Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, diệntích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, côngnghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục ti
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu tổng quát 2
3 Mục tiêu cụ thể 2
4 Yêu cầu của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiêp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1.Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiêp 3
1.1.2.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 6
1.2 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp 9
1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 9
1.2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp 9
1.2.3 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 12
1.2.4 Quan điểm sử dụng đất bền vững 15
1.3 Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của FAO 19
1.4 Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam 20
1.4.1Những nghiên cứu trên thế giới 20
1.4.2 Những nghiên cứu trong nước 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Phạm vi nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.3.1.Điều tra, nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện 25
2.3.2.Điều tra, xác định các loại hình sử dụng đất chính của huyện 25
2.3.3.Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chính 25
2.3.4.Xác định các yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất (LUT) có triển vọng 25
Trang 22.3.5.Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên cơ sở kết
quả nghiên cứu đánh giá LUT của huyện Can Lộc 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1.Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp 25
2.4.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 25
2.4.3.Phương pháp xử lý số liệu điều tra 26
2.4.4.Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất 26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Can Lộc 28
3.1.1.Điều kiện tự nhiên 28
3.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Can Lộc 33
3.1.3.Tình hình quản lý đất đai 38
3.1.4.Đánh giá chung 41
3.2 Xác định, mô tả và đánh giá hiệu quả các LUT hiện tại 41
3.2.1.Xác định và mô tả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính huyện Can Lộc 41
3.2.2 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính huyện Can Lộc 46
3.3 Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp hợp lý huyện Can Lộc 57
3.3.1.Cơ sở khoa học và thực tiễn của các đề xuất 57
3.3.2 Đề xuất các loại hình sử dụng đất có triển vọng huyện Can Lộc 58
3.4 Đề xuất một số giải pháp thực hiện 60
KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 63
1 Kết luận 63
2 Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 3RRA : Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
PRA : Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất
trồng cây hàng năm ở Việt Nam 8
Bảng 3.1 Số liệu khí tượng thuỷ văn các tháng năm 2012 của huyện 29
Bảng 3.2 Phân loại đất huyện Can Lộc 30
Bảng 3.3 Dân số, lao động của huyện Can Lộc giai đoạn 2010-2012 33
Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân các thời kỳ 34
Bảng 3.5 Cơ cấu kinh tế qua các thời kỳ 34
Bảng 3.6 Tình hình sản xuất một số cây trồng chính qua các năm 2010-2012 35
Bảng 3.9 Các loại hình sử dụng đất của huyện Huyện Can Lộc 43
Bảng 3.10 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 46
Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp vùng đồng bằng 47
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp vùng ven Sông 48
Bảng 3.12A Nảng xếp hạng các LUT 51
Bảng 3.13 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 52
Bảng 3.14 Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 52
Bảng 3.15 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 54
Bảng 3.16 Hiệu quả môi trường các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 54
Bảng 3.17 Đánh giá mức độ hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 56
Bảng 3.18 Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất tương lai của vùng đồng bằng 59
Bảng 3.19 Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất tương lai của vùng ven Sông 60
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Tiến trình các bước nghiên cứu thực hiện đề tài 27
Hình 3.1 Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi các tháng trung bình trong năm 2012 của huyện 29
Hình 3.2 Số ngày mưa và số giờ nắng các tháng trong năm 30
Hình 3.3 Cơ cấu kinh tế năm 2012 của huyện Can Lộc 35
Hình 3.4 Cơ cấu các loại đất năm 2010 huyện Can Lộc 39
Hình 3.5 Mối quan hệ hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất 57
Hình 3.6 Xây dựng mối quan hệ giữa 4 nhà 61
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đặc điểm nổi bật của vấn đề nông thôn và nông dân trong hơn mười năm qua
là sự đối diện với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa song hành với toàn cầu hóa
và thị trường hóa Theo dự tính đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nướccông nghiệp Những gì các nước Âu Mỹ vượt qua trong hàng trăm năm, các nềnkinh tế Đông Á đi qua hàng chục năm, thì nay Việt Nam đang nếm trải gần nhưcùng một lúc
Những năm qua ở nước ta, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để chuyển sangcông nghiệp và đô thị đã diễn ra rất nhanh, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thuhẹp, và có nguy cơ tiếp tục giảm mạnh Theo phương án quy hoạch sử dụng đất cả nướcđến năm 2010, bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người sẽ giảm từ 0,113 ha(năm 2000) xuống còn 0,108 ha (năm 2010)
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người Hầuhết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triểnnông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp phát triểncác ngành khác Vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, cóhiệu quả theo quan điểm sinh thái bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu Mụctiêu hiện nay của loài người là phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện
về kinh tế xã hội, môi trường một cách bền vững Để thực hiện mục tiêu trên cầnbắt đầu từ việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp toàn diện, như BùiHuy Đáp đã viết "phải bảo vệ một cách khôn ngoan tài nguyên đất còn lại cho mộtnền sản xuất nông nghiệp bền vững"
Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội chohầu hết các quốc gia trên thế giới Lịch sử đã chứng minh qua 20 năm đổi mới, nôngnghiệp chính là nền tảng khi phải chống chịu rủi ro cho tăng trưởng kinh tế trongcác thời điểm khủng hoảng nền kinh tế do mất thị trường Đông Âu (năm 1991) vàcuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực Đông Nam Á (năm 1997) Do vậy cóthể nói, nông nghiệp đã góp phần ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, tăng trưởng xuấtkhẩu trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay
Trang 8Tuy nhiên, xét trên tổng thể, nền nông nghiệp nước ta vẫn phải đang đang đốimặt với hàng loạt các vấn đề như: sản xuất nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, năngsuất chất lượng hàng hóa thấp, khả năng hợp tác liên kết cạnh tranh yếu, sự chuyểndịch cơ cấu chậm Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, diệntích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, côngnghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nôngnghiệp là hết sức cần thiết.
Thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: " Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất Nông nghiệp trên địa bàn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh"
2 Mục tiêu tổng quát
- Góp phần hoàn thiện lý luận về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệptrên địa bàn huyện và là cơ sở định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trongtương lai
- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và thúc đẩy sự pháttriển sản xuất nông nghiệp nâng cao mức thu nhập của người dân
4 Yêu cầu của đề tài
- Thu thập đầy đủ các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hộicủa huyện Can Lộc và các số liệu sơ cấp tại Vùng nghiên cứu Các số liệu thu thậpchính xác, thống nhất và có hệ thống
- Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụngđất tại huyện Can Lộc
- Đề ra được các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế hộ nông dân, đề xuấtcác biện pháp canh tác theo hướng bền vũng phù hợp với huyện
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiêp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.1.1.Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiêp
1.1.1.1 Đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho conngười, con người sinh ra trên đất, sống và lớn lên nhờ vào sản phẩm của đất Tuyvậy, không phải ai cũng hiểu đất là gì? Đất sinh ra từ đâu? Tại sao lại phải giữ gìnbảo vệ nguồn tài nguyên này Học giả người Nga, Docutraiep cho rằng “Đất là vậtthể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợpcủa 5 yếu tố hình thành bao gồm: đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình, thờigian” Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập tới sự tác động của các yếu tố khác tồntại trong môi trường xung quanh, do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung cácyếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệmnêu trên Học giả người Anh, Wiliam đã đưa thêm khái niệm về đất như sau “Đất làlớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây” Bàn về vấn đềnày, C.Mác đã viết: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất củasản xuất nông nghiệp”, “Điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và sinh sốngcủa hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụngđất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tínhsinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng vàhiện trạng sử dụng đất
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng “Đất
là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất đai đượchiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất
cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm:khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùngvới nước ngầm và khoáng sản trong lũng đất, động thực vật, trạng thái định cư củacon người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại”
Trang 10Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất củacác ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụngvào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Khi nói đất nông nghiệp người
ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế cótrường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành Trong tr-ường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mớiđược coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụngvào mục đích nào là chính)
Luật đất đai năm 2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đíchsản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủysản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nôngnghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nôngnghiệp khác”
1.1.1.2 Vai trò đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết định sựtồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quátrình sản xuất nhưng vai trò của đất đối với mỗi ngành sản xuất có tầm quan trọngkhác nhau C.Mác đã nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha của cải vật chất, còn đất làmẹ” Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quyhoạch và pháp luật”, Luật đất đai 2003 khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vôcùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môitrường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá,
xã hội, an ninh và quốc phòng” Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai là tư liệusản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế, với những đặc điểm:
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp,bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất.Đất đai là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tácđộng vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm
- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế: bởi vì đất đai là sản phẩm của
tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý, sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng lên Điều
Trang 11này đòi hỏi trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi dưỡng, bảo vệ,làm giàu thông qua những hoạt động có ý nghĩa của con người.
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa cầu Đặcđiểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất nông - lâm nghiệp vàsức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu nông sản ngày càng tăng trong khi diệntích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Việc khai khẩn đất hoang hóa đưa vàohoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quĩ đất nông nghiệp tăng lên Đây là xuhướng vận động cần khuyến khích
Tuy nhiên, đất đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là đất hoang hóa, nằmtrong quỹ đất chưa sử dụng Vì vậy, cần phải đầu tư lớn sức người và sức của.Trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần phải tính toán kỹ để đầu tư cho công tác nàythực sự có hiệu quả
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, cácmiền Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết, khíhậu, nước,…) điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao động, giao thông, thị trường,
…) và có chất lượng đất khác nhau Do vậy, việc sử dụng đất đai phải gắn liền vớiviệc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp để nhằm đem lại hiệu quảkinh tế cao trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng lãnh thổ
- Đất đai được coi là một loại tài sản, người chủ sử dụng có quyền nhất định do phápluật của mỗi nước qui định: tạo thuận lợi cho việc tập trung, tích tụ và chuyển hướng sửdụng đất từ đó phát huy được hiệu quả nếu biết sử dụng đầy đủ và hợp lý
Như vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình sảnxuất nông nghiệp Thực tế cho thấy thông qua quá trình phát triển của xã hội loàingười, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinhthần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơbản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp Vì vậy, sử dụng đấthợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện quan trọng nhất cho nền kinh tếphát triển nhanh và bền vững
Trang 121.1.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý Điều này có nghĩa làtoàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu câytrồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất câytrồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao Đây là kết quả của việc
sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tínhtoán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số sửdụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất… Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đấtphải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hộitrên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu chocông nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững Sự bềnvững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lương, có nghĩa là đất đai phải đượcbảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tươnglai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường Vì vậy, cácphương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trườngđất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sảnxuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết vàhết sức quan trọng với mỗi quốc gia
1.1.2.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp.Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển khônggiống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũngthừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nên tảng của sự pháttriển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm
là một sức ép rất lớn Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cườngcác biện pháp khai hoang đất đai Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều
Trang 13vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ
độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng Mặt khác, cùng với việc phát triển mạnh
mẽ kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học và kỹ thuật, công năng của đất được mởrộng và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người Nhân loại đã cónhững bước tiến kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày Nhưng
do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đãgây ra những hậu quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất Kết quả làhàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bịmất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấutrúc của tầng đất Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bịthoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra Theo P.Buringh, toàn
bộ đất có khả năng nông nghiệp của thế giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diệntích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp.Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có loại đất hiện tại chưa sử dụng nhưng
có khả năng trồng trọt Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha (chiếmxấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt) Như vậy, còn54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác
Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đấtnông nghiệp khá cao so với các Châu lục khác nhưng Châu Á lại có tỷ lệ diện tíchđất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp Mặt khác, châu Á là nơi tậptrung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới
là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia Ở Châu Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích.Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha,trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếunằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á Phần lớn diện tích này là đất dốc vàchua; khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đếnnay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thànhcây bụi và cỏ dại
Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thácthêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lươngthực thực phẩm cho loài người Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình
Trang 14quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt là một khu vực có dân số khá đông trên thếgiới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canhtác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc giaASEAN
1.1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sảnxuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nôngnghiệp Theo kết quả kiểm đất đai năm 2007, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên
là 33.115.039,62 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 9.420.276,14 ha, dân
số là 85.154,9 nghìn người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1106,25
m2/ người
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội
về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được các nhà quản lý
và sử dụng đất quan tâm Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ côngnghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm
vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động, theonhững tư liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Tài nguyên và Môi trường thì biếnđộng về số lượng đất nông nghiệp của nước ta trong những năm gần đây được thểhiện ở bảng 1.1
Bảng 1 1 Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất
trồng cây hàng năm ở Việt Nam
Năm
Tổng diện tích
đất sản xuấtnông nghiệp(1000ha)
Tổng diện tíchđất trồng câyhàng năm(1000ha)
Dân số(1000 người)
Bình quân diện tíchđất sản xuât nôngnghiệp người/m2
Nguồn: Kiểm kê, thống kê đất đai các năm 2000, 2005, 2006, 2007- Bộ Tài nguyên
và Môi trường; Niên giám thống kê 2008 [8].
