hay bảo

tồn cho các mục đích sử dụng truyền thống như là sự thu thập các sản phẩm không phải từ gỗ (Non timber forest products – NTFP)

(ii) Việc phân tích có thể tập trung vào những hệ thống quản lý khác nhau

cho một mục đích sử dụng đất đặc biệt Ví dụ như, nếu rừng bị khai thác

để lấy gỗ, các phương pháp quản lý sau đây có thể được đem ra so sánh : phương pháp đốn sạch ngược lại là phương pháp khai thác chọn lọc với

sự sắp xếp chu kỳ khai thác hợp lý

(iii) Các mục đích sử dụng đất khác nhau thì không cần thiết tách biệt với

nhau, việc kết hợp chúng và các hoạt động có lẽ là tốt nhất cho khu rừng

đã đưa ra Chẳng hạn như, việc khai thác bền vững các sản phẩm rừng không phải từ gỗ có thể so sánh với việc đốn sạch, và việc khai thác gỗ chọn lọc định kì kết hợp với việc khai thác bền vững các sản phẩm không phải từ gỗ Như vậy, sự bảo tồn hay quản lí rừng nhằm mục đích tồn tại

có thể đem lại lợi ích xã hội cao nếu yếu tố du lịch sinh thái được tính

đến

Như đã đề cập ở phần B2, dùng CBA để phân tích thăm dò, dự án đưa ra nên được so sánh với sự lựa chọn kế tiếp tốt nhất Việc định rõ một dự án thường khá dễ thực hiện; còn định rõ các lựa chọn cho dự án có thể cần một số lưu ý Phương pháp rút gọn thông thường, thì cho rằng không có gì xảy ra (hoặc vài thứ khác như là việc chặt trụi) nếu thiếu dự án; nhưng giả định này thường không đúng Một phương pháp cẩn thận hơn trong trường hợp tồn tại một lượng lớn thông tin về các lựa chọn phát triển, thì

nó sẽ bao gồm việc định rõ các lựa chọn Mặt khác, nếu có ít hiểu biết về các lựa chọn

Trang 16

phát triển, thì một phạm vi rộng hơn của các lựa chọn nên được chấp nhận như là tiềm năng có thể thực hiện (Ruitenbeek 1995)

Các nhà phân tích chịu trách nhiệm cho việc bảo đảm rằng tất cả các lựa chọn khả thi đã được khảo sát và các phép phân tích phải thiết thực và chi phí hiệu quả

Khung B3.2 Phân loại các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới

Luân canh SƯU TẬP CÁC SẢN PHẨM KHÔNG PHẢI LÀ GỖ

(Cho sự tồn tại và mục đích thương mại)

SỰ BẢO TỒN

Công viên quốc gia Khu bảo tồn động vật hoang dã Khu vực được bảo vệ

4.1 Đặt ra giới hạn, trường hợp “có và không có dự án”:

Một khía cạnh bình phẩm của định giá kinh tế là sự xác định giới hạn Tất

nhiên, giới hạn phản ánh tình trạng khi chúng xuất hiện không kèm theo dự án (nghĩa

là không có bất kì một thay đổi nào trong việc sử dụng đất) Sự đánh giá khi không có

dự án sẽ cho phép thẩm định lại sự khác biệt thật sự mà dự án tạo nên

Thậm chí khi các dự án khác nhau đang được xem xét, thì lựa chọn “không có

dự án” vẫn nên được giữ lại (đôi khi một dự án khác được dùng thay cho phương án

“không có dự án” như là một ranh giới) Nguyên nhân của việc này là chúng ta có thể chỉ rõ những thay đổi mà dự án sẽ mang lại khi so sánh với những gì xảy ra nếu không

Trang 17

có dự án nào được thực hiện Ví dụ như một dự án phát triển nông nghiệp được đặt ra

ở khu vực miền núi có thể gây xói mòn đất và làm tăng thiệt hại khi tưới cho những cánh đồng lương thực xuôi theo dòng “Phí” môi trường của dự án không chỉ là tổng thiệt hại đối với những cánh đồng này, mà còn gây ra bởi lượng bùn thêm vào được tạo nên từ dự án này Một phân tích mà đòi hỏi cả có và không có vạch ra các viễn cảnh sẽ giúp gạn lọc bớt thiệt hại (hoặc tránh được thiệt hại đó) là kết quả của dự án Trừ phi điều này được thực hiện, nếu không sẽ có rủi ro từ việc cho là có quá nhiều (hoặc quá ít) thiệt hại đối với một nguyên nhân cụ thể Điều này đặc biệt quan trọng khi sự việc yêu cầu xảy ra trong quá trình đang được tiến triển (ví dụ: ở những nơi có

sự ô nhiễm nước và không khí hoặc xói mòn đất)

4.2 Định nghĩa ranh giới phân tích và ranh giới địa lý:

