A. NỘI DUNG I. Khái niệm Đầu tư tài chính, Đầu tư thương mại và Đầu tư phát triển. 1. Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển là 1 phương thức đầu tư trực tiếp. Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và trong sinh hoạt đời sống xã hội. Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều loại nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên. Kết quả của ĐTPT là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị...), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, KHKT…) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền…). Các kết quả đạt được của ĐTPT góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. 2. Đầu tư tài chính Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặc mua các giấy tờ có giá để hưởng lãi suất định trước hay lãi suất tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ quan phát hành. Đầu tư tài chính có thể trược tiếp hoặc gián tiếp qua các trung gian tài chính. Đầu tư tài chính trực tiếp là việc các chủ thể dư thừa vốn chuyển vốn trực tiếp cho các chủ thể thiếu vốn là người chi tiêu cuối cùng bằng cách mua các tài sản tài chính trực tiếp từ người phát hành, tức là người cần vốn. Trong trường hợp này, luồng tiền vận động thẳng từ người thừa vốn sang người thiếu vốn. Đầu tư tài chính gián tiếp thể hiện ở chỗ các chủ thể thừa vốn không trực tiếp cung ứng vốn cho người thiếu vốn là người sử dụng cuối cùng mà gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như ngân hàng, các tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và cho vay, các công ty bảo hiểm hay các tổ chức tài chính tín dụng khác. 3. Đầu tư thương mại Đầu tư thương mại là hình thức trong đó người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận chênh lệch giữa giá khi bán so với giá khi mua. Đầu tư thương mại không trực tiếp tạo tài sản mới cho nền kinh tế (trừ hoạt động ngoại thương ) và thương mại làm gia tăng giá trị tài sản .
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP NHÓM
GV hướng dẫn : Hoàng Thu Hà
Đề tài thảo luận : Vai trò của đầu tư Tài chính, đầu tư Thương mại và đầu
tư Phát triển trong nền kinh tế Phân tích thực trạng đầu tư Phát triển theo các nội dung đầu tư tại VN giai đoạn 2016-2020
Nhóm thực hiện : Nhóm 3
Lớp học phần : Kinh tế đầu tư (121) - 04
Trang 2A NỘI DUNG
I Khái niệm Đầu tư tài chính, Đầu tư thương mại và Đầu tư phát triển
1 Đầu tư phát triển
- Đầu tư phát triển là 1 phương thức đầu tư trực tiếp Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và trong sinh hoạt đời sống xã hội
- Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp, nguồn lực
sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên
- Kết quả của ĐTPT là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị ), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, KHKT…) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền…) Các kết quả đạt được của ĐTPT góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội
2 Đầu tư tài chính
- Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặc mua các giấy tờ có giá để hưởng lãi suất định trước hay lãi suất tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ quan phát hành
- Đầu tư tài chính có thể trược tiếp hoặc gián tiếp qua các trung gian tài chính
- Đầu tư tài chính trực tiếp là việc các chủ thể dư thừa vốn chuyển vốn trực tiếp cho các chủ thể thiếu vốn là người chi tiêu cuối cùng bằng cách mua các tài sản tài chính trực tiếp từ người phát hành, tức là người cần vốn Trong trường hợp này, luồng tiền vận động thẳng từ người thừa vốn sang người thiếu vốn
- Đầu tư tài chính gián tiếp thể hiện ở chỗ các chủ thể thừa vốn không trực tiếp cung ứng vốn cho người thiếu vốn là người sử dụng cuối cùng mà gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như ngân hàng, các tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và cho vay, các công ty bảo hiểm hay các tổ chức tài chính tín dụng khác