Trang 15Theo Nguyễn Đình Bồng (2002) đất sản xuất nông nghiệp của chúng ta chỉchiếm 28,38% và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng.Đây là tỷ lệ cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác đượcdiện tích đất nói trên phục cho các mục đích khác nhau So với một số nước trên thếgiới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào nông nghiệp rất thấp Là một nước có đa phầndân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dânrất thấp và manh mún là một trở ngại to lớn Để vượt qua, phát triển một nền nôngnghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuấtkhẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất cóhiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
1.2 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp.Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3-5 tỷ ha Nhân loại đã làm hưhại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7 triệu ha đất nôngnghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hoá Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nôngnghiệp của con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mởrộng diện tích đất nông nghiệp Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững
số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giá hiện trạng
sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý là vấn đềquan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm Để ngăn chặn những suy thoáitài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướngdẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyênnày có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sức sản xuất của nótrong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu thật đầy đủ về tính hiệu quả trong sửdụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả 3 lĩnh vực hiệu quả kinh tế, hiệu quả xãhội và bảo vệ môi trường trên quan điểm quản lý sử dụng đất bền vững
1.2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cầnthiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất để trên
Trang 16cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tốảnh hưởng có thể chia ra làm 3 nhóm sau đây:
* Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như dất đai, khí
hậu thời tiết, nước, sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vìđây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điềukiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tưthâm canh đúng
- Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần
cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, quyết địnhđến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnhhưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất
- Nguồn nước và chế độ nước: là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quantrọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vậtsinh trưởng và phát triển
- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng làyếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinhtrưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi
- Vị trí địa lý: vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánhsáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp sẽ quyết địnhđến khả năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâmnghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt đượchiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường
- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông
nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn, nhiệt độ bình quân, sựsai khác nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian trực tiếp ảnh hưởng tới sựphân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thuỷ sinh, lượng mưa, bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất,cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc,thuỷ sản
Trang 17*Biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, câytrồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất đểhình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Theo tác giả Đường Hồng Dật,(1995) thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâusắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết,về điều kiện môi trường và thểhiện những dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọnchủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vậtnhằm đạt mục tiêu đề ra
Theo Frank Ellis và Douglass C.North , ở các nước phát triển, khi có tác độngtích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêucầu đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ làmột đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế
kỷ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30%của năng suất kinh tế Như vậy nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quantrọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đấtnông nghiệp
* Nhân tố kinh tế - xã hội: bao gồm rất nhiều nhân tố như chế độ xã hội, dân
số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủđạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất Sau đây là một số nhân tố chủ yếu:
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp Trong các yếu tố cơ sở hạtầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phầnvào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sảnxuất Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệpđều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó thuỷ lợi và điện làyếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay, giúp cho việc sử dụng đấttheo bề rộng và bề sâu Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếpđến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: Là cầu nối giữa người sản xuất
và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúpcho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo
Trang 18- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thểhiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn laođộng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sảnxuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất Do vậy, muốn nângcao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật thông tin khoa học,
kỹ thuật là hết sức quan trọng
- Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tếnông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất,chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chínhsách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư,chính sách xoá đói giảm nghè Các chính sách này đã có những tác động rất lớn đếnvấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới
Trong các nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc sử dụng đất được trình bày ởtrên, từ thực tế từng vùng, từng địa phương có thể nhận biết thêm những nhân tố kháctác động đến hiệu quả sử dụng đất, trong đó có những yếu tố thuận lợi và những yếu tốhạn chế Đối với những yếu tố thuận lợi cần khai thác hết tiềm năng của nó, nhữngnhân tố hạn chế phải có những giải pháp để khắc phục dựa trên cơ sở khoa học và thựctiễn Vấn đề mấu chốt là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất, để
có những biện pháp thay đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả
1.2.3 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau là nhằmtạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý Trong đó đánh giá hiệuquả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng Vậy hiệu quả sử dụng đất là gì?Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có nghĩa làlãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sảnxuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không cắtgiảm số lượng một loại hàng hoá khác Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ , hiệu quảchính là kết quả cũng như yêu cầu của việc làm mang lại
Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá trình sửdụng đất Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại lượng vật chất tạo
ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định
Trang 19Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai là hữu hạn với nhu cầu ngàycàng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả sử dụng đất được tạo ra như thếnào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích haykhông? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừnglại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuấttạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánhgiá hiệu quả.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu câytrồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết cácnước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhàhoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốncủa nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp.Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôitrên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu ápdụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao Đó là mộttrong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo hướngsản xuất hàng hoá vừa mang tính ổn định vừa đảm bảo sự bền vững
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệuquả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức líluận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quảkinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường
* Hiệu quả kinh tế:
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quyluật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theocác ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau,Rusteruyer, Simmerman-1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiếtkiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạtđộng sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội.Như vậy hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kếtquả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quảđạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần
Trang 20giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánhtuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó.Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kinh tế
và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tínhđến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được mộttrong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quảkinh tế
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của hiệu quả kinh tế sửdụng đất là: trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vậtchất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhấtnhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội Xuất phát từ lý do này
mà trong quá trình đánh giá đất nông nghiệp cần phải chỉ ra được loại hình sử dụngđất có hiệu quả kinh tế cao
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thểhiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiệnhiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêumang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo,định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác địnhbằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp Hiện nay, việc đánhgiá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề đang đượcnhiều nhà khoa học quan tâm
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trờng là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang đượcchú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả Điều này có ý nghĩa
là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản
lý Được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấuđến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làmảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Có được điều đó mới đảm bảocho một sự phát triển bền vững của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả
Trang 21cộng đồng quốc tế.
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâudài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nógắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trườngsinh thái
Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba hiệu quảtrên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế thì không cóđiều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược lại, không cóhiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không bền vững
Trang 22kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốncủa con người trong suốt cả thời gian Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đã
đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất một cách bền vững trên nhiều vùng của thếgiới, trong đó có Việt Nam Việc sử dụng đất bền vững là sử dụng đất với tất cảnhững đặc trưng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất.Thuật ngữ đất đai được đề cập đến ở đây gồm thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thuỷvăn, thực vật và động vật, kể cả vấn đề cải thiện các biện pháp quản lý đất đai Tổchức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) sử dụng thuật ngữ “chất lượng đất đai”trong sử dụng đất bền vững bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững của tàinguyên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định, chất lượng đất đai có thể khácnhau trên nhiều phương diện như khả năng cung cấp nước tưới, khả năng cung cấpchất dinh dưỡng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, khả năng chống chịu xói mòn,sức sản xuất tự nhiên và phân bố địa hình ảnh hưởng đến khả năng có giới hoá Đểduy trì được sự bền vững của đất đai, Smyth A.J và Julian Dumanski (1993) đã xácđịnh 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững là:
- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất;
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất;
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoáchất lượng đất và nước;
- Khả thi về mặt kinh tế;
- Được xã hội chấp nhận
Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tựnhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trênđây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài
bộ phận hay sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào ChâuThu và Nguyễn Khang (1998) Việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên nhữngnguyên tắc trên và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thịtrường chấp nhận;
- Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai,
Trang 23ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên;
- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sốngngười dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đadạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bền vữngthể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xácđịnh theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản xuất nôngnghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính củađất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suygiảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnhhưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật
1.2.4.2 Khung đánh giá sử dụng đất bền vững
Vào năm 1991, ở Nairobi đã tổ chức Hội thảo về “Khung đánh giá quản lý đấtbền vững ” đã đưa ra định nghĩa: “ Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp cáccông nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội vớicác quan tâm môi trường để đồng thời:
- Duy trì, nâng cao sản lượng
- Giảm rủi ro sản xuất
- Bảo vệ tiếm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước(bảo vệ);
- Có hiệu quả lâu dài
- Được xã hội chấp nhận
Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và lànhững mục tiêu cần phải đạt được, nếu thực tế diễn ra đồng bộ, so với các mục tiêucần phải đạt được Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thìkhả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận
Vận dụng nguyên tắc trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất được xem làbền vững phải đạt 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trườngchấp nhận
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân
Trang 24vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính vàphụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả Và tàn dư để lại) Một hệ bền vững phải
có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo đời sống và pháttriển xã hội
Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu muốn họ quan tâmđến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được cần thoả mãn cái
ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân
Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Về đất đai, hệ thống sửdụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đãđược giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể
Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địaphương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ
- Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡcủa đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thểhiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép
Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụngbền vững
Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độccanh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm )
Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất
Trang 25hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc địnhhướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái.
Tóm lại: khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được thể hiệntrong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích mà con người đãlựa chọn cho từng vùng đất xác định Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đấtbền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng,chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất khôngảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, của các sinh vật
1.3 Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của FAO
* Loại hình sử dụng đất.
Trong đánh giá đất, FAO đã đưa ra những khái niệm về loại hình sử dụng đất,đưa vào nội dụng các bước đánh giá đất và coi loại hình sử dụng đất là một đốitượng dùng trong đánh giá đất
Loại hình Sử dụng đất (Land Use Types-LUT): Là bức tranh mô tả thực trạng
sử dụng đất của mỗi vùng với những phương thức sản xuất và quản lý sản xuấttrong điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và kỹ thuật được xác định
* Nội dung chính của đáng giá các loại hình sử dụng đất.
- Lựa chon và mô tả các loại hình sử dụng đất hiện tại;
- Đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại trên ba mặt:
+ Hiệu quả về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trườngchấp nhận;
+ Hiệu quả về môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngănchặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên;
+ Hiệu quả về xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống ngườidân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
- Lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng: Lựa chọn các loại hình sử dụngđất để có thể duy trì và phát triển trong tương lai cần thoả mãn các điều kiện về tự nhiên,kinh tế, xã hội và môi trường Nói chung nếu có hiệu quả kinh tế cao thì phải được ngườidân chấp nhận và môi trường đất, nước và không khí không bị suy giảm
Trang 261.4 Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam
1.4.1Những nghiên cứu trên thế giới.
