Đánh giá thực trạng các hệ thống sử dụng đất nông lâm nghiệp phục vụ quy hoạch sử dụng đến năm 2015 của huỵên tam nông phú thọ
Trang 1Nguyễn hữu hảo
Đánh giá thực trạng các hệ thống sử dụng đất nông lâm nghiệp phục vụ quy hoạch sử dụng đất
đến năm 2015 của huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ7
đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luân văn
Nguyễn Hữu Hảo
Trang 3
Lời cảm ơn Lời cảm ơn
Để hoàn thành được bản luận văn này, tôi đ nhận được sự giúp đỡ tận tình của PGS T.S Đào Châu Thu, sự quan tâm tạo điều kiện của UBND các x thuộc vùng nghiên cứu Các phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Kinh
tế, phòng Thống kê thuộc huyện Tam Nông, Khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm nông nghiệp và phát triển bền vững Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đ tạo điều kiện cho tôi học tập và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới lnh đạo Khoa Nông lâm ngư nghiệp trường Đại học Hồng Đức - Thanh Hoá và đồng nghiệp nơi tôi đang công tác đ tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành đề tài này Tôi xin gửi tới gia đình, bạn bè và những người thân đ giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tự đáy lòng mình, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và quý báu đó !
Hà nội, năm 2008
Nguyễn Hữu Hảo
Trang 4Mục lục
2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng đất nông lâm nghiệp vùng đồi núi 4
2.4 Hệ thống sử dụng đất trong đánh giá đất theo FAO 222.5 Tình hình đánh giá đất Việt Nam theo chỉ dẫn của FAO 25
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, x7 hội huyện Tam Nông 33
4.1.3 Tình hình sản xuất các ngành của huyện Tam Nông 43
Trang 54.2.2 Thời kỳ sau khi có Luật đất đai 1993 đến nay 49
4.3 Đánh giá hiện trạng các hệ thống sử dụng đất, các loại hình sử
4.3.1 Thừa kế bản đồ đơn vị đất đai của huyện, xác định các LMU
chính trong hệ thống sử dụng đất nông lâm nghiệp 514.3.2 Lựa chọn, mô tả các loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp
4.3.4 Yêu cầu sử dụng đất và cảnh quan của các loại hình sử dụng
4.3.7 Đề xuất sử dụng đất nông lâm nghiệp đến năm 2015 90
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
FAO : Tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới
GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
IBSRAM : Tổ chức quốc tế về nghiên cứu và quản lý đất
IUCN : Hiệp hội quốc tế các tổ chức bảo vệ thiên nhiên và
tài nguyên môi trườngISRIC : Trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế
LX - LM : Lúa xuân - Lúa mùa
UNEP : Chương trình môi trường Liên hợp quốc
VIETCALSOIL : Phối hợp nghiên cứu và áp dụng tiến bộ canh tác trên
với trường Đại học Saskatchewan, Canada
Trang 74.10 Yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất lựa chọn 624.11 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử
4.12 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp 654.13 Đánh giá mức độ hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 744.14 Mức độ thích hợp của các đơn vị đất đai đại diện đối với các
4.15 Diện tích, mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất 85
Trang 8Danh mục biểU Đồ
4.1 Nhiệt độ, l−ợng m−a, độ ẩm, l−ợng bốc hơi các tháng trung bình
4.2 Số ngày m−a và số giờ nắng các tháng trong năm 36
4.5 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Tam Nông năm 2007 51
Danh mục sơ Đồ
Trang 91 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất là tư liệu sản xuất sử dụng với nhiều mục đích khác nhau đặc biệt trong hoạt động nông lâm nghiệp Mỗi mục tiêu sử dụng đất có những yêu cầu nhất định mà đất đai cần đáp ứng Việc lựa chọn, so sánh các kiểu sử dụng đất hoặc cây trồng khác nhau phù hợp với từng điều kiện đất đai là đòi hỏi của người sử dụng đất, các nhà quy hoạch để có những quyết định xác thực trong việc sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định về mặt x7 hội
Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các ngành sản xuất nói riêng và những tiến bộ khoa học - kỹ thuật nói chung trong giai đoạn hiện nay đang làm phong phú, đa dạng thêm mối quan hệ nhiều chiều của hệ thống “tự nhiên
- x7 hội” Vấn đề sử dụng, khai thác hợp lý các điều kiện tự nhiên (ĐKTN) và tài nguyên thiên nhiên đang là vấn đề cấp thiết, có tầm quan trọng to lớn Trong đó, trước hết nảy sinh một nhu cầu cần có sự đánh giá tổng hợp các
ĐKTN l7nh thổ, xây dựng các cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý chúng
Tất cả các nước trên thế giới dù ở trình độ phát triển không giống nhau
đều phải quan tâm đến việc quản lý, bảo tồn và khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi công nghệ và tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững Sự phát triển bền vững ấy còn có hệ quả vô cùng quan trọng là “bảo vệ được các tài nguyên thiên nhiên:
đất, nước, không khí, rừng )” không những không huỷ hoại mà còn phục hồi lại những cảnh quan truyền thống vốn có của tự nhiên, làm tăng sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ của con người và phù hợp về mặt kinh tế x7 hội của từng nước
đồng thời phù hợp với xu thế chung của thời đại
Do sức ép của sự gia tăng dân số và nhu cầu phát triển x7 hội, đất nông nghiệp, lâm nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị giảm mạnh về số lượng và chất lượng Con người đ7 khai thác quá mức mà chưa có nhiều các biện pháp
Trang 10hợp lý để bảo vệ đất đai
Hiện nay, việc sử dụng đất đai hợp lý, giữ gìn cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững đang là vấn đề mang tính toàn cầu
Đứng trước thực trạng trên, nghiên cứu tiềm năng đất đai, đánh giá
đúng mức độ của các loại hình sử dụng đất để tổ chức sử dụng hợp lý có hiệu quả cao theo quan điểm bền vững, đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp, xác định các loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp hợp lý và hiệu quả làm cơ sở cho việc đề xuất quy hoạch sử dụng đất là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết của từng quốc gia và của từng địa phương Từ kết quả đánh giá tiềm năng đất đai phải đưa ra các giải pháp mang tính chiến lược để tổ chức sử dụng đất lâu bền
Huyện Tam Nông là một huyện trung du với điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn nhiều thiếu thốn, trình độ dân trí chưa đáp ứng được yêu cầu cho sản xuất, nguồn tài nguyên đất được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp chưa hiệu quả và hợp lý để phục vụ phát triển kinh tế - x7 hội của huyện Nhận thức được tầm quan trọng của đất đai đối với sản xuất nông lâm nghiệp, dưới sự hướng dẫn của PGS TS
Đào Châu Thu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng
các hệ thống sử dụng đất nông lâm nghiệp phục vụ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 của huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ ”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp nhằm phát hiện các yếu tố tiềm năng và hạn chế của các hệ thống sử dụng đất hiện tại, góp phần lựa chọn hệ thống sử dụng đất phù hợp trong điều kiện cụ thể của huyện Tam Nông
- Định hướng và đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp bền
Trang 11vững của quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp của huyện đến năm 2015 của huyện
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá những đặc điểm thuận lợi và hạn chế của điều kiện đất đai,
tự nhiên, kinh tế - x7 hội tác động đến sử dụng đất nông lâm nghiệp của huyện
- Xác định, lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp phù hợp với điều kiện sản xuất của huyện Tam Nông
Trang 122 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng đất nông lâm nghiệp vùng đồi núi
2.1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng đất nông lâm nghiệp vùng đồi núi
Diện tích đất đồi núi ở khu vực Đông Nam á được phân bổ ở tất cả các nước trong khu vực, ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ khá cao (khoảng 75% diện tích tự nhiên của cả nước) và ở Lào (chiếm 73%) và trên nửa diện tích l7nh thổ quốc gia của nhiều nước trong khu vực Phần lớn diện tích đất đồi núi được sử dụng cho lâm nghiệp (bảo tồn rừng tự nhiên hoặc trồng rừng sản xuất, rừng sinh thái ) cũng như được khai thác trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và các loại cây lâu năm khác Một phần diện tích nhỏ đất đồi dạng thung lũng, dốc thấp, bình nguyên, cao nguyên thuận lợi cho canh tác thì được sử dụng trồng hoa màu, cây lương thực Đại bộ phận hệ thống canh tác vùng đồi trung du là canh tác nhờ nước trời, trừ diện tích lúa nước 2 vụ dạng ruộng bậc thang hoặc diện tích trồng rau ven b7i bồi các sông suối là sử dụng dạng nước tưới
Đất đồi núi nói chung là có độ phì cao nếu được khai phá và sử dụng hợp
lý Tuy nhiên, độ phì của đất đồi núi phụ thuộc nhiều vào thành phần đá mẹ, độ dốc, địa hình, thảm thực vật rừng che phủ hoặc vào dòng chảy của nước mưa
Đ7 từ lâu, qua quá trình chặt phá rừng, khai thác đất trồng trọt, người ta đ7 phát hiện đất đồi núi nhanh chóng bị suy thoái do hiện tượng xói mòn, rửa trôi Vì vậy, từ thế kỷ 18, nhiều nhà khoa học đ7 bắt đầu nghiên cứu các công trình về
Trang 13các biện pháp chống xói mòn, bảo vệ đất dốc Tiêu biểu là nghiên cứu của Volni năm 1970, của các giáo sư trường Đại học Pardin - Mỹ từ năm 1951 đến năm 1958; các nghiên cứu quốc tế của nhiều nước trong thập kỷ 80 của thế kỷ
XX và đặc biệt là các nghiên cứu có hệ thống và dài hạn của chương trình
“Nghiên cứu quản lý bền vững đất dốc Châu á để sử dụng nông nghiệp” của IBSRAM; một số nghiên cứu của CIAT từ đầu những năm 1990 đến nay
Các biện pháp kỹ thuật chống xói mòn như: đắp bờ, san đất tạo ruộng bậc thang, trồng cây theo đường đồng mức, sử dụng vật liệu che phủ đ7 đem lại những hiệu quả tốt , giảm và chống xói mòn rõ rệt Theo Rumbo (1982) thì khi đắp bờ, san ruộng độ dốc giảm xuống 20 - 50% thì xói mòn sẽ giảm từ 1 -
3 lần Thí nghiệm của trường Đại học Naronnero đ7 cho thấy tạo bờ, san ruộng bậc thang đất đồi núi thì xói mòn sẽ giảm từ 7 - 10 tấn đất/ha/năm
Cho đến thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX thì những nghiên cứu về đất đồi núi và bảo vệ đất đồi đ7 rất đa dạng và phong phú, trên nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau, một trong số đó là đưa ra mô hình nông lâm kết hợp, ngay sau
đó mô hình này đ7 lan rộng trên phạm vi toàn thế giới bởi tính ưu việt của nó Theo icraf (1983) thì “Hệ thống nông lâm kết hợp là hệ thống sử dụng đất bao gồm các cây gỗ lâu năm và các cây nông nghiệp hàng năm hoặc cây thức ăn gia súc, hoặc cả hai trên cùng một mảnh đất đồng thời hay luân phiên với mục
đích cho sản phẩm tối đa và duy trì sản xuất lâu bền do bảo vệ và tăng được độ màu mỡ của đất”
Bên cạnh những nghiên cứu kỹ thuật về sử dụng hiệu quả và bảo vệ chống suy thoái đất dốc, ngày nay sử dụng đất đất đồi núi bền vững còn đặc biệt chú trọng đến phát triển kinh tế và x7 hội vùng đồi núi nhằm đảm bảo một
hệ thống sử dụng đất bền vững cho đất dốc nói riêng và đất vùng đồi nói chung
Theo nhóm công tác về “Khung đánh giá đất dốc bền vững” (Nairobori, 1991) [18] đ7 nêu lên quan điểm: “Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và các hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh
Trang 14tế - x7 hội với các quan tâm môi trường để đồng thời:
Theo Smyth và Dumanski [36] sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc:
a) Duy trì hoặc nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất)
b) Giảm rủi ro sản xuất (an toàn)
c) Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ)
d) Có hiệu quả lâu dài (lâu bền)
e) Được x7 hội chấp nhận (tính lâu bền)”
Những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về đất đồi trung du ở Đông Nam á Đây là một trong những vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới Đất đồi trung du ở Đông Nam á nói chung chưa được sử dụng hợp lý mặc dù tiềm năng cũng như lợi ích đem lại của nó là rất lớn
Theo Erust Mutert, Thomas Fairurst (1997) [7] thì: “Phần lớn đất dốc phong hoá mạnh và bị rửa trôi ở Đông Nam á quá thiếu các chất dinh dưỡng
đến mức cây trồng không thể cho năng suất kinh tế cao độ phì và sức sản xuất phần lớn đất dốc ở Đông Nam á rất thấp”
2.1.2 Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp vùng đồi núi Việt Nam
ở Việt Nam đất đồi núi chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên Nhìn chung
đây là những loại đất khó khai thác sử dụng và kém hiệu quả, đặc biệt khi đất
đ7 mất thảm thực vật che phủ Trong những năm 40 của thế kỷ XX, diện tích che phủ rừng ở nước ta khoảng 45%; đến những năm 80 chỉ còn khoảng 25% Hiện nay, diện tích che phủ rừng ở nước ta đ7 tăng lên khoảng 32% Tuy nhiên diện tích đất trống đồi núi trọc vẫn còn khoảng 10 triệu ha Đất dốc phân bố ở tất cả 9 vùng sinh thái của cả nước, nhưng chủ yếu tập trung ở vùng núi phía Bắc, Tây Trung bộ và Tây Nguyên [5]
Tổng diện tích đất đồi núi ở Việt Nam là 23.969.600 ha (72,8% diện tích
Trang 15tự nhiên toàn quốc), trong đó sử dụng cho mục đích nông nghiệp là 4.413.700
ha (18,4%) và cho lâm nghiệp là 11.802.700 ha (49,3%) Khả năng mở rộng diện tích đất canh tác cho cây lâu năm trên đất đồi núi là 561.300 ha [3]
Phần lớn diện tích đất có độ dốc dưới 15% (chiếm 21,9%) đ7 được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp hoặc nông lâm kết hợp Diện tích đất có độ dốc từ 150 đến 250 chiếm khoảng 14,6%, còn lại là đất có độ dốc lớn hơn 250(chiếm 61,7%) Do thiếu đất sản xuất nên nông dân miền núi vẫn phải canh tác trên đất có độ dốc lớn hơn 250 chịu xói mòn rất mạnh và thời gian canh tác