3 Đầu tư thương mại
- Đầu tư thương mại là hình thức trong đó người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận chênh lệch giữa giá khi bán so với giá khi mua
- Đầu tư thương mại không trực tiếp tạo tài sản mới cho nền kinh tế (trừ hoạt động ngoại thương ) và thương mại làm gia tăng giá trị tài sản
II Vai trò của Đầu tư tài chính, Đầu tư thương mại và Đầu tư phát triển
trong nền Kinh tế
1 Vai trò của Đầu tư phát triển
1.1 Xét trên góc độ vĩ mô
- Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu của nền
kinh tế
Trang 3Tổng cầu: AD↝ = C + I↝ + G + NX Tổng cung: Q↝ = f (K↝, L, T, R, )
+ Tác động đến tổng cầu:
● Khi tăng đầu tư → tổng cầu tăng lên → AD dịch sang AD’ Vị
trí cân bằng dịch chuyển từ E0 sang E1 Tại vị trí cân bằng mới
E1 (P1, Q1): P1>P0 và Q1>Q0
● Quá trình này diễn ra trong ngắn hạn, khi AS chưa thay đổi + Tác động đến tổng cung: mang tính chất dài hạn
● Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động sẽ kéo theo sự dịch chuyển của đường AS
● Lúc này, đường AS dịch chuyển sang AS’ Vị trí cân bằng mới đạt được tại E2 (P2, Q2) với sản lượng cân bằng (có nhiều khả
năng) Q2>Q1 với giá cân bằng P2<P1
- Đầu tư tác động hai mặt đến sự ổn định của nền kinh tế
Mỗi sự thay đổi (tăng hay giảm) của đầu tư cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì
sự ổn định của nền kinh tế (tích cực) vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế (tiêu cực)
+ Khi đầu tư tăng → Cầu yếu tố đầu vào tăng → Giá các yếu tố đầu vào tăng → Lạm phát → sản xuất đình trệ, đời sống của người dân lao
động gặp khó khăn… nền Kinh tế phát triển chậm lại, phân hóa giàu
nghèo, ảnh hưởng xấu đến môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên (tiêu
cực)
+ Khi lãi suất giảm → tiền trở nên “rẻ” hơn → các khoản nợ nhiều hơn
do dễ dàng vay nợ từ các NHTM → đầu tư quá mức vào thị trường BĐS → tăng nhu cầu BĐS → BĐS tăng giá → tiếp tục vay đầu tư
BĐS → “Bong bóng” BĐS (tiêu cực)
Trang 4+ Ngược lại, tăng đầu tư → tác động đến tăng trưởng ngành và tăng
trưởng chung của nền kinh tế, tạo công ăn việc làm, thu hút thêm lao
động, nâng cao đời sống người lao động (tích cực)
- Đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế
+ Tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế: Vai trò của đầu tư phát triển được thể hiện qua hệ số ICOR- hệ số gia tăng vốn- sản lượng
𝒈
Với: Vốn đầu tư/GDP: tỷ lệ đầu tư/GDP
g: Tốc độ tăng trưởng kinh tế =𝐺𝐷𝑃1−𝐺𝐷𝑃0
𝐺𝐷𝑃0
Nếu ICOR không đổi, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoàn toàn phụ thuộc tỷ lệ đầu tư/GDP
ICOR Việt Nam cao là do: - chưa tập trung đầu tư vào lĩnh vực mũi nhọn
- quản lý vốn chưa chặt chẽ
- xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng + Tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế:
g= D I + D L + TFP Với: g: Tốc độ tăng trưởng kinh tế
DI: Phần đóng góp của vốn vào tăng trưởng kinh tế
DL: Phần đóng góp của lao động vào tăng trưởng kinh tế TFP: Phần đóng góp của tổng các yếu tố năng suất vào tăng trưởng kinh tế
- Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành:
Vốn và tỷ trọng phân bổ vốn đầu tư cho các ngành khác nhau → hiệu quả khác nhau → sự phát triển của chúng khác nhau Điều này ảnh hưởng trực tiếp
đến chuyển dịch cơ cấu ngành
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ:
Vốn và tỷ trọng vốn đầu tư vào các vùng lãnh thổ → phát huy lợi thế so sánh của vùng lãnh thổ → tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ
● Lợi thế so sánh tĩnh: địa lý, lao động, TNTN,
● Lợi thế so sánh động: cơ chế chính sách, thái độ, năng suất lao động,
+ Chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế:
● Chính sách đầu tư hợp lý và định hướng đầu tư đúng → tác
động đến chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế
Chú ý: Mối quan hệ 2 chiều:
ĐẦU TƯ ⇔ TĂNG TRƯỞNG & CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Trang 5- Đầu tư làm tăng năng lực khoa học công nghệ của quốc gia
