Khi nền kinh tế bị rơi vào tình trạng suy thoái hay khủng hoảng, nếu tốc độ tăng trưởng của tổng cung quá chậm so với tổng cầu, gây ra mất cân đối mạnh trong cung-cầu trung và dài hạn sẽ
Trang 1BÀI THI GIỮA KÌ
DỰ ÁN NHÓM KHÔNG THUYẾT TRÌNH Môn học: Kinh Tế Vĩ Mô Trung Cấp
Giảng viên: Châu Văn Thành
Mã lớp học phần: 22C1ECO50110101Khóa – Lớp: K46 – AE001
Trang 2năm sinh tham gia và mục chính đã tham gia (viết
- Vẽ biểu đồ, tìm data
- Chính sách giải quyết lạmphát khi có đại dịch COVID-19
- Phân tích chuyên gia E
- Tổng hợp giải pháp từ các lýthuyết và chuyên gia
theory"
- Phân tích chuyên gia D
- Chính sách giải quyết lạmphát của Trung Quốc
"The Keynesian theory"
- Phân tích chuyên gia B
Trang 3- Chính sách giải quyết lạmphát khi có biến đổi khí hậu
Trang 47 Quantity Theory of Money: 14
Câu 1: Theo bạn, chuyên gia nào có đề xuất phù hợp với bối cảnh Việt Nam hơn 15 Chuyên gia A: Lập luận rằng lạm phát chỉ mới là cảnh báo và chủ yếu từ phía cung 15 Chuyên gia B: Lạm phát nhập khẩu và lạm phát tiền tệ do nới lỏng tài khóa và tiền tệ 17 Chuyên gia C: Tin vào lạm phát xuất phát từ yếu tố chi phí đẩy nhiều hơn 19 Chuyên gia D: Vị chuyên gia D cho rằng lạm phát đến từ cả phía cung và cầu, bên cạnh những nhân tố từ phía cung được phân tích từ ông chuyên gia A, B, C thì vị chuyên gia D còn cho rằng nhân tố từ phía cầu từ gói kích thích hồi phục kinh tế nhiều tham vọng của
Câu 2: Bạn ủng hộ ý kiến của chuyên gia nào? Giải thích rõ vì sao.
26 Câu 3: Giả sử bạn được yêu cầu nêu giải pháp góp phần giải quyết áp lực lạm phát ở Việt Nam,
3.1 Giải pháp của chiến tranh Nga và Ukraine cho vấn đề lạm phát Việt Nam: 28 3.2 Chính sách cho Việt Nam để có thể kiểm soát lạm phát khi có Covid cũng như phục
3.3 Kiểm soát lạm phát: Tham khảo trường hợp từ Trung Quốc: 31
Trang 5Phần I: Tổng quan lý thuyết về lạm phát
1 Khái niệm lạm phát:
“Lạm phát là sự gia tăng bền bỉ và kéo dài của mức giá chung, hay được hiểu là sự tăng lên
của mức giá chung theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Mức giá
chung tăng lên sẽ làm cho sức mua của đồng tiền bị giảm, kéo theo đó là một số tiền, số
lượng hàng hóa, dịch vụ sẽ được mua ít hơn so với trước đó Lạm phát cũng là sự mất giá
đồng tiền của 1 quốc gia này so với quốc gia khác Có thể hiểu lạm phát theo 2 nghĩa: Một
là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của 1 quốc gia Hai là lạm phát của
1 loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu.”