bị rút ngắn, thường chỉ trồng được 2 - 3 vụ cây lương thực ngắn ngày, sau đó trồng sắn và bỏ hoá [5]
Đặc điểm thuận lợi của vùng đồi núi Việt Nam là rất đa dạng về các loại hình thổ nhưỡng và phong phú về khả năng sử dụng, đa dạng hoá cây trồng Nhưng trở ngại nổi bật là do địa hình chia cắt, độ dốc lớn nên dễ bị xói mòn, rửa trôi Do đó đ7 kéo theo hàng loạt các vấn đề như: kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn (Nguyễn Thế Đặng, Đào Châu Thu, Đặng Văn Minh (2003) [6]
Theo Hoàng Văn Thụ (2000) [16] thì hệ thống sinh thái nông nghiệp vùng núi phía Bắc Việt Nam rất dễ bị suy thoái và tổn thương do các hoạt
động canh tác thiếu các biện pháp bảo tồn đất và nước Do có độ dốc lớn, mưa tập trung nên xói mòn là nguyên nhân chính làm cho năng suất cây trồng giảm sút, đất đai nghèo kiệt
Các nghiên cứu về đất và sử dụng đất đồi núi ở nước ta đ7 và đang được
đặc biệt quan tâm Ngay từ đầu những năm hoà bình ở miền Bắc, các nhà thổ nhưỡng Việt Nam đ7 cùng với các chuyên gia Liên Xô (cũ) V.M Fridland đ7 dày công điều tra, phân tích các loại đất vùng đồi, xác định các quá trình hình thành đất đặc trưng của vùng nhiệt đới nóng ẩm như quá trình Feralit, Lateritic, Alit (V.M Fridland (1973) [8]
Từ những năm 1980 đến nay, các chương trình nghiên cứu và sử dụng
Trang 16đất đồi núi tập trung vào các dự án đánh giá đất và xây dựng các mô hình sản xuất như hệ thống nông lâm kết hợp, hệ thống vườn ao chuồng rừng và trang trại sản xuất rừng đồi, vườn đồi
Các chương trình phát triển lâm nghiệp x7 hội, xóa đói giảm nghèo, bảo
vệ vùng đầu nguồn, xây dựng thôn bản mới, quy hoạch sử dụng đất có người dân cùng tham gia, xây dựng và cải thiện thị trường nông thôn, ngân hàng và tín dụng nông thôn là những hoạt động hữu hiệu và vô cùng quan trọng góp phần bảo vệ đất và sử dụng đất đồi núi hợp lý nhất
Canh tác bền vững trên đất dốc trong điều kiện nước ta hiện nay là rất khó, song chúng ta cần thiết phải làm rõ nguyên nhân và tìm mọi biện pháp để từng bước thực hiện góp phần phát triển nông nghiệp bền vững
Vì vậy, từ năm 1990 đến nay, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá (1999) [32]
đ7 phối hợp với một số tổ chức quốc tế như IBSRAM (International Board for Soil Research and Management - Tổ chức quốc tế về nghiên cứu và quản lý
đất), ACIAR - IBSRAM (Phối hợp nghiên cứu sử dụng đất chua vùng đồi với Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Autralia và IBSRAM), VIETCALSOIL (Phối hợp nghiên cứu và áp dụng tiến bộ canh tác trên đất dốc với Viện Nông nghiệp Canada, trường Đại học Saskatchewan), CIAT (Phối hợp nghiên cứu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ về quản lý đất dốc trồng sắn với Trung tâm quốc tế nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới) và các cơ quan nghiên cứu triển khai trong nước, tiến hành các thí nghiệm dài hạn và nghiên cứu triển khai với sự tham gia của người dân trên đất của các nông hộ sau khi được giao đất, giao rừng; xây dựng mô hình canh tác trên đất dốc; áp dụng tiến bộ công nghệ canh tác trên đất dốc; kết hợp với các tổ chức khuyến nông, Sở nông nghiệp, phòng Nông nghiệp địa phương tiến hành hội nghị đầu
bờ, mở các lớp tập huấn, tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề
Về sử dụng đất đồi núi, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (1996) [29], (2001) [30] đ7 phân cấp độ dày tầng đất và độ dốc của các loại
Trang 17đất phục vụ cho công tác quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả và lâu bền Viện
đ7 có những công trình nghiên cứu tập trung vào xây dựng bản đồ đất, đánh giá đất, đánh giá hiện trạng, đề xuất, định hướng phát triển, quy hoạch và phân vùng sinh thái cho các loại cây trồng hàng hoá vùng đồi và cây đặc sản vùng
đồi, đặc biệt là đánh giá và đề xuất các giải pháp cải tạo, sử dụng đất trống đồi núi trọc trên phạm vi cả nước
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1993) [16], (1994) [27] hàng năm có nhiều chương trình nghiên cứu và trong số đó đất đồi cũng rất được quan tâm Ngoài ra, có rất nhiều ngành khác nhau cũng nghiên cứu về
đất đồi dưới nhiều khía cạnh, sao cho sử dụng đất đồi đạt hiệu quả cao nhất Thông qua các chính sách như định canh, định cư, chống phát nương đốt rẫy, kiến thiết ruộng bậc thang, xây dựng đường, băng chống xói mòn trên sườn đồi dốc, trồng cây phân xanh, cây phủ đất giữ ẩm đ7 tạo nên những loại hình sử dụng đất bền vững
Từ khi có luật đất đai 1993 ra đời, đất đồi đ7 từng bước được bảo vệ và khai thác hợp lý, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quản lý và sử dụng
đất vùng đồi núi Người dân ở nhiều vùng đ7 được giao đất giao rừng, được
đảm bảo quyền sử dụng đất Do đó, ở những vùng này người dân có ý thức bảo vệ đất tốt hơn, đầu tư cho đất cao hơn
2.1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng đất huyện Tam Nông
Huyện Tam Nông là huyện được tách ra từ huyện Tam Thanh từ tháng 9 năm 1999 Do đó công tác điều tra cũng còn gặp nhiều khó khăn Cho đến nay tình hình sử dụng đất của huyện Tam Nông đ7 đi vào ổn định, có nhiều khảo sát về thổ nhưỡng, các đề tài cấp nhà nước, cấp bộ, cấp tỉnh, các dự án với các
tổ chức nước ngoài đ7 và đang được triển khai
Trong những năm gần đây tình hình sử dụng đất của huyện Tam Nông
có nhiều biến động, diện tích đất nông nghiệp tăng giảm thất thường Tình hình sử dụng đất được thể hiện ở bảng 2.1
Trang 18Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất huyện Tam Nông qua các năm
1 Đất nông nghiệp 10339,10 11388,06 11375,22 11319,44 73
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 6709,85 7198,59 7181,10 7138,41 46 1.2 Đất lâm nghiệp 3437,51 3616,59 3616,05 3604,47 23 1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 191,74 572,88 578,07 576,56 4
2 Đất phi nông nghiệp 4556,35 3799,40 3812,35 3884,20 24
2.2 Đất chuyên dùng 4081,75 3293,76 3302.46 3345,56 21
Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường huyện Tam Nông
Qua bảng 2.1 cho ta thấy diện tích đất các loại đất tăng giảm thất thường qua các năm từ 2004 đến năm 2007 Điều này cho thấy tình hình sử dụng và quản lý đất đai của huyện còn tồn tại những hạn chế nhất định, một phần diện tích đất đai không được kê khai do cấp x7 sử dụng thu quỹ riêng, mặt khác do công tác đo đạc và chỉnh lý diện tích các loại đất của địa phương chưa thật chính xác dẫn đến sự biến động về diện tích các loại đất đặc biệt là đất nông nghiệp và đất chuyên dùng Hiện nay nhờ áp dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý đất đai và xây dựng các loại bản đồ có độ chính xác hơn, nhờ