Ranh giới phân tích và ranh giới địa lý thích hợp của phép phân tích và giới hạn thời gian thích hợp sẽ phụ thuộc vào loại vấn đề được phân tích

Chẳng hạn như, nếu đốn gỗ tác động đến nghề đánh bắt cá xuôi dòng thông qua việc dẫn đến xói mòn đất và lắng đọng bùn, nhà phân tích sẽ phải tính đến cả các hoạt động trong ranh giới phân tích của nó Họ sẽ phải xem xét phạm vi thời gian có khả năng bù khoảng thời gian xói mòn đất và tác động bồi tụ của việc đốn gỗ lên khu vực đánh bắt cá xuôi dòng

Một cố gắng để xác định sự đóng góp kinh tế của mục đích sử dụng rừng đặc biệt vào phúc lợi tổng thể xã hội sẽ có một ranh giới phân tích cực kì rộng Ranh giới này có đủ khả năng bao phủ tất cả giá trị xã hội có thể có của khu rừng, cũng như một phạm vi thời gian rất rộng, có lẽ đủ rộng để tính cả các vấn đề tồn tại giữa nhiều thế

hệ

Tất nhiên, lợi ích và chi phí của nhiều mục đích sử dụng đất xảy ra trong những khoảng thời gian khá lâu dài Bởi thế nên đặt ra một phạm vi thời gian thích hợp cho việc định giá sử dụng đất là một vấn đề quan trọng và sẽ phụ thuộc vào bản chất của những gì được định giá

Trong trường hợp sử dụng cho nông nghiệp có thể là một khoảng thời gian tương đối ngắn trong một vài năm, tương ứng với một chu kì vụ mùa đầy đủ (bao gồm

cả đất bỏ hoang ở những nơi thích hợp) Trong lâm nghiệp, công việc thông thường là phải xem xét toàn bộ chu trình sinh trưởng và trưởng thành của cây Tuy nhiên đối với những lợi ích mỹ quang và lợi ích môi trường, thì một chu kì gỗ 30 năm không thể đủ thời gian phản ánh tất cả kết quả một thay đổi trong mục đích sử dụng đất Những thay đổi về thủy địa học đất hay khí hậu chẳng hạn thì không thể bộc lộ trong nhiều thập niên Giá trị thẩm mỹ của những hệ sinh thái rừng sinh trưởng lâu đời có thể phản ánh sự sinh sôi, sự thích nghi và suy tàn trong nhiều thế kỉ hoặc thậm chí là thiên niên

kỉ

Không có luật lệ nhanh chóng và cứng rắn nào về việc thiết lập một phạm vi thời gian cho việc đánh giá mục đích sử dụng đất rừng Điều quan trọng là phải bảo

Trang 18

đảm tất cả chi phí và lợi nhuận có liên quan phải được tính đến trong phân tích, bất cứ khi nào chúng xuất hiện và các mục đích sử dụng đất khác nhau được so sánh trên một cùng một khung thời gian

5.0 NHẬN DẠNG VÀ PHÂN TÍCH SINH THÁI CỦA TÁC ĐỘNG CƠ HỌC (BƯỚC 3 – 4)

Để thành lập cơ sở cho việc định giá kinh tế các giá trị môi trường, trước tiên các nhà phân tích phải xác định số lượng và nhận dạng tất cả các tác động cơ học tiềm ẩn

và trên thực tế của mục đích sử dụng đất đặc biệt (xem khung B5.1) Ví dụ như, tác động của việc đốn gỗ lên các sản phẩn không phải là gỗ hoặc các chức năng môi trường quan trọng như : bảo vệ lưu vực sông và các chu trình dinh dưỡng Điều này đòi hỏi sự hiểu biết về các thuộc tính, chức năng của các hệ sinh thái

Nếu hoạt động đánh giá tác động môi trường (EIA) đã được thực hiện trong một

dự án, điều đó là nguồn thông tin quan trọng nhất trong các tác động cơ học của kế hoạch

EIA tiêu biểu gồm :

(i) phân tích sinh thái để tìm ra các thuộc tính, chức năng và nguồn tài

nguyên của hệ sinh thái rừng

(ii) việc nhận ra tác động tiềm năng và trên thực tế của kế hoạch (đây là bước

mô tả bản chất của tác động và những thay đổi của một thành phần có thể làm thay đổi những thành phần khác như thế nào) Theo lý tưởng, các tác động nên được định lượng Điều này bảo đảm rằng những tác động được

mô tả phù hợp để mà chúng có thể được so sánh với nhau và được sử dụng để xác định giá trị kinh tế

(iii) thể hiện các tác động để xác định cái nào là quan trọng nhất về mặt kinh

tế hay sinh thái cho vùng đó Các tác động có thể được phân loại theo tầm quan trọng cao, thấp hay trung bình

