Quan niệm về vật chất và quan niệm về ý thức của Triết học Mác – Lênin là quan niệm đúng đắn nhất và toàn diện nhất trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật Trong thế giới rộng lớn xung quanh chúng ta, có vô vàn sự vật, hiện tượng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, dù phong phú và đa dạng đến đâu thì chúng cũng đều sẽ được xem xét dưới những phạm trù nhất định, được tuân theo những quy luật chung. Có rất nhiều quan điểm Triết học về các cặp phạm trù cũng như các quy luật, nhưng chỉ có quan điểm Triết học của MácLênin là đúng và đầy đủ nhất. Sau đây, em xin phân tích, chứng minh rằng quan niệm về vật chất và quan niệm về ý thức của Triết học Mác – Lênin là quan niệm đúng đắn nhất và toàn diện nhất trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
===000===
BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài số: 01 Chứng minh rằng: quan niệm về vật chất và quan niệm về ý thức của Triết học Mác – Lênin là quan niệm đúng đắn nhất và toàn diện nhất trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật
Sinh viên thực hiện: Hà Khánh Huyền Lớp chuyên ngành: Kế Toán
Mã SV: 11222870
Lớp: Triết học Mác – Lênin (30) Khóa 64 GĐ: 2022-2026
Hà Nội-11/2022
Trang 2Trong thế giới rộng lớn xung quanh chúng ta, có vô vàn sự vật, hiện tượng phong phú và đa dạng Tuy nhiên, dù phong phú và đa dạng đến đâu thì chúng cũng đều sẽ được xem xét dưới những phạm trù nhất định, được tuân theo những quy luật chung Có rất nhiều quan điểm Triết học về các cặp phạm trù cũng như các quy luật, nhưng chỉ có quan điểm Triết học của Mác-Lênin là đúng và đầy đủ nhất
Sau đây, em xin phân tích, chứng minh rằng quan niệm về vật chất và quan niệm về ý thức của Triết học Mác – Lênin là quan niệm đúng đắn nhất và toàn diện nhất trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật
Bài tập lớn của em gồm 2 phần:
1 Phân tích quan niệm về vật chất của Triết học Mác-Lênin
2 Phân tích quan niệm về vật chất của Triết học Mác-Lênin
3 Liên hệ thực tiễn, đánh giá
Lần đầu tiên làm bài tập lớn, em không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong sẽ nhận được lời góp ý của thầy
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 31 Phân tích quan niệm về vật chất của Triết học Mác-Lênin
a Quan niệm về vật chất trong lịch sử Triết học
Để hiểu rõ về quan niệm của Triết học Mác-Lênin về vật chất thì ta phải tìm hiểu về những quan niệm về vật chất trước Mác
Thời kỳ cổ đại đã xuất hiện chủ nghĩa duy vật với quan niệm chất phác về giới tự nhiên, về vật chất Nhìn chung các nhà duy vật thời cổ đại quy vật chất về một hay một vài dạng cụ thể của nó và xem nó là khởi nguyên của thế giới Như Talets cho rằng vật chất là nước; thuyết Tứ Đại (Ấn Độ) vật chất bao gồm đất, nước, lửa, gió; hay thuyết Ngũ Hành (Trung Quốc) vạn vật đều sinh ra từ năm yếu
tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ,…… Những quan điểm này chỉ mang tính chất trực quan, cảm tính Nó chỉ có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Bước tiến quan trọng trong thời kỳ này là định nghĩa vật chất của hai nhà Triết học người
Hy Lạp là Lơxíp và Đêmôcrip Cả hai ông đều cho rằng vật chất là nguyên tử
Thời kỳ cận đại thế kỉ XV-XVIII: chủ nghĩa duy vật mang hình thức chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc Thuyết Nguyên tử vẫn được các nhà Triết học
và khoa học thời kỳ Cận đại và Phục hưng tiếp tục nghiên cứu, phát triển Thời kỳ này các nhà Triết học đã đồng nhất vật chất với thuộc tính của vật chất, như Newton đã cho rằng khối lượng và vật chất,… Song, do chưa thoát được chủ nghĩa siêu hình nên các nhà Triết học nhìn chung vẫn chưa đưa ra được những khái quát Triết học đúng đắn
Thế kỉ XIX-XX: diễn ra cuộc cách mạng khoa học tự nhiên, có thể kể đến Rơnghen phát hiện ra tia X, Béccơren phát hiện ra phóng xạ của nguyên tố Urani,
…… Chính những sụ phát hiện này đã dẫn đến sự phá sản của các quan niệm siêu hình về vật chất Chủ nghĩa duy tâm trong một số khoa học tấn công và phủ nhận quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật Tình hình trên đã làm cho nhiều nhà khoa học tự nhiên trượt từ chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình sang chủ nghĩa tương đối, rồi rơi vào chủ nghĩa duy tâm