đó mà công tác quản lý và sử dụng đất đai của huyện đạt hiệu quả cao hơn
Cho đến nay, trên địa bàn huyện Tam Nông ít có công trình nghiên cứu riêng Những nghiên cứu chủ yếu chung cho cả miền Bắc hay trên phạm vi của cả tỉnh Phú Thọ hoặc chỉ cho từng loại đất riêng biệt
Trang 192.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất Nông Lâm Nghiệp
2.2.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích sản xuất kinh tế - x7 hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần của toàn x7 hội, khi nguồn lực sản xuất x7 hội ngày càng trở nên khan hiếm
Bản chất của hiệu quả được xem là:
- Việc đáp ứng nhu cầu của con người trong đời sống x7 hội
- Việc bảo tồn tài nguyên, nguồn lực để phát triển lâu bền
Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại
Kết quả, mà là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục
đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có
đem lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt
động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn
là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp
Trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế mở như hiện nay thì mọi hoạt
động sản xuất của con người không chỉ quan tâm đến vấn đề kinh tế - x7 hội
mà vấn đề môi trường ngày càng trở nên quan trọng, đòi hỏi phải được quan tâm đúng mức Quan niệm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải tiết
Trang 20kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích x7 hội và bảo vệ được môi trường
2.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp
* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng )
có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, các yếu tố này là tài nguyên
để sinh vật tạo nên sinh khối Vì vậy, khi xác định vùng nông nghiệp hoá cần
đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng
* Nhóm các yếu tố kinh tế, chính trị, x: hội và con người
Trong điều kiện kinh tế - chính trị, x7 hội ổn định thì hiệu quả kinh tế
sẽ đạt được cao, cho dù có một số yếu tố có thể không hoàn thiện Mặt khác các yếu tố khác đều hoàn thiện mà điều kiện kinh tế - chính trị x7 hội không
ổn định thì hiệu quả kinh tế đạt được là không cao
Con người có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, áp dụng các chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, chính sự áp dụng này đ7 làm ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả của việc sử dụng đất nông lâm nghiệp
* Nhóm nhân tố môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh chịu sự chi phối bởi điều kiện kinh tế - x7 hội đ7
ảnh hưởng đến kết quả hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp nông nghiệp và người nông dân
* Các yếu tố về vốn
Vốn là vấn đề cần thiết và quan trọng đối với hộ nông dân nhằm đầu tư cho sản xuất, thâm canh tăng năng suất nông lâm nghiệp Nếu thiếu vốn hiệu quả kinh tế sử dụng đất sẽ không được cải thiện Vì vậy, vốn là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất
Trang 212.2.3 Sử dụng đất nông lâm nghiệp theo quan điểm phát triển bền vững
Trong tự nhiên đất đai, con người và thế giới sinh vật đều sống dựa vào nhau Rừng nuôi đất và nước, đất và nước nuôi cây và con, cây và con nuôi người và nhiều sinh vật khác Mặt khác, nhu cầu sống trong môi trường lành mạnh dễ chịu của tự nhiên trở nên bức thiết, nhất là ở khí hậu nhiệt đới ẩm nước ta Rõ ràng, giữa rừng và đất luôn có mối quan hệ khăng khít, còn rừng
là còn đất, ở đâu trên đất có màu xanh của cỏ cây thì ở đó có sự sống
ở vùng đồi núi, các loại đất phát triển dưới thảm rừng cao lớn, cho dù là rừng thứ sinh hay nguyên sinh, đều chứa lượng hữu cơ cao ở tầng mặt Lượng hữu cơ tuy giảm dần theo chiều sâu, nhưng nó làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, rễ cây lại càng ăn sâu hơn, tầng đất dày hơn
Từ những năm 1980, Hiệp hội quốc tế các tổ chức bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên môi trường (IUCN), tổ chức FAO và chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP) đ7 khởi xướng nhu cầu toàn cầu về bảo vệ môi trường nhằm mục tiêu duy trì các nguồn gen, bảo vệ sử dụng hợp lý và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được Thế giới đang trải qua
"thập kỷ nhận thức về môi trường" (1971 - 1981) và "thập kỷ hành động" (1981 - 1991) Bảo vệ môi trường trở thành chiến lược toàn cầu và chiến lược của mỗi quốc gia [17]
Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người Chính vì vậy việc nghiên cứu và
đưa ra các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đ7 được nhiều nhà khoa học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable Land Use) đ7 trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay
Vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều nhất trí với nhận định của
FAO, 1992 [36]: Phát triển bền vững là sự quản lý, bảo vệ cơ sở của nguồn
lợi tự nhiên và phương hướng của sự thay đổi kỹ thuật, thể chế bằng cách nào
Trang 22để đảm bảo thoả mn nhu cầu của con người, cho thế hệ hôm nay và mai sau
Trong nông nghiệp được dùng theo nghĩa rộng bao gồm nghề trồng trọt, nghề cá, nghề rừng, chăn nuôi và chế biến nông sản Bảo vệ được tài nguyên đất, nước, nguồn lợi di truyền thực vật và động vật đi đôi với việc tăng hiệu quả kinh tế, x7 hội và không làm thoái hoá môi trường, thích ứng về kỹ thuật, có sức sống kinh tế và được chấp nhận về x7 hội (Trần An Phong, 1995) [14]
Cũng theo Lê Văn Khoa, 1999 [11] phát triển nông nghiệp bền vững phải loại bỏ ý nghĩ đơn giản rằng nông nghiệp, công nghiệp hoá sẽ đầu tư từ bên ngoài vào Phạm Chí Thành [20] cho rằng có 3 điều kiện để tạo ra nông nghiệp đó là công nghệ bảo tồn tài nguyên, những tổ chức từ bên ngoài và những tổ chức về các nhóm địa phương Tác giả cho rằng, trong nông nghiệp bền vững vấn đề chọn cây gì, con gì trong một hệ sinh thái tương ứng không thể áp đặt theo ý muốn chủ quan mà phải dựa trên cơ sở điều tra, nghiên cứu
đánh giá thích hợp
Fetry [34] cho rằng sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt x7 hội FAO đ7 đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
- Thoả m7n nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác
- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập, các điều kiện sống và làm việc tốt cho mọi người trực tiếp sản xuất nông nghiệp
- Duy trì và chỗ nào có thể thì tăng cường khả năng sản xuất của các cơ
sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hoá - x7 hội của các cộng đồng sống
ở nông thôn, hoặc không gây ô nhiễm môi trường
- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng
Trang 23tin trong nông dân
Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển đ7 họp tại Rio De Janerio, Braxin (gọi tắt là Rio - 92), đ7 định hướng cho các quốc gia, các tổ chức quốc tế chiến lược về môi trường và phát triển bền vững để bước vào thế kỷ 21 [19]
Anbert K Và Voisin A Đ7 hình thành trường phái "nông nghiệp sinh học", bác bỏ việc sản xuất và sử dụng nhiều loại phân hoá học vì như thế sẽ
ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và sức khoẻ người tiêu dùng Phần Lan đ7
đưa ra thị trường những sản phẩm nông nghiệp được sản xuất theo con đường
"Green way", hoàn toàn không dùng phân hoá học [1]
Gần đây xuất hiện khuynh hướng "nông học hữu cơ", chủ trương dùng máy cơ khỉ nhỏ và sức kéo gia súc, sử dụng rộng r7i phân hữu cơ, phân xanh, phát triển cây họ đậu trong hệ thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng các loại hoá chất để phòng trừ sâu bệnh [25]
Theo Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1995) [28], việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận
- Bền vững về mặt môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất
đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên
- Bền vững về mặt x7 hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy x7 hội phát triển
2.2.4 Vấn đề suy thoái đất nông lâm nghiệp
Thế giới ngày nay, đang đứng trước những thảm hoạ lớn: sự suy thoái nghiêm trọng về môi trường, sự thiệt hại khó bù đắp do ngày càng mất đất canh tác cho nhu cầu xây dựng cơ bản và quá trình mất đất do sử dụng thiếu hợp lý của con người đem lại
Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới (dẫn theo ESCAP/FAO/UNIDO)
Trang 24[34], cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu á bị suy thoái do những hoạt
động của con người Trong đó hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất Quá trình thâm canh tăng vụ trong nông nghiệp đ7 làm phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng
Theo kết quả của UNDP và Trung tâm thông tin nghiên cứu đất Quốc tế (ISRIC) đ7 cho thấy cả thế giới có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì trong đó có 2 tỷ ha
đất bị thoái hoá ở các mức độ khác nhau trong đó Châu á và Châu Phi có 1,24 tỷ
ha đất chiếm 62% tổng diện tích đất bị thoái hoá của thế giới (Đỗ Nguyên Hải, 2000) [9] Theo Mattiga Panomtarchagul (2004) ở phía Bắc và phía Đông Nam châu á (Thái Lan, Lào,Việt Nam, Myanmar và Cămpuchia) có hơn 50% diện tích đất đồi núi cao và dốc chạy theo từng dải, trên vùng này chủ yếu đồng bào dân tộc thiểu số dựa vào khai thác chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy sinh sống, sau một thời gian canh tác cạn kiệt bỏ hoang hoá Theo kết quả dự tính hàng năm trung bình lượng đất rửa trôi do xói mòn và canh tác làm mất đất 22
- 116 tấn/ha/năm Nhưng gần đây được sự quan tâm của các tổ chức khoa học trong và ngoài nước đ7 đầu tư cải tạo vùng đất này trở thành vùng đất sản xuất
và bảo vệ môi trường bền vững nhằm góp phần an toàn lương thực ở các nước
đang phát triển [35]
Theo Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1999) [18] trong chương trình đánh giá thoái hoá đất do con người ở Đông Nam á được FAO/UNEP tiến hành từ năm 1991 - 1997 trên cơ sở dữ liệu số về đất và l7nh thổ sử dụng hệ thống
định vị, định nghĩa, tiêu chuẩn để đánh giá sự phân bố, mức độ tác động và phân tích nguyên nhân của từng loại hình thoái hoá ở các cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu Kết quả nghiên cứu ở Đông Nam á cho thấy diện tích đất thoái hoá chiếm trên 45% tổng diện tích, xói mòn do nước chiếm 21%, thoái hoá hoá học 24%, xói mòn do gió 20%, cuối cùng thoái hoá vật lý chiếm 9% diện tích bị thoái hoá đây là những điều kiện hình thành đất trống đồi núi trọc
Trang 25ở Việt Nam thoái hoá đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn, đặc biệt là vùng đồi núi Các dạng thoái hoá đất chủ yếu là: xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua hoá, mặn hoá, phèn hoá, bạc màu, khô hạn và sa mạc hoá, đất ngập úng, lũ quét,
đất trượt và sạt lở, đất bị ô nhiễm
Trên 50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (16 triệu ha) ở vùng đồi núi có những vấn đề liên quan tới suy thoái đất ở vùng miền núi nguyên nhân suy thoái môi trường đất có nhiều, song chủ yếu do phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của các dân tộc miền núi; tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa b7i Sự suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái, các quần thể động thực vật và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đến mức báo động [4]
2.3 Một số phương pháp đánh giá đất trên thế giới
2.2.1 Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ)
Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ) được hình thành từ đầu năm 1950 và sau đó được hoàn thiện vào năm 1986, nhằm mục đích:
- Xác định hiệu quả kinh tế sử dụng đất
- Đánh giá và so sánh hoạt động kinh doanh của các xí nghiệp
- Dự kiến số lượng và giá thành sản phẩm
- Hoàn thiện kế hoạch sản xuất và xây dựng các đồ án quy hoạch
Đánh giá đất được thực hiện theo hai hướng: đánh giá chung và đánh giá riêng, chỉ tiêu đánh giá là:
- Năng suất - giá thành sản phẩm
- Mức hoàn vốn
- Địa tô cấp sai (phần l7i thuần tuý)
Lấy cây trồng làm gốc để đánh giá và nhất thiết phải là cây ngũ cốc và cây họ đậu Đơn vị đánh giá là các chủng đất [10]
Trang 262.3.2 Phương pháp đánh giá đất đai ở mỹ
ở Mỹ việc đánh giá đất được áp dụng rộng r7i theo 2 phương pháp:
- Phương pháp đánh giá đất tổng hợp: lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm làm tiêu chuẩn và chú ý đi sâu vào phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng Phương pháp này chia l7nh thổ thành các tổ hợp đất (đơn vị đất đai)
và tiến hành đánh giá đất đai theo năng suất bình quân của cây trồng trong nhiều năm (thường là lớn hơn 10 năm) và chú ý đánh giá cho từng loại cây trồng (thường chọn lúa mì là đối tượng chính) Qua đó các nhà nông học xác
định các mối tương quan giữa đất và các giống lúa mì để đề ra các biện pháp tăng năng suất
- Phương pháp đánh giá đất theo từng yếu tố: bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm hoặc 100% để làm mốc so sánh lợi nhuận ở các loại đất khác nhau [15]
2.3.3 Phương pháp đánh giá đất ở Anh
Đánh giá đất đai ở Anh được áp dụng theo hai phương pháp dựa vào việc thống kê sức sản xuất tiềm năng và sức sản xuất thực tế của đất [22]
- Phương pháp thứ nhất, xác định khả năng trồng cây nông nghiệp của
đất phụ thuộc vào ba nhóm nguyên nhân chính sau đây:
+ Những nguyên nhân hoàn toàn không phụ thuộc vào người sử dụng đất
+ Những nguyên nhân đòi hỏi các biện pháp đầu tư lớn mới khắc phục
