1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tín dụng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh bắc ninh

183 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Tín Dụng Nhằm Thúc Đẩy Quá Trình Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Ở Tỉnh Bắc Ninh
Tác giả Nguyễn Xuân Đổng
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Đình Hợp, TS. Phan Đình Thái
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại luận án tiến sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 41,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điểm khác biệt quan trọng của đề tài này so với các đề tài kể trên thể hiện ở chỗ: luận án xây dựng quạn niệm riêng về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, về tín dụng và hệ thống

Trang 1

H<jc VIÊN NGÂN HANfi TRUNG IÃM THÔNG TIN THlI.

3 3 2 7

NGD

2 0 0 6

LA.00101

Trang 2

íIT H T rM g * I B L i

ỉ M W ầ \ 1 v » l l l f i líCT 1’

Trang 3

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

NGUYỄN XUÂN ĐỔNG

H Ọ C V IỆN NGÂN HANG

TRUNG TÁM THÔNG TIN-THƯ VIỆN

Ẽố:^ A-v-4ữẠ

GIẢI PHÁP TÍN DỤNG NHAM THÚC ĐẨY

QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH cơ CẤU KINH TÊ

ở TỈNH BẮC NINH

C huyên ngàn h : TÀI CHÍNH, Lưu THÔNG TIỀN TỆ VÀ TÍN DỤNG

LUẬN ÁN TIẾN Sĩ KINH TẾ

N gư ời hướng dẩn khoa học:

1 PGS TS LÊ ĐÌNH HỢP

2 TS PHAN ĐÌNH THÊ

HÀ NỘI - 2006

m

Trang 4

T ôi xin cam đoan đ à y là côn g trìn h ngh iên cứu

củ a riên g tôi C ác sô liệu , k ết qu ả nêu tron g L u ận án là tru n g thự c và có nguồn g ố c r õ ràng.

Tác giả luận án

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU 1Chương 1: VAI TRÒ TÍN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH

1.1 Những vấn đề chủ yếu về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu

1.2 Vai trò tín dụng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 10

1.2.2 Một số chỉ tiêu phản ánh quan hệ tín dụng đối vói chuyển

1.2.3 Vai trò tín dụng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 211.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc phát huy vai trò của tín dụng

1.3 Kinh nghiệm và bài học về phát huy vai trò của tín dụng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số địa phương trong nước 39

1.3.1 Kinh nghiêm nâng cao vai trò của tín dụng đối với chuyển

dịch cơ cấu kinh tế ở một số địa phương trong nước 391.3 2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho hoạt động tín dụng

phục vụ nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh 55

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG

QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH c ơ CẤU KINH TẾ Ở

2.1.2 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế xã hội 612.1.3 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh 63

2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng trong quá trình chuyển dịch cơ

Trang 6

cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh 81

2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng trong quá trình chuyển

TRÌNH CHUYỂN DỊCH c ơ CẤU KINH TÊ Ở TỈNH

3.2 Giải pháp tín dụng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ

3.2.2 Mở rộng quy mô đầu tư tín dụng cho chuyển dịch cơ cấu

3.2.4 Hoàn thiện cơ chế đầu tư tín dụng thúc đẩy quá trình chuyển

3.3.2 Kiến nghị đối với các cấp chính quyền tỉnh Bắc Ninh 165

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG Bố CỦA TÁC GIẢ DANH MUC TÀI LIÊU THAM KHẢO

Trang 7

2.5 Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản Nhà nước do địa phương

2.6 Nguồn vốn Nhà nước đầu tư cho ngành nông nghiệp tỉnh

2.8 Sự thay đổi diện tích một số loại đất của tỉnh Bắc Ninh 712.9 Thị phần cho vay của một số tổ chức tín dụng trên địa bàn 77

2.10 Tăng trưởng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng tại

2.14 Đầu tư vốn cho thành phần kinh tế của các tổ chức tín dụng 87

Trang 8

2.16 ' Dự án đầu tư và dư nợ tín dụng của Chi nhánh Quĩ Hỗ trợ

2.19 Nợ quá hạn trung dài hạn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn 932.20 Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn 95

Trang 9

Đồ thị Tên đồ thị Trang

2.1 Vốn huy động bằng nội tệ và ngoại tệ phục vụ cho

2.2 Nguồn vốn huy động trung, dài hạn của các tổ chức

Trang 10

VIẾT TẮT NGUYÊN VĂN

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Đáp ứng nhu cầu về vốn nói chung, vốn tín dụng nói riêng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được Đảng và Nhà nước xác định là một mục tiêu chiến lược trọng yếu trong quá trình đổi mới tài chính, đổi mới nền kinh

tế của đất nước Vì đó là điều kiện, là yếu tố tiên quyết để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Chính hướng đi đúng đắn này đã làm cho hệ thống tài chính nước ta ngày càng lớn mạnh, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý và do đó đã đẩy nhanh

được tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước cũng như ở hầu khắp các địa

phương trong nhiều năm qua

Trong tiến trình chung của cả nước, sự nghiệp phát triển kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua đã có những bước phát triển căn bản, thể hiện trên tất

cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội Song nhìn chung tốc độ tăng trưởng kinh tế còn chậm, cơ cấu kinh tế của tỉnh còn nhiều điều bất hợp lý cả về nhận thức và thực tiễn Chính vì vậy, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã đề ra phương hướng phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới của tỉnh là đẩy mạnh hơn nữa quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tất nhiên, để thực hiện thành cộng yêu cầu này đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, hàng đầu là xúc tiến đầu tư; trong đó đầu tư tín dụng qua các tổ chức tín dụng giữ vai trò đặc biệt quan trọng

Nhận thức rõ yêu cầu đó, các tổ chức tín dụng cùng các chủ thể khác hoạt động trên địa bàn tỉnh đã không ngừng mở rộng quy mô, đa dạng hoá các hình thức hoạt động tín dụng, không ngừng nâng cao chất lượng và đổi mới cơ cấu tín dụng, tạo thuận lợi quan trọng cho sự phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân của địa phương Tuy vậy, tín dụng vẫn chưa, thực sự đóng vai trò đòn bẩy cho phát triển kinh tế của tỉnh, chưa thực sự tạo điều kiện khai thác tối đa các điều kiện, tiềm năng về tài nguyên, nhân lực của địa phương

Trang 12

Xuất phát từ đó, nghiên cứu sinh đã chọn vấn đề "Giải p h á p tín dụ n g nhằm thúc đẩy qu á trìn h ch u yển dịch c ơ cấu kin h t ế ở tỉn h B ắ c N inh" làm

đề tài nghiên cứu cho bản Luận án Tiến sĩ kinh tế của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu.

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về tín dụng và vai trò của tín dụng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Phân tích, đánh giá thực trạng tín dụng đối với chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh thời gian 2000 - 2004.

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị về tín dụng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh trong thời gian 2005 - 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Về đ ố i tư ợng n gh iên cứu:

- Luận án nghiên cứu đầu tư vốn qua kênh tín dụng đối với quá trình

chuyển dịch cơ cấu kinh tế ờ tỉnh Bắc Ninh.

Về p h ạ m vi n gh iên cứu:

- Về mặt ỉý luận: Luận án nghiên cứu khái quát các vấn đề lý luận về cơ

cấu kinh tế và vai trò hoạt động tín dụng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mặc dù có nhiều kênh tín dụng chính thức và không chính thức tác động tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Song trong khuôn khổ đề tài, luận án chỉ tập chung chủ yếu nghiên cứu về tín dụng ngân hàng và tín dụng nhà nước Bởi đó là hai kênh tín dụng chính thức có vai trò trọng yếu nhất đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- V ề mặt thực tiễn: Ngoài phần khảo cứu kinh nghiệm để rứt ra bài học

kinh nghiệm của một số địa phương khác trong nước, luận án tập trung phân tích đánh giá thực trạng tín dụng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 2000 đến 2004 Đồng thời, dựa trên các kết quả đó luận án đưa ra các đề xuất về các giải pháp và kiến nghị về tín dụng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Bắc Ninh từ nay đến năm 2020

Trang 13

4 Phương pháp nghỉên cứu.

Cùng với việc vận dụng thích hợp các phương pháp luận nghiên cứu khoa học như: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trừu tượng hoá khoa học, Luận

án chú trọng sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp,

5 Tình hình nghiên cứu đề tài.

- Đã có nhiều luận án và công trình nghiên cứu khoa học về vai trò tín dụng ngân hàng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế như đề tài của NCS Lê Thị Phương Mai, Mai Thị Trúc Ngân (HVNH), Tuy vậy, những đề tài đó hoặc được nghiên cứu ở phạm vi khác, địa phương khác, hoặc chỉ nghiên cứu một mảng hoạt động tín dụng Điểm khác biệt quan trọng của đề tài này

so với các đề tài kể trên thể hiện ở chỗ: luận án xây dựng quạn niệm riêng về

cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, về tín dụng và hệ thống các chỉ tiêu đánh giá tác động của tín dụng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hơn nữa, luận án nghiên cứu về tín dụng nói chung đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chứ không chỉ bao gồm hoạt động cấp tín dụng của cầc ngân hàng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế như ở các đề tài khác