5.1 Những chức năng sinh thái quan trọng của rừng nhiệt đới

5.1.1 Chức năng phân giới giữa các con sông

Rừng đáp ứng các chức năng bảo vệ lưu vực sông Khi sườn núi bị bóc trần, đất rừng sẽ mất đi khả năng giữ nước và hầu hết nước mưa sẽ nhanh chóng chảy tràn xuống gây nên hiện tượng ngập lụt quá mức về phía lòng sông Sự thiệt hại có thể gây ra từ việc nước lũ lan rộng gồm : phá hại vụ mùa, mất vật nuôi và các loại động vật khác; thiệt hại đối với con người : chổ ở, cơ sở hạ tầng và các thiết bị; điều đó dẫn đến việc con người thay đổi chổ ở và dịch bệnh lan rộng Rừng cũng chống sự xói mòn đất do các dòng chảy tràn và gió Nếu vùng đất rừng bị khai phá thì khả năng giữ đất giảm đi,

Trang 19

dẫn theo sự xói mòn lớp đất mặt màu mỡ Việc này làm giảm năng suất của đất và có thể dẫn đến sự lắng đọng bùn ở lòng sông và ở các hồ tích nước, do đó tác động đến dựa án thủy điện, nghề cá và nông nghiệp

Rừng cũng có vai trò trong việc cung cấp nước ngọt Do đó sự phá hoại các lưu vực sông sẽ ảnh hưởng đặc biệt đối với dân nghèo ở nông thôn do họ chỉ trông mong vào nguồn tài nguyên tự nhiên cho những nhu cầu cơ bản của họ (Randall et al 1995)

Khung B5.1 Các tác động môi trường cần được xem xét cho việc định giá kinh tế

Các ảnh hưởng môi trường của dự án có thể được định nghĩa như là sự thay đổi tính chất và sự cung cấp các dịch vụ hay hàng hóa môi trường mà thu được từ dự án Các tác động có thể phân theo các loại :

Tác động tích cực và tác động tiêu cực

Một hoạt động dự án thường sẽ sản sinh ra các tác động tích cực hay tiêu cực (nghĩa là lợi ích và thiệt hại) Các thiệt hại là kết quả thực của việc tăng số chi phí sử dụng để ước tính giá trị kinh tế của dự án, trong khi các lợi ích thì có kết quả ngược lại

Những tác động bên trong và bên ngoài

Tác động bên trong là các tác động xuất hiện bên trong ranh giới khu rừng Tác động bên ngoài xuất hiện bên ngoài đường ranh giới rừng, chẳng hạn như : sự lắng bùn của các luồng nước xuôi dòng là hậu quả của việc phá rừng

Vật chất, kinh tế xã hội và tâm lý

Các tác động vật chất lên con người và môi trường chẳng hạn, bao gồm giảm đa dạng giống loài và bệnh tật là do nguồn nước bị ô nhiễm Tác động kinh tế xã hội bao gồm mất thu nhập và thay đổi cách trong xây dựng tầm quan trọng của nền văn hóa Tác động tâm lý gồm căng thẳng gia tăng là kết quả của hoạt động dự án

Tác động ngắn hạn và tác động dài hạn

Các tác động môi trường có thể xảy ra bất kì lúc nào, một vài tác động phát sinh khi dự án bắt đầu trong trong khi các tác động khác bắt đầu muộn hay kéo dài qua nhiều thập kỉ Một vài tác động, không quan tâm đến thời điểm bắt đầu, có lẽ không thể thay đổi được (ví dụ, một dự án mà thường xuyên thay đổi tầm quan trọng về phương diện văn hóa hay gây nguy hiểm cho các giống loài)

Các tác động xảy ra ở các thời điểm khác nhau cần được đánh dấu cẩn thận thông qua thủ tục chiết khấu Tất cả các tác động tiềm năng không thuận nghịch đòi hỏi

sự xem xét đặc biệt, và cần được định nghĩa và mô tả rõ ràng trong kế hoạch phân tích kinh tế bất chấp chúng có tuân theo việc định giá trị của đồng tiền hay không

Ngày đăng: 27/06/2014, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Cung, cầu, giá cả và thặng dư người tiêu dùng - Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới doc
Hình 1. Cung, cầu, giá cả và thặng dư người tiêu dùng (Trang 4)
Bảng B6.1 Tổng giá trị kinh tế của rừng nhiệt đới - Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới doc
ng B6.1 Tổng giá trị kinh tế của rừng nhiệt đới (Trang 22)
Bảng B7.1 Các kỹ thuật định giá phổ biến đƣợc sử dụng để định giá các - Đánh giá kinh tế các lựa chọn sử dụng đất rừng nhiệt đới doc
ng B7.1 Các kỹ thuật định giá phổ biến đƣợc sử dụng để định giá các (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w