+ Công nghệ nội sinh
+ Công nghệ ngoại sinh
- Đầu tư tác động tới tiến bộ xã hội và môi trường
+ Đầu tư tác động tới tiến bộ xã hội:
● Góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân
● Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần
● Tăng tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội
● Tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp + Đầu tư tác động tới môi trường:
● Tác động tích cực: khắc phục và giảm bớt ô nhiễm môi trường, đầu tư sử dụng nguyên liệu tái chế, phát triển vật liệu mới thân thiện với môi trường
● Tác động tiêu cực: gây ô nhiễm môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
1.2 Xét trên góc độ vi mô
- Đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của các cơ sở sản xuất cung ứng dịch vụ, và của cả đơn vị vô vị lợi
2 Vai trò của đầu tư tài chính
- Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản của các tổ chức, cá nhân
- Nhưng đầu tư tài chính lại là nguồn cung cấp vốn quan trọng cho quá trình đầu tư phát triển từ việc lấy nguồn tiền nhàn dỗi chuyển qua đầu tư trực tiếp qua hình thức mua cổ phiếu trái phiếu, hoặc đầu tư gián tiếp qua ngân hàng thương mại,
- Có vai trò gián tiếp tạo ra giá trị khi tổ chức nhận vốn, sử dụng nguồn vốn đó vào sản xuất và kinh doanh, tạo động lực cho phát triển nền kinh tế, tạo mũi nhọn cho đa dạng hóa ngành nghề phù hợp với nhu cầu hội nhập quốc tế
- Qua hình thức đầu tư tài chính mở ra nhiều kênh đầu tư sinh lợi mang lại hiệu quả cho nhà đầu tư, giúp chuyển vốn từ những nơi nhàn rỗi đến người cần vốn
để đầu tư vào tài sản hữu hình Tạo ra hình thức chuyển vốn theo 1 phương thức hạn chế được rủi ro đầu tư, từ đó dòng tiền từ tài sản hữu hình tạo ra, được phân bổ lại từ người đang có vốn và người cung cấp vốn Từ đó khuyến khích các nhà đầu tư trong nước bỏ vốn, và thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài,
- Với cách vận hành đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển một cách dễ dàng, khi cần có thể rút ra nhanh chóng thông qua chuyển nhượng, mua bán công cụ tài chính trên thị trường tài chính, điều này đã khuyến khích
Trang 6người có tiền bỏ ra để đầu tư, tạo ra cơ hội làm tăng giá trị tài sản của cả người đầu tư và nhà đầu tư
- Các thị trường mà đầu tư tài chính tạo ra như :thị trường chứng khoán, thị trường OMO, thị trường ngoại tệ, giúp nhà nước thực hiện chính sách tài chính tiền tệ để điều chỉnh vốn cung cầu khả dụng của nền kinh tế
3 Vai trò của đầu tư thương mại
- Giống như đầu tư tài chính, đầu tư thương mại cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương) mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của nhà đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa giữa người bán và nhà đầu tư và giữa nhà đầu tư với khách hàng của họ
- Tuy nhiên đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra Từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung
- Đầu tư thương mại là điều kiện quan trọng và là cầu nối để thúc đẩy đầu tư phát triển, từ đó gián tiếp tạo điều kiện động lực cho phát triển nền kinh tế
4 Tổng kết
- Ba loại đầu tư trên luôn tồn tại và có mối quan hệ tương hỗ với nhau, trong đó đầu tư phát triển là cơ bản nhất, tạo tiền đề đề tăng tích lũy, phát triển hoạt động đầu tư tài chính và đầu tư thương mại Đầu tư phát triển là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát triển của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ Bên cạnh đó, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện để tăng cường đầu tư phát triển
- Mục đích Đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư Trong đó, đầu tư Nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong XH Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…
III Phân tích thực trạng đầu tư Phát triển theo các nội dung đầu tư tại VN
giai đoạn 2016-2020
1 Đầu tư cho sản xuất kinh doanh
- Trong giai đoạn 2016-2019, tổng vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh toàn xã hội tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực Năm 2019, đầu tư phát triển trong sản xuất tăng 10,2%, nâng tổng mức đầu tư lên mức 33,9% GDP so với 32,6% trong năm 2015 Trong đó, tính trong năm 2019, có thể thấy nguồn vốn đầu tư cho sản xuất theo thành phần kinh tế đã có sự dịch chuyển đáng kể:
Trang 7+ Đầu tư khu vực nhà nước là gần 650.000 tỷ đồng, chiếm 31,07% tổng vốn, giảm 2,6% so với năm trước và thấp hơn 6,43% so với năm 2016 + Đầu tư ngoài nhà nước chiếm 46,01%, tương đương với hơn 900.000 tỷ đồng, tăng 2,71% so với năm 2018 và cao hơn năm 2016 là 7,11% + Đầu tư từ nước ngoài chiếm 22,92%, giảm nhẹ 0,48% so với năm 2018
và 0,68% so với năm 2016 Cụ thể
● Vốn ODA: tổng số vốn ODA đã giao cho ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2016-2019 là 244.330 tỷ đồng, Tuy nhiên, lượng vốn ODA được giải ngân để đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh là không lớn
● Vốn FDI: lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam là 38,95 tỷ USD, tương đương với gần 900 nghìn tỷ đồng Lượng vốn FDI đã được giải ngân chiếm khoảng 53%, tăng 7,2%
so với năm 2018 Phần lớn vốn FDI đầu tư vào Việt Nam là dành cho sản xuất kinh doanh như công nghiệp, công nghệ cao, bất động sản, buôn bán, sửa chữa ô tô xe máy, với tỷ trọng khoảng 72,2% so với tổng số vốn Các quốc gia đầu tư FDI vào Việt Nam nhiều nhất trong giai đoạn này là Hàn Quốc, Hồng Kong, Singapore, Nhật Bản,
- Tháng 12-2019, dịch Covid-19 bùng phát ở Trung Quốc và nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới trong năm 2020 Tuy nhiên, bằng sự đoàn kết, thống nhất
từ Chính phủ tới từng người dân, Việt Nam đã tạo ra kỳ tích trong việc phòng chống dịch Covid-19 với chỉ 1454 người mắc bệnh, đạt tỉ lệ số người nhiễm virus trên 1 triệu dân thấp nhất thế giới Nhờ thành tích chống dịch vượt ngoài mong đợi, nền kinh tế Việt Nam gần như không bị ảnh hưởng bởi đại dịch và
là một trong số ít các quốc gia được kỳ vọng giữ được tăng trưởng kinh tế dương trong năm 2020
- Dựa trên thực tế và kỳ vọng về sự phát triển kinh tế của Việt Nam, nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh trong năm 2020 cũng có những thay đổi đáng
kể so với những năm 2016-2019:
+ Đầu tư từ khu vực Nhà nước là khoảng 730.000 tỷ đồng, chiếm 33,68%, tăng 2,61% so với năm trước
+ Đầu tư ngoài nhà nước là gần 1.000.000 tỷ đồng, tương đương 44,92%, giảm 1,09% so với năm 2019 nhưng vẫn ở mức cao hơn so với năm 2018 trở về trước
+ Đầu tư nước ngoài giảm 1,52% so với năm 2019 xuống mức 21,4%, đồng thời cũng là thành phần duy nhất giảm về lượng với mức giảm hơn 6.000 tỷ đồng so với năm 2019
● Vốn FDI: dù chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nhưng lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam vẫn là một con số đáng chú ý với 28,5
Trang 8tỷ USD, tương đương khoảng 650.000 tỷ đồng Tuy chỉ bằng 75%
so với cùng năm trước nhưng đây vẫn là một con số chấp nhận được khi các quốc gia đều đang phải oằn mình chống dịch Trong
số hơn 650.000 tỷ đồng này thì có 47,7% là đầu tư cho công nghiệp chế biến, chế tạo; 17,88% đầu tư cho sản xuất và kinh doanh điện; 14,72% cho kinh doanh bất động sản, còn lại hơn 10% là dành cho các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh khác
- Nhìn chung, trong giai đoạn 2016-2020, việc đầu tư vào sản xuất kinh doanh
đã có xu hướng tăng tương đối mạnh và có sự dịch chuyển trong cơ cấu vốn Vốn đầu tư từ Nhà nước tăng về lượng nhưng giảm mạnh trong tỷ trọng vốn, trong khi đó, nguồn vốn ngoài Nhà nước tăng mạnh, đặc biệt là vốn tư nhân Sự thay đổi này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của vốn tư nhân Ngoài ra, vốn đầu tư từ nước ngoài dành cho sản xuất kinh doanh tăng đã thể hiện sức hút của thị trường sản xuất kinh doanh ở Việt Nam đối với các quốc gia khác, đồng thời khẳng định hiệu quả của các chính sách thu hút đầu tư từ nước ngoài
