VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG HỌC TẬP VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA BẢN THÂN .... Đối với học sinh, sinh viên việc nắm rõ nguồn gốc, bản chất của ý thức, mối quan hệ giữa vật chất và ý
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Môn: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
Đề bài:
Quan niệm của triết học Mác - Lênin về nguồn gốc, bản chất của ý thức; mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Vận dụng quan niệm đó luận giải về vai trò của nhân tố chủ quan trong học tập và hoạt động thực tiễn của bản thân anh (chị)
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên
Lớp
: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền : Trần Lê Hân
: 20050824 : QH – 2020 – E KTQT CLC 6
Hà Nội – 2021
Trang 2I QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ NGUỒN GỐC VÀ
BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC 4
1 Nguồn gốc của ý thức 4
1.1 Nguồn gốc tự nhiên 4
1.2 Nguồn gốc xã hội 5
2 Bản chất của ý thức 6
II QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 7
1 Vật chất quyết định ý thức 7
2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất 7
3 Ý nghĩa phương pháp luận 8
III VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG HỌC TẬP VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA BẢN THÂN 8
1 Nhân tố chủ quan 8
2 Vai trò của nhân tố chủ quan trong học tập với bản thân 9
2.1 Vai trò của nhận thức và hành động trong học tập 9
2.2 Vai trò của năng lực, phẩm chất trong học tập 10
3 Vai trò của nhân tố chủ quan trong hoạt động thực tiễn 12
3.1 Vai trò của nhận thức trong hoạt động thực tiễn 12
3.2 Vai trò của năng lực, phẩm chất trong hoạt động thực tiễn 13
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ trước đến nay, nguồn gốc, bản chất của ý thức luôn là một trong những vấn
đề mang tính cốt lõi nhằm phân biệt hai đường lối cơ bản là chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật Dựa vào thành tựu trước đó của triết học duy vật, khoa học và thực tiễn xã hội để tạo nên cơ sở nền tảng, Triết học Mác – Lênin đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên Bên cạnh đó, từ việc nghiên cứu về phạm trù vật chất – nền tảng của chủ nghĩa duy vật, Triết học Mác – Lênin cũng đã đưa ra được mối quan hệ giữa vật chất và ý thức bao gồm: Tôn trọng tính khách quan và Phát huy tính năng động chủ quan
Đối với học sinh, sinh viên việc nắm rõ nguồn gốc, bản chất của ý thức, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là một điều vô cùng quan trọng từ đó hình thành tiền
đề, cơ sở để phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong học tập và hoạt động thực tiễn của bản thân Nhờ vậy mà cá nhân có thể nâng cao hiệu quả trong quá trình tiếp thu kiến thức, bên cạnh đó là phát huy khả năng của bản thân trong các hoạt động bên ngoài
Trang 4I QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC
1 Nguồn gốc của ý thức
Khi nghiên cứu về sự ra đời của ý thức, các nhà triết học duy tâm cho rằng ý thức là cái có trước, sinh ra vật chất và chi phối toàn bộ vật chất Còn với các nhà duy vật siêu hình lại đồng nhất ý thức với vật chất, coi ý thức là một dạng vật chất đặc biệt, được sinh ra từ vật chất Tuy nhiên theo quan niệm của triết học Mác –
Lênin, các nhà kinh điển đã chỉ ra được nguồn gốc của ý thức bao gồm nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội dựa vào thành tựu về sinh lý học thần kinh lúc bấy giờ
1.1 Nguồn gốc tự nhiên
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất là bộ não người Bộ não người là khí quan vật chất của ý thức, còn ý thức là chức năng của bộ não người Không thể tách rời ý thức khỏi
bộ não người bởi ý thức phụ thuộc vào bộ não và nếu bộ não tổn thương thì sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của ý thức Để biết được tại sao bộ não con người lại có thể sinh ra ý thức thì chúng ta cần nghiên cứu về mối quan hệ vật chất giữa bộ não và thế giới khách quan
“Phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật Phản ánh là sự tái tạo những
đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng” [Tài liệu tham khảo 2-tr23] Trong sự phản ánh bao gồm vật nhận tác động và vật tác động Vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động, kết cấu vật chất của nó càng hoàn thiện thì năng lực phản ánh của
nó càng cao Giới tự nhiên vô sinh có cấu trúc đơn giản nên hình thức phản ánh vật
chất chỉ dừng lại là phản ánh vật lý, hóa học – mang tính thụ động, chưa có định
hướng Với giới tự nhiên hữu sinh, kết cấu có phần phức tạp hơn nên hình thức phản
ánh cao hơn là phản ánh sinh học Hình thức này khác nhau ở các cơ thể sống tùy
vào sự hoàn thiện Ở thực vật là sự kích thích, động vật có hệ thần kinh là phản xạ
Đối với động vật cấp cao có hệ thần kinh trung ương thì xuất hiện hình thức phản
Trang 5ánh tâm lý Tuy nhiên tâm lý động vật vẫn chưa phải là ý thức mà chỉ dừng lại ở bản
năng do nhu cầu sinh lý cơ thể chi phối Và cuối cùng phản ánh ý thức chính là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện của con người, chỉ có ở con người
Từ đây ta có thể thấy ý thức xuất phát từ sự phản ánh và là kết quả lâu dài của
sự phát triển thuộc tính phản ánh Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào bộ não con người, phải có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan để đến
bộ não thì ý thức mới xuất hiện Vậy ta có thể kết luận: Bộ não người và sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ não người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
1.2 Nguồn gốc xã hội
Nguồn gốc tự nhiên vô cùng quan trọng trong việc hình thành ý thức của não
bộ Tuy nhiên như vậy thôi thì chưa đủ, đó mới chỉ là nguồn gốc sâu xa, cần phải có
cả nguồn gốc xã hội là những hoạt động thực tiễn của con người, tiêu biểu nhất là
lao động và ngôn ngữ, mới là nguồn gốc trực tiếp và là điều kiện đủ quyết định sự ra
đời của ý thức
Lao động là quá trình con người tác động vào tự nhiên từ đó tạo ra những sản
phẩm phục vụ cho nhu cầu của mình và là điều kiện chủ yếu giúp con người tồn tại Lao động giúp con người sử dụng linh hoạt hai chi trước để thực hiện các động tác phức tạp hơn như hái lượm, săn bắn, sáng tạo ra những công cụ lao động để phục vụ cuộc sống của con người Nếu con vật sử dụng những thứ có sẵn trong tự nhiên thì con người nhờ công cụ lao động đã tìm ra nhiều nguồn thức ăn hơn và tìm ra lửa để nấu chín thức ăn Có thể thế thấy nhờ lao động, con người phát triển và hoàn thiện hơn về mặt sinh học so với động vật Thông qua quá trình lao động, con người tương tác nhiều hơn với thế giới khách quan, làm thay đổi thế giới đó và chính bản thân con người Chính nhờ vậy mà con người mới có thể phản ánh được thế giới khách quan, hình thành ý thức và làm phong phú thêm phản ánh ý thức của bản thân Tuy nhiên, lao động ngay từ đầu đã mang tính xã hội Để nhằm trao đổi kinh nghiệm hay tương tác với nhau, ngôn ngữ xuất hiện
Trang 6Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức [Tài liệu tham
khảo 3-tr169], là công cụ thể hiện ý thức, tư tưởng và tạo điều kiện để phát triển ý thức Ta có thể thấy ý thức được sinh ra từ hoạt động lao động trong thế giới khách quan nhưng đồng thời cũng là yếu tố tác động mạnh mẽ đến quá trình lao động và phát triển ý thức của con người Ngôn ngữ giúp con người phản ánh khái quát sự vật hiện tượng Đồng thời ngôn ngữ cũng giúp con người trao đổi, lưu trữ, tích lũy, truyền thừa kiến thức,… Nếu không có ngôn ngữ là phương tiện trao đổi thì ý thức không thể được hình thành và phát triển
2 Bản chất của ý thức
Thứ nhất, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Ở đây vật chất
là cái được phản ánh, tồn tại khách quan và không phụ thuộc vào ý thức Còn ý thức
là sự phản ánh, là hiện thực chủ quan lấy cái khách quan làm tiền đề và bị ảnh hưởng bởi cái khách quan Ý thức phản ánh thế giới khách quan, nhưng thế giới đó có sự thay đổi qua lăng kính chủ quan của mỗi người thông qua các yếu tố như: tình cảm, nguyện vọng, nhu cầu, kinh nghiệm… Ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo thế giới khách quan của bộ não người
Thứ hai, phản ánh ý thức mang tính tự giác, năng động, sáng tạo Ý thức phản
ánh thế giới khách quan không ngẫu nhiên, đơn lẻ, thụ động mà trên cơ sở tiếp thu,
xử lý thông tin có chọn lọc, định hướng Phản ánh ý thức không chỉ dừng lại ở vẻ bề ngoài mà còn là bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng Trong quá trình phản ánh, đối tượng được ý thức mô hình hóa dưới dạng hình ảnh tinh thần và chuyển mô hình trong tư duy ra hiện thực khách quan bằng hoạt động thực tiễn Không chỉ dừng lại
ở việc phản ánh sáng tạo hay chuyển hóa ý thức ra hiện thực khách quan, từ những tri thức nền tảng đã có, con người không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới phục vụ cho nhu cầu cuộc sống
Thứ ba, ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội Sự ra đời và
phát triển của ý thức luôn gắn với hoạt động thực tiễn của con người Nó không chỉ chịu sự chi phối của của các quy luật tự nhiên mà chủ yếu là của các quy luật xã hội
Trang 7Chỉ có con người mới có hình thức phản ánh ý thức về hiện thực khách quan trên cơ
sở thực tiễn xã hội – lịch sử
GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Từ nền tảng phép biện chứng duy vật cùng những thành tựu khoa học tự nhiên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nêu lên những quan điểm đúng đắn
về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1 Vật chất quyết định ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định vật chất có trước ý thức, là nguồn gốc của ý thức và quyết định ý thức Trong đó vật chất quyết định ý thức được thể hiện rõ qua 4 phương diện:
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức Như đã đề cập ở trên, ý
thức luôn gắn liền với sự xuất hiện của con người qua quá trình phát triển của thế giới vật chất Vật chất có trước, bộ não người là dạng vật chất có tổ chức cao nhất
mà ý thức là thuộc tính của bộ não Vậy nên vật chất quyết định nguồn gốc ý thức
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức Ý thức phản ánh hiện thực
khách quan Phải có thế giới vật chất vận động, phát triển thì mới có sự phản ánh vào
ý thức, tạo nên nội dung ý thức
Thứ ba, vật chất quyến định bản chất của ý thức Bản chất phản ánh và sáng tạo
của ý thức đều phải thông qua thực tiễn, được cải biến qua lăng kính chủ quan
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức Phản ánh ý thức
gắn liền với sự thay đổi của vật chất Thế giới càng tiên tiến, văn minh thì ý thức của con người cũng ngày càng phát triển cho phù hợp với cuộc sống
2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Ý thức vốn do vật chất sinh ra, nhưng sau khi hình thành thì ý thức lại có tính độc lập riêng, quy luật vận động phát triển riêng, không phụ thuộc hoàn toàn vào vật chất Bên cạnh đó trong quá trình phát triển của thế giới, ý thế không nhất thiết phải
Trang 8song hành với vật chất mà có thể thay đổi nhanh hơn hoặc chậm hơn, nhưng nhìn chung ý thức thường thay đổi chậm hơn so với biến đổi của vật chất
Khi có sự tác động ngược trở lại vật chất, sự tác động này cần phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người Nhờ vào các hoạt động này mà ý thức có thể làm biến đổi hoàn cảnh vật chất cho phù hợp với nhu cầu, mong muốn của con người Vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó có chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người Khi phản ánh đúng hiện thực, nó có thể dự báo, tiên đoán đúng hiện thực trong tương lai từ đó hình thành nên những học thuyết lý luận có tính định hướng đúng đắn Việc này có thể giúp khai thác tiềm năng, tăng thêm sức mạnh vật chất
Xã hội ngày càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, đặc biệt là trong thời đại của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Tôn trọng tính khách quan Bởi vật chất quyết định ý thức nên trong mọi suy
nghĩ và hoạt động thực tiễn chúng ta đều phải nhìn nhận bản chất, nguồn gốc từ hiện thực khách quan, điều kiện, tiền đề vật chất đang có Cần nhìn nhận một cách chân thực, đúng đắn tránh tô vẽ thêm dẫn đến việc có cái nhìn sai lệch từ đó đưa ra định hướng không phù hợp gây nên những hậu quả khôn lường
Phát huy tính năng động chủ quan Bên cạnh việc tôn trọng hiện thực khách
quan, vì ý thức cũng có sự tác động ngược lại vật chất, nên chúng ta cần phát huy tính sáng tạo, năng động của ý thức trong nhận thức cũng như thực tiễn; phát huy vai trò của nhân tố con người; chống tư tưởng, thái độ thụ động, bảo thủ, trì trệ, thiếu tính linh hoạt trong mọi mặt Để làm được điều đó, ta cần coi trọng công tác tư tưởng
và giáo dục, nâng cao trình độ tri thức khoa học, rèn luyện phẩm chất đạo đức ở mỗi người
III VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG HỌC TẬP VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA BẢN THÂN
1 Nhân tố chủ quan
Trang 9“Chủ quan” là những gì thuộc về chủ thể, thuộc về phẩm chất, năng lực và ý thức của chủ thể “Nhân tố” là những nguyên nhân tác động trực tiếp vào sự vật hiện, tượng gây ra sự biến đổi nào đó Không thể đồng nhất “nhân tố chủ quan” với “chủ quan” bởi không phải tất cả những gì của chủ thể cũng gây nên tác động đối với hoạt động mà chủ thể thực hiện Bởi tính phức tạp của nó mà cho đến giờ vẫn chưa có một định nghĩa chính xác nào cho nhân tố chủ quan, tuy nhiên thông qua Vậy nên có
thể kết luận rằng “Nhân tố chủ quan là tất cả những gì thuộc về chủ thể và tác động trực tiếp vào quá trình hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của chủ thể”
Bên cạnh đó, nhân tố chủ quan không chỉ đứng một mình mà còn có mối quan
hệ biện chứng với điều kiện khách quan Theo quan điểm Mác-xít, điều kiện khách quan luôn đóng vai trò là tiền đề, cơ sở và nhân tố chủ quan phải xuất phát từ điều kiện khách quan Tuy nhiên, nhân tố chủ quan lại có sự độc lập tương đối, là yếu tố
đủ, có tác động quan trọng và có vai trò to lớn nhằm phát triển, hoàn thiện hoạt động của chủ thể
2 Vai trò của nhân tố chủ quan trong học tập với bản thân
Khi xét trong học tập, nhân tố chủ quan ở đây chính là những gì thuộc về bản thân Vậy nên tìm hiểu về vai trò của nhân tố chủ quan trong học tập tức là tìm hiểu vai trò của những yếu tố thuộc về nhận thức, hành động, năng lực, phẩm chất của chính mình tác động đến quá trình học tập và rèn luyện
2.1 Vai trò của nhận thức và hành động trong học tập
Có thể nói đây là nhân tố chủ quan quan trọng nhất, là bước đầu để định hướng cho quá trình tiếp thu tri thức của cá nhân em nói riêng và sinh viên nói chung Trước
hết nhận thức ở đây chính là nhận thức về mục tiêu học tập, mục đích học tập trong
hiện tại và tương lai của bản thân Khi bắt đầu quá trình rèn luyện trên môi trường đại học, em đã nhận thức rõ ràng rằng học tập là vì bản thân, học tập cho tương lai của mình, học tập để thu nhận kiến thức chuyên ngành phục vụ cho công việc mai sau Ngoài ra bản thân em đã có sự tìm hiểu để nắm rõ bản thân cần đạt được những
gì sau 4 năm kể cả về kỹ năng và kiến thức chuyên môn từ đó xây dựng mục tiêu
Trang 10một cách chi tiết cụ thể Tất cả những điều này sẽ giúp cho em có sự định hướng từ sớm, không bị xao nhãng và chệch hướng trong học tập từ đó tạo điều kiện cho các nhân tố chủ quan khác phát huy được vai trò Nếu như không có cho mình nhận thức đúng đắn về mục tiêu học tập cần đạt được, bản thân sẽ không thể xây dựng và có hướng đi cụ thể gây ảnh hưởng đến quá trình và kết quả học tập
Bên cạnh nhận thức về mục tiêu, nhận thức về điều kiện khách quan ảnh hưởng
đến quá trình học tập cũng vô cùng cần thiết như: điều kiện học tập, môi trường học tập, bạn bè, thầy cô,… Bằng việc đánh giá đúng đắn những tác động khách quan, cá nhân em sẽ có thể thay đổi, hoàn thiện nó cho phù hợp với mục tiêu của bản thân đã
đề ra Ví dụ như điều kiện và môi trường học tập trước đó ở tỉnh không đủ để giúp cải thiện bản thân nên em quyết định tìm hiểu và chuyển sang môi trường mới ở Hà Nội để phù hợp hơn cho sự phát triển của mình Việc này sẽ giúp cải thiện chất lượng, đẩy nhanh tiến trình học tập của cá nhân em Bên cạnh đó, từ việc nhận thức về điều kiện khách quan, bản thân cũng sẽ thấy được đâu là điều kiện có lợi để tận dụng trong quá trình học, như môi trường đại học trên thành phố là điều kiện vô cùng tốt để sinh viên có thể nâng cao trình độ ngoại ngữ nên nếu nhận thức được điều này thì sẽ mở
ra cơ hội nâng cao vốn tiếng anh của bản thân phục vụ cho quá trình học tập và làm việc sau này
2.2 Vai trò của năng lực, phẩm chất trong học tập
Khi nói đến năng lực trong học tập, trước hết cần phải nêu cao năng lực tự học
mà bản thân em có được Nếu ở những bậc giáo dục phổ thông, học sinh sẽ có các thầy cô tận tình chỉ bảo, đốc thúc học tập thì nay trong môi trường đại học, sinh viên
sẽ phải tự thân vận động trong toàn bộ quá trình học của mình Vậy nên có thể thấy năng lực tự học là vô cùng quan trọng đối với sinh viên như em Khi có được năng lực này, bên cạnh việc tiếp thu bài trên giảng đường, bản thân em sẽ có sự chủ động
ôn tập lại nội dung bài, học hỏi, tìm tòi những kiến thức nâng cao hơn để hiểu sâu hơn những gì mình đã được học Đặc biệt trong thời kỳ Covid hiệu nay, năng lực tự học càng đóng vai trò quan trọng trong học tập của cá nhân mỗi người Bởi việc học