Cho tới nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề ra nhiềuphương pháp đánh giá để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệptheo hướng phát triển hàng hoá Nhưng tuỳ thuộc vào điều kiện, trình độ và phươngthức sử dụng đất ở mỗi nước mà có sự đánh giá khác nhau
Hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới đềunghiên cứu và đưa ra được một số giống cây trồng mới, giúp cho việc tạo ra đượcmột số loại hình sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả hơn Viện lúa quốc tế IRRI
đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác.Tạp chí "Farming Japan" của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình
ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất, điển hình là của Nhật NhàKhoa học Nhật Bản Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thànhcủa sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nôngnghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế - xã hội Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệthống hoá tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất thông qua hệ thống cây trồng trên đấtcanh tác là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt vàchăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tínhchất hàng hoá của sản phẩm (Nguyễn Duy Tính, 1995) [19]
Theo kinh nghiệm của Trung Quốc thì việc khai thác và sử dụng đất là yếu tốquyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đãđưa ra các chính sách quản lý sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nôngdân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dântrong sản xuất đã thúc đẩy kinh tế xã hội nông thôn phát triển toàn diện về mọi mặt vànâng cao được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài hợpđồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp với đất nhằmquản lý và bảo vệ đất tốt hơn (Smith và Dumaski, 1993) [30]
Tại Philippin, tình hình nghiên cứu sử dụng đất dốc được thực hiện bằng kỹthuật canh tác SALT SALT là hệ thống canh tác trồng nhiều băng cây thay đổi giữa
Trang 27cây lâu năm và cây hàng năm theo đường đồng mức Cây lâu năm chính là cây cacao, cà phê, chuối, chanh và các loại cây ăn quả.
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệpquan trọng nhất là chính sách đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, ở Mỹ tổng số tiềntrợ cấp là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% trong tổng thu nhập nông nghiệp), Canadatương ứng là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Oxtraylia 1,7 tỉ USD (chiếm 14,5%),Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (chiếm 68,9%), cộng đồng Châu Âu 67,2 tỉ USD (chiếm40,1%), Áo là 1,6 tỉ USD (chiếm 35,3%) (Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000) [24]
Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối với các vùng nhiệt đới cóthể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độcanh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn mang lại hiệu quả cao hơn.Nghiên cứu bố trí luân canh các cây trồng hợp lý hơn bằng cách đưa các giống câytrồng mới vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm/1đơn
vị diện tích đất canh tác trong một năm Ở Châu Á có nhiều nước cũng tìm ra giảipháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác luân phiên cây lúa với cây trồng cạn
đã thu được hiệu quả cao hơn
Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắnphương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịchtheo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp Các nước Châu Á trong quá trình sửdụng đất canh tác đã rất chú trọng đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng các tiến bộ
kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh tiến bộ để ngày càng nâng caohiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Nhưng để đạt được hiệu quả thì một phần phảinhờ vào công nghiệp chế biến, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh -môi trường
Xuất phát từ những vấn đề này, nhiều nước trong khu vực đã có sự chuyểndịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng kết hợp hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội vớiviệc bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, tiến tới xây dựng nền nôngnghiệp sinh thái bền vững
1.4.2 Những nghiên cứu trong nước
Trong những năm qua, ở Việt Nam nhiều tác giả đã có những công trình
Trang 28nghiên cứu về sử dụng đất, vì đây là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọngtrong phát triển sản xuất nông nghiệp Các nhà khoa học đã chú trọng đến côngtác lai tạo và chọn lọc giống cây trồng mới năng suất cao, chất lượng tốt hơn đểđưa vào sản xuất Làm phong phú hơn hệ thống cây trồng, góp phần đáng kể vàoviệc tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các công trình cógiá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá tàinguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1993) [1],đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bềncủa tác giả Trần An Phong(1995) [16].
Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) thuộc các tỉnh phía Bắc có 10 tỉnh: HàNội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam,Nam Định và Ninh Bình Tổng diện tích tự nhiên khoảng 15.000 km2, chiếm 4,5%diện tích cả nước; diện tích đất nông nghiệp khoảng 760.000ha, trong đó 70% là đấtphù sa màu mỡ Đây là trung tâm sản xuất lương thực lớn thứ 2 của cả nước, là nơi thuhút nhiều công trình nghiên cứu khoa học, góp phần định hướng cho việc xây dựng các
hệ thống cây trồng và sử dụng đất thích hợp Trong đó, phải kể đến các công trình như:Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng ĐBSH của các tác giả Cao Liêm, Đào ChâuThu, Trần Thị Tú Ngà (1990); Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sasông Hồng huyện Mỹ Văn - tỉnh Hải Hưng của tác giả Vũ Thị Bình (1993); Đánh giákinh tế đất lúa vùng ĐBSH của tác giả Quyền Đình Hà (1993); Quy hoạch sử dụng đấtvùng ĐBSH của tác giả Phùng Văn Phúc (1996); Đề tài đánh giá hiệu quả một số môhình đa dạng hoá cây trồng vùng ĐBSH của tác giả Vũ Năng Dũng (1997) Nghiên cứu
hệ thống nông nghiệp lưu vực sông Hồng của tác giả Đào Thế Tuấn và Pascal Bergret(1998) (dẫn theo Vũ Thị Minh Huyền) [10]
Nguyễn Đình Bồng (1995) [6] đã vận dụng phương pháp đánh giá đất thíchhợp của FAO để đánh giá tiềm năng sản xuất nông lâm nghiệp cho đất trống đồi núitrọc ở Tuyên Quang Kết quả đánh giá xác định và đề xuất 153.172 ha đất trống đồinúi trọc có khả năng sử dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp Việc khai thác diệntích đất trống đồi núi trọc có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế và bảo vệ môi trường
