1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích vai trò của thương mại quốc tế đối với các nước đang phát triển? Liên hệ thực tiễn vai trò của thương mại quốc tế ở Việt nam? Vấn đề đặt ra trong hoạch định chính sách phát triển thương mại nhằm phát huy những vai trò này ở Việt Nam hiện nay?

24 24 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích vai trò của thương mại quốc tế đối với các nước đang phát triển? Liên hệ thực tiễn vai trò của thương mại quốc tế ở Việt nam? Vấn đề đặt ra trong hoạch định chính sách phát triển thương mại nhằm phát huy những vai trò này ở Việt Nam hiện nay?
Tác giả Trần Anh Đức, Lê Tuấn Chương, Nguyễn Văn Chương, Chẩu Thu Diệu, Nguyễn Văn Dũng, Lê Anh Duy, Nguyễn Trường Giang, Phạm Thu Hà, Trần Thị Minh Hạnh
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Chính sách thương mại
Thể loại bài thảo luận
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích vai trò của thương mại quốc tế đối với các nước đang phát triển? Liên hệ thực tiễn vai trò của thương mại quốc tế ở Việt nam? Vấn đề đặt ra trong hoạch định chính sách phát triển thương mại nhằm phát huy những vai trò này ở Việt Nam hiện nay?

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA SAU ĐẠI HỌC

- -BÀI THẢO LUẬN MÔN: CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA

CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

Câu hỏi: Phân tích vai trò của thương mại quốc tế đối với

các nước đang phát triển? Liên hệ thực tiễn vai trò của thương mại quốc tế ở Việt nam? Vấn đề đặt ra trong hoạch định chính sách phát triển thương mại nhằm phát huy những

vai trò này ở Việt Nam hiện nay?

NHÓM 2

Trang 2

DANH SÁCH PHÂN CÔNG VÀ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ THẢO LUẬN

Chương II Liên hệ thực tiễn vai trò của thương mại

quốc tế ở Việt Nam

5 Nguyễn Văn

Dũng

Chương II Liên hệ thực tiễn vai trò của thương mại

quốc tế ở việt nam

6 Lê Anh Duy Chương II Liên hệ thực tiễn vai trò của thương mại

quốc tế ở Việt Nam

7 Nguyễn

Trường Giang

Chương II Liên hệ thực tiễn vai trò của thương mại

quốc tế ở Việt Nam

8 Phạm Thu

Chương III Vấn đề đặt ra trong hoạch định chínhsách phát triển thương mại nhằm phát huy nhữngvai trò thương mại quốc tế ở Việt Nam hiện nay

9 Trần Thị

Minh Hạnh

Chương III Vấn đề đặt ra trong hoạch định chínhsách phát triển thương mại nhằm phát huy nhữngvai trò thương mại quốc tế ở Việt Nam hiện nay

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VAI TRÒ CỦA

THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG

PHÁT TRIỂN

1 Khái niệm chính sách thương mại quốc tế

Trang 3

Là các quan điểm, nguyên tắc, biện pháp thích hợp của một nước dùng để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế của nước đó trong một thời gian nhất định, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội của nước đó.

2 Vai trò của chính sách thương mại quốc tế

Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước thâm nhập và

mở rộng thị trường ra nước ngoài, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh

- Các biện pháp khác (thuế nội địa, độc quyền mua bán, thưởng XK,…)

4 Khái niệm nước đang phát triển

Nước đang phát triển là một quốc gia có bình quânmức sống còn khiêm tốn, có nền tảng công nghiệp chưa được phát triển hoàn toàn và có chỉ số phát triển con người (HDI) cũng như thu nhập bình quân đầu người không cao Ở cácquốc gia này, ngoại trừ nhóm thiểu số (các nước công nghiệp mới) đạt đến được mức khá hoặc cao, phần lớn còn lại có thu nhập bình quân đầu người và chỉ số phát triển con người chỉ ở mức trung bình

5 Vai trò của thương mại quốc tế đối với các nước đang phát triển 5.1 Thúc đẩy phân công lao động và phân bố nguồn lực hiệu quả hơn

Phân bổ và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn sẽ giúp nâng cao hiệu quả tăng trưởng thay vì cách làm lâu nay là cứ mở rộng thêm quy mô vốn Muốn vậyphải cải cách kinh tế theo hướng thị trường, thu hẹp lĩnh vực kinh doanh nhà nước theo hướng nhỏ hơn song thông minh và hiệu quả hơn

Trang 4

5.2 Mở rộng thị trường, hạn chế rủi ro cho nền kinh tế, các chủ thể tham gia

Hầu hết các nền kinh tế của các nước đang phát triển đều tiến tới mô hình kinh tế thị trường mở, hội nhập quốc tế dựa vào xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến Đây là một mô hình kinh tế được chuyển dịch theo hướng tích cực Nhưng nền kinh tế thị trường mở, hội nhập quốc tế đòi hỏi chính phủ các nước phải có quan niệm đúng và xử lý khéo quan hệ giữa tự do hoá và bảo hộ ở mức cần thiết; đồng thời phải nắm bắt được các thông lệ và thể chế kinh tế bên trong, giải quyết đúng đắn việc kết hợp các nguồn lực bên ngoài thành nội lực bên trong để phát triển Nền kinh tế thị trường mở, hội nhập quốc tế muốn phát triển ổn định, đòi hỏi cơ cấu kinh tế bên trong phải đủ mạnh, cơ cấu xuất khẩu

đa dạng, thể chế kinh tế linh hoạt và có năng lực thích ứng để đương đầu với những thay đổi của các điều kiện phát triển toàn cầu Điều đó buộc các nước đang phát triển phải tìm ra con đường công nghiệp hoá rút ngắn thích hợp Nhiều nước chọn mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, dựa vào tăng trưởng các sản phẩm công nghiệp chế tạo Phát triển công nghiệp chế tạo sẽ giúpnền kinh tế các nước đang phát triển nhanh chóng chuyển được nền kinh tế nôngnghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và từng bước chuyển tới nền kinh tế tri thức Sự dịch chuyển này đến đâu phụ thuộc vào trình độ thích ứng về tiếp nhận công nghệ, khả năng về vốn, khai thác thị trường Dù bước chuyển dịch ở trình

độ nào, nền kinh tế ở các nước đang phát triển đều chú trọng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ; đồng thời tập trung nỗ lực phát triển cácngành có khả năng cạnh tranh Chính vì vậy, cơ cấu kinh tế của nhiều nước đangphát triển đã có nhiều biến đổi theo hướng tích cực: giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ

5.3 Tăng cường thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa các

nước (Vòng luẩn quẩn của Nurks)

Nhiều nước phát triển đang thực hiện chính sách thu hút lại các nhà đầu tư

về nước, đồng thời đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trong thu hút đầu tư nước ngoài không chỉ giữa các nước đang phát triển

mà còn với các nước phát triển

Đối với tất cả các nước đang phát triển, FDI là nguồn lực quan trọng để thu hút vốn, công nghệ nhằm tăng cường năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong nước Vai trò này được thể hiện ở hai khía cạnh chính là tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ bên ngoài vào và nghiên cứu, cải tiến phát triển công nghệ,

Trang 5

thích nghi, phù hợp với điều kiện thực tế, nâng cao năng lực công nghệ trong nước Đây là mục tiêu quan trọng mà nước tiếp nhận FDI luôn hướng đến Đồngthời, thông qua các hoạt động cải tiến công nghệ của các doanh nghiệp FDI tạo

ra nhiều mối quan hệ liên kết cung cấp dịch vụ công nghệ từ các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong nước Với cách thức gián tiếp này, nước tiếp nhận đầu tư sẽ dần tăng cường năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ

(R&D) của các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

5.4 Nâng cao sự cạnh tranh, thúc đẩy cải tiến công nghệ, đổi mới phương pháp quản lý

Thông qua hoạt động FDI, nhiều công nghệ mới đã được thực hiện

chuyển giao công nghệ và nhiều sản phẩm mới đã được sản xuất trong các xí nghiệp FDI; nhiều cán bộ, công nhân đã được đào tạo mới và đào tạo lại để cập nhật kiến thức phù hợp với yêu cầu mới Hoạt động FDI cũng có tác động thúc đẩy phát triển công nghệ trong nước trong bối cảnh có sự canh tranh của cơ chế thị trường Tiến bộ khoa học công nghệ không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh mà còn là yếu tố quyết định nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên Do vậy, đây là yếu tố then chốt góp phần giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, hàng hóa

5.5 Thúc đẩy chính phủ các nước đang phát triển cải tổ lại thể chế, chính sách để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, hội nhập hiệu quả vào nền kinh tế khu vực và thế giới

Cải cách thể chế là việc nâng cao chất lượng chính sách, quy định của Nhà nước, qua đó thiết lập một môi trường thuận lợi để người dân, doanh nghiệpcùng phát triển và nền kinh tế có sức cạnh tranh hơn Có một thể chế tốt cũng đồng nghĩa với việc sẽ giám sát hiệu quả việc phân bổ các nguồn lực, từ đó giúp Chính phủ có khả năng ứng phó tốt hơn với các "cú sốc" của nền kinh tế

5.6 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, rút ngắn chênh lệch trình độ phát triển

Việc phát huy tối đa lợi thế so sánh trong quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa của các nước đang phát triển là nhằm tận dụng tự do hoá thương mại, thu hút đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội Tỷ trọng mậu dịch thế giới trong tổng kim ngạch mậu dịch thế giới của các nước đang phát

triển ngày một tăng (1985: 23%, 1997: 30%) Các nước đang phát triển cũng ngày càng đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ kinh tế quốc tế, tỷ trọng hàng công nghiệp trong cơ cấu hàng xuất khẩu ngày càng tăng (1985: 47%,

Trang 6

1998: 70%) và các nước đang phát triển đang nắm giữ khoảng 25% lượng hàng công nghiệp xuất khẩu trên toàn thế giới.

5.7 Nâng cao đời sống của người dân

Hiện nay, kinh tế số có nhiều bước phát triển vượt bậc, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Công nghệ kỹ thuật số đã hỗ trợ cuộc sống của người dân

và người tiêu dùng, giúp nâng cao năng suất của người lao động và doanh

nghiệp, đồng thời giúp người dân có thể tiếp cận nhanh các dịch vụ từ Chính phủ Tại các nước đang phát triển, một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển là hoạt động xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa Trong đó, nâng cao khả năng tiếp cận cơ chế chính sách chính phủ

là giải pháp hiệu quả, kích thích các hoạt động tạo thu nhập, giúp người dân kiểm soát tình hình tài chính của mình, từng bước vượt khỏi đói nghèo Các nước đang phát triển đề cập đến các quốc gia hoặc nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn so với các nước phát triển Một quốc gia đang phát triển, nói một cách đơn giản nhất, là một quốc gia nỗ lực hướng tới cải thiện công nghiệp hóa, ổn định kinh tế và nâng cao mức sống cho người dân

CHƯƠNG II LIÊN HỆ THỰC TIỄN VAI TRÒ CỦA

THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

Ngày nay, các quốc gia trên thế giới đều coi thương mại quốc tế là yếu tố quan trọng bậc nhất trong chiến lược phát triển kinh tế Tuy nhiên, thương mại quốc tế không phải lúc nào cũng là giải pháp màu nhiệm mang lại sự thịnh vượng cho một quốc gia Thương mại quốc tế phát triển gắn bó chặt chẽ với quá trình tự do hóa thương mại và giảm dần các rào cản thuế quan, phi thuế quan trong thương mại giữa các nước Trong điều kiện tồn tại sự chênh lệch về trình

độ phát triển kinh tế và năng suất lao động, thương mại quốc tế có xu hướng làmgia tăng nhập khẩu tại các nước kém phát triển, hàng hóa nước ngoài cạnh tranh tốt hơn so với hàng hóa nội địa, làm giảm quy mô sản xuất nội địa, kéo theo đó

là thất nghiệp của các nước này có thể gia tăng

Nhìn chung, thương mại quốc tế mang lại nhiều lợi ích cho các nước phát triển có trình độ công nghệ và tổ chức sản xuất cao Các quốc gia này có khả năng cạnh tranh cao ở cả bốn bình diện như doanh nghiệp, sản phẩm, ngành và quốc gia Đối với các nước đang và kém phát triển, thương mại quốc tế chỉ mang lại lợi ích thực sự khi có chiến lược hội nhập kinh tế đúng đắn, phù hợp; biết chủ động và tận dụng lợi ích, hạn chế tác động bất lợi trong thương mại quốc tế

Trang 7

Kể từ khi đổi mới năm 1986, hội nhập kinh tế là một trụ cột quan trọng trong cải cách của Việt Nam Việt Nam từng bước hội nhập vào kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng, đây là bước đi quan trọng và thành công trong quá trình đổi mới Việc hội nhập kinh tế sâu rộng đã mở ra cơ hội kinh tế, nâng cao tốc độ tăng trưởng thương mại, đầu tư và thu nhập Trong bối cảnh bùng nổ các cuộc chiến thương mại giữa các nước lớn trên thế giới, năm 2019 mang lại nhiều kết quả ấn tượng của thương mại Việt Nam Nền kinh tế Việt Nam gần đây đã tăng trưởng với tốc độ kỷ lục một phần nhờ vào vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Năm

2019, tăng trưởng của Việt Nam là 7,02%, tăng trưởng FDI ở mức cao, thương mại Việt Nam và thế giới đạt trên 517 tỷ USD và tiếp tục tăng lên 550 tỷ USD trong năm 2020 - thời gian mà Việt Nam và thế giới cùng nhau đối phó với đại dịch Covid – 19

Trong thời gian qua, số lượng bảo hộ thương mại mà các nền kinh tế lớn thực hiện ngày càng tăng lên, đặc biệt là Mỹ, có thể gây thiệt hại nặng nề cho chính nền kinh tế Mỹ Bên cạnh đó, Mỹ đưa ra những rào cản thuế đối với nhập khẩu, cũng như khuyến khích các doanh nghiệp chuyển địa điểm sản xuất về trong nước Đồng thời, Trung Quốc - nền kinh tế lớn thứ hai thế giới cũng tìm mọi cách tăng kim ngạch xuất khẩu trong bối cảnh gia tăng những rào cản đối với hàng nhập khẩu, giữ thị phần trong nước cho các doanh nghiệp nội địa, là những minh chứng rõ nét về xu hướng theo đuổi chủ nghĩa bảo hộ Và chính những căng thẳng kinh tế và địa chính trị là mối đe dọa lớn đối với tăng trưởng toàn cầu

Căng thẳng chiến tranh thương mại Mỹ - Trung cũng có thể là cơ hội để Việt Nam thu hút nhiều hơn đầu tư từ Mỹ và là một động lực thúc đẩy sự thay đổi này diễn ra nhanh hơn Các doanh nghiệp Mỹ đang ngày càng gặp khó khăn

để kinh doanh ở Trung Quốc, họ sẽ có khả năng chuyển sang Việt Nam như một

sự thay đổi định hướng kinh doanh Tuy nhiên, Mỹ và Trung Quốc là hai đối tácthương mại lớn với nước ta, nên việc căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn có ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam Mặt khác, Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn trước áp lực phải thu hẹp nhập siêu với Trung Quốc Cuộc chiến này cũng mang đến những lo ngại Trung Quốc xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Mỹ thông qua Việt Nam

Việt Nam cần hài hòa trong quan hệ thương mại với cả Mỹ và Trung Quốc trong bối cảnh phức tạp của sự thay đổi cục diện kinh tế - chính trị quốc

tế Các vấn đề kinh tế nội bộ như nợ công và tái cơ cấu thể chế ở Châu Âu, suy

Trang 8

thoái kinh tế ở Nhật Bản và ảnh hưởng của dịch bệnh có thể gây ra nhiều vấn đề trong thương mại của các nước, trong đó có Việt Nam Bên cạnh đó là chủ nghĩabảo hộ đang ngày càng gia tăng đáng kể ở một số đối tác kinh tế lớn của Việt Nam, cùng với tác động chiến tranh thương mại Mỹ - Trung có tác động lên kinh tế và thương mại toàn cầu.

Việt Nam cần tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo động lực để tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu Thông qua các chính sách như thúc đẩy đầu tư nước ngoài, thực hiện các cải cách thương mại trong nước và các khai thác lợi ích từ chính sách thương mại mới, nâng cao nănglực cạnh tranh của nền kinh tế

1 Thúc đẩy phân công lao động và phân bố nguồn lực hiệu quả hơn tại Việt Nam

Thị trường lao động (TTLĐ) hình thành và phát triển trong tổng thể phát triển nền kinh tế thị trường Xu hướng chung của các nước trên thế giới có nền kinh tế thị trường đều dựa trên nền tảng phát triển đồng bộ các loại thị trường cơbản, trong đó có TTLĐ E Robert, trong tác phẩm “Kinh tế lao động” (xuất bản năm 1991), cho rằng, TTLĐ là thị trường lớn nhất và quan trọng nhất trong hệ thống các thị trường của nền kinh tế thị trường Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII của Đảng “Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa” xác định: Thị trường lao động là một trong những thị trường quan trọng của kinh tế thị trường Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: Thị trường (bao gồm TTLĐ) đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ, tạo động lực huy động, phân bố các nguồn lực

Các đặc trưng chủ yếu của TTLĐ Việt Nam hiện đại, đầy đủ và hội nhập là:

1) Thị trường lao động hoạt động theo các quy luật khách quan của kinh

tế thị trường, nhất là quy luật cung - cầu lao động, quy luật cạnh tranh công bằngtrong lao động Đồng thời, có sự kết nối, liên thông, không rào cản giữa các khu vực, các vùng trong nước và với ngoài nước trong quá trình hội nhập;

2) Sức lao động được giải phóng triệt để Người lao động được tự do lựa chọn việc làm, tự do đối thoại, thương lượng, thỏa thuận với người sử dụng lao động trong quan hệ lao động để ký kết hợp đồng lao động, tự do dịch chuyển trên TTLĐ ;

Trang 9

3) Lao động là yếu tố đầu vào của sản xuất (đường cung lao động) có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với cầu lao động (đường cầu lao động), nhưng người lao động, nhất là người lao động có kỹ năng, là yếu tố quyết định nhất của sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trong kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ và hội nhập;

4) Quan hệ cung - cầu lao động trên TTLĐ là quan hệ thỏa thuận giữa cácbên về các nội dung quan hệ lao động theo những tiêu chuẩn lao động cơ bản tiếp cận các chuẩn mực quốc tế do Nhà nước quy định (về việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động và các điều kiện làm việc khác) làm căn cứ cho các bên quan hệ lao động thương lượng, thỏa thuận, định đoạt và tự

chịu trách nhiệm; người lao động có cơ hội bình đẳng tham gia TTLĐ để có thể

tìm việc làm bền vững;

5) Đối thoại, thương lượng và thỏa thuận về các nội dung quan hệ lao động của các chủ thể quan hệ lao động theo cơ chế ba bên ở cấp ngành hay quốcgia (đại diện người sử dụng lao động, đại diện người lao động và Nhà nước) và theo cơ chế hai bên ở cấp doanh nghiệp (đại diện người sử dụng lao động và đại diện người lao động) phải bảo đảm tính độc lập, công khai, minh bạch và thực chất;

6) Thị trường lao động hoạt động theo các quy luật khách quan nhưng không tuyệt đối hóa sự điều tiết bởi “bàn tay vô hình”, mà có sự điều tiết của Nhà nước thông qua các công cụ quản lý và hỗ trợ để phòng ngừa, giải quyết những trục trặc, thất bại của thị trường, nhất là khi xảy ra khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu và dịch bệnh, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tác động tiêu cực đến hoạt động bình thường hoặc kìm hãm sự phát triển của TTLĐ

Trang 10

BIỂU ĐỒ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC LAO ĐỘNG TẠI VIỆT NAM

2 Mở rộng thị trường, hạn chế rủi ro cho nền kinh tế, các chủ thể tham gia tại Việt Nam

Với chức năng kinh tế, nhà nước không chỉ là người quản lý, người ban hành các quy định, các luật chơi trên thị trường, mà còn đóng vai trò chủ thể hoạt động sản xuất (nhất là các hàng hóa và dịch vụ công), là người mua và bán

các hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Như vậy lúc này quan hệ giữa nhà nước

và thị trường biểu hiện ra là quan hệ giữa các chủ thể trên thị trường, quan hệ giữa những người mua và người bán hàng hóa và dịch vụ chịu sự tương tác,

giàng buộc của các quy luật kinh tế trên thị trường, cũng như sự quản lý điều hành của nhà nước thông qua hệ thống quy định luật pháp và các công cụ quản

Xét về mục đích thực hiện các chức năng, dù xuất hiện với tư cách nào,

thì quan hệ giữa nhà nước và thị trường, về bản chất, là quan hệ lợi ích Đó là

lợi ích của nhà nước và lợi ích của các chủ thể trên thị trường Nhà nước thực hiện quản lý là hướng tới mục đích bảo đảm cho thị trường phát triển hiệu quả Thị trường phát triển chính là cơ sở kinh tế, bảo đảm sự phát triển của nhà nước

Do vậy trong xử lý quan hệ giữa nhà nước và thị trường cần bảo đảm hài hòa lợiích giữa các chủ thể trên thị trường Điều cần khẳng định là, sự tương tác giữa nhà nước và thị trường đều hướng đến gia tăng lợi ích, tạo ra sự tăng trưởng nói chung của các chủ thể trên thị trường Đây chính là mặt thống nhất trong mối

Trang 11

quan hệ giữa nhà nước và thị trường, thúc đẩy nhà nước và thị trường gắn bó, tương tác với nhau

Về bản chất, đó chính là quan hệ tương hỗ, tùy thuộc vào nhau cùng phát

triển, cùng đạt được lợi ích Mặt khác trong quá trình tương tác có sự cạnh tranh

vai trò, lợi ích Khi “phân vai” phù hợp, đúng với trình độ phát triển và năng lực

xử lý thì lợi ích sẽ được thỏa mãn Ngược lại, khi “phân vai” không đúng, nhà nước lấn át thị trường, hay thị trường lấn át nhà nước thì sẽ dẫn đến kết cục: sự quản lý của nhà nước kém hiệu quả và bản thân thị trường sẽ không thể phân bổ hợp lý, hiệu quả các nguồn lực Đây chính là mặt mâu thuẫn trong quan hệ giữa nhà nước và thị trường

BIỂU ĐỒ QUY MÔ THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2016

3 Tăng cường thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa các nước tại Việt Nam

Trong những năm qua, Việt Nam đã chú trọng thu hút chuyển giao công nghệ từ nước ngoài để tận dụng ưu thế của nước đi sau, sớm tiếp cận những công nghệ tiên tiến để phục vụ cho phát triển kinh tế đất nước Đối với tất cả cácnước đang phát triển, FDI là nguồn lực quan trọng để thu hút vốn, công nghệ nhằm tăng cường năng lực công nghệ của các DN trong nước Vai trò này được thể hiện ở hai khía cạnh là tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ bên ngoài vào và nghiên cứu, cải tiến phát triển công nghệ, phù hợp với điều kiện thực tế, nâng cao năng lực công nghệ trong nước Đây là mục tiêu quan trọng mà nước tiếp nhận FDI luôn hướng đến

Trang 12

Qua các hoạt động cải tiến công nghệ của các DN FDI tạo ra nhiều mối quan hệ liên kết cung cấp dịch vụ công nghệ từ các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong nước Với cách thức gián tiếp này, nước tiếp nhận đầu tư sẽ tăng cường năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ (R&D) của các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Trong lĩnh vực công nghệ cao, Việt Nam đã có các chính sách ưu đãi nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào các khu công nghệ cao

Việc chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI vào Việt Nam thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất định Nhiều công nghệ mới, hiện đại được

du nhập vào nước ta trong các lĩnh vực như: Dầu khí, điện tử, viễn thông Cùngvới đó, nhiều sản phẩm mới được tạo ra với công nghệ hiện đại, góp phần tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, phù hợp với Cách mạng công nghiệp 4.0

Đi liền với chuyển giao công nghệ là quá trình tiếp nhận kinh nghiệm quản lý tiên tiến trên thế giới và đào tạo được đội ngũ lao động có trình độ cao,

có khả năng sử dụng được các công nghệ hiện đại Nhiều kỹ sư sau một thời gian làm việc tại các DN FDI đã học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, trưởng thành, từ

đó hình thành nên một thế hệ chủ DN có năng lực cạnh tranh và trình độ công nghệ tương đương với các đối tác nước ngoài

Bên cạnh đó, những công nghệ được chuyển giao theo các dự án FDI thường là công nghệ được đưa vào theo lợi ích của nhà đầu tư Trong khi đó, công tác đánh giá, lựa chọn công nghệ của Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, những công nghệ được chuyển giao phần lớn là do phía nước ngoài giới thiệu, không phải tự các DN trong nước tìm kiếm hoặc nghiên cứu, tìm hiểu

Do vậy, các công nghệ chuyển giao vào Việt Nam trong thời gian qua chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong tình hình mới Nếu chúng ta không chủ động lựa chọn công nghệ thì không thể có được những côngnghệ đem lại lợi ích cao và đáp ứng yêu cầu của tiến trình phát triển kinh tế đất nước Ngoài ra, hoạt động R&D của các doanh nghiệp FDI mới chỉ dừng ở những công nghệ nhỏ, đơn giản hoặc nghiên cứu để cải tiến thích nghi phù hợp với điều kiện Việt Nam Nhìn chung, việc khai thác, học hỏi công nghệ thông qua FDI chưa đạt được kết quả như mong muốn

Ngày đăng: 17/10/2023, 10:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w