2 Đầu tư cho Cơ sở hạ tầng
- Cơ sở hạ tầng đóng một vài trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội tại Việt Nam, tạo động lực cho sự phát triển Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội Tuy nhiên, trong giai đoạn 2011-2015, nước ta đã xuất hiện tình trạng kết cấu hạ tầng thiếu
và yếu đã gây ứ đọng trong luân chuyển các nguồn lực, khó hấp thụ, vốn đầu
tư, gây ra những “nút cổ chai kết cấu hạ tầng” ảnh hưởng trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế
- Trong giai đoạn 2016-2020, cơ sở hạ tầng của Việt Nam đã có những bước cải thiện đáng kể Với quan điểm “Cơ sở hạ tầng đi trước một bước”, Chính phủ đã dành một mức đầu tư lên đến khoảng 10% GDP cho cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông, nước sạch, Để khắc phục những nhược điểm của cơ
sở hạ tầng của những giai đoạn trước, giai đoạn này Việt Nam đã chủ động đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng cao, đồng bộ, tập trung và hiện đại
- Nhìn chung, trong 5 năm từ 2016 đến 2020, tổng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng
ở Việt Nam là khoảng 480 tỷ USD, tương đương khoảng 11.040.000 tỷ đồng, trong đó đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông - vận tải là 552.000 tỷ đồng, đầu
tư cơ sở hạ tầng cho lĩnh vực năng lượng là 920.000 tỷ đồng, các dự án về môi trường, y tế, giáo dục được đầu tư khoảng 667 tỷ đồng, Một số dự án đầu tư
cơ sở hạ tầng tiêu biểu như đầu tư xây dựng sân bay Long Thành, cao tốc Bắc
- Nam, xây dựng thêm cao tốc và các tuyến kết nối cao tốc, tăng vốn đầu tư vào các tuyến đường sắt đô thị (đường sắt Cát Linh - Hà Đông, Metro Bến Thành - Suối Tiên, )
- Nguồn vốn dành cho đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước và vốn vay ODA, trong đó, vốn vay ODA là quan trọng nhất, chiếm khoảng 3-4% trong 10% GDP đầu tư cho cơ sở hạ tầng, tăng 14% so với giai đoạn 2011-2015 Các nước đầu tư ODA cho Việt Nam Trên thực tế, các lĩnh
Trang 9vực giao thông vận tải, năng lượng, công nghiệp, môi trường và phát triển đô thị vẫn được tập trung nhiều vốn ODA và vốn vay ưu đãi hơn cả (chiếm trên 70%), một phần nhỏ là dùng để đầu tư cơ sở hạ tầng y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng nông thôn (khoảng 10-15%),
- Dù được đầu tư tương đối lớn và đã có những biện pháp để cải thiện chất lượng
cơ sở hạ tầng nhưng theo các chuyên gia, tình trạng cơ sở hạ tầng của Việt Nam được đánh giá là có năng lực và chất lượng ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới Để khắc phục tình trạng này, chính phủ Việt Nam đã có kế hoạch khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân, đầu tư kết hợp công - tư (PPP) để giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, đồng thời đối phó với việc các quốc gia đang cắt giảm cung cấp các khoản vay ODA cho Việt Nam khi nước ta trở thành nước có thu nhập trung bình Ngoài ra, các địa phương phải lựa chọn thứ tự ưu tiên để phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội và khả năng cân đối nguồn lực, đẩy nhanh giải ngân vốn ODA, rút ngắn các giai đoạn, thủ tục trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư cho cơ sở hạ tầng,
3 Đầu tư cho Khoa học - Kỹ thuật
- Giai đoạn 2016-2020, chương trình phối hợp hoạt động giữa Sở Khoa học & Công nghệ và Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật đã được triển khai có hiệu quả, cơ bản hoàn thành các nội dung đề ra Sở Khoa học & Công nghệ đã
bố trí từ nguồn kinh phí cho hoạt động phối hợp giai đoạn 2016 - 2020 trên 2,4 tỷ đồng
Đây là một chương trình rất ý nghĩa, giúp huy động sức mạnh tổng thể của cả
hệ thống chính trị giám sát chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về KH&CN, giúp cho Bộ KH&CN, LHHVN và các nhà khoa học vượt qua những khó khăn, thách thức để đóng góp nhiều hơn cho nền KH&CN của nước nhà
- 5 năm qua KH&CN đã có nhiều đóng góp vào phát triển KT-XH thể hiện qua chất lượng tăng trưởng được cải thiện, tỷ trọng các sản phẩm công nghệ trong
tỷ trọng xuất khẩu đạt gần 50%, chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng, từ vị trí 59 lên 42 năm 2020 Nguồn lực tài chính từ xã hội cho KH&CN tăng mạnh, nếu 10 năm trước chủ yếu dựa vào ngân sách (chiếm 70%-80%) thì nay đầu tư từ ngân sách nhà nước và doanh nghiệp đã tương đối cân bằng với tỷ lệ tương ứng 52% và 48%
- Đầu năm 2020, khi đại dịch Covid bùng nổ, tiềm lực khoa học và công nghệ được tăng cường; hợp tác quốc tế được đẩy mạnh; công nghệ hiện đại được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực; đã nghiên cứu, phát triển thành công một số công cụ, thiết bị y tế phục vụ phòng chống dịch Covid-19; thu hút nhiều dự án công nghệ cao của một số tập đoàn hàng đầu thế giới
- Bên cạnh đó, thông qua hoạt động phối hợp đã góp phần tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, chương trình, kế hoạch của tỉnh về khoa học - công nghệ; nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên nông dân về vai trò, ý nghĩa của khoa học - công nghệ đối với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông thôn Từ đó thúc đẩy hội
Trang 10viên, nông dân ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, giá trị sản phẩm hàng hóa
- Hiện nay thị trường KH&CN chưa thực sự phát triển Đội ngũ KH&CN vừa thiếu, vừa thừa, ít công trình nổi tiếng Nguyên nhân là do cơ chế, thể chế, chính sách còn hạn hẹp; chưa đi đúng trọng tâm, trọng điểm, đúng hướng; nguồn lực đầu tư chưa xứng tầm; còn những bất cập trong công tác truyền thông, khen thưởng, tôn vinh các nhà khoa học Cần thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn với phát triển kinh
tế-xã hội theo chiều sâu, bền vững, phát triển KH&CN gắn với phát triển văn hóa và con người
4 Đầu tư vào Văn hóa - Giáo dục - Xã hội
4.1 Văn hóa - xã hội
- Trong GĐ 2016 - 2020, phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa” đã được cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo triển khai phù hợp
với tình hình thực tế của địa phương và nguyện vọng của Nhân dân; sự phối hợp giữa các ngành, đoàn thể và sự hưởng ứng nhiệt tình của Nhân dân
Phong trào được phát triển theo hướng bền vững; nâng cao chất lượng các danh hiệu văn hóa đạt được ở từng gia đình, thôn, khu phố, cộng đồng dân cư,
cơ quan, doanh nghiệp; ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc
- Gắn kết việc thực hiện phong trào với xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh; xây dựng và phát huy hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, bảo đảm tính thiết thực và bền vững; đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thể thao, nhất là ở cơ
sở Từng bước khắc phục tình trạng chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa miền núi với đồng bằng nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương
Phong trào đã thấm sâu vào nhận thức của mỗi người dân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư về vai trò, vị trí, trách nhiệm trong việc gìn giữ, phát huy những giá trị tốt đẹp, đẩy lùi tập tục lạc hậu, xây dựng nền văn hóa đậm bản sắc dân tộc; phát huy tính chủ động, sáng tạo trong lao động sản xuất, tổ chức sinh hoạt và hưởng thụ văn hóa; phòng, chống tệ nạn xã hội, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tương thân, tương ái, đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ
- Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Phát triển văn hóa giai đoạn 2016 - 2020 Một số mục tiêu tiêu biểu:
+ Năm 2020 hỗ trợ tu bổ, tôn tạo tổng thể 20 DSVHTG, di tích quốc gia đặc biệt và 1 số di tích quốc gia có giá trị tiêu biểu
+ Thực hiện kiểm kê, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPVT, các lễ hội dân gian tiêu biểu của dân tộc, ưu tiên bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống của 16 dân tộc thiểu số có số dân dưới 10.000 người