được như các công trình tưới, tiêu, thau chua, rửa mặn
+ Những nguyên nhân đòi hỏi người sử dụng đất thực hiện các biện pháp thông thường hàng năm là có thể khắc phục được như: cải tạo độ chua, cung cấp chất dinh dưỡng cho đất
- Theo phương pháp thứ hai, việc đánh giá đất đai căn cứ hoàn toàn vào năng suất thực tế trên đất được lấy làm tiêu chuẩn, lấy năng suất bình quân
Trang 27nhiều nằm ở trên đất tốt nhất hoặc đất trung bình so sánh với năng suất trên đất tiêu chuẩn Tuy nhiên, phương pháp này gặp khó khăn vì sản lượng năng suất còn phụ thuộc vào cây trồng được chọn và khả năng của người sử dụng [22]
2.3.4 Đánh giá đất ở Canada
Canada đánh giá đất theo các tính chất tự nhiên của đất và năng suất ngũ cốc nhiều năm Các chỉ tiêu thường được lưu ý là thành phần cơ giới, cấu trúc đất, mức độ độ dốc trong đất, xói mòn và đá lẫn Trên cơ sở đó, đất Canada được chia làm 7 nhóm rất chi tiết và thích nghi cao tới không gian sản xuất được [17]
2.3.5 ở ấn Độ và các nước vùng nhiệt đới ẩm châu Phi
Thường áp dụng phương pháp tham biến, có tính đến sự phụ thuộc của một số tính chất đất đai với sức sản xuất, các tác giả đi sâu phân tích về đặc trưng thổ nhưỡng có ảnh hưởng đến sức sản xuất như sự phân tầng, cấu trúc của
đất, màu sắc đất, độ chua, độ no bazơ, hàm lượng mùn…Các đặc tính, các mối quan hệ của các yếu tố được thể hiện dưới dạng phương trình toán học Kết quả phân hạng đánh giá đất được thể hiện dưới dạng % hoặc cho điểm
2.3.6 Quan điểm và nội dung chính của các phương pháp đánh giá đất
theo FAO
* Quan điểm đánh giá đất theo FAO
Năm 1976, FAO đ7 đề xuất định nghĩa về đánh giá đất như sau (Theo
Đào Châu Thu và Nguyễn Khang 1998) [23] Đánh giá đất là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có
Việc đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc l7nh thổ khác nhau là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới ổn định, bền vững và hợp lý Vì vậy, khi
đánh giá đất, đất đai được nhìn nhận như là một vạt đất xác định về mặt địa lý,
là một diện tích bề mặt trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc
Trang 28thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường bên trên hoặc bên dưới nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thuỷ văn, động vật, thực vật, những hoạt động từ trước và hiện tại của con người ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó trong hiện tại và tương lai (Theo Christian, Stewart- 1968, Brinkman, Smyth- 1973) [33]
Như vậy đánh giá đất đai theo FAO phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, tự nhiên, kinh tế và x7 hội Đặc điểm
đánh giá đất đai của FAO là những đặc tính đất đai có thể đo lường được [23]
Mục đích của đánh giá đất theo FAO là nhằm tăng cường nhận thức, hiểu biết về phương pháp đánh giá đất đai trong khuôn khổ quy hoạch sử dụng
đất, trên quan điểm tăng cường lương thực cho một số nước trên thế giới và giữ gìn nguồn tài nguyên đất đai không bị thoái hoá, sử dụng đất được lâu bền
* Những yêu cầu chính trong đánh giá đất theo FAO
Yêu cầu chính trong đánh giá đất theo FAO là gắn liền đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất, coi đánh giá đất là một phần của quá trình quy hoạch
sử dụng đất Vì vậy những yêu cầu cần phải đạt được là:
- Thu thập được những thông tin phù hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - x7 hội của khu vực nghiên cứu
- Đánh giá được khả năng thích hợp của vùng đất đó với các mục tiêu
sử dụng khác nhau và theo nhu cầu của con người
- Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm
vi quy hoạch toàn quốc, tỉnh, huyện hoặc cơ sở sản xuất
- Mức độ thực hiện đánh giá đất đai phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ
* Nội dung chính của đánh giá đất đai theo FAO (Theo Đào Châu Thu và Nguyễn Khang 1998 ) [23]
- Xác định chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Trang 29- Xác định và mô tả các loại hình sử dụng đất và yêu cầu sử dụng đất
- Hệ thống cấu trúc và phân hạng đất đai
đất đai
Đánh giá khả
năng thích
hợp
Xác định hiện trạng
KT - XH
và môi
trường
Xác định loại hình
sử dụng
đất thích
hợp nhất
Quy hoạch sử
dụng đất
áp dụng của việc
đánh giá
đất
Tóm lại, phương pháp đánh giá đất của FAO có những ưu điểm vượt trội so với các phương pháp đánh giá đất của các nước nêu trên vì có sự kế thừa, phối hợp điểm mạnh của hai phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ)
và Mỹ, đồng thời có sự bổ sung hoàn chỉnh về phương pháp đánh giá thích hợp đất đai cho các mục đích sử dụng đất khác nhau
* Các cấp phân vị và phương pháp xác định mức độ thích hợp đất đai
Theo phương pháp đánh giá thích thích hợp của FAO (1976, 1983), hệ thống phân vị khả năng thích hợp đất đai gồm 4 bậc: bộ (order), loại (class), loại phụ (sub - class) và đơn vị (unit) thể hiện ở sơ đồ 4.1 ở bậc “bộ”, gồm có
2 bộ thích hợp (S) và không thích hợp (N); ở bậc “loại”, gồm có 4 loại: thích hợp cao (S1), thích hợp trung bình (S2), ít thích hợp (S3) và không thích hợp (N); ở bậc “loại phụ”, các mức độ thích hợp (ngoại trừ thích hợp cao S1) được phân chia chi tiết theo các yếu tố hạn chế của tính chất đất đai Việc phân chia chi tiết này rất có ý nghĩa cho bố trí sử dụng và hướng cải tạo đất đai, vì đ7 chỉ
rõ yếu tố hạn chế đến khả năng sản xuất của các loại hình sử dụng đất trên từng khu vực đất cụ thể
Trong phạm vi đề tài, khả năng thích hợp đất đai của các loại hình sử dụng
Trang 30đất được xác định đến bậc loại phụ (sub - class) và được chia ra 4 mức độ:
S1: Thích hợp cao
S2: Thích hợp trung bình
S3: ít thích hợp
N: Không thích hợp
Sơ đồ 2.1 Cấu trúc phân vị khả năng thích hợp đất đai
2.4 Hệ thống sử dụng đất trong đánh giá đất theo FAO
2.4.1 Các khái niệm liên quan đến hệ thống sử dụng đất
Hệ thống là một tập hợp các hợp phần có quan hệ tương tác tạo nên một chỉnh thể thống nhất và vận động, từ đó xuất hiện những thuộc tính mới hoặc sản phẩm mới Hoạt động của các hợp phần trong hệ thống không phải là phép tính cộng mà điều quan trọng để nhìn nhận một hệ thống là các hợp phần đó
có tạo nên một thuộc tính mới hoặc sản phẩm mới hay không [24]
Theo Phạm Chí Thành [21] hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể xác
định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác
Loại (Class) Loại phụ (Sub - class)
S1 (T hợp cao)
S3 (ít T.hợp) S2 (T hợp TB)
Trang 31Theo Đào Thế Tuấn, hệ thống là tập hợp trật tự bên trong (hay bên ngoài) của các yếu tố có liên quan với nhau (tác động lẫn nhau) Thành phần của hệ thống là yếu tố Các mối liên hệ và tác động giữa các yếu tố bên trong mạnh hơn so với yếu tố bên ngoài hệ thống và tạo nên trật tự bên trong của hệ thống Một hệ thống là một nhóm các yếu tố tác động lẫn nhau, hoạt động chung cho một mục đích chung [24]
2.4.2 Hệ thống sử dụng đất trong đánh giá đất của Fao
Nhằm phân tích đánh giá đặc điểm và khả năng thực hiện của một loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT) trong các điều kiện tự nhiên khác nhau, khái niệm về “Hệ thống sử dụng đất” (Land Use System - LUS) đ7 được FAO đưa ra năm 1983 và được ứng dụng trong phương pháp đánh giá đất đai Trong cấu trúc của “Hệ thống sử dụng đất”, sự kết hợp của một loại hình sử dụng đất với một điều kiện đất đai riêng biệt sẽ tạo thành 2 hợp phần khăng khít và tác động lẫn nhau, từ các tương tác này sẽ quyết định các đặc trưng về: mức độ và loại phí đầu tư, mức độ và loại cải tạo đất đai và năng suất sản lượng của loại sử dụng đất Một hệ thống sử dụng đất (LUS) được hình thành nếu một loại hình sử dụng đất (LUT) nào đó có thể thực hiện được trong một
điều kiện đất đai cụ thể, có nghĩa là tính chất đất đai không có những yếu tố hạn chế nghiêm trọng ảnh hưởng đến LUT Do vậy, trong thực tế cho thấy một LUT có thể xuất hiện ở điều kiện đất đai này như không thể xuất hiện ở một
điều kiện đất đai khác hoặc đôi khi có thể xuất hiện nhưng không phổ biến vì các đòi hỏi về đầu tư hoặc giá trị sản lượng không hợp lý và khó được chấp nhận về mặt x7 hội [31]
Như vậy, hệ thống sử dụng đất là sự kết hợp của các đơn vị bản đồ đất
đai (LMU) và các loại hình sử dụng đất hiện tại và tương lai LUS có một hợp phần đất đai và một hợp phần sử dụng đất đai Hợp phần đất đai của LUS là các
đặc tính đất đai của LMU Ví dụ như thời vụ cây trồng, độ dốc, thành phần cơ giới đất Hợp phần sử dụng đất của LUS là sự mô tả LUT bởi các thuộc tính
Trang 32Các đặc tính của LMU và các thuộc tính của LUT đều ảnh hưởng đến tính thích hợp của đất đai
Sơ đồ 2.2 Cấu trúc hệ thống sử dụng đất
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT) là loại hình đặc biệt của
sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định Các thuộc tính đó bao gồm: quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như: sức kéo trong làm đất, đầu tư vật tư kỹ thuật và các đặc tính về kinh tế kỹ thuật như: định hướng thị trường, vốn, thâm canh, lao động, vấn đề sở hữu đất đai Không phải tất cả các thuộc tính trên đều được đề cập đến như nhau trong việc đánh giá
đất mà việc lựa chọn các thuộc tính và mức độ mô tả chi tiết phụ thuộc vào tình hình sử dụng đất của địa phương cũng như cấp độ, yêu cầu chi tiết và mục tiêu của công tác đánh giá đất
Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit - LMU) là một hợp phần của
hệ thống sử dụng đất trong đánh giá đất LMU là một khoanh hay vạt đất được xác định cụ thể trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc tính và tính chất đất
đai riêng biệt thích hợp đồng nhất cho từng LUT, có cùng điều kiện quản lý
đất và cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất Mỗi đơn vị đất đai có chất
Hệ thống sử dụng đất (Land use system)
Loại hình sử dụng đất (Land Utilization Type) Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit)
Yêu cầu sử dụng đất (Land Use Requirements) Chất lượng đất đai (Land Qualities)
Năng suất, thu nhập (Outputs)
Cải tạo đất đai (Land Improvement)
Đầu tư (Inputs)
Trang 33lượng (đặc tính và tính chất) riêng và nó thích hợp với mỗi LUT nhất định Tập hợp các đơn vị bản đồ đất đai trong khu vực hay vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai
Trong thực tế, LUS là một phần của hệ thống canh tác, còn hệ thống canh tác lại là một phần của hệ thống khu vực (thôn, x7, huyện, khu vực đầu nguồn ) Một hệ thống canh tác của từ hai LMU và hai LUT có thể cho tới 3 LUS khác nhau Thực tế cho thấy, hệ thống canh tác của mỗi vùng ảnh hưởng
đáng kể đến các LUS như: nguồn lao động, hoạt động khuyến nông, phương thức canh tác, vốn đầu tư sản xuất Như vậy, hệ thống sử dụng đất bao gồm: hệ thống sử dụng đất trồng trọt (LUT cây trồng trên các LMU hay vùng đất cụ thể), hệ thống sử dụng đất chăn nuôi (các LUT vật nuôi trên vùng đất canh tác
cụ thể) và hệ thống sử dụng đất lâm nghiệp (các LUT cây lâm nghiệp trên các LMU hay vùng đất) Nói cách khác hệ thống sử dụng đất nông nghiệp bao hàm
hệ thống cây trồng và hệ thống vật nuôi Vấn đề đặt ra là chúng ta tiến hành nghiên cứu các đặc trưng, khả năng thích hợp và tính hiệu quả, bền vững của các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp hiện tại để làm căn cứ đề xuất hướng sử dụng đất hợp lý cho quy hoạch
2.5 Tình hình đánh giá đất Việt Nam theo chỉ dẫn của FAO
Phương pháp đánh giá đất của FAO đ7 được nhiều nhà khoa học đất Việt Nam bước đầu vận dụng thử nghiệm và đ7 có những kết quả đóng góp để hoàn thiện từng bước Từ năm 1990 đến nay, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đ7 thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đất trên phạm
vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái của cả nước ở tỷ lệ 1/25.000 và ở nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư Kết quả bước đầu đ7 xác định được tiềm năng đất đai của các vùng và khẳng định việc vận dụng nội dung và phương pháp đánh giá đất của FAO theo điều kiện Việt Nam là phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay
Năm 1995, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đ7 tổ chức hội thảo
Trang 34về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Hội nghị đ7 tổng kết, đánh giá việc ứng dụng quy trình đánh giá
đất của FAO vào thực tiễn ở Việt Nam, nêu những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để đưa kết quả đánh giá vào công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
có hiệu quả Thông qua việc đánh giá khả năng thích hợp của đất đai để thấy tiềm năng đa dạng hoá của nông nghiệp, khả năng tăng vụ, lựa chọn hệ thống
sử dụng đất, loại hình sử dụng đất phù hợp để tiến tới sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả cao hơn [2]
Năm 2003, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Trung
sử dụng phương pháp đánh giá đất theo FAO để thực hiện đề tài: “Điều tra
đánh giá thực trạng đất gò đồi chưa sử dụng làm căn cứ quy hoạch nông nghiệp vùng Duyên Hải Nam trung bộ” Kết quả đánh giá toàn vùng có 47
đơn vị đất đai và đề xuất mở rộng đất nông lâm nghiệp 79.710 ha trong đó mức thích hợp cao 17.230 ha, mức ít thích hợp 49.600 ha [12]
Năm 2003, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp miền Nam, thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, có tiến hành đánh giá
đất đai, các yếu tố lựa chọn trong đánh giá đất bao gồm: loại đất, thành phần cơ giới, độ dốc, địa hình, tầng dày, và khả năng tưới Ví dụ như huyện EaKar tỉnh Đắk Lắk, theo kết quả đánh giá này toàn huyện có 58 đơn vị đất đai Các loại hình sử dụng đất chính được lựa chọn trong đánh giá đất của huyện: lúa, mầu, mía, cà phê, điều, cây ăn quả, lâm nghiệp Kết quả đánh giá đ7 hình thành 15 kiểu thích nghi [13]
Theo một số tài liệu về điều tra bổ sung, xây dựng bản đồ đất và đánh giá thích nghi đất đai tỷ lệ 1/25.000 - 1/50.000 phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng cấp huyện của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (2006): tại huyện Đông Triều - Quảng Ninh có 48 đơn vị đất đai và 30 kiểu thích nghi đất
đai trên diện tích 30.116,34 ha; tại huyện Lục Ngạn - Bắc Giang có 105 đơn vị
đất đất đai, 25 kiểu thích nghi Đ7 lựa chọn được 12 hệ thống sử dụng đất, tập
Trang 35trung vào các loại hình 2 vụ lúa, lúa + 1 vụ màu, chuyên màu + cây CNNN ,
và cây ăn quả Từ kết quả điều tra, đánh giá tình hình sử dụng đất và phân hạng thích nghi đất đai, đ7 bước đầu đề xuất sử dụng hợp lý tài nguyên đất của huyện; tại huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh xác định được 72 đơn vị đất đai, 39 kiểu thích nghi đất đai cho 9 loại hình sử dụng đất chính để đánh giá Đ7 lựa chọn được 9 hệ thống sử dụng đất trên địa bàn huyện
Cũng theo, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Trung (2006) tại huyện Điện Bàn - Quảng Nam có 42 đơn vị đất đai được phân thành
20 kiểu vùng thích hợp cây trồng với tổng diện tích 13.590 ha; Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam (2006) tại huyện Châu Thành - Long
An, trên cơ sở trồng xếp 9 loại bản đồ đơn tính của 9 yếu tố đất đai, gồm: nhóm
đất, thành phần cơ giới, độ sâu xuất hiện tầng phèn hoạt động và tiềm tàng, địa hình tương đối, độ sâu và thời gian ngập, thời gian xâm nhập mặn và điều kiện tưới, đ7 xác định được 14 đơn vị đất đai, 7 kiểu thích nghi Mỗi đơn vị đất đai
được xem như một mô hình sinh thái Nông - Lâm - Ngư nghiệp
Năm 2007, báo cáo của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp điều tra bổ sung, xây dựng bản đồ đất và đánh giá thích nghi đất đai tỷ lệ 1/25.000 phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định xác định
được 68 đơn vị đất đai với tổng diện tích các đơn vị đất 16.364 ha, toàn huyện
có 17 kiểu thích hợp cho 7 loại hình sử dụng đất chính [31]
Báo cáo của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Trung (2007) về ”Điều tra bổ sung xây dựng bản đồ đất và bản đồ thích nghi đất đai phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng huyện Eakar tỉnh Đắk Lắk”: toàn huyện
có 239 đơn vị đất đai, 13 loại hình được lựa chọn Kết quả đánh giá cho thấy đất
đai trong vùng có phạm vi thích hợp khá rộng với nhiều loại hình sử dụng đất khác nhau Đặc biệt trong điều kiện có tưới có thể trồng các loại cây lâu năm như cà phê, tiêu, câu ăn quả, điều, cao su các loại cây trồng cạn hàng năm, chuyên canh lúa hoặc luân canh lúa màu Trên cơ sở thích hợp của từng loại
Trang 36hình sử dụng đất đ7 tổng hợp nên 65 kiểu thích nghi đất đai Đây là cơ sở khoa học để bố trí, chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp quỹ tài nguyên thiên nhiên của địa phương
Tóm lại, các tài liệu nghiên cứu trên đều được tiến hành theo phương pháp thống nhất, là cơ sở khoa học, góp phần tích cực trong việc thống kê
số lượng, chất lượng, đất đai theo từng mức độ thích hợp ở cấp huyện nhằm phục vụ cho quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, lựa chọn cây trồng mục tiêu, cơ cấu nông lâm nghiệp nói riêng và phục vụ yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nói chung mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao
Các công trình nghiên cứu của các trung tâm, các viện và các tác giả đ7 góp phần đặt nền móng cho việc nghiên cứu và sử dụng đất theo quan điểm sinh thái lâu bền, bước đầu hoàn thiện quy trình về đánh giá đất theo FAO và
đưa ra những kết quả mang tính khái quát Việc đánh giá nguồn tài nguyên đất
ở cấp độ nhỏ hơn (huyện, x7) là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra hiện nay nhằm cụ thể hoá kết quả của công tác đánh giá đất, làm cơ sở cho việc xây dựng định hướng sử dụng đất hiện tại cũng như trong tương lai
Trang 373 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Các điều kiện tự nhiên, kinh tế - x7 hội chi phối đến khả năng sử dụng
đất nông lâm nghiệp trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
- Các loại hình sử dụng đất và các hệ thống sử dụng đất nông lâm nghiệp của huyện
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đất sản xuất nông lâm nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp của huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
3.2 Nội dung nghiên cứu
1 Điều tra, thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - x7 hội của huyện liên quan đến khả năng sử dụng đất nông lâm nghiệp Điều tra đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện Tam Nông
2 Thừa kế kết quả nghiên cứu về xác định, phân cấp và xây dựng bản
đồ đơn vị đất đai của Sở Tài nguyên và Môi trường huyện Tam Nông, xác
định các LMU của huyện Tam Nông
3 Đánh giá các loại hình sử dụng đất chính trong các hệ thống sử dụng
đất nông lâm nghiệp của huyện
4 Xây dựng các hệ thống sử dụng đất hợp lý
5 Một số giải pháp đề xuất để thực hiện được các hệ thống sử dụng đất hợp lý
Trang 38- Lấy ý kiến tham khảo từ các nhà khoa học, các chuyên gia trong các
lĩnh vực có liên quan đến đánh giá các hệ thống sử dụng đất
- Đánh giá khả năng sử dụng đất bền vững dựa trên 3 tiêu chí:
+ Bền vững về mặt kinh tế: các loại hình sử dụng đất (LUT), các hệ thống sử dụng đất có hiệu quả cao (dựa trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế, thu nhập và hiệu quả đồng vốn)
+ Bền vững về mặt x7 hội: khả năng thu hút lao động, giải quyết công
ăn việc làm, tăng thu nhập và đáp ứng mong muốn của người dân
+ Bền vững về mặt môi trường: duy trì, cải thiện được độ phì nhiêu của
đất sản xuất nông lâm nghiệp, đảm bảo cho mục tiêu sản xuất lâu dài theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Trang 393.3.3 Phương pháp đánh giá đất thích hợp theo FAO
- Xác định các LMU của huyện bằng phương pháp điều tra thu thập tư liệu thứ cấp
- Nghiên cứu, lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp trong các hệ thống sử dụng đất nông lâm nghiệp dựa trên cơ sở đặc tính của các loại hình
sử dụng đất và yêu cầu sử dụng đất
- Phân hạng loại sử dụng thích hợp đất đai theo cấu trúc phân hạng đất
đai của FAO
Sơ đồ 3.1 Tiến độ thực hiện đề tài
Xỏc ủịnh mục tiờu nghiờn
cứu ðối tượng nghiờn cứu
ðề xuất cỏc giải phỏp cho QHSDð ủến năm 2015
- Giải phỏp chớnh sỏch
- Giải phỏp kinh tế
- Giải phỏp khoa học kỹ thuật
ðiều kiện tự nhiờn KT - XH
- Xỏc ủịnh cỏc hệ thống sử dụng ủất hợp
lý
Trang 40VÞ trÝ huyÖn Tam n«ng tØnh phó thä