- Luận án đi sâu phân tích, đánh giá sát thực tình hình đầu tư tín dụng đối vói quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh, để từ đó đề xuất các giải pháp đặc thù, ứng dụng vào hoạt động đầu tư tín dụng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới

6 Bố cục bản luận án.

Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận án được kết cấu thành 3 chương chính:

Chương 1: V a i trò tín d ụ n g tro n g q u á trìn h ch u yển dịch c ơ cấu kin h tế

Chương 2: T hự c trạ n g h o ạ t đ ộ n g tín d ụ n g tro n g qu á trìn h ch u yển d ịch cơ

cấu kinh t ế ở tỉn h B ắ c N in h

Chương 3: G iải p h á p tín d ụ n g n h ằm th ú c đẩ y qu á trìn h ch u yển dịch cơ

cấu kỉnh t ế ở tỉn h B ắ c N in h

Trang 14

Chương 1

VAI TRÒ TÍN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH

CHUYỂN DỊCH Cơ CẤU KINH TẾ

1.1 NHỮNG VẤN ĐỂ CHỦ YẾU VỂ c ơ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH Cơ CẤU KINH TẾ.

1.1.1 Cơ cấu kinh tế.

- Khái niệm

Trong lý luận kinh tế, thuật ngữ “cơ cấu kinh tế” đươc các nhà kinh tế

đề cập Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng: “C ơ cấu kinh t ế của nền kinh

t ế qu ốc dân m ộ t nước là tổng th ể m ối qu an hệ tá c động lẫn nhau giữa các yếu t ố và tro n g từng yếu t ố của lực lượng sản xu ất và quan hệ sản x u ấ t với những điều kiện kinh t ế - x ã hội cụ th ể tron g những g ia i đoạn p h á t triển nhất định của x ã h ộ i” [16]; hoặc ‘V ơ cấu kinh t ế là m ột tổ n g th ể b a o gồm nhiều yếu tố, giữ a chúng cố những m ố i liên hệ và tương tá c qu a lạ i cả v ề

m ặt ch ấ t lượng lẫn m ặt s ố lượng, tron g m ộ t khoảng thời gian và tron g những điều kiện kinh t ế x ã h ội cụ thể T ổn g th ể kinh t ế đó cũng luôn vận độn g hướng và o những m ục tiêu nhất đ ịn h ”',hoặc “C ơ cấu kỉnh t ế của m ột nước là tổn g th ể cá c quan hệ kỉnh t ế h ay cá c bộ ph ận hợp th à n h nền kinh tế; gắn vớ i vị trí, trình độ công nghệ, qu y m ô, tỉ trọn g tương ứng vớ i từng

bộ ph ậ n và m ố i quan hệ tương tá c giữa tấ t cả cá c bộ p h ậ n ; gắn liền điều kiện kinh t ế x ã h ội tron g từng g ia i đoạn p h á t triển nhất định; nhằm thực hiện cá c m ục tiêu kinh t ế - x ã hội đ ã đ ặ t r ã ” [16], [15]

Mặc dù các khái niệm về cơ cấu kinh tế nêu trên là không hoàn toàn như nhau, nhưng nội dung đều bao hàm những điểm chung sau:

Trang 15

Cơ cấu kinh tế là phạm trù phản ánh đặc tính của nền kinh tế, thể hiện cấu trúc của một nền kinh tế, thể hiện quan hệ giữa các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, của quan hệ sản xuất trong quá trình phát triển của nền kinh tế, nói cách khác cơ cấu kinh tế là một phạm trù nói lên đặc tính đa cơ cấu của nền kinh tế như một hệ thống thống nhất.

- Nội dung cơ cấu kinh tế.

Trước hết, xác định các cơ cấu kình tế trong nền kinh tế quốc dân.

- Cơ cấu ngành của nền kinh tế quốc dân và nội bộ của từng ngành: Cơ cấu ngành kinh tế là một kiểu cơ cấu trong toàn bộ hệ thống các cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, xác định theo mối quan hệ giữa các ngành và nội bộ ngành phân biệt với các loại cơ cấu kinh tế khác

- Cơ cấu lãnh thổ là biểu hiện vật chất cụ thể của phân công lao động theo lãnh thổ, là không gian thích hợp các giao điểm của các quá trình và các sự kiện diễn ra trọng nó Vì thế trình độ hình thành, phát triển và hoàn thiện của cơ cấu lãnh thổ hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển của phân công lao động theo lãnh thổ Đến lượt mình, trình độ phát triển của phân công lao động theo lãnh thổ lại phụ thuộc vào trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mà động lực chính của nó là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ

- Cơ cấu thành phần kinh tế là tổng thể các hình thức kinh tế của các khu vực kinh tế tồn tại trong các mối quan hệ tương tác với nhau, vận động

và phát triển phù hợp với các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, lực lượng sản

xuất và quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối) tương ứng với nó

- Cơ cấu kỹ thuật và công nghệ là tương quan giữa tổng thể các loại trình độ kỹ thuật và công nghệ tồn tại được hình thành trong mối quan hệ tương tác giữa công cụ thủ công, nửa cơ khí, cơ khí tự động hoá, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 16

- Cơ cấu nguồn lực sản xuất là tương quan giữa các loại nguồn lực được

sử dụng trong quá trình hoạt động kinh tế, trong đó loại quan trọng nhất là tương quan vốn và sức lao động

- Cơ cấu của quá trình tái sản xuất xã hội là một cấu trúc của nền kinh tế được xem xét trên phương diện tương quan giữa các khâu của quá trình sản xuất - phân phối - lưu thông - tiêu dùng,

Sự phân tích các yếu tố của nền kinh tế theo các cách nói trên đều dựa trên mối quan hệ hữu cơ giữa chúng với nhau và đều thể hiện vai trò của chúng trong việc chi phối sự hình thành, phát triển của cả kinh tế của mỗi

quốc gia ở từng thời kỳ.

Hai là, cơ cấu kinh tế luôn mang tính khách quan, tính lịch sử cụ thể cả

về mặt về thời gian và không gian.

Điều này nói lên rằng, sự hình thành và vận động về mặt cơ cấu hay cấu trúc của một nền kinh tế nhất định luôn bị chi phối bởi các quy luật khách quan Hoạt động của các quy luật khách quan sẽ làm thay đổi cơ cấu của mỗi nền kinh tế Vì tại mỗi giai đoạn phát triển nhất định, mỗi nền kinh tế thường

có điều kiện, trình độ phát triển khác nhau, mức độ hoạt động và phát huy ảnh hưởng của các quy luật kinh tế khách quan cũng khác nhau, do đó cơ cấu

của mỗi nền kinh tế, ở mỗi thời kỳ luôn có những nét đặc thù Kết quả là

luôn tồn tại sự khác biệt mang tính khách quan về cơ cấu kinh tế của các địa phương, các vùng, hay các quốc gia Những khác biệt này sẽ thay đổi cùng với quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế

Ba là, cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan song cũng luôn chịu sự tác động của con người và vì vậy nó luôn bao hàm tính hướng đích Nói cách khác, trong mối giai đoạn nhất định, sự hình thành, vận động của chúng luôn hướng tới những mục tiêu kinh tế, kỹ thuật, xã hội nhất định.

Điều này được lý giải dựa trên sự xem xét, phân tích vai trò, vị trí,

Trang 17

tầm quan trọng của yếu tố con người với tư cách một yếu tố không thể thiếu của cơ cấu kinh tế và là chủ thể của nền kinh tế Với tư cách là chủ thể của nền kinh tế, con người chủ động vận dụng các quy luật kinh tế để

tổ chức xây dựng cơ cấu kinh tế đảm bảo sao cho đạt được những mục đích nhất định

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

- Khái niệm:

Hiểu một cách đơn giản, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) là quá

trình chuyển hoá từ một cơ cấu kinh tế với những đặc điểm, đặc trưng nhất định sang một cơ cấu kinh tế có những đặc điểm đặc trưng khác đi

Tất nhiên, sự CDCCKT cũng mang tính khách quan, quá trình này luôn diễn ra qua thời gian và không hoàn toàn lệ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Tuy vậy, khi đề cao tính chủ động, tích cực của yếu tố con người trong nền kinh tế thì có thể coi CDCCKT như là một quá trình vận động có chủ đích, do tác động chủ động của nhân tố chủ quan con người Trên phương

diện này người ta quan niệm "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình

đòi hỏi sự tác động phù hợp của nhân tố chủ quan của con người bằng một

hệ thống chính sách và biện pháp đồng bộ, tác động liên tục, phù hợp với quỉ luật và điều kiện khách quan thúc đẩy nhanh quá trình hình thành và phát triển CCKT mới" [15],[16].

Từ các khái niệm trên, luận án rút ra:

CDCCKT là quá trình làm thay đổi các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành của nền kinh tế theo những mục đích và phương hướng nhất định.

Có một số điểm cần quan tâm trong khái niệm này:

Một là, CDCCKT trước hết thể hiện ở sự thay đổi quy mô và tỷ trọng

trong cơ cấu chung của nền kinh tế CCKT mới được hình thành sẽ khác

Trang 18

với CCKT xuất phát cả về quy mô, tốc độ, mức độ hiệu quả, tính bền vững

và tính hợp lý và với CCKT mới này sẽ thể hiện sự thay đổi trình độ phát triển của mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi thành phần kinh tế, so với thời kỳ trước đó

Hai là, dưới sự nhìn nhận, đánh giá và tác động chủ động, có mục

đích của con người, thông thường vấn đề thực hiện quá trình chuyển dịch đối với một CCKT nhất định cần được thực hiện khi bản thân nó - bao hàm những yếu tố mất cân bằng, bất hợp lý, cản trở và đẩy lùi sự phát triển kinh tế, hoặc khi xuất hiện những điều kiện phát triển mới thể hiện ở sự xuất hiện những khả năng và giải pháp mới thay đổi phương thức khai thác các điều kiện hiện tại

Ba là, mục đích của CDCCKT là thực hiện hệ các biện pháp nhằm

hướng tới một cơ cấu kinh tế mới mang tính hợp lý hơn, bền vững hơn, có khả năng mang lại hiệu quả cao hơn, hay nói cách khác, là hướng tới một CCKT mới tối ưu hơn Tất nhiên để có được sự thay đổi toàn diện, đánh

giá một bước phát triển mới của nền kinh tế ở mức cao hơn thì luôn cần có

khoảng thời gian đủ dài, các biện pháp phải đảm bảo tính toàn diện

- Nội dung, yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Thực chất của việc CDCCKT là quá trình.phân công lại lao động xã hội

mà sự phân công lao động xã hội theo những quy luật của nó từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp tùy theo từng nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất Thông thường CDCCKT chỉ diễn ra khi có những điều kiện phát triển mới; hoặc có những khả năng và giải pháp mới nhằm làm thay đổi phương thức khai thác các điều kiện hiện tại; hoặc trong quan hệ giữa các bộ phận gây cản trở lẫn nhau ảnh hưởng đến sự phát triển chung Có thể có nhiều yêu cầu khi xem xét và đánh giá thế nào là một cơ cấu kinh tế tối ưu Song nhìn chung, một cơ cấu kinh tế được xác định là tối ưu khi nó thoả mãn những yêu cầu chủ yếu sau:

Trang 19

- Cơ cấu kinh tế phản ánh được đúng các quy luật khách quan, gồm cả các quy luật tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế và xã hội, trong đó đặc biệt phải kể đến các quy luật kinh tế như: quy luật quan hệ sản xuất phải luôn phù họp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; quy luật giá trị; quy luật lưu thông tiền tệ; quy luật cạnh tranh; quy luật cung cầu hàng hoá và dịch vụ; quy luật lợi nhuận; quy luật tăng năng suất lao động; quy luật tích luỹ,

- Cơ cấu kinh tế phải đảm bảo cho phép khai thác tối đa các tiềm năng thể hiện qua các phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả Tiềm năng nêu ở đây bao gồm tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, nguồn vốn, khoa học

kỹ thuật, công nghệ, Những tiềm nầng này đã được điều tra và dự báo có khả năng huy động vào sản xuất kinh doanh Có thể lượng hoá yêu cầu thứ hai qua các chỉ tiêu: hệ số khai thác tiềm năng và đường giới hạn sản xuất kinh doanh tối ưu

- Cơ cấu kinh tế phải đảm bảo phản ánh được xu hướng phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu hướng phát triển nền kinh tế thị trường đầy năng động trên thế giới và sự phát triển nhanh chóng ngành dịch

vụ hiện nay trong quá trình hình thành cơ cấu kinh tế của từng quốc gia

- Cơ cấu kinh tế phải đảm bảo cho phép sử dụng ngày càng nhiều lợi thế tuyệt đối và phát huy được lợi thế tương đối khi xem xét giải quyết bài toán phát triển kinh tế trong tương quan so sánh giữa các vùng, ngành, miền hay giữa quốc gia trong cộng đồng kinh tế quốc tế

Xét trong mối quan hệ giữa các quốc gia, yêu cầu này gắn liền, với việc hình thành cơ cấu kinh tế mở, gắn liền với xây dựng chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả; gắn liền với sự phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế; gắn liền với lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1723

- 1790), lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricacdo (1772 - 1823) Trong

đó, điều cốt lõi của lý thuyết lợi thế so sánh là ở sự khéo léo lựa chọn kiểu

Trang 20

kết hợp giữa ưu thế của mình với ưu thế của nước khác, người khác, nhằm đạt hiệu quả tối đa c Mác (1818 - 1883) khi nghiên cứu về hạn ngạch tiền công dân tộc và tiền công quốc tế cũng đưa đến kết luận tương tự rằng: hiệu ích của việc xuất nhập khẩu, xét về thực chất là ở việc lợi dụng

có hiệu quả sự chênh lệch giữa năng suất lao động quốc tế và năng suất lao

CẤU KINH TẾ.

1.2.1 Tổng quan về tín dụng.

Đối với những chủ thể trong nền kinh tế khi bị thiếu vốn, họ có thể thoả mãn nhu cầu về vốn của mình bằng nhiều hình thức cụ thể khác nhau Một trong những hình thức phổ biến được sử dụng trong đó chính là tham gia vào các quan hệ tín dụng Trong quan hệ tín dụng, người sở hữu vốn (gọi là chủ

nợ hay người cho vay) và người sử dụng vốn (gọi là con nợ hay người đi vay)

Trang 21

c Mác định nghĩa: “Tín dụng dưới các hình thức biểu hiện đơn giản là

sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ đã khiến người này giao cho một người khác một số tư bản nào đó dưới hình thái tiền hoặc hàng hoá được đánh giá thành một số tiền nhất định nào đó Số tiền này được trả trong một thời hạn nhất định, Khi tư bản được cho vay người ta tăng số tiền phải hoàn trả thêm một

tỷ lệ phần trăm nhất định coi là giá cả để trả về quyền sử dụng tư bản” [10]

Với ý nghĩa tương tự, ngày nay các nhà kinh tế định nghĩa “tín dụng ỉà

quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về người cho vay với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu ” [23].

Định nghĩa nêu trên cho thấy, các quan hệ tín dụng trong nền kinh tế dù phong phú đến đâu, đều có đặc điểm chung về tính hoàn trả, tính mục đích, tính tin cậy lẫn nhau Tuy vậy trong nền kinh tế vẫn luôn tồn tại nhiều loại tín dụng khác nhau Sự khác nhau giữa các loại tín dụng là do có những khác nhau cụ thể về chủ thể, về mục đích, về cách thức sử dụng vốn tín dụng, về cách thức tổ chức và kỹ thuật tiến hành giao dịch tín dụng Khái niệm tín dụng đối với CDCCKT cũng được hình thành trước hết trên cơ sở này Trên góc độ chung, có thể hiểu đơn giản tín dụng đối với CDCCKT chính là loại tín dụng áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp, các cá nhân và các tổ chức kinh tế, tham gia vào quá trình CDCCKT và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế

Tuy vậy, cần lưu ý rằng mặc dù luôn tồn tại nhiều kênh tín dụng cụ thể, cùng tồn tại đa dạng, đan xen lẫn nhau và cùng có tác động đến CDCCKT Song với vai trò là trung tâm tín dụng của nền kinh tế, kênh tín dụng do các

tổ chức tín dụng đảm nhiệm luôn giữ vai trò chủ đạo Luồng tín dụng được thực hiện bởi các tổ chức tài chính - tín dụng như các ngân hàng, các Quĩ Hỗ trợ phát triển, các tổ chức tín dung hợp tác, Kho bạc Nhà nước các cấp, luôn có tác động mạnh mẽ nhất tới quá trình chuyển dịch cơ cấu và phát triển

Trang 22

kinh tế Do đó, nếu tính tới đặc điểm này, ta có thể phát biểu quan niệm rõ hơn về tín dụng đối với CDCCKT như là toàn bộ hoạt động vay mượn giữa các tổ chức tài chính, tín dụng với các chủ thể kinh tế khác thuộc tất cả các ngành, các thành phần, các khu vực của nền kinh tế.

Vì các tổ chức tín dụng được nêu tới luôn có thể được phân làm một số nhóm chủ yếu: các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng hợp tác, các

tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện chức năng tín dụng nhà nước Do đó, một cách tương ứng có thể phân tích tín dụng đối với CDCCKT thành những loại cụ thể, chi tiết hơn như sau:

- Tín dụng ngân hàng, có thể địrìh nghĩa đơn giản là loại tín dụng bằng

tiền, hình thành trong quá trình hoạt động của các ngân hàng, trong đó các ngân hàng trực tiếp đóng vai trò vừa là người cho vay vừa là người đi vay

Điểm cần lưu ý là quan niệm về tín dụng, theo nghĩa rộng luôn bao gồm cả hoạt động đi vay và cho vay, và như vậy bao gồm cả hoạt động vay

nợ và cấp tín dụng của các ngân hàng Mặt khác, với cấu trúc hệ thống ngân hàng hai cấp (bao gồm Ngân hàng Trung ương và các ngân hàng khác, tiêu biểu là các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển), tín dụng ngân hàng được chia thành hai kênh Trong đó, hoạt động tín dụng của Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ, vì các mục tiêu kinh tế vĩ mô Ngân hàng Trung ương không có quan hệ tín dụng trực tiếp đối với các doanh nghiệp, các cá nhân và hộ gia đình trong nền kinh tế Nhiệm vụ cấp tín dụng cho các chủ thể vi mô này của nền kinh tế thuộc về các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác

Nét đặc trưng trong hoạt động tín dụng do các ngân hàng thương mại đảm nhận là thực hiện theo phương thức thương mại Điều này tạo ra hai lợi điểm chính, một là, tăng khả năng tiếp cận tín dụng của mọi chủ thể trong

nền kinh tế, và hai là, làm giảm thấp chi phí giao dịch vốn Nguyên do là ở

chỗ chúng giải quyết tối ưu hơn đối với các vấn đề chi phí và rủi ro cao, vấn

Trang 23

đề bất cân xứng về thông tin, do được tổ chức theo phương thức chuyên đi vay để cho vay, có bộ máy mạng lưới rộng khắp, các hoạt động được tiến hành có tính chuyên nghiệp cao Chính nhờ các đặc điểm ưu việt đó nên tín dụng ngân hàng ngày càng đóng vai trò thiết yếu, có tác động mang tính quyết định đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế so với các hình thức tín dụng khác.

- Tín dụng nhà nước, được hiểu là loại tín dụng mà một bên tham gia

giao dịch tín dụng là các cơ quan, các tổ chức tài chính thuộc bộ máy Nhà nước, hoạt động vì các mục tiêu kinh tế xã hội của Nhà nước, còn bên kia là các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức trong nền kinh tế !

Những cơ quan, tổ chức tài chính Nhà nước điển hình có tham gia vào hoạt động tín dụng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế là Kho bạc Nhà nước các cấp, các Quĩ Hỗ trợ phát triển, các Ngân hàng Chính sách Xã hội, Các cơ quan, tổ chức này tham gia vào các hoạt động vay vốn và cấp tín dụng cho các chủ thểctrong nền kinh tế, qua đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế, thay đổi tốc độ phát triển kinh tế Điểm đặc trưng trong mảng hoạt động tín dụng này

là chúng thường được thực hiện không tuân theo nguyên tắc thương mại thuần tuý Nhà nước thường đưa ra quy định về sự tuân thủ những điều kiện mang tính phân biệt, tính ưu tiên cả trong huy động và sử dụng vốn tín dụng của các cơ quan, các tổ chức tài chính kiểu như Kho bạc Nhà nước các cấp, các Quĩ Hỗ trợ phát triển, các Ngân hàng Chính sách Xã hội, , Nhiều tổ chức tài chính, tín dụng trong số này hoạt động dựa vào nguồn vốn ngân sách hay các nguồn vốn vay mượn hoặc viện trợ mang tính ưu đãi của các tổ chức kinh

tế trong nước và nước ngoài Tính giới hạn của các nguồn này đến lượt nó lại buộc các tổ chức cấp vốn phải giới hạn đối tượng nhận tín dụng Hệ quả chung kéo theo là làm cho kênh tín dụng nhà nước mặc dầu lấ kênh quan trọng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhưng thường đứng sau kênh tín dụng ngân hàng

Trang 24

- Tín dụng hợp tác, là kênh tín dụng hình thành trên cơ sở các quan hệ

hợp tác, trong đó những người có vốn nhàn rỗi và người có nhu cầu vay vốn gặp nhau bằng cách tham gia vào các tổ chức tài chính, tín dụng hợp tác được Nhà nứớc cho phép thành lập, công nhận mà hình thức tiêu biểụ là Hợp tác

xã tín dụng trước đây và nay là các Quĩ tín dụng nhân dân Xã viên thuộc các

tổ chức này vừa đóng vai trò là người chủ sở hữu của tổ chức tín dụng, vừa đóng vai trò là khách hàng Kênh tín dụng này thường khá phổ biến tại các nưởc đang phát triển, song nhìn chung nó lại có vai trò khá hạn chế đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế do chúng chủ yếu mang tính tương trợ, quy mô và địa bàn hoạt động nhỏ hẹp, tính chuyên nghiệp thấp, tổ chức kém chặt chẽ so với kênh tín dụng ngân hàng và nhiều kênh tín dụng khác

Ngoài các quan hệ tín dụng hình thành giữa các tổ chức kinh tế, tài chính được Nhà nước thành lập hay thừa nhận như kể trên, tại các nước đang phát triển còn tồn tại khá phổ biến các hình thức tín dụng mang tính tự phát, phi chính thức, cũng có tham gia vào việc cung ứng vốn cho CDCCKT, tiêu biểu là các hình thức tín dụng theo kiểu chơi ‘hụi’, ‘họ’ Nét khác biệt quan trọng của hình thức tín dụng này là tính tự phát, vô tổ chức, lãi suất tín dụng thường cao, mang tính chất tín dụng nặng lãi Chính vì vậy, Nhà nước thường không khuyến khích và tìm cách quản lý chặt chẽ các hoạt động tín dụng dạng này

Tóm lại, từ khái niệm về CDCCKT và tín dụng đối với CDCCKT nêu trên cho ta rút ra một số nhận xét:

- Tín dụng đối với CDCCKT chỉ là một lĩnh vực hoạt động tín dụng trong nền kinh tế nói chung mà yếu tố hạt nhân là hoạt động tín dụng mà các

tổ chức tài chính tín dụng áp dụng cho tất cả các đối tượng lằ bất kỳ yếu tố hay thành phần nào đó thuộc cấu trúc của nền kinh tế mà cần có sự thay đổi, hay nói cách khác là loại tín dụng của các tổ chức tín dụng áp dụng cho tất cả các đối tác thuộc tất cả các thành phần kinh tế, các ngành, các khu vực kinh

Trang 25

tế, các yếu tố kinh tế, cần có sự thay đổi.

- Tương tự như mọi loại tín dụng khác, cơ sở để hình thành quan hệ tín dụng giữa các tổ chức tín dụng với các đối tác thuộc các khu vực và ngành kinh tế cần phải thay đổi nói trên là niềm tin, sự tín nhiệm lẫn nhau Nếu không có niềm tin và sự tín nhiệm này sẽ không hình thành, không tồn tại và phát triển được quan hệ tín dụng Việc các tổ chức tín dụng đồng

ý chuyển giao quyền sử dụng số vốn của mình cho những người vay sử dụng trong một thời hạn nhất định là dựa trên cơ sở nắm chắc về thu hồi số vốn đó đủ cả gốc và lãi dựa vào việc nắm chắc mục đích, cách thức, điều kiện và hiệu quả sử dụng vốn của người vay Nếu nhu cầu này không được thoả mãn thì cũng không thể tồn tại, phát triển quan hệ tín dụng giữa hai bên Tuy vậy, những lợi ích do sự thay đổi CCKT mang lại không chỉ đơn thuần là nhữiig lợi ích kinh doanh, những lợi ích mang lại cho các chủ thể

là các doanh nghiệp và ngân hàng làm nhiệm vụ kinh doanh mà còn gồm nhiều lợi ích kinh tế- xã hội khác, cho các chủ thể khác trong nền kinh tế

Vì vậy, trong nhiều trường hợp tín dụng đối với CDCCKT còn mang những đặc điểm phi thương mại

- Mục đích cao nhất của CDCCKT là nhằm tạo ra CCKT mái, có tương quan hợp lý hơn, cân bằng và ổn định hơn, có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn và toàn diện hơn Điều này chỉ có thể đạt được trong các thời kỳ tương đối dài Do đó, mặc dù không phủ nhận vai trò của tín dụng ngắn hạn song phải khẳng định vai trò mang tính quyết định của tín dụng trung, dài hạn đối với CDCCKT

1.2.2 Một số chỉ tiêu phản ánh quan hệ tín dụng đối với chuyển dịch cơ

cấu kinh tế.

Sự tác động của tín dụng đối với CDCCKT cũng luôn đòi hỏi được xem xét, đánh giá bằng hệ thống các tiêu chí nhất định Yêu cầu chung là các tiêu

Trang 26

chí đó phải cho phép nhìn nhận, đánh giá đúng tác động của đồng vốn tín dụng với tư cách là một yếu tố đầu vào của nền kinh tế, và sự tác động của ýếu tố đầu vào này đối với sự thay đổi trong từng yếu tố và tổng thể các yếu

tố khác của nền kinh tế Mặt khác, những tiêu chí đưa ra cần phải mang tính toàn diện, phải bao gồm cả những tiêu chí về mặt lượng và những tiêu chí về mặt chất Tuy vậy, việc thỏa mãn đầy đủ, đúng đắn yêu cầu này nhiều khi không khả thi

Trên thực tế các cơ quan, các nhà quản lý kinh tế, tài chính thường sử dụng một số tiêu chí cơ bản sau:

- Tổng tín dụng cho CDCCKT Chỉ tiêu tổng dư nợ (tổng số tiền cho vay

tính đến một thời điểm nhất định) của các tổ chức tín dụng là phép đo tổng quát về quy mô tín dụng mà các tổ chức tín dụng đã cấp cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tất nhiên nó không được sử dụng hoàn toàn độc lập mà phải được xét trong tổng cơ cấu vốn đầu tư cho chuyển dịch CCKT Cơ cấu vốn đầu tư của nền kinh tế thay đổi khi tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng thay đổi

- Tăng trưởng tổng dư nợ tín dụng cho từng ngành của nền kinh tế Đây

là những chỉ tiêu cho phép nhận biết rõ nhất về tình hình mở rộng hoặc thu hẹp tín dụng của các tổ chức tín dụng đối với các ngành kinh tế Có thể đo lường bằng chỉ tiêu sau:

Trong đó: TDNli là tổng dư nợ đối với ngành (i) trong kỳ thực hiện; TDNoi là tổng dư nợ đối với ngành (i) trong thời kỳ trước; T li là mức tăng tổng dư nợ đối với ngành (i) tính bằng tiền; T2i mức tăng tổng dư nợ đối với ngành (i) tính bằng tỷ lệ phần trăm T li và T2i tăng phản ánh đã có sự mở rộng tín dụng và ngược lại sẽ là sự thu hẹp tín dụng khi T li và T2i giảm

Trang 27

- Tăng trưởng dư nợ tín dụng cho các thành phần kinh tế.

Đây là những tiêu chí cho phép nhận biết rõ nhất về tình hình mở rộng hoặc thu hẹp tín dụng của các tổ chức tín dụng đối với các thành phần kinh

tế Có thể đo lường bằng chỉ tiêu sau:

Trong đó: DNlj là tổng dư nợ đối vói thành phần kinh tế (j) trong kỳ thực hiện; TDNoi là tổng dư nợ đối với thành phần kinh tế (j) trong thòi kỳ trước; T3j là mức tăng tổng dư nợ đối với thành phần kinh tế (j) tính bằng tiền; T4i mức tăng tổng dư nợ đối với thành phần kinh tế (j) tính bằng tỷ lệ phần trăm T3j và T4j tăng phản ánh đã có sự mở rộng tín dụng và ngược lại

sẽ là sự thu hẹp tín dụng khi T3j và T4j giảm

- Tăng trưởng dư nợ tín dụng cho các khu vực lãnh thổ của nền kinh tế.

Đây là những tiêu chí cho phép nhận biết rõ nhất về tình hình mở rộnghoặc thu hẹp tín dụng của các tổ chức tín dụng đối với khu vực lãnh thổ của nền kinh tế Có thể đo lường bằng chỉ tiêu sau:

Trong đó: DNlk là tổng dư nợ đối với khu vực lãnh thổ (k) của nền kinh

tế trong kỳ thực hiện; DNok là tổng dư nợ đối với khu vực lãnh thổ (k) của nền kinh tế trong thời kỳ trước; T5k là mức tăng tổng dư nợ đối với khu vực lãnh thổ (k) của nền kinh tế tính bằng tiền; T6k mức tăng tổng dư nợ đối với khu vực lãnh thổ (k) của nền kinh tế tính bằng tỷ lệ phần trăm T5k và T6k tăng phản ánh đã có sự mở rộng tín dụng và ngược lại sẽ là sự thu hẹp tín dụng khi T5k và T6k giảm

- Chi phí, thu nhập, rủi ro tín dụng của các tổ chức tín dụng trong quá

Trang 28

phần chủ yếu nhất là chi phí về vốn, chi phí hoạt động tín dụng và chi phí

cơ hội của vốn Rõ ràng, để có vốn cho vay thì bản thân các tổ chức tín dụng phải huy động từ nhiều nguồn khác nhau Có thể là từ nguồn tiền gửi của khách hàng, nguồn vay từ các ngân hàng khác, vay từ Ngân hàng Trung ương, vay bằng cách phát hành trái phiếu và công cụ vay nợ khác, hoặc cũng có thể vốn tự có của bản thân các tổ chức tín dụng, Tương ứng những khoản chi phí phát sinh ở đây chính là lãi tiền gửi, tiền vay mà các

tổ chức tín dụng phải trả Đồng thời các tổ chức tín dụng cũng phải chịu nhiều khoản phí khác liên quan đến việc hình thành, quản lý các khoản tín dụng như: chi về hồ sơ, thủ tục, chi phí tiền lương và chi phí khác cho việc thẩm định và tái thẩm định tín dụng, Theo nguyên tắc kinh doanh thì mọi các tổ chức tín dụng đều có mong muốn hạ chi phí đến mức tối thiểu Song nhu cầu này rất khó thực hiện do phải đảm bảo lợi ích của các bên

liên quan khác Trên thực tế điều này thể hiện rõ nhất trong việc giải quyết

các bài toán về lãi suất tín dụng cho chuyển dịch CCKT Lãi suất huy động

và sử dụng vốn tín dụng quá cao thì các tổ chức tín dụng thuận lợi khi huy động vốn nhưng sẽ bị thiệt hại khi cho vay nền kinh tế Trái lại việc giảm thấp lãi suẩt huy động và sử dụng vốn sẽ tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô vay vốn của người vay nhưng bản thân các tổ chức tín dụng có thể

sẽ gặp khó khăn về bồi hoàn chi phí hoạt động và có thể không huy động

đủ vốn để cho vay

Việc xem xét tình hình rủi ro tín dụng cũng cho phép đánh giầ ở góc độ

nhất định quan hệ tín dụng đối với CDCCKT, chủ yếu trên phương diện về khả năng duy trì, phát triển quan hệ tín dụng Với nghĩa là những mất mát, thiệt hại về vốn và thu nhập của các tổ chức tín dụng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế, người ta thường đo rủi ro tín dụng bằng các chỉ tiêu về nợ quá hạn, phản ánh mức độ nợ quá hạn khi chúng cấp tín dụng cho nền kinh tế

Trang 29

Nhìn chung chỉ tiêu nợ quá hạn càng thấp là yếu tố phản ánh tính tích cực của việc duy trì, phát triển quan hệ tín dụng và ngược lại Các chỉ tiêu cơ bản thường dùng gồm:

Tổng Nợ quá hạn = Tổng giá trị các món nợ quá hạn của tất cả khách

hàng của các tổ chức tín dụng trong trong kỳ (8)

Tổng nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = -— - — - X 100 (9)

Tổng dư nợTổng nợ khó đòiHoặc, Tỷ lệ nợ khó đòi (%) = : -X 100 ! (10)

Tổng dư nợĐồng thời, nợ quá hạn trong cấp tín dụng nói chung của các ngân hàng còn được phân, tích theo nhiều tiêu thức khác như: nợ quá hạn theo từng loại cho vay: ngắn hạn, trung và dài hạn; nợ quá hạn phân tích theo nguyên nhân: khách quan, chủ quan, do ngân hàng hay do khách hàng, do môi trường kinh doanh; nợ quá hạn phân theo thành phần kinh tế, theo từng loại chủ thể vay vốn như nợ quá hạn của các doanh nghiệp, của các hộ gia đình, của các nông trường, của các Hợp tác xã,

Quan hệ tín dụng đối với CDCCKT cũng có thể được xem xét qua chỉ tiêu thu nhập và lợi nhuận của các tổ chức tín dụng, dưới góc độ phản ánh hiệu quả đầu tư tín dụng cho nền kinh tế Cùng với chỉ tiêu rủi ro và chi phí, diễn biến của chỉ tiêu này vừa cho phép nhìn nhận tác động của nền kinh tế đến hướng đầu tư của các tổ chức tín dụng, vừa cho phép đánh giá về sự đúng đắn trong lựa chọn hướng đầu tư tín dụng của chúng

- Quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của các các tổ chức

tín dụng phục vụ nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Các tổ chức tín dụng khi xây dựng kế hoạch đầu tư vốn phục vụ các mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn phải xem xét liệu họ có thể khai thác

Trang 30

nguồn vốn từ đâu? Theo hình thức nào? Chi phí đắt hay rẻ? Khối lượng vốn

có đủ đáp ứng yêu cầu hay không và ở mức độ nào? Do đó việc sử dụng những chỉ tiêu về sự thay đổi về quy mô, cơ cấu, hình thức nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng, một mặt cho phép đánh giá tình hình thay đổi

về quy mô, cơ cấu, hình thức tiết kiệm trong nền kinh tế, phản ánh sự thay đổi cơ cấu kinh tế trong các thời kỳ Mặt khác, nó cho phép đánh giá tác động của việc huy động nguồn vốn tín dụng đến khả năng cấp tín dụng của phục vụ thực hiện các mục tiêu CDCCKT của các tổ chức tín dụng Trong hoạt động của các tổ chức tín dụng sự tương hợp về quy mô, cấu trúc vay và cho vay luôn là yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự an toàn, bền vững và hiệu quả

trong quá trình hoạt động của chúng.

- Mức thay đổi sản lượng, năng suất ỉao động và thay đổi chi p h í vốn và thu nhập trong các ngành và khu vực kinh tế nhờ cố sự tác động của vốn tín dụng.

Sự cải thiện về sản lượng có thể đo trực tiếp bằng sản lượng có được từ việc thực thi từng phương án sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn vay và ở dạng tổng quát hơn có thể xem xét sự thay đổi trong cấu thành GDP của từng ngành, trong từng khu vực, từng thành phần kinh tế, ở thời kỳ trước và sau khi có các dự án đầu tư tín dụng

Sự cải thiện về năng suất lao động nhờ có sự tham gia của vốn tín dụng

có khó khăn hơn Dạng giản đơn là dùng phương pháp so sánh về năng suất lao động giữa hai tình huống trước khi và sau khi có sử dụng vốrì tín dụng xem có sự gia tăng hay không?

Riêng chỉ tiêu về chi phí vốn có thể trực tiếp đo lường bằng chi phí trả lãi tiền vay cùng các khoản phụ phí khác liên quan đến việc vay vốn tính

trung bình trên mỗi đồng vốn vay Tính hiệu quả sẽ thể hiện rõ ở trường hợp

tính trung bình trên mỗi đồng vốn vay là cao hơn chi phí tính trên mỗi đồng

Trang 31

vốn ứng với các phương án khác mà các chủ thể trong nền kinh tế có thể sử dụng để huy động vốn.

1.2.3 Vai trò tín dụng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Tín dụng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn có vai trò quan trọng trong điều tiết sự di chuyển vốn đầu tư giữa các khu vực, các ngành, các vùng của nền kinh tế, qua đó tác động tới quá trình bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận, thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện đời sống xã hội Có thể nêu bật vai trò quan trọng đó của tín dụng đối với CDCCKT trên các điểm căn bản sau:

Một là, thông qua thu hút và đầu tư vốn tín dụng cho các tổ chức kinh

tế, thuộc từng ngành kinh tế sẽ góp phần làm thay đổi cấu trúc nội bộ các ngành kinh tế và làm thay đổi cơ cấu kinh tế ngành.

Vì CCKT ngành là loại cơ cấu quan trọng nhất và là yếu tố quyết định nhất nên tác động của tín dụng vào chuyển dịch CCKT ngành là có ý nghĩa

rõ nét và bao trùm nhất Tín dụng góp phần hình thành các vùng trọng điểm, như các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao, các vùng cộng - nông nghiệp kết hợp, thay đổi cơ cấu cây con, để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành Chẳng hạn: ngành nông nghiệp, thông qua cho vay thu mua lương thực, thực phẩm để chế biến và xuất khẩu, tín dụng đã tạo điều kiện khai thông thị trường cho sản phẩm nông nghiệp, kích thích nông nghiệp phát triển Nhờ cho vay trung và dài hạn đã hình thành và mở rộng các vùng trổng cây ăn quả, cây công nghiệp, vùng nuôi trồng thuỷ sản có hiệu qúả và năng suất cao, phát triển ngành nghề và kinh tế trang trại, Hoặc đối với ngành công nghiệp, thông qua tín dụng thúc đẩy quá trình sắp xếp lại lực lượng các doanh nghiệp công nghiệp hiện có, phát triển các doanh nghiệp công nghiệp mới, phát triển các ngành công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,

Trang 32

Hai là, thông qua thu hút và đầu tư vôh cho cấc thành phần kỉnh tế, tín dụng tác động vào chuyển dịch cơ cấu thành phần kỉnh tế.

Theo nguyên tắc thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển đều cần có nguồn vốn, trong đó có vốn tín dụng Song vốn tín dụng nhìn chung sẽ chỉ được tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế làm ăn có hiệu quả không kể chúng thuộc thành phần kinh tế nào Vì thế muốn có vốn để hoạt động, để tồn tại và phát triển thì mọi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải tự khẳng định tính hiệu quả trong hoạt động của mình Hệ thống các tổ chức, các chủ thể kinh tế thuộc những thành phần kinh tế có hiệu quả hoạt động kinh doanh cao sẽ phát triển vững mạnh và ngược lại Kết quả chung là sự phân phối tín dụng đã góp phần làm cho cơ cấu thành phần của nền kinh tế thay đổi đi, hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất cũng như đóng góp của các thành phần kinh tế vào thu nhập của nền kinh tế cũng thay đổi đi Thực tế cho thấy nhiều dẫn chứng thuyết phục về sự tác động của tín dụng vào việc điều chỉnh tỷ trọng các thành phần trong nền kinh tế và thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần Chẳng hạn, thay đối cơ cấu doanh nghiệp thông qua đầu tư vốn tín dụng cho loại hình doanh nghiệp cổ phần, qua việc đầu tư vôri tín dụng vào các tổng công ty lớn thuộc ngành kinh tế mũi nhọn của Nhà nước,

Ba là, thông qua thu hút và đầu tư vốn tín dụng đã góp phần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu khu vực của nền kinh tế.

Để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế bền vững luôn cần duy trì tương quan kinh tế hợp lý giữa các vùng lãnh thổ, chẳng hạn như giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa các vùng sản xuất và tiêu thụ, Thông thường giữa các vùng kinh tế luôn có sự khác biệt khá lớn về cơ cấu ngành, cơ cấu nguồn lực, cơ cấu về sử dụng công nghệ, cơ cấu sản xuất và tiêu thụ Cơ cấu này sẽ thay đổi đi khi có sự tham gia của tín dụng thông qua quá trình làm thay đổi cơ cấu phân bổ nguồn lực tài chính giữa các vùng,

Trang 33

miền và trong nội bộ từng vùng, miền Trên thực tế điều này được minh họa khá rõ nét qua việc phát huy vai trò của tín dụng đối với sự hình thành các khu cồng nghiệp tập trung và phi tập trung, đối với sự bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn; đối với sự hình thành các vùng chuyên canh trong nông nghiệp,

Bốn là, tín dụng góp phần tạo điều kiện hoạt động và nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn của các doanh nghiệp.

Đối với những nước đang phát triển, trong đó đa phần các doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ, vốn rất ít nên phụ thuộc vào nguồn vốn đi vay là chủ

yếu Ngay như ờ Mỹ là nước có nhiều doanh nghiệp có quy mô lớn hàng đầu

trên thế giới thì người ta cũng vẫn thấy "nguồn vốn từ các ngân hàng là nguồn vốn bên ngoài quan trọng nhất để tài trợ cho các doanh nghiệp" [13].Tín dụng luôn có chức năng giám sát bằng đồng tiền Sự giám sát là để đảm bảo hiệu quả của đồng vốn cho vay, đảm bầo tiền cho vay không bị mất mát và có khả năng sinh led cao, chắc chắn Các tổ chức tín dụng dù thuộc loại hình nào đều cần phải định hướng đầu tư tín dụng vào các dự án, các kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có sức cạnh tranh lớn Vốn tín dụng sẽ được ưu tiên đầu tư cho các doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa đầu vào và đầu

ra Như vậy, để có thể tiếp cận và nhận dược các nguồn tín dụng, đòi hỏi các doanh nghiệp, cá nhân phải tính toán, cân nhắc các dự án trước khi xin vay Phải tiết kiệm chi phí, tăng vòng quay vốn, tăng năng suất lao động để hạ giá thành sản phẩm Kết quả chung là khi từng doanh nghiệp sử dụng vốn có có hiệu quả sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng vốn của cả hệ thống doanh nghiệp Trên một phương diện khác, trong nền kinh tế thị trường, tổ chức tín dụng còn phải thường xuyên cạnh tranh với nhau ở những mức độ khác nhau, nên các sản phẩm dịch vụ ra đời ngày càng đa dạng, phong phú và phù hợp với các nhu cầu của doanh nghiệp và cá nhân Vì thế, các tổ chức và cá nhân

Trang 34

khi tạm thời thừa vốn sẵn sàng gửi vào tổ chức tín dụng để thu lợi từ đồng vốn hiện có, còn các doanh nghiệp vay vốn sẽ có vốn sử dụng vào các dự án đầu tư có hiệu quả Kết quả đồng vốn của doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức tín dụng đều thu được hiệu quả cao hơn và như vậy vốn của toàn bộ nền kinh

tế cũng đã được sử dụng hiệu quả hơn

Năm là, tín dụng góp phần tác động tới sự hình thành đồng bộ hệ thống thị trường xã hội.

Hệ thống thị trường càng đầy đủ thì các câu hỏi: Cái gì? Như thế nào?

Và cho ai? càng được trả lời đầy đủ chính xác ở đó, các nhà sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng đã tìm đến với nhau và hiểu nhau không phải bằng lời nói mà phải thể hiện bằng vật chất, hàng hoá, vật phẩm cần trao đổi

Thông qua hoạt động tín dụng, các tổ chức tín dụng đã cho các nhà sản xuất kinh doanh, dịch vụ vay vốn để sản xuất, cung cấp hàng hoá dịch vụ thị trường cần Thị trường lại tạo cho các xí nghiệp hoạt động một cách độc lập, động viên tính tích cực của từng đơn vị qua cạnh tranh lành mạnh để điều tiết phân phối nguồn tài nguyên, nhân lực, vật lực, tài lực một cách hợp lý, dần dần hệ thống thị trường sẽ hình thành và phát triển Người sản xuất kinh doanh dịch vụ càng có nhiều vốn, thị trường càng sôi nổi

Sáu là, tín dụng góp phần thúc đẩy áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ trong nền kinh tế.

Ngoài các vai trò kể trên còn cần phải kể đến vai trò của tín dụng trong việc góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoầ, hiện đại hoá ở nông thôn, ở thành thị thường có quá nhiều khu công nghiệp, không còn chỗ để mở rộng hơn nữa Mặt khác, mật độ doanh nghiệp và khu công nghiệp quá dày còn gây ô nhiễm môi trường và nhiều hệ quả tiêu cực khác Vì vậy các khu công nghiệp tất sẽ phải mở rộng về nông thôn, nơi đất rộng, người đông, lao động rẻ làm giảm yếu tố đầu vào của quá

Trang 35

trình sản xuất Với hình thức cho vay ngắn hạn đối với các công trình xây dựng, các tổ chức tín dụng sẽ đáp ứng vốn cho bên thi công để thuê nhân công, thiết bị, mua nguyên vật liệu xây dựng và giải phóng mặt bằng, Bên cạnh đó các tổ chức tín dụng còn cho các doanh nghiệp, cá nhân vay vốn đối với các dự án vay vốn trung và dài hạn có hiệu quả cao và cho vay để xây

dựng cơ sở hạ tầng, cho vay mua sắm máy móc, thiết bị đối với các doanh nghiệp ở các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao, qua đó tạo điều

kiện thuận lợi áp dụng khoa học, kỹ thuật công nghệ tiên tiến

Bảy là, tín dụng góp phần đảm bảo sự lành mạnh về chính trị, xã hội và tạo điều kiện phát triển kinh tế tri thức.

Trên thực tế, những chương trình tín dụng như: cho vay phát triển nghề truyền thống, cho vay đi lao động xuất khẩu, cho vay tạo việc làm, của các

tổ chức tín dụng đã khẳng định được vai trò quan trọng của nó trong việc giải quyết công ăn việc làm, tạo điều kiện tăng tích luỹ cho bản thân các cá nhân

và gia đình và qua đó góp phần làm ổn định trật tự chính trị - xã hội

Bên cạnh đó các chương trình tín dụng học tập, dạng như cho vay sinh viên, cho vay du học, đã tạo điều kiện cho các sinh viên vay trang trải chi phí trong quá trình học tập, tạo điều kiện cho những học sinh học giỏi nhưng có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế được tham gia vào các chương trình đào tạo bậc cao, phát huy tài năng sau này cho đất nước Đây

là một khía cạnh thể hiện vai trò của tín dụng đối với sự nghiệp phát triển

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc phát huy vai trò của tín dụng đối

với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Các nhân tố ảnh hưởng đến phát huy vai trò của tín dụng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế gồm nhiều loại Song để tạo thuận lợi cho sự phân tích, có thể chia thành 3 nhóm chính, bao gồm: các nhân tố thuộc về các tổ chức tín

Trang 36

dụng, các nhân tố thuộc về khách hàng của các tổ chức tín dụng và các nhân

tố thuộc về môi trường kinh doanh nói chung

1.2.4.1 Nhóm nhân tố thuộc về các tổ chức tín dụng.

- Chiêh lược kỉnh doanh dài hạn của các tổ chức tín dụng.

Đối với mỗi một tổ chức kinh tế, việc xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh dài hạn là vô cùng quan trọng Chiến lược kinh doanh dài hạn của mỗi tổ chức tín dụng là phương án hoạt động kinh doanh tổng thể, dài hạn của nó, chúng bao gồm nhiều mặt nhưng luôn tập trung vào các hoạt động kinh doanh chủ yếu nhất, nhằm đạt được những mục tiêu kinh doanh chủ yếu và toàn diện nhất trong các thời kỳ tương lai tương đối dài hạn [11] Trong chiến lược kinh doanh, các nhà quản lý tại các tổ chức tín dụng đề ra các định hướng, nguyên tắc hoạt động, các mục tiêu cần đạt được, các phương pháp tiến hành, từ đó cụ thể hoá bằng các kế hoạch hành động Đối với mỗi tổ chức tín dụng, chiến lược kinh doanh sẽ định hướng cho hoạt động tín dụng của nó đó đối với các khu vực, các ngành, các chủ thể, các vùng khác nhau nhất định của nền kinh tế Chiến lược này có thể phản ánh đúng

đắn ở mức độ khác nhau đối với các yêu cầu khách quan của quá trình

chuyển dịch cơ cấu kinh tế do đó sẽ góp phần nâng cao hoặc làm giảm thấp vai trò của tín dụng đối với CDCCKT

- Chính sách tín dụng của tổ chức tín dụng.

Chính sách tín dụng là sự xác định tương đối cụ thể các định hướng căn bản cho việc kinh doanh tín dụng của mỗi tổ chức tín dụng, là sự cụ thể hóa chiến lược kinh doanh nói chung của nó Đối với mỗi tổ chức tín dụng, chính sách tín dụng là cương lĩnh hoạt động, nó hướng dẫn chung cho cán bộ và nhân viên làm công tác tín dụng, thúc đẩy tăng cường chuyên môn hoá trong theo dõi, phân tích và giám sát tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời Nội dung

Trang 37

của chính sách tín dụng là để trả lời cho các câu hỏi về quy mô các khoản tín dụng, thời hạn các khoản tín dụng, các hình thức cấp tín dụng được sử dụng Điều khoản của chính sách tín dụng được xây dựng dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như các điều kiện kinh tế, chính sách tiền tệ và tài chính của NHNN, khả năng về vốn của bên cho vay và nhu cầu tín dụng của người vay Khi các yếu tố này thay đổi, chính sách tín dụng cũng thay đổi theo Đối với mỗi loại đối tượng khách hàng, tổ chức tín dụng có thể đưa ra các chính sách khác nhau cho phù hợp Một chính sách tín dụng đúng đắn, sẽ thu hút nhiều khách hàng, vừa đảm bảo sự an toàn, vừa đảm bảo khả năng sinh lời, vừa đảm bảo thực hiện đúng chiến lược của tổ chức vừa đảm bảo tuân thủ các đường lối, chính sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội Bất cứ một ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng nào muốn có chất lượng tín dụng tốt cũng đều phải có chính sách tín dụng khoa học phù hợp, phù hợp với thực

tế của mình cũng như của thị trường

- Quy trình tín dụng.

Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, các bước tiến hành trong quá trình từ cho vay đến thu nợ nhằm bảo đảm an toàn tín dụng Quá trình này gồm từ nhận hồ sơ xin vay, thẩm định dự án, giải ngân, đến giám sát kiểm tra vốn vay và thu nợ

Quy trình tín dụng, trước hết phải kể đến công tác thu thập thông tin Công việc này không hoàn toàn nằm trong quy trình tín dụng, nhưng nó là bước cần thiết để đưa ra nhũng quyết định đúng đắn cho công tác thẩm định sau này Thông tin tín dụng càng nhanh, càng chính xác và toàn diện thì khả năng phòng chống rủi ro tín dụng càng lớn Thông tin tín dụng có thể được thu thập từ nhiều nguồn: từ thông tin tín dụng của các cơ quan quản lý hoạt động tài chính - tín dụng, từ các thông tin thu được qua báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng hay thu thập trực tiếp tại cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng hay qua báo cáo tài chính của khách hàng

Trang 38

Trong quy trình tín dụng, bước chuẩn bị cho vay rất quan trọng Bao gồm ba giai đoạn: tiếp cận, khai thác và tìm kiếm khách hàng, hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và thành lập hồ sơ vay vốn, phân tích thẩm định dự ần Đầu tư tín dụng phụ thuộc nhiều vào công tác thẩm định và các quy định về điều kiện, thủ tục cho vay của từng tổ chức cho vay.

Bước tiếp theo trong quy trình tín dụng là phân tích khả năng cho vay của tổ chức cho vay, ra quyết định cho vay, giải ngân và hạch toán khoản cho vay Việc cho vay nhiều hay ít, toàn bộ nhu cầu xin vay hay chỉ một phần là tuỳ thuộc điều kiện về vốn và khả năng kiểm soát chọ vay của bên cho vay Điều này cũng yêu cầu ghi rõ quy- trình tín dụng trong mục nêu về thẩm quyền của các cấp của tổ chức cho vay Quy trình này cũng cần nêu rõ trách nhiệm của các bộ phận liên đới trong hạch toán khoản tiền cho vay

Kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay giúp cho tổ chức cho vay nắm được diễn biến của khoản tín dụng đã cung cấp cho khách hàng, từ đó có được sự can thiệp cần thiết, ngẳn ngừa rủi ro có thể xảy ra Việc lựa chọn và áp dụng

có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu, góp phần nâng cao vai trò đầu tư tín dụng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thu hồi và xử lý nợ là khâu quyết định đến chất lượng đầu tư tín dụng

Sự nhạy bén của tổ chức cho vay trong việc kịp thời phát hiện những biểu hiện bất lợi đối với khách hàng cũng như những biện pháp tư vấn, xử lý kịp thời sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu những khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tác dụng tích cực đối với hoạt động tín dụng

Quy trình tín dụng của mỗi tổ chức cho vay không mang tính dập khuôn, cứng nhắc mà có sự linh động nhất định Tùy vào tình hình cụ thể

mà mỗi khách hàng sẽ có các quy trình riêíig Sự hợp lý của các bước trong quá trình này quyết định một phần rất quan trọng đối với đầu tư tín dụng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Một quy trình tín dụng

Trang 39

không phù hợp do thiếu các bước hoặc đủ nhưng tiến hành không tốt sẽ có nguy cơ dẫn đến một khoản vay xấu Song một quy trình chặt chẽ quá mức cũng bị coi là không hợp lý, không cần thiết, gây tốn kém, mất thời gian

và không hiệu quả

- Thông tin tín dụng.

Thông tin tín dụng cũng là một trong những yếu tố nhằm quản lý tín dụng Thông tin tín dụng chính xác, kịp thời sẽ tạo cơ sở để việc ra quyết định cho vay, theo dõi việc hoàn trả vốn vay và quá trình trả nợ của người cho vay được an toàn, chính xác Thông tin tín dụng có thể thu được từ nhiều nguồn khác nhau như qua hồ sơ vay vốn, qua các tổ chức tín dụng khác, qua đài báo, ấn phẩm và chủ yếu là qua tìm hiểu của cán bộ tín dụng Chất lượng thông tin tín dụng càng cao thì khả năng phòng ngừa rủi ro tíri dụng càng lớn Mặt khác, những thông tin tín dụng còn giúp tổ chức tín dụng điều chỉnh được kế hoạch kinh doanh, chính sách tín dụng một cách linh hoạt, qua đó góp phần nâng cao vai trò của tín dụng đối với đầu tư vốn của tổ chức nói chung và cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng

- Năng lực thẩm định dự án, thẩm định khách hàng.

Một trong những điều kiện bảo đảm tính hiệu quả trong đầu tư vốn tín dụng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế là việc hoàn trả vốn và lãi cho vay thực hiện đầy đủ, đúng kỳ hạn Điều này khó có thể đạt được nếu như bên cho vay thẩm định dự án không đạt hiệu quả hoặc bên vay vốn cố tình lừa gạt hoặc cũng có thể do những nguyên nhân bất thường khác ngoài tầm kiểm soát của

cả bên vay và cho vay Có thể nói đây là nhãn tố có vai trò quan trọng hàng đầu và nó phụ thuộc vào năng lực của tổ chức cho vay Để hạn chế nguy cơ này, yêu cầu khách quan đặt ra là mọi tổ chức tín dụng khi tham gia đầu tư cho vay phải thực hiện tốt công tác thẩm định cho vay Cán bộ tín dụng khi tiếp nhận và xử lý hồ sơ xin vay phải đảm bảo thẩm định tốt các dự án xin vay, rút ra những kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả sản xuất kinh

Trang 40

doanh những rủi ro để cổ thể, đồng thời đưa ra những khuyến cáo với chủ đầu

tư về thời hạn, số tiền vay sao cho phù hợp với năng lực của khách hàng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả

Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả tín dụng, ngoài việc thẩm định trước khi cho vay, tổ chức cho vay cũng cần chú ý đến công tác thẩm định sau khi cho vay để có biện pháp xử lý các tình huống phát sinh gắn với quá trình sử dụng tín dụng Hoạt động này cần chú ý tập trung vào các vấn đề như: mục đích vay vốn của khách hàng, sử dụng vốn có hiệu quả và sự minh bạch tài chính trong quá trình sử dụng vốn vay

- Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ của các tổ chức tín dụng.

Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ sẽ giúp cho các nhà lãnh đạo của các

tổ chức tín dụng nắm được tình hình hoạt động kinh doanh, kịp thời phát hiện những khó khăn, trỏ ngại, sai trái, từ đó đưa ra các biện pháp giải quyết kịp thời Công tác này là biện pháp để giúp các tổ chức tín dụng nắm được các thông tin cơ bản về khầch hàng, về quá trình hoạt động kinh doanh đầu tư của khách hàng sau khi được giải ngân Quá trình kiểm tra, giám sát là một quá trình quan trọng, góp phần nâng cao vai trò đầu tư tín dụng Nó một mặt góp phần nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro đối với bên cho vay, mặt khác có tác dụng hướng khách hàng đến các hoạt động tốt, tăng khả năng thành công cho họ Xét ở một mức độ cao hơn, quá trình này còn có đóng góp tích cực cho nền kinh tế dưới góc độ hỗ trợ, điều chỉnh, giám sát khách hàng, để đảm bảo họ đầu tư vốn, tổ chức sản xuất kinh doanh vào những ngành lĩnh vực được khuyên khích, theo đúng quy hoạch, kế hoạch của các địa phương và để giảm thiểu phần nào những hoạt động kinh tế tiêu cực của họ

- Năng lực tài chính của bản thân các tổ chức tín dụng.

Công tác đầu tư tín dụng của các tổ chức tín dụng chủ yếu là từ các nguồn vốn mà họ huy động được Bên cạnh các nguồn vốn ngắn hạn, nhìn

Ngày đăng: 18/12/2023, 18:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[17] Nguyễn Duệ (2001), Quản trị ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Duệ
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
[18] Nguyễn Thị Minh Hiền (1999), Marketing dịch vụ tài chính, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing dịch vụ tài chính
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hiền
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1999
[19] Nguyễn Văn Tiến (1994), Quán trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1994
[20] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1998), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
[21] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1996), Ngân hàng Việt Nam quá trình xây dựng và phát triển, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Việt Nam quá trình xây dựng và phát triển
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[22] Lê Văn Tư (1999), Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại
Tác giả: Lê Văn Tư
Nhà XB: NXB Thống kê - Hà Nội
Năm: 1999
[23] Lê Vinh Danh (1996), Tiền tệ và hoạt động ngân hàng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[24] Lịch sử 15 năm hoạt động Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 15 năm hoạt động Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
[26] Paul A.Samueson-Willam D.Nordhaus (1997), Kinh tế học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Tác giả: Paul A.Samueson-Willam D.Nordhaus
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[27] Peter S.Rose, Qudn trị ngân hàng thương mại (2001), NXB Tài chính [28] Peter s. Rose, James Wkolari (1994), Các định chế tài chính, Nhà xuất bảnThống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qudn trị ngân hàng thương mại" (2001), NXB Tài chính[28] Peter s. Rose, James Wkolari (1994), "Các định chế tài chính
Tác giả: Peter S.Rose, Qudn trị ngân hàng thương mại (2001), NXB Tài chính [28] Peter s. Rose, James Wkolari
Nhà XB: NXB Tài chính[28] Peter s. Rose
Năm: 1994
[32] Tạp chí Thị trường Tài chính- tiền tệ từ 1999-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thị trường Tài chính- tiền tệ
[34] Tạp chí Khoa học Ngân hàng từ 2000-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Ngân hàng
[35] Tô Ngọc Hưng (2001), Nghiệp vụ kinh doanh ngần hàng nâng cao, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ kinh doanh ngần hàng nâng cao
Tác giả: Tô Ngọc Hưng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
[36] Trần Minh Tuấn (2002), Những định hướng phát triển ngành ngân hàng, Tạp chí Quán lý nhà nước (số 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những định hướng phát triển ngành ngân hàng
Tác giả: Trần Minh Tuấn
Năm: 2002
[37] Văn kiện đại hội Đảng bộ lần thứXIV (4/2001) của Tỉnh ủy Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng bộ lần thứXIV (4/2001)
[38] Văn kiện của Đại hội Đảng khoá VI, VII, VIIII và IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện của Đại hội Đảng khoá VI, VII, VIIII" và "IX
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
[39] Văn bản pháp quy, Ngân hàng Nhà nước ban hành từ 1998- 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản pháp quy
[25] Luật doanh nghiệp, (số 13/1999) QH khoá X kỳ họp thứ 5 thông qua Khác
[29] Quyết định số 283/QĐ-NHNN14, ngày 25/8/2000 của Thống đốc NHNN vê việc ban hành Qui chế bảo lãnh ngân hàng Khác
[30] Quyết định số 284/NHNN1, ngày 25/8/2000 và Quyết định số 1627- NHNN, ngày 31/12/2001 về việc ban hành Qui chế tổ chức cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w