Trang 29Năm 1999, Hà Học Ngô và các cộng sự [14] đã tiến hành nghiên cứu đánhgiá tiềm năng đất đai và đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp tại huyện ChâuGiang, Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy, vùng này có thể phát triển các loạihình sử dụng đất cho đạt hiệu quả như lúa - màu, lúa - cá, chuyên rau màu hoa câycảnh và cây ăn quả (CAQ) Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một trong những nguyênnhân làm cho sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá chưa được khaithác triệt để là do chưa xác định được hướng sử dụng lợi thế đất nông nghiệp, đồngthời chưa xây dựng được các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ích Tân (2000) [18] cho thấy chuyển từ canhtác 2 vụ năng suất bấp bênh, thu nhập thấp sang mô hình nuôi cá vụ hè thu hoặc vụ hèđông, mô hình lúa xuân - cá hè đông và cây ăn quả trồng trên các bờ bao vùng úngtrũng đồng bằng sông Hồng sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trên vùng đất Tiên Sơn (cũ) - Bắc Ninh, Đỗ Nguyên Hải (2000) [34] đã lựachọn được 3 LUT có hiệu quả cao và bền vững, gồm LUT chuyên rau màu, LUT 2lúa - 1 vụ đông và LUT 2 màu - lúa
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Hữu Thành (2007)[15] cho thấy LUT 3 vụ (2 lúa - màu; 1 lúa - 2 màu) và LUT cây ăn quả lâu năm(bưởi) mang lại hiệu quả kinh tế cao, bền vững về mặt môi trường và xã hội tạihuyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Cũng theo các tác giả này, để phát triển một nềnnông nghiệp bền vững và sử dụng đất có hiệu quả ở huyện Yên Bình, cần tập trunggiải quyết một số giải pháp về kinh tế - xã hội và kỹ thuật như: giúp đỡ vốn sảnxuất, mở rộng chợ nông thôn, tăng cường củng cố hệ thống khuyến nông, xây dựng
và hoàn chỉnh hệ thống thông tin liên lạc, sử dụng giống mới phù hợp, tăng cườngđầu tư phân bón và tăng cường biện pháp xen canh gối vụ
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Bộ (2010) [4] đã xác định được 5 LUTgồm LUT 1 lúa - 3 vụ rau, LUT 2 lúa - cây vụ đông, LUT VAC, LUT chuyên raumàu và LUT 2 lúa có mức độ bền vững cao hơn so với các loại hình sử dụng đấtkhác được lựa chọn trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Tại Hà Tĩnh, những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất và nâng caohiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên quan điểm sử dụng đất bền vững hay theo h -
Trang 30ướng sản xuất hàng hoá còn chưa nhiều Năm 2002 tác giả Lê Xuân Cao đã có đề tàinghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số biệnpháp sử dụng đất thích hợp ở Nông trường quốc doanh Sao Vàng làm cho diện tíchđất nông nghiệp ngày càng được mở rộng, năng suất các cây trồng đều được tăng lên,các loại hình sử dụng đất được áp dụng tại nông trường hiện nay phù hợp hơn vớiđiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Môi trường sinh thái ngày càng được cải thiện tốthơn Tác giả cũng đã tìm được cây trồng trọng điểm của nông trường chính là câymía và các loại cây ăn quả.
Tuy nhiên, các đánh giá về thực trạng đất nông nghiệp ở các địa phương cònchưa nhiều Vì vậy, nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất sử dụng đất nôngnghiệp của huyện Can Lộc trong những năm tới theo hướng phát triển bền vững là rấtcần thiết, có ý nghĩa trong phát triển kinh tế xã hội của huyện và có thể thực hiện
được Đây chính là lý do thúc đẩy tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu
quả các loại hình sử dụng đất sản xuất Nông nghiệp trên địa bàn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh” góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của
huyện nói riêng và tỉnh Hà Tĩnh nói chung
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Can Lộc
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1.Điều tra, nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện 2.3.2.Điều tra, xác định các loại hình sử dụng đất chính của huyện
2.3.3.Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chính
2.3.3.1 Đánh giá hiệu quả về kinh tế.
2.3.3.2 Đánh giá hiệu quả về môi trường.
2.3.3.3 Đánh giá hiệu quả về xã hội.
2.3.4.Xác định các yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất (LUT) có triển vọng
2.3.5.Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên cơ sở kết quả nghiên cứu đánh giá LUT của huyện Can Lộc
3.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp
Thu thập các tài liệu, số liệu đã có tại các cơ quan trong tỉnh và địa phương:
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, phòngNông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường
Tham khảo ý kiến từ những chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu của đề tài
2.4.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp
* Số liệu sơ cấp: Thu thập bằng phương pháp điều tra nông hộ, chọn các hộ
điều tra đại diện cho các xã trong tiểu vùng theo phương pháp chọn mẫu ngẫu
Trang 32nhiên Các hộ được điều tra là các hộ tham trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp trên
02 xã đại diện cho 02 vùng, tiến hành điều tra 100 hộ gia đình sản xuất nông nghiệpcủa mỗi xã trong tổng số 200 phiếu điều tra và điều tra, quan sát từ thực địa
Điều tra trực tiếp ngoài đồng ruộng và các trang trại để xác định thực trạng vàchuẩn hóa số liệu điều tra
2.4.3.Phương pháp xử lý số liệu điều tra
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê và sử dụng phần mềm Excel
2.4.4.Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất
* Hiệu quả kinh tế:
Để tính hiệu quả sử dụng đất trên 1ha của các LUT trên 1 năm, đề tài sử dụng
hệ thông các chỉ tiêu sau:
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
đư-ợc tạo ra trong 1 kỳ nhất định (một năm)
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thườngxuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ
sử dụng trong quá trình sản xuất
- Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian,
là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó GTGT = GTSX CPTG
Thu nhập hỗn hợp trên 1ha đất nông nghiệp (TNHH/1ha)
TNHH = GTGT - T - A- Clđ
Trong đó: T: thuế sử dụng đất và thuế khác
A: khấu hao tài sản cố định
Clđ: chi phí lao động đi thuê (nếu có)
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTGT/CPTG, GTHH/TPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chiphí biến đổi và thu dịch vụ
+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi (TNHH/LĐ) Thực chất làđánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồnglàm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động
Trang 33Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiềntheo thời gian, giá hiện hành và định tính (giá tương đối) được tính bằng mức độcao, thấp Các chỉ tiêu đạt mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn.
* Hiệu quả xã hội:
Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên cứucủa đề tài này, do thời gian có hạn, chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau:
- Khả năng phù hợp với hướng thị trường tiêu thụ của các LUT ở thời điểmhiện tại và tương lai
- Giá trị hỗn hợp trên công lao động (GTHH/LĐ)
- Mối quan hệ cộng đồng của nông dân trong quá trình sản xuất
- Khả năng thu hút lao động, giải quyết việc làm cho người sản xuất (công/ha)
- Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ đầu tư
* Hiệu quả môi trường:
- Thích hợp với đặc điểm, tính chất đất và nguồn nước của đồng bằng ven Sông
- Khả năng duy trì và cải thiện độ phì cho đất (như khả năng che phủ đất, giữ
ẩm, trả lại cho đất tàn dư cây trồng có chất lượng, )
- Chế độ luân canh ảnh hưởng đến khả năng cân đối về dinh dưỡng và cải tạođất (như khả năng cố định đạm, khả năng hút dinh dưỡng của cây )
- Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc BVTV
Trang 34Hình 2.1: Tiến trình các bước nghiên cứu thực hiện đề tài
Xác định mục tiêu nghiên cứu
Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Điều kiện tự nhiên- kinh tế, xã hội:
- Đánh điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội
- Xác định thuận lợi, khó khăn của điều kiện
tự nhiên - kinh tế, xã hội
- Đánh giá hiệu quả kinh tế
- Đánh giá hiệu quả xã hội
- Đánh giá hiệu quả môi trường
Đề xuất hướng sử dụng đất hợp lý
- Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp hợp lý
- Đề xuất một số giải pháp thực hiện
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Can Lộc
3.1.1.Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Về phía bắc giáp thị xã Hồng Lĩnh, phía tây bắc giáp huyện Đức Thọ, , phíanam giáp huyện Thạch Hà, phía đông và đông nam giáp huyện Lộc Hà Can Lộc cáchthủ đô Hà Nội 330 km, cách thành phố Vinh khoảng 30 km, cách thị xã HồngLĩnh khoảng 15 km và cách thành phố Hà Tĩnh khoảng 20 km
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạc
Huyện Can Lộc có địa hình cao ở phía Tây và thấp dần về phía Đông, bề mặtlãnh thổ bị chia cắt bởi các hệ thủy như sông Rào Chợ Vi, sông Nghèn, sông 19/5,địa hình toàn huyện được chia thành 3 tiểu vùng đồi núi, đồng bằng và ven Sông
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Theo tài liệu của Đài khí tượng thủy văn khu vực Bắc miền Trung - trên địa bàn
Hà Tĩnh, Can Lộc nằm trong vùng khí hậu đồng bằng có các đặc trưng sau:
Chế độ nhiệt: Nền nhiệt độ trung bình cao, mùa đông không lạnh lắm.
Lượng mưa:
Lượng mưa trung bình trong năm 1.500 - 1.900 mm, từ tháng 5 đến tháng 10chiếm 85 - 90% tổng lượng mưa cả năm, mưa tập trung từ tháng 6 đến tháng 9,lượng mưa phân bố không đồng đều: Tháng ít mưa nhất là tháng 1 và tháng 2 (bìnhquân mỗi tháng 22 - 28 mm) Tháng mưa nhiều nhất là tháng 8 và tháng 9
Chế độ gió:
Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính: Gió mùa Đông Bắc vào mùa đông vàgió Lào vào mùa hè
Độ ẩm không khí:
Trung bình 85 - 86%, các tháng có độ ẩm không khí cao nhất là tháng 2, tháng
3 (90 - 91%) rất dễ dàng cho sâu bệnh và các mầm mống sâu bệnh phát triển, ảnhhưởng xấu đến cây trồng và động vật
Trang 36Bảng 3 1 Số liệu khí tượng thuỷ văn các tháng năm 2012 của huyện
Chỉ tiêu không khí Nhiệt độ
TB ( 0 C)
Lượng Mưa (Mm)
Số ngày mưa
(Ngày)
Độ ẩm không khí TB
(%)
Lượng bốc hơi
(Mm)
Số giờ nắng
Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Bắc miền Trung
Hình 3.1 Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi các tháng trung
bình trong năm 2012 của huyện
Trang 37Hình 3.2 Số ngày mưa và số giờ nắng các tháng trong năm
3.1.1.4 Thủy văn, nguồn nước
Thủy văn Can Lộc nằm trong vùng thủy văn chịu ảnh hưởng của nước triềugồm 3 huyện ven Sông Hà Tĩnh Vùng thủy văn này chịu tác động trực tiếp củabão, áp thấp nhiệt đới và thủy triều Can Lộc có 2 cửa lạch là Lạch chợ Vi và Lạch19/5, là vùng triều mạnh
3.1.1.5 Tài nguyên đất
Đất đai Can Lộc vừa có cả đất đồi núi, đất phù sa, vừa có cả đất mặn, đất cátSông Theo kết quả điều tra bổ sung chỉnh lý xây dựng bản đồ đất tỉnh Hà Tĩnh củaViện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp năm 2010, huyện Can Lộc có 4 nhóm đấtchính với 7 đơn vị đất được thể hiện qua bảng 3.2
Bảng 3 2 Phân loại đất huyện Can Lộc
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh - năm 2011)
(1) Nhóm đất mặn: (M)
Nhóm đất mặn ở Hà Tĩnh nói chung và ở Can Lộc nói riêng được hình thành
do trầm tích Sông hoặc ảnh hưởng của nước mặn tràn hoặc mạch mặn ở ven Sông ,cửa sông và do muối NaCl có tổng muối tan > 0,25% (tương đương > 0,05% Cl)
Nhóm đất mặn có diện tích 5.167 ha, chiếm 6,97 % diện tích tự nhiên của huyện.
Trang 38Bao gồm 2 đơn vị đất sau:
* Đất mặn nhiều: (Mn)
Diện tích 356 ha, chiếm 1.07% diện tích tự nhiên của huyện, nằm ở địa hìnhvàn và trũng, phân bố ở các xã ven sông, Sông và các cửa lạch Tầng đất mặtthường có màu xám sẫm, các tầng đất dưới có màu có màu nâu tươi hoặc nâu, một
số nơi thường chứa nhiều tàn tích hữu cơ
* Đất mặn ít và trung bình: (M)
Diện tích 4811 ha, chiếm 11.90 % diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các
xã ven Sông của huyện Thành phần cơ giới của đất biến động từ cát đến thịt trungbình hoặc nặng, chủ yếu là đất có thành phần cơ giới trung bình Những đất có kếtcấu thường dạng tảng, cục hoặc dạng cột
(2) Nhóm đất phù sa: (P)
Đất phù sa được hình thành từ các sản phẩm bồi tụ chủ yếu của các con sôngtrong địa bàn huyện, đã tạo nên vùng đồng bằng Đất phù sa phân hóa theo mẫuchất, điều kiện địa hình và hệ thống sử dụng đất, do vị trí địa lý và bản chất của sảnphẩm phù sa được bồi đắp khác nhau, nên đặc điểm của chúng rất đa dạng Nhóm
đất phù sa có diện tích 16009 ha, chiếm 80,99 % diện tích tự nhiên của huyện, được
chia thành 3 đơn vị đất sau:
*Đất phù sa được bồi trung tính ít chua: (Pbe)
Loại đất này ở Can Lộc với diện tích 3.851 ha, chiếm 15.9 % diện tích tự
nhiên của huyện Đất nằm ở ngoài đê, hàng năm được bồi đắp thêm một lượng phù
sa đáng kể của các con sông lớn thuộc hệ thống Sông Nghèn - sông 19/5 nên đấtluôn màu mỡ
* Đất phù sa không được bồi trung tính ít chua: (Pe)
Diện tích 1.029 ha, chiếm 5 % diện tích tự nhiên của huyện, loại đất này nằmtrong đê nên hàng năm không bị ảnh hưởng ngập lụt của sông dọc theo con sông lớntrong huyện, nằm ở địa hình vàn, thoát nước tốt
* Đất phù sa glây: (Pg)
Diện tích 14.129 ha, chiếm 60.09 % diện tích tự nhiên của huyện Đất hìnhthành ở địa hình vàn, vàn thấp khó thoát nước, đất thường xuyên dư ẩm, yếm khí
Trang 39đất hình thành với đặc trưng quan trọng nhất là bị glây Phân bố ở các xã vùng đồngbằng như: Kim Lộc, Song Lộc,
(3) Nhóm đất đỏ vàng: (F)
Trên địa bàn huyện nhóm đất đỏ vàng có diện tích 4716 ha, chiếm 4,08% diện
tích tự nhiên của huyện, đất hình thành trên sản phẩm phong hóa của các loại đá mẹkhác nhau, nhóm đất này thảm thực vật có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và đặcđiểm các loại đất (tích lũy mùn, giữ nước, chống xói mòn, ) Nhóm đất này ở CanLộc có 1 loại đất chính, cụ thể như sau:
* Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất: (Fs)
Diện tích 2916 ha, chiếm 4,08% diện tích tự nhiên của huyện Đất hình thànhchủ yếu ở địa hình chia cắt, dốc nhiều, có cấu trúc khá, mức độ phong hóa feralit từtrung bình đến mạnh và có xu hướng giảm dần theo độ cao Phân bố ở các xã phíaTây của huyện
(4) Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: (E)
Loại đất này diện có diện tích là 233 ha, chiếm 1,96% diện tích tự nhiên củahuyện, đất hình thành và phát triển chủ yếu trên nhiều loại đá mẹ, chủ yếu thuộcnhóm đá trầm tích, macma và trong điều kiện địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn,thảm thực vật che phủ mặt đất đã bị chặt phá nặng nề và do hậu quả của nhiều nămcanh tác, không chú trọng đến việc bảo vệ
3.1.1.6 Tài nguyên nước
Nước mặt: Hệ thống sông ngòi bao quanh huyện và có trạm bơm Bắc SôngNghèn công suất lớn, cùng với hệ thống ao hồ tạo cho Can Lộc có nguồn nước mặttương đối dồi dào, đáp ứng được cho sản xuất và đời sống
3.1.1.7 Tài nguyên rừng
Hầu hết là rừng trồng Theo số liệu thống kê năm 2011 có 6.833,20 ha chủ yếu
là rừng phòng hộ phân bố ở một số xã phía Tây Bắc huyện (Phú Lộc, Thượng Lộc…)
và các xã ven Sông , cây trồng chủ yếu là bạch đàn, thông, phi lao, keo lá tràm, súvẹt, giá trị kinh tế không nhiều (hàng năm thu được 11,5 - 16 tỷ đồng) nhưng có ýnghĩa về môi trường ở tiểu vùng và góp phần hạn chế tác hại của thiên nhiên
3.1.1.8 Tài nguyên Sông
Trang 40Với chiều dài bờ Sông là 20 km và có 2 cửa lạch (Lạch 19/5 và Lạch CâyKhế) đã tạo cho Can Lộchàng năm thu được nguồn lợi lớn về thủy, hải sản và chiếm
tỷ trọng lớn trong nguồn lợi thủy sản của tỉnh Các nguồn hải sản có giá trị cao như:Tôm, cua, mực, cá xuất khẩu, rau câu hàng năm mới khai thác được 0.5 – 1 tấn
3.1.1.9 Tài nguyên nhân văn
Là huyện có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, là vùng đất có nhiều di tíchlịch sử, (13 di tích được xếp hạng cấp Nhà nước, 35 di tích được tỉnh Hà Tĩnh xếphạng) là nơi có nhiều doanh nhân gắn liền với lịch sử văn hóa, nhiều nhà cách mạngđóng góp nhiều cho các cuộc khởi nghĩa để lại dấu ấn cho muon đời sau
3.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Can Lộc
3 Dân số trong độ tuổi lao động Người 72.154 72.003 72.049
4 Lao động đang làm việc Người 64.681 64.012 66.842
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Can Lộc)
Dân số toàn huyện năm 2010 là 129.020 người Các năm gần đây, tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên có chiều hướng giảm dần, tuy nhiên việc tăng dân số còn phụ thuộc vàoviệc tăng dân số cơ học Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 6,5%; với tỷ lệ sinh
là 12,7% và tỷ lệ chết là 6.2% Khu vực nông thôn có 116.016 người (chiếm 94,49 %dân số của huyện), khu vực đô thị có 13.004 người (chiếm 5,51% dân số) Nếu phântheo giới tính thì có 68.986 nam và 60.034 nữ Mật độ dân số trung bình 424người/km2, phân bố không đều: Thị trấn Can Lộc(thị trấn Nghèn) có mật độ dân sốcao nhất là 1.120 người/km2, xã Thien Lộc có mật độ dân số thấp nhất là 198 người/