2 Nguyên nhân lạm phát:
2.1 Lạm phát do cầu kéo:
Theo kinh tế học Keynes, khi tổng cầu mà cao hơn so với tổng cung thì sẽ gây ra lạm phát
Điều này thì được giải thích thông qua sơ đồ AD-AS Đường tổng cầu AD dịch chuyển sang
phải trong khi đường tổng cung AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng
tăng, do đó gây nên lạm phát
Tổng cầu: AD = C + I + G + X – IM tăng có thể do các yếu tố của tổng cầu tăng
+ Tăng tiêu dùng hộ gia đình (C): Thu nhập khả dụng của hộ gia đình tăng có thể là do
Chính sách của Chính phủ như: giảm thuế, tăng các khoản chi về chuyển nhượng của
Trang 6Chính phủ đối với hộ gia đình và các khoản thu nhập khác mà họ nhận được dùng chi tiêu
cho tiêu dùng Các khoản thu nhập tăng dẫn đến tiêu dùng tăng
+ Đầu tư của tư nhân tăng (I) gồm các khoản: Đầu tư cố định vào sản xuất kinh doanh,
đầu tư vào nhà ở và đầu tư cho hàng tồn kho Đầu tư của tư nhân tăng có thể do các khoản
đầu tư được tăng lên
+ Chi tiêu của Chính phủ (G) tăng bao gồm: Chi cho đầu tư phát triển, khoản chi thường
xuyên và chi chuyển nhượng Chi tiêu của Chính phủ tăng làm tổng cầu tăng và gây ra lạm
phát
+ Xuất khẩu ròng ( X – IM) thay đổi: Nhập khẩu tỉ lệ thuận với sản lượng và thu nhập của
cả nền kinh tế, với giá tương đối giữa các hàng hóa trong nước và hàng hóa nhập khẩu; tỷ
lệ nghịch với tỷ giá ngoại tệ
Ngược lại, xuất khẩu không bị ảnh hưởng bởi thu nhập và sản lượng của nền kinh tế Mà tỉ
lệ thuận với tỷ giá ngoại tệ, với sản lượng và thu nhập nước ngoài và giá tương đối giữa
hàng hóa trong nước của mặt hàng xuất khẩu với giá hàng hóa đó trên thị trường thế giới
Từ những điều trên ta thấy, xuất khẩu ròng bị ảnh hưởng tổng hợp bởi các yếu tố chi phối
việc xuất, nhập khẩu Khi giá trị của xuất khẩu lớn hơn so với nhập khẩu tức là xuất khẩu
ròng dương và tăng sẽ làm cho tổng cầu tăng
2.2 Lạm phát do chi phí đẩy:
Những điều chỉnh, thay đổi không có lợi cho sản xuất như: giá nhiên liệu, giá than, giá điện
tăng mạnh làm cho các yếu tố đầu vào của sản xuất tăng làm cho chi phí sản xuất tăng Các
doanh nghiệp sẽ buộc phải tăng giá làm cho cung tiền thực tế và tổng cầu giảm
Ngoài ra, thiên tai và dịch bệnh cũng có thể làm cho tổng cung ngắn hạn giảm, đẩy giá lên
cao
Trang 72.3 Lạm phát do cơ cấu:
Cơ cấu kinh tế là do sự phân bổ nguồn lực để phát triển về kinh tế Tổng cung của nền kinh
tế chịu ảnh hưởng của cơ cấu kinh tế Do đó, có thể ảnh hưởng đến cung, cầu của thị trường
Sự thay đổi này làm cho mức giá chung thay đổi và ảnh hưởng đến lạm phát
Lạm phát do cơ cấu là do cân đối trong quan hệ cung, cầu bị mất đi trong trung và dài hạn
Mất cân đối trong cán cân thu-chi ngân sách cũng như cán cân thương mại
Khi nền kinh tế bị rơi vào tình trạng suy thoái hay khủng hoảng, nếu tốc độ tăng trưởng của
tổng cung quá chậm so với tổng cầu, gây ra mất cân đối mạnh trong cung-cầu trung và dài
hạn sẽ gây ra lạm phát tăng cao Nguyên nhân chủ yếu do năng lực sản xuất của nền kinh tế
tăng chậm so với mức tăng của đầu tư Tổng cung trong trung-dài hạn tăng chậm do hiệu
quả của việc đầu tư thấp, trình độ khoa học – công nghệ, chất lượng của nguồn nhân lực, kết
cấu của hạn tầng thấp và đang cải thiện chậm Đặc biệt là do sự bất hợp lý trong cơ cấu kinh
tế ở các nước đang phát triển làm cho năng lực sản xuất của nền kinh tế đó yếu kém
Bội chi ngân sách cao làm gia tăng tổng phương tiện thanh toán, tổng đầu tư cho xã hội
Mức chi ngân sách cao là do hiệu quản đầu tư ngân sách nhà nước thấp, do đó làm ảnh
hưởng đến cân đối tổng cung-cầu trong trung và dài hạn
Khi thâm hụt ngân sách kèm với thâm hụt trong cán cân thương mại lớn, gây ra đồng tiền
nội tệ bị mất giá so với ngoại tệ, làm lạm phát gia tăng
Trang 82.4 Lạm phát do nhập khẩu:
Khi các hàng hóa nhập khẩu tăng giá thì giá bán hàng hóa đó ở trong nước cũng tăng lên
Điều này làm cho mức giá chung tăng lên dẫn đến lạm phát
2.5 Lạm phát do xuất khẩu:
Tổng cầu của hàng hóa cao hơn so với tổng cung khi xuất khẩu tăng Trong khi đó, hàng hóa
phục vụ cho xuất khẩu dẫn đến lượng hàng trong nước giảm xuống làm cho tổng cung chênh
lệch thấp hơn tổng cầu, gây ra lạm phát
2.6 Lạm phát tiền tệ:
Khi lượng cung tiền lưu thông tăng, làm cho lượng tiền trong nền kinh tế nhiều thì tiêu dùng
cùng với đó sẽ tăng lên làm cho giá trong thị trường tăng, dẫn đến lạm phát
Cung tiền tăng khi NHTW thực thi chính sách tiền tệ mở rộng Khi in thêm tiền để hỗ trợ
thâm hụt ngân sách làm cung tiền tăng liên tục
Việc giữ tỷ giá luôn cố định cũng có có thể làm tăng cung tiền Khi mà tỷ giá ngoại tệ giảm,
NHTW bơm nội tệ nhằm mua ngoại tệ để nâng giá của ngoại tệ, làm mức tiền của nền kinh
tế tăng
Lạm phát chịu ảnh hưởng rất lớn của chính sách tiền tệ Do đó, năng lực của các nhà hoạch
định định chính sách cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát Các quyết định sai hay tình trạng
chậm trễ trong quá trình đưa ra quyết định, việc không nhanh nhạy với những biến đổi cũng
là một nguyên nhân gây ra lạm phát Độ trễ trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
dẫn đến việc thực thi các chính sách, kiểm soát lạm phát và quản lý kinh tế vĩ mô, ổn định
tăng trưởng kém hiệu quả
3 Sơ lược về mô hình AS-AD:
Mô hình AS-AD là lý thuyết nền tảng trong kinh tế học vĩ mô và cũng là công cụ quan trọng
đối với các nhà làm chính sách Mô hình này được dùng để giải thích sự biến động trong
ngắn hạn của nền kinh tế và sự dịch chuyển từ ngắn hạn sang dài hạn của nền kinh tế này
Qua đó, giải thích và trực quan hóa các nguyên nhân thay đổi của các biến số vĩ mô quan
trọng bao gồm mức giá (lạm phát), GDP (tăng trưởng ngắn hạn) và việc làm (tỉ lệ thất
nghiệp) Giao điểm của ba đường AD (tổng cầu), LRAS (tổng cung dài hạn) và SRAS (tổng
cung ngắn hạn) chính là điểm cân bằng của nền kinh tế
Trang 9Mức sản lượng đạt mức tiềm năng (Y = Ȳ = Yp) – tương đương tốc độ tăng trưởng năm đó
đạt mức tăng trưởng trung bình thông thường của giai đoạn xem xét; mức giá tại E tương
ứng mức giá cân bằng hay mức giá đúng như kỳ vọng của người dân (PE = Pe) – tương ứng
với tỷ lệ lạm phát ổn định và có thể kiểm soát được; và cũng theo lý thuyết, tỷ lệ thất nghiệp
ứng với mức sản lượng tiềm năng tại E chính là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Đường tổng cầu
AD dịch chuyển sang phải/trái có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau như: thay
đổi chính sách tài khóa và/hay chính sách tiền tệ, thay đổi của các thành phần tổng cầu, và
các cú sốc phía cầu
Các cú sốc cung sẽ làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn SRAS Sự dịch chuyển
đường tổng cung dài hạn LRAS được quyết định bởi các nhân tố vốn (K), lao động (L) và
công nghệ (T) trong dài hạn, từ đây sẽ kéo theo thay đổi mức sản lượng tiềm năng Yp và
đường SRAS dịch chuyển kéo theo Cú sốc cung thường phức tạp và khó giải quyết hơn so
với cú sốc cầu
Trang 104 Lý thuyết chi phí đẩy:
4.1 Khái niệm:
Sự gia tăng tiền lương nhanh hơn năng suất lao động Liên đoàn lao động ép người sử dụng
lao động tăng lương đáng kể, do đó làm tăng chi phí sản xuất của hàng hóa Đến lượt người
sử dụng lao động, tăng giá của họ Mỹ phẩm Mức lương cao hơn cho phép người lao động
mua càng nhiều trước đó, mặc dù giá cao hơn Mặt khác, tăng giá khiến các công đoàn đòi
hỏi vẫn cao hơn tiền công Bằng cách này, các nước xoắn ốc chi phí tiền lương, do đó, dẫn
đến chi phí đẩy hoặc lạm phát do tiền lương đẩy Lạm phát do chi phí đẩy có thể còn trầm
trọng hơn khi đi lên điều chỉnh tiền lương để bù đắp cho việc tăng giá sinh hoạt Một số lĩnh
vực của nền kinh tế có thể bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng tiền lương và giá cả sản phẩm của
họ có thể tăng lên Trong nhiều trường hợp, sản phẩm của họ được sử dụng làm đầu vào cho
sản xuất các mặt hàng trong các lĩnh vực khác Do đó, chi phí sản xuất của các lĩnh vực khác
sẽ tăng và do đó thúc đẩy giá của các sản phẩm của họ Do đó, lạm phát đẩy tiền lương trong
một một số lĩnh vực của nền kinh tế có thể sớm dẫn đến lạm phát tăng giá trong toàn bộ nền
kinh tế Hơn nữa, sự gia tăng trong giá nguyên liệu thô nhập khẩu có thể dẫn đến chi phí đẩy
lên lạm phát Một nguyên nhân khác của lạm phát do chi phí đẩy là do lợi nhuận đẩy lạm
phát Các công ty theo chủ nghĩa độc tài và độc quyền tăng giá của sản phẩm của họ để bù
đắp sự gia tăng lao động và chi phí sản xuất để thu lợi nhuận cao hơn Có không hoàn hảo
cạnh tranh trong trường hợp của các công ty như vậy, họ có thể giá quản lý của sản phẩm
của họ Do đó, lạm phát do lợi nhuận đẩy được gọi là lạm phát theo giá được quản lý hoặc
giá đẩy lạm phát
4.2 Giải pháp và hệ quả đi kèm:
Các chính sách để giảm lạm phát do chi phí đẩy có thể bao gồm chính sách tiền tệ, tài khóa
và cả chính sách phụ cung Chính phủ có thể theo đuổi chính sách tài khóa giảm phát (thuế
cao hơn, chi tiêu thấp hơn) hoặc các cơ quan quản lý tiền tệ có thể tăng lãi suất Điều này sẽ
làm tăng chi phí đi vay và giảm chi tiêu và đầu tư của người tiêu dùng
Vấn đề với việc sử dụng lãi suất cao hơn là mặc dù nó sẽ làm giảm lạm phát, nhưng nó có
thể dẫn đến sự sụt giảm lớn trong GDP
Trang 115 Lý thuyết về lạm phát cấu trúc:
Khoảng 40 năm trước, khái niệm lạm phát cơ cấu đã được đưa vào thảo luận và nghiên cứu
kinh tế Nó liên quan đến ảnh hưởng của các yếu tố cơ cấu đến lạm phát Phân tích cấu trúc
cố gắng nhận ra cách thức các hiện tượng kinh tế và tìm ra gốc rễ của căn bệnh vĩnh viễn và
sự tàn phá như lạm phát, đánh giá mối quan hệ hợp pháp giữa các hiện tượng
5.1 Khái niệm:
5.1.1 Tổng quan về lý thuyết lạm phát cấu trúc:
Lạm phát cơ cấu là lạm phát do những thay đổi trong cơ cấu của cung và cầu Dưới tác động
của sự thay đổi cơ cấu cung và cầu, một số ngành sẽ tăng nhu cầu về sản phẩm của mình,
trong khi ở các ngành khác, nhu cầu này sẽ giảm xuống Và giá cả và tiền lương ở các ngành
giảm sản xuất sẽ không linh hoạt theo hướng giảm này, trong khi giá và tiền lương ở các
ngành tăng sản xuất sẽ tăng lên, thì mức chung của cả giá cả và tiền lương trong nền kinh tế
sẽ tăng lên Hiện tượng được thảo luận sẽ trở nên mạnh mẽ hơn khi nguồn cung không linh
hoạt và không thể thích ứng ngay với những thay đổi đang diễn ra
5.1.2 Lý do :
Lạm phát cơ cấu là lạm phát phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển Tình trạng này là
do sự vận hành của yếu kém cơ cấu (nút thắt về nguồn cung, thiếu cơ sở hạ tầng, v.v.) tồn tại
trong một nền kinh tế đang phát triển Việc thiếu đáp ứng để cung cấp đầy đủ hoặc sản xuất
để tăng nhu cầu là nguyên nhân của lạm phát cơ cấu Việc tăng cung tiền và chi tiêu của
chính phủ chỉ có thể giải thích một phần kịch bản lạm phát Kết quả của những điểm yếu
kém này, một số lĩnh vực của nền kinh tế như nông nghiệp sẽ chứng kiến tình trạng thiếu
cung, trong khi một số lĩnh vực như hàng tiêu dùng sẽ chứng kiến nhu cầu quá mức Các
nền kinh tế như vậy phải đối mặt với vấn đề vừa thiếu cung, vừa sử dụng tài nguyên cũng
như cầu quá mức trong một số lĩnh vực
Do đó, lạm phát cơ cấu phát sinh khi người sản xuất không thể điều chỉnh cơ cấu sản xuất
của mình một cách hiệu quả trước những thay đổi của cơ cấu nền kinh tế Những thay đổi
này có thể liên quan đến:
Trang 12- Cạnh tranh mà các nhà sản xuất chống lại
5.1.3 Điểm nghẽn trong lạm phát cấu trúc:
Lạm phát được thảo luận cũng có thể xuất hiện khi cấu trúc chung của những gì người tiêu
dùng, công ty hoặc thậm chí chính phủ đang yêu cầu sẽ thay đổi đột ngột và các nhà sản
xuất sẽ không thể dễ dàng thay đổi cấu trúc tham gia nguồn lực, và do đó cấu trúc của chính
sản xuất Ngoài ra, nó cũng có thể được kích hoạt bằng cách thực hiện đổi mới đáng kể
Những thay đổi trong cơ cấu nền kinh tế gây ra sự xuất hiện của những khuyết điểm của
chiến lược và sẽ có sự xuất hiện của cái gọi là điểm nghẽn trong các kênh cung ứng Nếu
nguồn cung đối với bất kỳ hàng hóa nào đột ngột tăng lên và đó sẽ là một điểm nghẽn, giá
của nó cũng sẽ cao hơn, và sự gia tăng này sẽ được chuyển sang giá của nhiều sản phẩm mà
nó cần Các điểm nghẽn chính của các kênh cung ứng, các nền kinh tế đang phát triển thúc
đẩy hình thức lạm phát cấu trúc là:
5.2 Giải pháp cơ bản và hệ quả:
Và hiện tại chưa có gì được thực hiện để giải quyết các vấn đề cơ bản của lạm phát cơ cấu
đang gây ra rất nhiều rắc rối hiện nay của chúng ta
Chính phủ cần có chủ động trong việc điều tiết dòng vốn giữa cung và cầu Tránh những ảnh
hưởng do sự chênh lệch từ phía nguồn cung khi cung cấp quá nhiều sản phẩm gây ra dư thừa
Trang 13và ảnh hưởng từ phía cầu khi nhu cầu mua hàng của người dân tăng cao nhưng lại không có
đủ nguồn lực để đáp ứng Việc đảm bảo chuỗi cung ứng hoạt động hiệu quả sẽ giúp trong
quốc gia giảm thiểu được lạm phát Ngoài ra, cần giám sát được các yếu tố sản xuất như tiền
lương, thuế gián thu và giá nguyên vật liệu Đây thường là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí
sản xuất lên cao, làm lượng hàng hóa mà các doanh nghiệp cung ứng giảm xuống Doanh
nghiệp cần ít công nhân hơn, làm cho thất nghiệp tăng, lượng hàng hóa cung ứng không đủ
cũng là nguyên nhân dẫn đến tình hình lạm phát của quốc gia
6 Học thuyết kinh tế KEYNES:
6.1.Định nghĩa:
Đây là lý thuyết kinh tế do nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes (1883-1946)
và các đồng nghiệp đề xuất Keynes tin rằng chính phủ nên sử dụng sức mạnh tài khóa để hỗ
trợ tăng trưởng và ổn định kinh tế cũng như vượt qua các chu kỳ suy thoái thường gặp ở
hầu hết các nền kinh tế phương Tây Cuối cùng, Keynes lập luận trong tác phẩm Lý thuyết
chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ (1935) rằng các chính phủ trở thành những nhà quản lý
năng động của nền kinh tế, thao túng các chính sách thuế và chi tiêu Theo Keynes, thâm hụt
chi tiêu kích thích tăng trưởng khu vực tư nhân trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng thấp
Những người chỉ trích lý thuyết kinh tế của Keynes, đặc biệt là những người theo chủ nghĩa
tiền tệ, cho rằng sự ổn định kinh tế đạt được tốt nhất bằng cách kiểm soát tăng trưởng tín
dụng và cung tiền Các nhà tiền tệ chỉ trích lý thuyết kinh tế của Keynes vì phụ thuộc quá
nhiều vào chi tiêu của chính phủ và các chính sách tài khóa, mà họ cho rằng đã kích thích
quá mức nền kinh tế, gây ra tỷ lệ lạm phát cao và góp phần vào một phần của chu kỳ bùng
nổ và phá sản kinh tế diễn ra từ giữa những năm 1970
6.2 Tác động:
Tác động tới chính sách tài khóa:
- Theo lý thuyết kích thích tài khóa của Keynes, chi tiêu của chính phủ tăng lên cuối cùng
sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh bổ sung và thậm chí là chi tiêu nhiều hơn Lý thuyết này
cho rằng chi tiêu làm tăng tổng sản lượng và tạo ra nhiều thu nhập hơn Nếu người lao
động sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn thu nhập của họ, kết quả là tăng trưởng tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) thậm chí có thể lớn hơn mức kích thích ban đầu của chính phủ
- Độ lớn của hệ số nhân Keynes liên quan trực tiếp đến xu hướng tiêu dùng cận biên Chi
phí của một người tiêu dùng trở thành thu nhập của người khác Thu nhập của người này
Trang 14sau đó trở thành một khoản chi phí và cứ thế chu kỳ tiếp tục Keynes và những người theo
ông tin rằng các cá nhân nên tiết kiệm ít hơn và chi tiêu nhiều hơn để tăng xu hướng tiêu
dùng cận biên nhằm tạo ra toàn dụng lao động và tăng trưởng kinh tế
Tác động tới chính sách tiền tệ:
- Kinh tế học Keynes tập trung vào các giải pháp từ phía cầu cho các cuộc suy thoái Sự
can thiệp của chính phủ vào phát triển kinh tế là một vũ khí quan trọng của kinh tế học
Keynes trong cuộc chiến chống thất nghiệp, thiếu việc làm và nhu cầu tiêu dùng yếu Việc
nhấn mạnh vào sự can thiệp trực tiếp của chính phủ vào nền kinh tế khiến các nhà kinh tế
học theo trường phái Keynes đối mặt với những lập luận về giới hạn của chính phủ đối với
ảnh hưởng của thị trường Hạ lãi suất là một cách để các chính phủ can thiệp hợp lý vào
các hệ thống kinh tế, từ đó tạo ra nhu cầu kinh tế tích cực
- Các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes cho rằng nền kinh tế không ổn định nhanh
chóng mà cần có sự can thiệp tích cực làm tăng nhu cầu ngắn hạn trong nền kinh tế Họ
cho rằng tiền lương và việc làm đáp ứng chậm hơn với nhu cầu thị trường, đòi hỏi sự can
thiệp của chính phủ để giữ cho chúng đi đúng hướng Giá cả cũng không phản ứng nhanh
chóng, chỉ có sự can thiệp của chính sách tiền tệ sẽ thay đổi dần chúng Chính sự thay đổi
chậm chạp của giá cả cho phép chính sách tiền tệ sử dụng lượng tiền cung ứng như một
công cụ điều chỉnh lãi suất để khuyến khích đi vay và cho vay
- Tăng trưởng nhu cầu trong ngắn hạn bắt đầu bằng việc cắt giảm lãi suất sẽ tái tạo hệ
thống kinh tế và khôi phục việc làm cũng như nhu cầu về dịch vụ Các hoạt động kinh tế
mới sau đó tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng và việc làm Nếu không có sự can thiệp, các
nhà lý thuyết Keynes tin rằng, chu kỳ sẽ bị gián đoạn và tăng trưởng thị trường trở nên dễ
bay hơi hơn và chịu sự biến động quá mức Giữ lãi suất thấp là một nỗ lực để kích thích
chu kỳ kinh doanh bằng cách khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân vay thêm tiền
Khi khuyến khích cho vay, các doanh nghiệp và cá nhân thường tăng chi tiêu Chi tiêu mới
này kích thích nền kinh tế Tuy nhiên, lãi suất thấp hơn không phải lúc nào cũng trực tiếp
dẫn đến cải thiện kinh tế
Giải pháp xử lý lạm phát và hệ quả phát sinh:
- Áp dụng việc sử dụng sức mạnh tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng và ổn định kinh tế cũng
như vượt qua các chu kỳ suy thoái thường gặp Việc chính phủ giảm lãi suất thấp trực tiếp
trong lý thuyết Keynes sẽ kích cầu người tiêu dùng, can thiệp vào hợp lý vào các hệ thống
kinh tế, từ đó tạo ra nhu cầu kinh tế tích cực Việc người lao động sẵn sàng chi tiêu nhiều
Trang 15hơn thu nhập của họ, kết quả là tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thậm chí có thể
lớn hơn mức kích thích ban đầu của chính phủ Bên cạnh đó, việc tăng và giảm thuế cũng
góp phần giúp chính phủ giảm thiểu lạm phát
- Tuy nhiên, việc phụ thuộc quá nhiều vào chi tiêu của chính phủ và các chính sách tài
khóa, có nguy cơ tạo nên sự kích thích quá cho mức nền kinh tế, gây ra tỷ lệ lạm phát cao
và góp phần vào một phần của chu kỳ bùng nổ và phá sản kinh tế nếu như không được điều
chỉnh hợp lí
7 Quantity Theory of Money:
7.1 Định nghĩa:
Lý thuyết số lượng tiền là một giả thuyết cho rằng sự thay đổi về giá cả liên quan đến sự
thay đổi trong việc cung cấp tiền bạc Lý thuyết này cho thấy có một mối quan hệ tỷ lệ thuận
với cơ khí và cố định giữa những thay đổi trong cung tiền và mức giá chung Đây phổ biến,
mặc dù gây nhiều tranh cãi, xây dựng lý thuyết số lượng tiền được dựa trên một phương
trình của chuyên gia kinh tế Mỹ Irving Fisher
Lý thuyết số lượng của tiền được cho là một trong những lý thuyết lâu đời nhất các học
thuyết kinh tế còn sót lại Nói một cách đơn giản, nó khẳng định rằng những thay đổi trong
mức chung của giá cả chung được quyết định chủ yếu bởi những thay đổi của lượng tiền
trong lưu thông Lý thuyết số lượng tiền đã hình thành cốt lõi trung tâm của phân tích tiền tệ
cổ điển thế kỷ 19, cung cấp khuôn khổ khái niệm chủ đạo để diễn giải trong các sự kiện tài
chính đương đại và hình thành nền tảng trí tuệ của các quy định chính sách chính thống
được thiết kế để duy trì bản vị vàng David Hume (1711-1776) đã cung cấp phân tích quy
trình động đầu tiên về tác động của sự thay đổi tiền tệ lan truyền từ khu vực này sang khu
vực khác của nền kinh tế, thay đổi tương đối như thế nào Giá cả và số lượng trong quá trình
này Anh ấy đã cung cấp đáng kể sàng lọc, xây dựng và mở rộng lý thuyết lượng về tiền
David Ricardo (1772-1823), người có ảnh hưởng nhất trong các nhà kinh tế học cổ điển, cho
rằng sự mất cân bằng như vậy có tác động phù du và không quan trọng trong phân tích cân
bằng dài hạn Với tư cách là nhà lãnh đạo của Balloonist, Ricardo cho rằng lạm phát ở Anh
chỉ là kết quả của việc Ngân hàng Trung ương Anh vô trách nhiệm về vấn đề tiền tệ, khi vào
năm 1797, dưới sự căng thẳng của Chiến tranh Napoléon; Nước Anh đã rời bỏ tiêu chuẩn
vàng để trở thành một tiêu chuẩn giấy không thể thay đổi được Ricardo không khuyến
khích các cuộc thảo luận về tác động đầu ra có lợi có thể có và việc làm của việc bơm tiền
Trang 16Irving Fisher (1876-1947) đã viết ra phương trình trao đổi viz nổi tiếng của mình MV = PT.
Phương trình này và các phương trình khác, chẳng hạn như phương trình cân bằng tiền mặt
của Cambridge, tương ứng với việc sử dụng toán học trong phân tích kinh tế địa lý mới nổi,
xác định chính xác các điều kiện mà định đề tỷ lệ có hiệu lực Fisher và các nhà kinh tế học
tân cổ điển khác, chẳng hạn như Arthur Cecil Pigou (1877-1959) ở Cambridge, đã chứng
minh rằng việc kiểm soát tiền tệ có thể đạt được trong một chế độ ngân hàng dự trữ phân
đoạn thông qua việc kiểm soát một kho dự trữ tiền quyền lực cao được xác định ngoại sinh
7.2 Giải pháp và hệ quả:
- Theo lý thuyết số lượng tiền tệ, khi nhà nước giảm lượng cung tiền vào trong lưu thông
tiền tệ quốc gia Trong ngắn hạn, điều này sẽ làm giảm lượng tiền trong thị trường từ đó
giảm cầu tiêu dùng và điều chỉnh được lạm phát của quốc gia Việc tăng giá cả trong khi
giá cả ở nước nhập khẩu giảm, nên dòng tiền sẽ di chuyển từ nước có giá cả cao sang nước
có giá cả thấp Quá trình này tiếp tục cho đến khi có sự cân bằng giữa khối lượng tiền thực
tế và khối lượng tiền tự nhiên
- Bên cạnh đó, nhu cầu gia tăng và cùng với nó sự gia tăng giá cả lương thực thực phẩm
Sự gia tăng giá cả lương thực, cùng với sự giá tăng giá cả hàng tiêu dùng làm sụt giảm tiền
lương thực tế, điều này khuyến khích các công ty thu nhận thêm nhân công Về sau, sự gia
tăng nhu cầu lao động đẩy tiền lương tăng lên và tiền lương tiếp tục tăng cho đến khi
ngang bằng với sự gia tăng giá cả và tiền tệ Từ đó giải quyết triệt để được vấn đề trong
ngắn hạn của lạm phát
Phần II: Câu hỏi thảo luận
Câu 1: Theo bạn, chuyên gia nào có đề xuất phù hợp với bối cảnh Việt Nam hơn
Dựa trên bối cảnh Việt Nam, chúng em nhận thấy đề xuất của chuyên gia D là phù hợp trong
giai đoạn từ cuối năm 2021, đầu năm 2022 Qua dữ liệu thu thập được, nguyên nhân lạm
phát của thời điểm này đến từ cả phía cung và phía cầu (trùng khớp với nhận định của
chuyên gia D) Cụ thể như sau:
Chuyên gia A: Lập luận rằng lạm phát chỉ mới là cảnh báo và chủ yếu từ phía cung
Thứ nhất, về sức cầu của năm nay (2022) chưa được cải thiện nhiều Tổng mức bán lẻ hàng
hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội 8 tháng đầu năm chỉ tăng 15,1% so với cùng kỳ năm ngoái,
nhưng doanh thu dịch vụ du lịch ăn uống tăng 48,1% so với cùng kỳ 2021 - đóng góp chủ
yếu Nguyên nhân là do tính bảo thủ về giá của một số tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh
Trang 17Với tình hình vừa sau đại dịch (2021), cầu về các mặt hàng hoá khác ngoài lương thực thực,
thực phẩm vẫn trong tình trạng rất thấp, có mặt hàng được xem là không có Điều đó tạo sự
cân bằng về cung nên được một số chuyên gia nhận định là không gây sức ép lên giá trị lạm
phát Tuy nhiên, trong tình hình sau đại dịch xu hướng giao hàng tận nơi với chi phí giao
hàng trung bình từ 60-70 nghìn đồng lại là vấn đề gia tăng chi phí có ảnh hưởng nhất định
đến lạm phát
Thứ hai, tình hình giá dầu tăng mạnh do thiếu hụt nguồn cung nhập khẩu gây nên tình trạng
tỷ lệ lạm phát tăng cao vào những tháng giữa năm (cao nhất đạt 3,36% tháng 6 năm 2022)
Gây nên những biến động tăng giá của các mặt hàng như gas, nguyên vật liệu sản xuất Mặc
dù giá xăng dầu tăng cao và giá nguyên vật liệu dùng cho sản xuất tăng, do sức mua của
người tiêu dùng yếu nên cộng đồng doanh nghiệp chấp nhận giảm bớt lợi nhuận để không
tăng giá bán sản phẩm cũng là yếu tố góp phần kiểm soát lạm phát 4 tháng đầu năm 2022
Giá nhập khẩu tăng cao đến 126,7 điểm cũng là nguyên nhân gây lạm phát Các sản phẩm
hàng hoá sản xuất bằng nguyên vật liệu nhập khẩu hay các chủ thể kinh doanh ăn lợi nhuận
giá chênh lệch sẽ đẩy giá các mặt hàng này lên cao gây lạm phát
Thứ ba, các chi phí phát sinh trong và sau đại dịch đè nặng lên nhà sản xuất (xét nghiệm,
giao thông vận tải, nguyên vật liệu, chuỗi cung ứng) Bắt buộc họ phải tăng giá cả sản phẩm
làm ra để có thể duy trì lợi nhuận, hoạt động sản xuất
Trang 18Kết luận: Các lập luận của chuyên gia A xoay quanh lý thuyết cấu trúc về lạm phát và có các
luận điểm xác đáng về lạm phát từ phía cung Tuy nhiên, điều này là chưa đủ và chưa giải
thích toàn diện lạm phát của Việt Nam
Chuyên gia B: Lạm phát nhập khẩu và lạm phát tiền tệ do nới lỏng tài khóa và tiền tệ
- Theo lý thuyết lượng tiền tệ:
+ Từ biểu đồ được thu thập ta có thể thấy được, lượng cung tiền của Việt Nam tăng đều từ
tháng 1 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020 và cũng tương tự trong năm 2021 Lí do ở đây là
việc chính phủ đẩy mạnh cung tiền để giảm thiểu tác động của Covid-19 đến với người
dân Điều này cũng vô tình dẫn đến lạm phát ở Việt Nam
+ Việc tăng cung tiền kéo dài làm dịch chuyển đường tổng cầu AD sang phải (từ AD1 đến
AD3, AD3 và AD4 trong khi đường tổng cung AS dịch chuyển từ AS1 đến AS2, AS3 và
AS4 Kết quả là mức giá tăng dần từ P1 đến P2, P3 và P4 Như vậy, lạm phát xảy ra khi
cung tiền tệ tăng lên liên tục theo thời gian
Trang 19- Theo học thuyết của Keynes về tác động của chính sách tài khóa đến lạm phát:
+ Tại thời điểm ban đầu, khi nền kinh tế đang ở tại điểm cân bằng E1 (là giao điểm của
đường tổng cầu AD1 và tổng cung AS1) tại đó tổng sản phẩm ở mức tỷ lệ tự nhiên Yn và
mức giá P1 Với việc Chính phủ tăng chi tiêu liên tục sẽ làm đường tổng cầu dịch chuyển
từ AD1 đến AD2 và nền kinh tế dịch chuyển đến điểm cân bằng E1’ – tại đó tổng sản
phẩm trên mức tự nhiên Y’ Khi đó, đường tổng cung sẽ dịch chuyển từ AS1 đến AS2, tại
đó, điểm cân bằng tại E2, ở đó, tổng sản phẩm lại quay về mức tự nhiên Yn nhưng giá cả
đã tăng đến P2 Nhưng với việc chi tiêu của Chính phủ gia tăng liên tục cũng khiến cung
tiền liên tục gia tăng và lạm phát sẽ xuất hiện (có thể là lạm phát do cầu kéo hoặc phí đẩy)
Chính vì vậy, theo quan điểm của Keynes thì lạm phát xuất hiện khi chi tiêu của Chính phủ
gia tăng liên tục nhằm mở rộng việc làm và thu nhập của dân chúng, kích thích tăng trưởng
kinh tế