Trang 4Các-mác và Ăngghen đã đưa ra những tư tưởng hết sức quan trong về vật chất Ăngghen quan niệm: phân biệt rõ ràng vật chất với tính cách là một phạm trù Triết học Tính vật chất chính là là đặc tình chung của của các sự vật, hiện tượng trên thế giới: tính tồn tại, độc lập, không lệ thuộc vào ý thức => chính những quan điểm đó đã đặt nền móng để sau này Lênin kế thừa và phát triển nâng nội dung phạm trù vật chất thành một định nghĩa hoàn chỉnh
b Quan niệm về vật chất trong Triết học Mác-Lênin
Định nghĩa về vật chất trong Triết học Mác-Lênin: “Vật chất là một phạm
trù Triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Quan niệm về vật chất của Triết học Mác-Lênin sâu sắc, hay và khác biệt hơn so với quan niệm về vật chất trong các giai đoạn trước đó Bây giờ em sẽ làm
rõ và phân tích quan niệm về vật chất của Triết học Mác-Lênin thông qua các nội dung sau:
c Phân tích định nghĩa
Thông thường khi định nghĩa một khái niệm, chúng ta thường quy nó thành một khái niệm rộng hơn, sau đó thêm một số đặc điểm riêng của nó VD: muốn định nghĩa Protein thì ta đưa nó về là một hợp chất và chỉ ra đặc điểm về cấu tạo, chức năng Từ đó ta có khái niệm về Protein: Protein là một phân tử sinh học, hay một đại phân tử, gồm nhiều acid amin liên kết lại với nhau, thực hiện nhiều chức năng trong tế bào, bao gồm các phản ứng trao đổi chất có xúc tác, sao chép DNA, đáp ứng lại kích thích, và vận chuyển phân tử từ một vị trí đến một vị trí khác
Ông chỉ rõ rằng khái niệm vật chất với vai trò là phạm trù biện chứng-một phạm trù khái quát nhất, không có một phạm trù nào khác Cách duy nhất về mặt phương pháp luận chỉ có thể định nghĩa vật chất bằng cách đặt phạm trù ấy đối lập với ý thức, phải “định nghĩa vật chất thông qua ý thức”
Trang 5 Theo Lênin, phải “chỉ rõ ra trong hai khái niệm đó, cái nào có trước” Bằng phương pháp trên, trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa king nghiệm phê phán”, Lênin đã định nghĩa về vật chất hoàn chỉnh như vậy
Phạm trù vật chất dưới góc độ Triết học dùng để chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi, còn các khoa học cụ thể nghiên cứu đều
có giới hạn, có sinh ra, có mất đi, chuyển hóa thành chất khác
Chính vì vậy, “vật chất” ở đây không thể định nghĩa theo nghĩa hẹp là vật chất trong các ngành khoa học thông thường, cũng không thể định nghĩa vật chất trong cuộc sống hàng ngày “Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù Triết học, tức là phạm trù rộng nhất, khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn Đến nay, nhận thức luận (tức lý luận về nhận thức con người) vẫn chưa hình dung được cái gì rộng hơn phạm trù vật chất Ta không thể “nhét” vật chất này trong một khoảng không gian nhất định, vì không có gì rộng hơn nó
d Nội dung:
Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan – cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức
Thông thường, nhắc đến vật chất là nhắc đến tài sản, của cải, đồ vật của con người,… Nhưng theo định nghĩa của Mác-Lênin, vật chất là một phạm trù Triết học vì nó là sản phẩm của sự trừu tượng hóa, không tồn tại cảm tính
Vật chất là thực tại khách quan: đay là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất, là cơ bản nhất để phân biệt, xác định cái gì là vật chất, cái gì là không phải vật chất
Thực tại khách quan là vật chất tồn tại bên ngoài ý thức, độc lập và không lệ thuộc vào ý thức: cho dù con người có nhận thức được hay không thì vật chất vẫn tồn tại
Trang 6Theo Lênin, sự đối lập giữa vật chất và ý thức là tuyệt đối Tuyệt đối hóa tính trừu tượng của phạm trù này sẽ không thấy vật chất đâu cả, sẽ rơi vào quan điểm duy tâm Ngược lại nếu tuyệt đối hóa tính hiện thực cụ thể sẽ hợp nhất vật chất và vật thể (đây là quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác)
Như vậy, mọi sự vật hiện tượng từ vi mô đến vĩ mô, từ đơn giản đến kì lạ, đã biết hay chưa biết đều là những đối tượng tồn tại khách quan nghĩa là đều thuộc phạm trù vật chất
Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem lại cho con người cảm giác Con người có thể cảm nhận được vật chất thông qua các giác quan của mình
Chủ nghĩa duy vật biện chứng không bàn đến vật chất một cách chung chung, mà bàn đến nó trong một mối quan hệ với ý thức con người Xét trên phương diện nhận thức luận thì: vật chất, tức là thực tại khách quan, là cái có trước cảm giác (nói rộng ra là ý thức) Ý thức là sự phản ánh đối với vật chất Như thế, vật chất “sinh ra trước”, là tính thức nhất Cảm giác (ý thức), “sinh ra sau”, là cái thứ hai Do tính trước-sau như vậy, vật chất không lệ lệ thuộc vào ý thức, nhưng ý thức không lệ thuộc vào vật chất
Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó
Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất
Và trong thế giới ấy, tồn tại theo quy luật vốn có của nó mà đến một thời điểm nhất định sẽ cùng một lúc tồn tại hai hiện tượng-hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần:
- Các hiện tượng vật chất luôn luôn tồn tại một cách khách quan, không lệ thuộc vào các hiện tượng tinh thần
- Các hiện tượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức,…) lại luôn luôn có nguồn gốc từ các hiện tượng vật chất và những gì có được trong các
Trang 7hiện tượng tinh thần ấy chẳng qua cũng chỉ là chép lại, chụp lại, là bản sai của các sự vật hiện tượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan
Như vậy, cảm giác là cơ sở duy nhất của mọi sư hiểu biết, song bản thân nó là sự phản ánh hiện thực khách quan
Nên có thể nói về nguyên tắc, con người có thể nhận tức được thế giới vật chất và không có gì trong thế giới vật chất là con người không thể nhận thức được (khẳng định trên có nghĩa hết sức quan trọng trong việc bác bỏ thuyết bất khả tri)
Với những nội dung cơ bản trên, quan niệm về vật chất của Mác-Lênin được coi là quan niệm đúng đắn và đầy đủ nhất, vì:
- Giải quyết một cách đúng đắn và triệt để hai mặt vấn đề cơ bản của Triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Cung cấp nguyên tắc thế giới quan và phương phâp luận khoa học để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết), chủ nghĩa duy vật siêu hình và mọi biểu hiện của chúng trong Triết học tư sản hiện đại về phạm trù này
- Là cơ sở khoa học cho việc xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội-các điều kiện sinh hoạt vật chất và các quan hệ vật chất xã hội
- Tạo sự liên kết giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử thành một hệ thống lý luận thống nhất, từ đó góp phần tạo nên nền tảng lý luận khoa học cho việc phân tích một cách duy vật biện chứng các vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Khắc phục cuộc khủng hoảng thế giới quan trong vật lý học đầu thế kỉ XX và cổ vũ các nhà khoa học tuej nhiên tiếp tục đi sâu nghiên cứu khám phá thế giới vật chất
2 Quan niệm về ý thức trong Triết học Mác-Lênin
Trang 8Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt, có tổ chức cao là bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan cuả thế giới khách quan
- Khái niệm: ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo
Để biết rõ về quan niệm của Triết học Mác-Lênin về ý thức chúng ta cần tìm hiểu ai nội dung lớn đó là nguồn gốc và bản chất của ý thức
a Nguồn gốc của ý thức
Đầu tiên ta nghiên cứu về nguồn gốc của ý thức: thì nguồn gốc của ý thức được chia làm hai loại là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
Trước khi vào từng ý chính thì em có một ví dụ nho nhỏ
VD: ý thức được bắt nguồn từ nguồn gốc xã hội, trong đó bao gồm lao động
và ngôn ngữ, ví dụ cụ thể: con người khi lao động cụ thể là lao động chế tạo ra các công cụ lao động, công cụ dùng trong sinh hoạt, từ đó con người có ý thức về việc thay đổi hói quen ăn uống hay mục đích của hoạt động biến đổi phát triển xã hội
Nguồn gốc tự nhiên (dựa trên thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh
lý học thần kinh, các nhà duy vật biện chứng cho rằng, nguồn gốc tự nhiên của ý thức có hai yếu tố không thể tách rời nhau là bộ óc con người và thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc con người):
- Bộ óc con người: Đây là một dạng vật chất sống đặc biệt, có tổ chức cao, trải qua quá trình tiến hóa lâu dài về mặt sinh vật-xã hội Ý thức là thuộc tính của riêng dạng vật chất này (tức là chỉ con người mới có ý thức Không một kết cấu vật chất nào khác, kể cả những con vật thông minh nhất có năng lực này) Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc người, nên khi óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức không diễn ra bình thường được hoặc rối loạn Tuy nhiên, nếu chỉ có bộc óc không thôi mà hkoong
có thế giới bên ngoài tác động vào bộ óc, thì cũng không có ý thức Do vậy, nguồn gốc tự nhiên cần có yếu tố thứ hai là thế giới bên ngoài
Trang 9- Sự tác động của thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc con người: Trong giới tự nhiên, mội đối tượng vật chất (con người, con khỉ, con voi, cái bàn, mặt nước, cái gương,… ) đều có thuộc tính chung, phổ biến là phản ánh Đó là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở một
hệ thống vật chất khác trong qua trình tác động qua lại giữa chúng (nói một cách dễ hiểu, phản ánh chính là sự chép lại, chụp lại, kể lại một cái
gì đó Chép lại lời nói ra giấy là sự phản ánh Chụp lại một bức ảnh cũng
là sự phản ánh Để có quá trình phản ánh xảy ra, cần có tác động và vật nhận tác động) Đương nhiên, bộ óc con người cũng có thuộc tính phản ánh Nhưng phản ánh của bộ óc con người có trình độ cao hơn, phức tạp hơn so với các dạng vật chất khác (sau quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, con người trở thành sản phẩm cao nhất, thì thuộc tính phản ánh của bộ óc con người ũng hoàn mỹ nhất sto với mọi đối tượng khác trong
tự nhiên) Do hoàn mỹ nhất như vậy, ên thuộc tính phản ánh, sự tác động của thế giới bên ngoài vào bộ óc con người được gọi riêng bằng phạm trù
“ý thức” Đó là sự phản ánh, sự tác động của thế giới bên ngoài vào bộ óc con người
Nguồn gốc xã hội: để cho ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ Điều kiện quyết định, trực tiếp và quan trọng hất cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội Đó là lao động, tức là ý thức xã hội và ngôn ngữ
- Khái niệm: ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người thông qua lao động ngôn ngữ và các cơ quan xã hội theo Ăngghen, lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích biến đổi bộ não động vật thành bộ não con người, biến tâm lý động vật thành ý thức con người
- Lao động: trong tự nhiên, con vật tồn tại nhờ những sản phẩm có sẵn hư trái cây, côn trùng hoặc các loài hoạt động yếu hơn nó,……nhưng đối với
Trang 10con người thì khác Con người có khả năng và bắt buộc phải sản xuất ra những sản phẩm mới (bàn, ghế, quần áo, tủ lạnh,….), khác với những sản phẩm có sẵn Tức là con người phải lao động mới đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của mình Chính thông qua lao động, hay còn gọi là hoạt động
ý thức, nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh được, biết được nhiều bí mật về thế giới đó, mới có ý thức về thế giới
đó Nhưng ở đây, không phải bỗng nhiên mà thế giới khách quan tác động vào bộ óc con người để con người có ý thức Ý thức có được chủ yếu là do con người chủ động tác động vào thế giới khách quan để cải tạo, biến đổi nó nhằm tạo ra sản phẩm mới Nhờ chủ động tác động vào thế giới khách quan, con người bắt những đối tượng trong hiện thực (núi, rừng, sông, mỏ than, sắt, đồng,….) phải bộc lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật của mình Những bộc lộ này tác động vào bộ óc con người để hình thành ý thức con người
- Ngôn ngữ: trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng với nhau, tức là nhu cầu nói chuyện được với nhau Chính nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời ủa ngôn ngữ, trước hết là tiếng nói, say là chữ viết Ngôn ngữ do nhu cầu lao động và nhờ nhu cầu lao động mà hình thành Nó là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung, ý thức không có hệ thống tín hiệu này, thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được Theo C.Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có
ý thức Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của
tư duy Nhờ có ngôn ngữ, on người mới có thể khái quát, trừu tượng hóa, tức là khát quát những khái niệm phạm trù để suy nghĩa, tách mình khỏi
sự vật cảm tính Cũng nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác