1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan lý thuyết về lạm phát khái niệm lạm phát

38 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Lý Thuyết Về Lạm Phát Khái Niệm Lạm Phát
Tác giả Hoàng Quang Sáng, Nguyễn Thị Thanh Trúc, Trần Đào Lan Anh, Cao Vũ Hạnh Nguyên, Lê Hoàng Minh Tâm, Trần Hữu Trung Tín
Người hướng dẫn Châu Văn Thành
Trường học Đại học UEH
Chuyên ngành Kinh Tế Vĩ Mô Trung Cấp
Thể loại Bài Thi Giữa Kì
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi nền kinh tế bị rơi vào tình trạng suy thoái hay khủng hoảng, nếu tốc độ tăng trưởng của tổng cung quá chậm so với tổng cầu, gây ra mất cân đối mạnh trong cung-cầu trung và dài hạn sẽ

Trang 1

BÀI THI GIỮA KÌ

DỰ ÁN NHÓM KHÔNG THUYẾT TRÌNH Môn học: Kinh Tế Vĩ Mô Trung Cấp

Giảng viên: Châu Văn Thành

Mã lớp học phần: 22C1ECO50110101Khóa – Lớp: K46 – AE001

Trang 2

năm sinh tham gia và mục chính đã tham gia (viết

- Vẽ biểu đồ, tìm data

- Chính sách giải quyết lạmphát khi có đại dịch COVID-19

- Phân tích chuyên gia E

- Tổng hợp giải pháp từ các lýthuyết và chuyên gia

theory"

- Phân tích chuyên gia D

- Chính sách giải quyết lạmphát của Trung Quốc

"The Keynesian theory"

- Phân tích chuyên gia B

Trang 3

- Chính sách giải quyết lạmphát khi có biến đổi khí hậu

Trang 4

7 Quantity Theory of Money: 14

Câu 1: Theo bạn, chuyên gia nào có đề xuất phù hợp với bối cảnh Việt Nam hơn 15 Chuyên gia A: Lập luận rằng lạm phát chỉ mới là cảnh báo và chủ yếu từ phía cung 15 Chuyên gia B: Lạm phát nhập khẩu và lạm phát tiền tệ do nới lỏng tài khóa và tiền tệ 17 Chuyên gia C: Tin vào lạm phát xuất phát từ yếu tố chi phí đẩy nhiều hơn 19 Chuyên gia D: Vị chuyên gia D cho rằng lạm phát đến từ cả phía cung và cầu, bên cạnh những nhân tố từ phía cung được phân tích từ ông chuyên gia A, B, C thì vị chuyên gia D còn cho rằng nhân tố từ phía cầu từ gói kích thích hồi phục kinh tế nhiều tham vọng của

Câu 2: Bạn ủng hộ ý kiến của chuyên gia nào? Giải thích rõ vì sao.

26 Câu 3: Giả sử bạn được yêu cầu nêu giải pháp góp phần giải quyết áp lực lạm phát ở Việt Nam,

3.1 Giải pháp của chiến tranh Nga và Ukraine cho vấn đề lạm phát Việt Nam: 28 3.2 Chính sách cho Việt Nam để có thể kiểm soát lạm phát khi có Covid cũng như phục

3.3 Kiểm soát lạm phát: Tham khảo trường hợp từ Trung Quốc: 31

Trang 5

Phần I: Tổng quan lý thuyết về lạm phát

1 Khái niệm lạm phát:

“Lạm phát là sự gia tăng bền bỉ và kéo dài của mức giá chung, hay được hiểu là sự tăng lên

của mức giá chung theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Mức giá

chung tăng lên sẽ làm cho sức mua của đồng tiền bị giảm, kéo theo đó là một số tiền, số

lượng hàng hóa, dịch vụ sẽ được mua ít hơn so với trước đó Lạm phát cũng là sự mất giá

đồng tiền của 1 quốc gia này so với quốc gia khác Có thể hiểu lạm phát theo 2 nghĩa: Một

là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của 1 quốc gia Hai là lạm phát của

1 loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu.”

2 Nguyên nhân lạm phát:

2.1 Lạm phát do cầu kéo:

Theo kinh tế học Keynes, khi tổng cầu mà cao hơn so với tổng cung thì sẽ gây ra lạm phát

Điều này thì được giải thích thông qua sơ đồ AD-AS Đường tổng cầu AD dịch chuyển sang

phải trong khi đường tổng cung AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng

tăng, do đó gây nên lạm phát

Tổng cầu: AD = C + I + G + X – IM tăng có thể do các yếu tố của tổng cầu tăng

+ Tăng tiêu dùng hộ gia đình (C): Thu nhập khả dụng của hộ gia đình tăng có thể là do

Chính sách của Chính phủ như: giảm thuế, tăng các khoản chi về chuyển nhượng của

Trang 6

Chính phủ đối với hộ gia đình và các khoản thu nhập khác mà họ nhận được dùng chi tiêu

cho tiêu dùng Các khoản thu nhập tăng dẫn đến tiêu dùng tăng

+ Đầu tư của tư nhân tăng (I) gồm các khoản: Đầu tư cố định vào sản xuất kinh doanh,

đầu tư vào nhà ở và đầu tư cho hàng tồn kho Đầu tư của tư nhân tăng có thể do các khoản

đầu tư được tăng lên

+ Chi tiêu của Chính phủ (G) tăng bao gồm: Chi cho đầu tư phát triển, khoản chi thường

xuyên và chi chuyển nhượng Chi tiêu của Chính phủ tăng làm tổng cầu tăng và gây ra lạm

phát

+ Xuất khẩu ròng ( X – IM) thay đổi: Nhập khẩu tỉ lệ thuận với sản lượng và thu nhập của

cả nền kinh tế, với giá tương đối giữa các hàng hóa trong nước và hàng hóa nhập khẩu; tỷ

lệ nghịch với tỷ giá ngoại tệ

Ngược lại, xuất khẩu không bị ảnh hưởng bởi thu nhập và sản lượng của nền kinh tế Mà tỉ

lệ thuận với tỷ giá ngoại tệ, với sản lượng và thu nhập nước ngoài và giá tương đối giữa

hàng hóa trong nước của mặt hàng xuất khẩu với giá hàng hóa đó trên thị trường thế giới

Từ những điều trên ta thấy, xuất khẩu ròng bị ảnh hưởng tổng hợp bởi các yếu tố chi phối

việc xuất, nhập khẩu Khi giá trị của xuất khẩu lớn hơn so với nhập khẩu tức là xuất khẩu

ròng dương và tăng sẽ làm cho tổng cầu tăng

2.2 Lạm phát do chi phí đẩy:

Những điều chỉnh, thay đổi không có lợi cho sản xuất như: giá nhiên liệu, giá than, giá điện

tăng mạnh làm cho các yếu tố đầu vào của sản xuất tăng làm cho chi phí sản xuất tăng Các

doanh nghiệp sẽ buộc phải tăng giá làm cho cung tiền thực tế và tổng cầu giảm

Ngoài ra, thiên tai và dịch bệnh cũng có thể làm cho tổng cung ngắn hạn giảm, đẩy giá lên

cao

Trang 7

2.3 Lạm phát do cơ cấu:

Cơ cấu kinh tế là do sự phân bổ nguồn lực để phát triển về kinh tế Tổng cung của nền kinh

tế chịu ảnh hưởng của cơ cấu kinh tế Do đó, có thể ảnh hưởng đến cung, cầu của thị trường

Sự thay đổi này làm cho mức giá chung thay đổi và ảnh hưởng đến lạm phát

Lạm phát do cơ cấu là do cân đối trong quan hệ cung, cầu bị mất đi trong trung và dài hạn

Mất cân đối trong cán cân thu-chi ngân sách cũng như cán cân thương mại

Khi nền kinh tế bị rơi vào tình trạng suy thoái hay khủng hoảng, nếu tốc độ tăng trưởng của

tổng cung quá chậm so với tổng cầu, gây ra mất cân đối mạnh trong cung-cầu trung và dài

hạn sẽ gây ra lạm phát tăng cao Nguyên nhân chủ yếu do năng lực sản xuất của nền kinh tế

tăng chậm so với mức tăng của đầu tư Tổng cung trong trung-dài hạn tăng chậm do hiệu

quả của việc đầu tư thấp, trình độ khoa học – công nghệ, chất lượng của nguồn nhân lực, kết

cấu của hạn tầng thấp và đang cải thiện chậm Đặc biệt là do sự bất hợp lý trong cơ cấu kinh

tế ở các nước đang phát triển làm cho năng lực sản xuất của nền kinh tế đó yếu kém

Bội chi ngân sách cao làm gia tăng tổng phương tiện thanh toán, tổng đầu tư cho xã hội

Mức chi ngân sách cao là do hiệu quản đầu tư ngân sách nhà nước thấp, do đó làm ảnh

hưởng đến cân đối tổng cung-cầu trong trung và dài hạn

Khi thâm hụt ngân sách kèm với thâm hụt trong cán cân thương mại lớn, gây ra đồng tiền

nội tệ bị mất giá so với ngoại tệ, làm lạm phát gia tăng

Trang 8

2.4 Lạm phát do nhập khẩu:

Khi các hàng hóa nhập khẩu tăng giá thì giá bán hàng hóa đó ở trong nước cũng tăng lên

Điều này làm cho mức giá chung tăng lên dẫn đến lạm phát

2.5 Lạm phát do xuất khẩu:

Tổng cầu của hàng hóa cao hơn so với tổng cung khi xuất khẩu tăng Trong khi đó, hàng hóa

phục vụ cho xuất khẩu dẫn đến lượng hàng trong nước giảm xuống làm cho tổng cung chênh

lệch thấp hơn tổng cầu, gây ra lạm phát

2.6 Lạm phát tiền tệ:

Khi lượng cung tiền lưu thông tăng, làm cho lượng tiền trong nền kinh tế nhiều thì tiêu dùng

cùng với đó sẽ tăng lên làm cho giá trong thị trường tăng, dẫn đến lạm phát

Cung tiền tăng khi NHTW thực thi chính sách tiền tệ mở rộng Khi in thêm tiền để hỗ trợ

thâm hụt ngân sách làm cung tiền tăng liên tục

Việc giữ tỷ giá luôn cố định cũng có có thể làm tăng cung tiền Khi mà tỷ giá ngoại tệ giảm,

NHTW bơm nội tệ nhằm mua ngoại tệ để nâng giá của ngoại tệ, làm mức tiền của nền kinh

tế tăng

Lạm phát chịu ảnh hưởng rất lớn của chính sách tiền tệ Do đó, năng lực của các nhà hoạch

định định chính sách cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát Các quyết định sai hay tình trạng

chậm trễ trong quá trình đưa ra quyết định, việc không nhanh nhạy với những biến đổi cũng

là một nguyên nhân gây ra lạm phát Độ trễ trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa

dẫn đến việc thực thi các chính sách, kiểm soát lạm phát và quản lý kinh tế vĩ mô, ổn định

tăng trưởng kém hiệu quả

3 Sơ lược về mô hình AS-AD:

Mô hình AS-AD là lý thuyết nền tảng trong kinh tế học vĩ mô và cũng là công cụ quan trọng

đối với các nhà làm chính sách Mô hình này được dùng để giải thích sự biến động trong

ngắn hạn của nền kinh tế và sự dịch chuyển từ ngắn hạn sang dài hạn của nền kinh tế này

Qua đó, giải thích và trực quan hóa các nguyên nhân thay đổi của các biến số vĩ mô quan

trọng bao gồm mức giá (lạm phát), GDP (tăng trưởng ngắn hạn) và việc làm (tỉ lệ thất

nghiệp) Giao điểm của ba đường AD (tổng cầu), LRAS (tổng cung dài hạn) và SRAS (tổng

cung ngắn hạn) chính là điểm cân bằng của nền kinh tế

Trang 9

Mức sản lượng đạt mức tiềm năng (Y = Ȳ = Yp) – tương đương tốc độ tăng trưởng năm đó

đạt mức tăng trưởng trung bình thông thường của giai đoạn xem xét; mức giá tại E tương

ứng mức giá cân bằng hay mức giá đúng như kỳ vọng của người dân (PE = Pe) – tương ứng

với tỷ lệ lạm phát ổn định và có thể kiểm soát được; và cũng theo lý thuyết, tỷ lệ thất nghiệp

ứng với mức sản lượng tiềm năng tại E chính là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Đường tổng cầu

AD dịch chuyển sang phải/trái có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau như: thay

đổi chính sách tài khóa và/hay chính sách tiền tệ, thay đổi của các thành phần tổng cầu, và

các cú sốc phía cầu

Các cú sốc cung sẽ làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn SRAS Sự dịch chuyển

đường tổng cung dài hạn LRAS được quyết định bởi các nhân tố vốn (K), lao động (L) và

công nghệ (T) trong dài hạn, từ đây sẽ kéo theo thay đổi mức sản lượng tiềm năng Yp và

đường SRAS dịch chuyển kéo theo Cú sốc cung thường phức tạp và khó giải quyết hơn so

với cú sốc cầu

Trang 10

4 Lý thuyết chi phí đẩy:

4.1 Khái niệm:

Sự gia tăng tiền lương nhanh hơn năng suất lao động Liên đoàn lao động ép người sử dụng

lao động tăng lương đáng kể, do đó làm tăng chi phí sản xuất của hàng hóa Đến lượt người

sử dụng lao động, tăng giá của họ Mỹ phẩm Mức lương cao hơn cho phép người lao động

mua càng nhiều trước đó, mặc dù giá cao hơn Mặt khác, tăng giá khiến các công đoàn đòi

hỏi vẫn cao hơn tiền công Bằng cách này, các nước xoắn ốc chi phí tiền lương, do đó, dẫn

đến chi phí đẩy hoặc lạm phát do tiền lương đẩy Lạm phát do chi phí đẩy có thể còn trầm

trọng hơn khi đi lên điều chỉnh tiền lương để bù đắp cho việc tăng giá sinh hoạt Một số lĩnh

vực của nền kinh tế có thể bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng tiền lương và giá cả sản phẩm của

họ có thể tăng lên Trong nhiều trường hợp, sản phẩm của họ được sử dụng làm đầu vào cho

sản xuất các mặt hàng trong các lĩnh vực khác Do đó, chi phí sản xuất của các lĩnh vực khác

sẽ tăng và do đó thúc đẩy giá của các sản phẩm của họ Do đó, lạm phát đẩy tiền lương trong

một một số lĩnh vực của nền kinh tế có thể sớm dẫn đến lạm phát tăng giá trong toàn bộ nền

kinh tế Hơn nữa, sự gia tăng trong giá nguyên liệu thô nhập khẩu có thể dẫn đến chi phí đẩy

lên lạm phát Một nguyên nhân khác của lạm phát do chi phí đẩy là do lợi nhuận đẩy lạm

phát Các công ty theo chủ nghĩa độc tài và độc quyền tăng giá của sản phẩm của họ để bù

đắp sự gia tăng lao động và chi phí sản xuất để thu lợi nhuận cao hơn Có không hoàn hảo

cạnh tranh trong trường hợp của các công ty như vậy, họ có thể giá quản lý của sản phẩm

của họ Do đó, lạm phát do lợi nhuận đẩy được gọi là lạm phát theo giá được quản lý hoặc

giá đẩy lạm phát

4.2 Giải pháp và hệ quả đi kèm:

Các chính sách để giảm lạm phát do chi phí đẩy có thể bao gồm chính sách tiền tệ, tài khóa

và cả chính sách phụ cung Chính phủ có thể theo đuổi chính sách tài khóa giảm phát (thuế

cao hơn, chi tiêu thấp hơn) hoặc các cơ quan quản lý tiền tệ có thể tăng lãi suất Điều này sẽ

làm tăng chi phí đi vay và giảm chi tiêu và đầu tư của người tiêu dùng

Vấn đề với việc sử dụng lãi suất cao hơn là mặc dù nó sẽ làm giảm lạm phát, nhưng nó có

thể dẫn đến sự sụt giảm lớn trong GDP

Trang 11

5 Lý thuyết về lạm phát cấu trúc:

Khoảng 40 năm trước, khái niệm lạm phát cơ cấu đã được đưa vào thảo luận và nghiên cứu

kinh tế Nó liên quan đến ảnh hưởng của các yếu tố cơ cấu đến lạm phát Phân tích cấu trúc

cố gắng nhận ra cách thức các hiện tượng kinh tế và tìm ra gốc rễ của căn bệnh vĩnh viễn và

sự tàn phá như lạm phát, đánh giá mối quan hệ hợp pháp giữa các hiện tượng

5.1 Khái niệm:

5.1.1 Tổng quan về lý thuyết lạm phát cấu trúc:

Lạm phát cơ cấu là lạm phát do những thay đổi trong cơ cấu của cung và cầu Dưới tác động

của sự thay đổi cơ cấu cung và cầu, một số ngành sẽ tăng nhu cầu về sản phẩm của mình,

trong khi ở các ngành khác, nhu cầu này sẽ giảm xuống Và giá cả và tiền lương ở các ngành

giảm sản xuất sẽ không linh hoạt theo hướng giảm này, trong khi giá và tiền lương ở các

ngành tăng sản xuất sẽ tăng lên, thì mức chung của cả giá cả và tiền lương trong nền kinh tế

sẽ tăng lên Hiện tượng được thảo luận sẽ trở nên mạnh mẽ hơn khi nguồn cung không linh

hoạt và không thể thích ứng ngay với những thay đổi đang diễn ra

5.1.2 Lý do :

Lạm phát cơ cấu là lạm phát phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển Tình trạng này là

do sự vận hành của yếu kém cơ cấu (nút thắt về nguồn cung, thiếu cơ sở hạ tầng, v.v.) tồn tại

trong một nền kinh tế đang phát triển Việc thiếu đáp ứng để cung cấp đầy đủ hoặc sản xuất

để tăng nhu cầu là nguyên nhân của lạm phát cơ cấu Việc tăng cung tiền và chi tiêu của

chính phủ chỉ có thể giải thích một phần kịch bản lạm phát Kết quả của những điểm yếu

kém này, một số lĩnh vực của nền kinh tế như nông nghiệp sẽ chứng kiến tình trạng thiếu

cung, trong khi một số lĩnh vực như hàng tiêu dùng sẽ chứng kiến nhu cầu quá mức Các

nền kinh tế như vậy phải đối mặt với vấn đề vừa thiếu cung, vừa sử dụng tài nguyên cũng

như cầu quá mức trong một số lĩnh vực

Do đó, lạm phát cơ cấu phát sinh khi người sản xuất không thể điều chỉnh cơ cấu sản xuất

của mình một cách hiệu quả trước những thay đổi của cơ cấu nền kinh tế Những thay đổi

này có thể liên quan đến:

Trang 12

- Cạnh tranh mà các nhà sản xuất chống lại

5.1.3 Điểm nghẽn trong lạm phát cấu trúc:

Lạm phát được thảo luận cũng có thể xuất hiện khi cấu trúc chung của những gì người tiêu

dùng, công ty hoặc thậm chí chính phủ đang yêu cầu sẽ thay đổi đột ngột và các nhà sản

xuất sẽ không thể dễ dàng thay đổi cấu trúc tham gia nguồn lực, và do đó cấu trúc của chính

sản xuất Ngoài ra, nó cũng có thể được kích hoạt bằng cách thực hiện đổi mới đáng kể

Những thay đổi trong cơ cấu nền kinh tế gây ra sự xuất hiện của những khuyết điểm của

chiến lược và sẽ có sự xuất hiện của cái gọi là điểm nghẽn trong các kênh cung ứng Nếu

nguồn cung đối với bất kỳ hàng hóa nào đột ngột tăng lên và đó sẽ là một điểm nghẽn, giá

của nó cũng sẽ cao hơn, và sự gia tăng này sẽ được chuyển sang giá của nhiều sản phẩm mà

nó cần Các điểm nghẽn chính của các kênh cung ứng, các nền kinh tế đang phát triển thúc

đẩy hình thức lạm phát cấu trúc là:

5.2 Giải pháp cơ bản và hệ quả:

Và hiện tại chưa có gì được thực hiện để giải quyết các vấn đề cơ bản của lạm phát cơ cấu

đang gây ra rất nhiều rắc rối hiện nay của chúng ta

Chính phủ cần có chủ động trong việc điều tiết dòng vốn giữa cung và cầu Tránh những ảnh

hưởng do sự chênh lệch từ phía nguồn cung khi cung cấp quá nhiều sản phẩm gây ra dư thừa

Trang 13

và ảnh hưởng từ phía cầu khi nhu cầu mua hàng của người dân tăng cao nhưng lại không có

đủ nguồn lực để đáp ứng Việc đảm bảo chuỗi cung ứng hoạt động hiệu quả sẽ giúp trong

quốc gia giảm thiểu được lạm phát Ngoài ra, cần giám sát được các yếu tố sản xuất như tiền

lương, thuế gián thu và giá nguyên vật liệu Đây thường là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí

sản xuất lên cao, làm lượng hàng hóa mà các doanh nghiệp cung ứng giảm xuống Doanh

nghiệp cần ít công nhân hơn, làm cho thất nghiệp tăng, lượng hàng hóa cung ứng không đủ

cũng là nguyên nhân dẫn đến tình hình lạm phát của quốc gia

6 Học thuyết kinh tế KEYNES:

6.1.Định nghĩa:

Đây là lý thuyết kinh tế do nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes (1883-1946)

và các đồng nghiệp đề xuất Keynes tin rằng chính phủ nên sử dụng sức mạnh tài khóa để hỗ

trợ tăng trưởng và ổn định kinh tế cũng như vượt qua các chu kỳ suy thoái thường gặp ở

hầu hết các nền kinh tế phương Tây Cuối cùng, Keynes lập luận trong tác phẩm Lý thuyết

chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ (1935) rằng các chính phủ trở thành những nhà quản lý

năng động của nền kinh tế, thao túng các chính sách thuế và chi tiêu Theo Keynes, thâm hụt

chi tiêu kích thích tăng trưởng khu vực tư nhân trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng thấp

Những người chỉ trích lý thuyết kinh tế của Keynes, đặc biệt là những người theo chủ nghĩa

tiền tệ, cho rằng sự ổn định kinh tế đạt được tốt nhất bằng cách kiểm soát tăng trưởng tín

dụng và cung tiền Các nhà tiền tệ chỉ trích lý thuyết kinh tế của Keynes vì phụ thuộc quá

nhiều vào chi tiêu của chính phủ và các chính sách tài khóa, mà họ cho rằng đã kích thích

quá mức nền kinh tế, gây ra tỷ lệ lạm phát cao và góp phần vào một phần của chu kỳ bùng

nổ và phá sản kinh tế diễn ra từ giữa những năm 1970

6.2 Tác động:

Tác động tới chính sách tài khóa:

- Theo lý thuyết kích thích tài khóa của Keynes, chi tiêu của chính phủ tăng lên cuối cùng

sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh bổ sung và thậm chí là chi tiêu nhiều hơn Lý thuyết này

cho rằng chi tiêu làm tăng tổng sản lượng và tạo ra nhiều thu nhập hơn Nếu người lao

động sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn thu nhập của họ, kết quả là tăng trưởng tổng sản phẩm

quốc nội (GDP) thậm chí có thể lớn hơn mức kích thích ban đầu của chính phủ

- Độ lớn của hệ số nhân Keynes liên quan trực tiếp đến xu hướng tiêu dùng cận biên Chi

phí của một người tiêu dùng trở thành thu nhập của người khác Thu nhập của người này

Trang 14

sau đó trở thành một khoản chi phí và cứ thế chu kỳ tiếp tục Keynes và những người theo

ông tin rằng các cá nhân nên tiết kiệm ít hơn và chi tiêu nhiều hơn để tăng xu hướng tiêu

dùng cận biên nhằm tạo ra toàn dụng lao động và tăng trưởng kinh tế

Tác động tới chính sách tiền tệ:

- Kinh tế học Keynes tập trung vào các giải pháp từ phía cầu cho các cuộc suy thoái Sự

can thiệp của chính phủ vào phát triển kinh tế là một vũ khí quan trọng của kinh tế học

Keynes trong cuộc chiến chống thất nghiệp, thiếu việc làm và nhu cầu tiêu dùng yếu Việc

nhấn mạnh vào sự can thiệp trực tiếp của chính phủ vào nền kinh tế khiến các nhà kinh tế

học theo trường phái Keynes đối mặt với những lập luận về giới hạn của chính phủ đối với

ảnh hưởng của thị trường Hạ lãi suất là một cách để các chính phủ can thiệp hợp lý vào

các hệ thống kinh tế, từ đó tạo ra nhu cầu kinh tế tích cực

- Các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes cho rằng nền kinh tế không ổn định nhanh

chóng mà cần có sự can thiệp tích cực làm tăng nhu cầu ngắn hạn trong nền kinh tế Họ

cho rằng tiền lương và việc làm đáp ứng chậm hơn với nhu cầu thị trường, đòi hỏi sự can

thiệp của chính phủ để giữ cho chúng đi đúng hướng Giá cả cũng không phản ứng nhanh

chóng, chỉ có sự can thiệp của chính sách tiền tệ sẽ thay đổi dần chúng Chính sự thay đổi

chậm chạp của giá cả cho phép chính sách tiền tệ sử dụng lượng tiền cung ứng như một

công cụ điều chỉnh lãi suất để khuyến khích đi vay và cho vay

- Tăng trưởng nhu cầu trong ngắn hạn bắt đầu bằng việc cắt giảm lãi suất sẽ tái tạo hệ

thống kinh tế và khôi phục việc làm cũng như nhu cầu về dịch vụ Các hoạt động kinh tế

mới sau đó tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng và việc làm Nếu không có sự can thiệp, các

nhà lý thuyết Keynes tin rằng, chu kỳ sẽ bị gián đoạn và tăng trưởng thị trường trở nên dễ

bay hơi hơn và chịu sự biến động quá mức Giữ lãi suất thấp là một nỗ lực để kích thích

chu kỳ kinh doanh bằng cách khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân vay thêm tiền

Khi khuyến khích cho vay, các doanh nghiệp và cá nhân thường tăng chi tiêu Chi tiêu mới

này kích thích nền kinh tế Tuy nhiên, lãi suất thấp hơn không phải lúc nào cũng trực tiếp

dẫn đến cải thiện kinh tế

Giải pháp xử lý lạm phát và hệ quả phát sinh:

- Áp dụng việc sử dụng sức mạnh tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng và ổn định kinh tế cũng

như vượt qua các chu kỳ suy thoái thường gặp Việc chính phủ giảm lãi suất thấp trực tiếp

trong lý thuyết Keynes sẽ kích cầu người tiêu dùng, can thiệp vào hợp lý vào các hệ thống

kinh tế, từ đó tạo ra nhu cầu kinh tế tích cực Việc người lao động sẵn sàng chi tiêu nhiều

Trang 15

hơn thu nhập của họ, kết quả là tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thậm chí có thể

lớn hơn mức kích thích ban đầu của chính phủ Bên cạnh đó, việc tăng và giảm thuế cũng

góp phần giúp chính phủ giảm thiểu lạm phát

- Tuy nhiên, việc phụ thuộc quá nhiều vào chi tiêu của chính phủ và các chính sách tài

khóa, có nguy cơ tạo nên sự kích thích quá cho mức nền kinh tế, gây ra tỷ lệ lạm phát cao

và góp phần vào một phần của chu kỳ bùng nổ và phá sản kinh tế nếu như không được điều

chỉnh hợp lí

7 Quantity Theory of Money:

7.1 Định nghĩa:

Lý thuyết số lượng tiền là một giả thuyết cho rằng sự thay đổi về giá cả liên quan đến sự

thay đổi trong việc cung cấp tiền bạc Lý thuyết này cho thấy có một mối quan hệ tỷ lệ thuận

với cơ khí và cố định giữa những thay đổi trong cung tiền và mức giá chung Đây phổ biến,

mặc dù gây nhiều tranh cãi, xây dựng lý thuyết số lượng tiền được dựa trên một phương

trình của chuyên gia kinh tế Mỹ Irving Fisher

Lý thuyết số lượng của tiền được cho là một trong những lý thuyết lâu đời nhất các học

thuyết kinh tế còn sót lại Nói một cách đơn giản, nó khẳng định rằng những thay đổi trong

mức chung của giá cả chung được quyết định chủ yếu bởi những thay đổi của lượng tiền

trong lưu thông Lý thuyết số lượng tiền đã hình thành cốt lõi trung tâm của phân tích tiền tệ

cổ điển thế kỷ 19, cung cấp khuôn khổ khái niệm chủ đạo để diễn giải trong các sự kiện tài

chính đương đại và hình thành nền tảng trí tuệ của các quy định chính sách chính thống

được thiết kế để duy trì bản vị vàng David Hume (1711-1776) đã cung cấp phân tích quy

trình động đầu tiên về tác động của sự thay đổi tiền tệ lan truyền từ khu vực này sang khu

vực khác của nền kinh tế, thay đổi tương đối như thế nào Giá cả và số lượng trong quá trình

này Anh ấy đã cung cấp đáng kể sàng lọc, xây dựng và mở rộng lý thuyết lượng về tiền

David Ricardo (1772-1823), người có ảnh hưởng nhất trong các nhà kinh tế học cổ điển, cho

rằng sự mất cân bằng như vậy có tác động phù du và không quan trọng trong phân tích cân

bằng dài hạn Với tư cách là nhà lãnh đạo của Balloonist, Ricardo cho rằng lạm phát ở Anh

chỉ là kết quả của việc Ngân hàng Trung ương Anh vô trách nhiệm về vấn đề tiền tệ, khi vào

năm 1797, dưới sự căng thẳng của Chiến tranh Napoléon; Nước Anh đã rời bỏ tiêu chuẩn

vàng để trở thành một tiêu chuẩn giấy không thể thay đổi được Ricardo không khuyến

khích các cuộc thảo luận về tác động đầu ra có lợi có thể có và việc làm của việc bơm tiền

Trang 16

Irving Fisher (1876-1947) đã viết ra phương trình trao đổi viz nổi tiếng của mình MV = PT.

Phương trình này và các phương trình khác, chẳng hạn như phương trình cân bằng tiền mặt

của Cambridge, tương ứng với việc sử dụng toán học trong phân tích kinh tế địa lý mới nổi,

xác định chính xác các điều kiện mà định đề tỷ lệ có hiệu lực Fisher và các nhà kinh tế học

tân cổ điển khác, chẳng hạn như Arthur Cecil Pigou (1877-1959) ở Cambridge, đã chứng

minh rằng việc kiểm soát tiền tệ có thể đạt được trong một chế độ ngân hàng dự trữ phân

đoạn thông qua việc kiểm soát một kho dự trữ tiền quyền lực cao được xác định ngoại sinh

7.2 Giải pháp và hệ quả:

- Theo lý thuyết số lượng tiền tệ, khi nhà nước giảm lượng cung tiền vào trong lưu thông

tiền tệ quốc gia Trong ngắn hạn, điều này sẽ làm giảm lượng tiền trong thị trường từ đó

giảm cầu tiêu dùng và điều chỉnh được lạm phát của quốc gia Việc tăng giá cả trong khi

giá cả ở nước nhập khẩu giảm, nên dòng tiền sẽ di chuyển từ nước có giá cả cao sang nước

có giá cả thấp Quá trình này tiếp tục cho đến khi có sự cân bằng giữa khối lượng tiền thực

tế và khối lượng tiền tự nhiên

- Bên cạnh đó, nhu cầu gia tăng và cùng với nó sự gia tăng giá cả lương thực thực phẩm

Sự gia tăng giá cả lương thực, cùng với sự giá tăng giá cả hàng tiêu dùng làm sụt giảm tiền

lương thực tế, điều này khuyến khích các công ty thu nhận thêm nhân công Về sau, sự gia

tăng nhu cầu lao động đẩy tiền lương tăng lên và tiền lương tiếp tục tăng cho đến khi

ngang bằng với sự gia tăng giá cả và tiền tệ Từ đó giải quyết triệt để được vấn đề trong

ngắn hạn của lạm phát

Phần II: Câu hỏi thảo luận

Câu 1: Theo bạn, chuyên gia nào có đề xuất phù hợp với bối cảnh Việt Nam hơn

Dựa trên bối cảnh Việt Nam, chúng em nhận thấy đề xuất của chuyên gia D là phù hợp trong

giai đoạn từ cuối năm 2021, đầu năm 2022 Qua dữ liệu thu thập được, nguyên nhân lạm

phát của thời điểm này đến từ cả phía cung và phía cầu (trùng khớp với nhận định của

chuyên gia D) Cụ thể như sau:

Chuyên gia A: Lập luận rằng lạm phát chỉ mới là cảnh báo và chủ yếu từ phía cung

Thứ nhất, về sức cầu của năm nay (2022) chưa được cải thiện nhiều Tổng mức bán lẻ hàng

hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội 8 tháng đầu năm chỉ tăng 15,1% so với cùng kỳ năm ngoái,

nhưng doanh thu dịch vụ du lịch ăn uống tăng 48,1% so với cùng kỳ 2021 - đóng góp chủ

yếu Nguyên nhân là do tính bảo thủ về giá của một số tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh

Trang 17

Với tình hình vừa sau đại dịch (2021), cầu về các mặt hàng hoá khác ngoài lương thực thực,

thực phẩm vẫn trong tình trạng rất thấp, có mặt hàng được xem là không có Điều đó tạo sự

cân bằng về cung nên được một số chuyên gia nhận định là không gây sức ép lên giá trị lạm

phát Tuy nhiên, trong tình hình sau đại dịch xu hướng giao hàng tận nơi với chi phí giao

hàng trung bình từ 60-70 nghìn đồng lại là vấn đề gia tăng chi phí có ảnh hưởng nhất định

đến lạm phát

Thứ hai, tình hình giá dầu tăng mạnh do thiếu hụt nguồn cung nhập khẩu gây nên tình trạng

tỷ lệ lạm phát tăng cao vào những tháng giữa năm (cao nhất đạt 3,36% tháng 6 năm 2022)

Gây nên những biến động tăng giá của các mặt hàng như gas, nguyên vật liệu sản xuất Mặc

dù giá xăng dầu tăng cao và giá nguyên vật liệu dùng cho sản xuất tăng, do sức mua của

người tiêu dùng yếu nên cộng đồng doanh nghiệp chấp nhận giảm bớt lợi nhuận để không

tăng giá bán sản phẩm cũng là yếu tố góp phần kiểm soát lạm phát 4 tháng đầu năm 2022

Giá nhập khẩu tăng cao đến 126,7 điểm cũng là nguyên nhân gây lạm phát Các sản phẩm

hàng hoá sản xuất bằng nguyên vật liệu nhập khẩu hay các chủ thể kinh doanh ăn lợi nhuận

giá chênh lệch sẽ đẩy giá các mặt hàng này lên cao gây lạm phát

Thứ ba, các chi phí phát sinh trong và sau đại dịch đè nặng lên nhà sản xuất (xét nghiệm,

giao thông vận tải, nguyên vật liệu, chuỗi cung ứng) Bắt buộc họ phải tăng giá cả sản phẩm

làm ra để có thể duy trì lợi nhuận, hoạt động sản xuất

Trang 18

Kết luận: Các lập luận của chuyên gia A xoay quanh lý thuyết cấu trúc về lạm phát và có các

luận điểm xác đáng về lạm phát từ phía cung Tuy nhiên, điều này là chưa đủ và chưa giải

thích toàn diện lạm phát của Việt Nam

Chuyên gia B: Lạm phát nhập khẩu và lạm phát tiền tệ do nới lỏng tài khóa và tiền tệ

- Theo lý thuyết lượng tiền tệ:

+ Từ biểu đồ được thu thập ta có thể thấy được, lượng cung tiền của Việt Nam tăng đều từ

tháng 1 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020 và cũng tương tự trong năm 2021 Lí do ở đây là

việc chính phủ đẩy mạnh cung tiền để giảm thiểu tác động của Covid-19 đến với người

dân Điều này cũng vô tình dẫn đến lạm phát ở Việt Nam

+ Việc tăng cung tiền kéo dài làm dịch chuyển đường tổng cầu AD sang phải (từ AD1 đến

AD3, AD3 và AD4 trong khi đường tổng cung AS dịch chuyển từ AS1 đến AS2, AS3 và

AS4 Kết quả là mức giá tăng dần từ P1 đến P2, P3 và P4 Như vậy, lạm phát xảy ra khi

cung tiền tệ tăng lên liên tục theo thời gian

Trang 19

- Theo học thuyết của Keynes về tác động của chính sách tài khóa đến lạm phát:

+ Tại thời điểm ban đầu, khi nền kinh tế đang ở tại điểm cân bằng E1 (là giao điểm của

đường tổng cầu AD1 và tổng cung AS1) tại đó tổng sản phẩm ở mức tỷ lệ tự nhiên Yn và

mức giá P1 Với việc Chính phủ tăng chi tiêu liên tục sẽ làm đường tổng cầu dịch chuyển

từ AD1 đến AD2 và nền kinh tế dịch chuyển đến điểm cân bằng E1’ – tại đó tổng sản

phẩm trên mức tự nhiên Y’ Khi đó, đường tổng cung sẽ dịch chuyển từ AS1 đến AS2, tại

đó, điểm cân bằng tại E2, ở đó, tổng sản phẩm lại quay về mức tự nhiên Yn nhưng giá cả

đã tăng đến P2 Nhưng với việc chi tiêu của Chính phủ gia tăng liên tục cũng khiến cung

tiền liên tục gia tăng và lạm phát sẽ xuất hiện (có thể là lạm phát do cầu kéo hoặc phí đẩy)

Chính vì vậy, theo quan điểm của Keynes thì lạm phát xuất hiện khi chi tiêu của Chính phủ

gia tăng liên tục nhằm mở rộng việc làm và thu nhập của dân chúng, kích thích tăng trưởng

kinh tế

Ngày đăng: 23/12/2023, 22:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN