1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh thái bình,

115 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Tín Dụng Ngân Hàng Nhằm Thúc Đẩy Quá Trình Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Ở Tỉnh Thái Bình
Tác giả Vũ Quốc Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS. Vương Trọng Nghĩa
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế tài chính, ngân hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2007
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 29,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với quá trình chuyền dịch cơ cấu kinh tê T hứ n h ất: Tín dụng ngân hàng tác động vào sự hình thành và phát triển xu hướng chuyển dịch cơ cấu nền kinh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC Y IỆN NGÂN H ÀNG

LV.000639

v ũ QUỐC THUỶ

LU Ậ N VÃN T H Ạ C SỸ K IN H T Ế

T H Á I BÌN H - 2007

Trang 2

T H Ư V IỆ N

Só: Lự £ 3 3 .

Thái Bình - 2007

Trang 3

L Ờ I CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

Thái Bình, n g a y jf i tháng £ năm 2007

Tác giả luận văn

Vũ Quốc Thuỷ

Trang 4

CCKT Cơ cấu kinh tế.

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển.

Ngàn hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ngân hàng Công thương.

Ngân hàng Ngoại thương.

Ngân hàng Chính sách xã hội.

Ngân hàng thương mại.

Ngân hàng thương mại Nhà nước.

Ngân hàng Trung ương.

Ngoài quốc doanh.

Sản xuất kinh doanh.

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Cơ cấu kinh tế theo ngành ở tỉnh Thái Bình thời kỳ

3 Nguồn vốn hoạt động của các ngàn hàng thương mại

6 Cơ cấu dư nợ tín dụng của các NHTM Thái Bình

phân theo ngành kinh tế thời kỳ 1998 - 2005 2.6 50

7 Tương quan giữa cơ cấu kinh tế với cơ cấu dư nợ TÚI

8 Tương quan giữa cơ cấu kinh tế với cơ cấu

9 Cơ cấu đầu tư cho vay của các ngân hàng thương mại

10 Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm

11 Cân đối vốn đầu tư tỉnh Thái Bình thời kỳ 2001-2010 3.2 70

DANH MỰC CÁC BIỂU

1 Cơ cấu dư nợ của các ngân hàng thương mại trên địa

bàn phân theo ngành kinh tế thời kỳ 1998 - 2005 2.1 51

2 Doanh số cho vay trung, dài hạn của NHTM và đầu tư

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trang

1

Chương 1: T ÍN D Ụ N G N G Â N H À N G Đ ố i V Ớ I Q U Á T R ÌN H C H U Y Ể N D ỊC H c ơ C Ấ U K IN H T Ế 3

1.1 Cơ cấu kinh tê và chuyên dịch cơ cấu kinh t ê 3

1.1.1 Cơ cấu kinh tế 3

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 3

1.1.3 Các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế 6

1.2 Tín dụng ngân hàng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 7 1.2.1 Ngân hàng và tín dụng ngân hàng 7

1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 11

1.3 Cơ sở đế tín dụng ngân hàng tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tè 16 1.3.1 Những điều kiện về vốn 17

1.3.2 Cấp túi dụng 34

Chương 2: T H Ự C T R Ạ N G H O Ạ T Đ Ộ N G N G Â N H À N G T H U Ơ N G M Ạ I Đối V Ớ I C H U Y Ể N D ỊC H C ơ C Ấ U K IN H T Ế T H E O H U Ớ N G C Ô N G N G H IỆ P H O Á , H IỆ N Đ Ạ I H O Á T R Ê N Đ ỊA B À N T ỈN H T H Á I B Ì N H 32

2.1. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tê trên địa bàn tỉnh Thái Bình thời kỳ 1998-2005 32

2.1.1 Những tiềm năng, thế mạnh về kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình 32

2.1.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Thái Bình 34

2.2. Thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng đôi với chuyển dịch cơ cấu kinh tê trên địa bàn tỉnh Thái Bình 42

2.2.1 Hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Thái Bình 42

2.2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Thái Bình 43

2.3 Đánh giá chung về hoạt động ngân hàng thương mại đôi với chuyển dịch cơ cấu kinh tê trên địa bàn tỉnh Thái B ìn h 58

2.3.1 Những kết quả đạt được 58

Trang 7

2.3.2 Những tổn tại và nguvên nhân 59

Chương 3: NHỮNG GIẢI P H Á P VỂ H O Ạ T Đ Ộ N G T ÍN D Ụ N G N G Â N H À N G G Ó P P H Ầ N

T H Ú C Đ Ẩ Y C H U Y Ể N D ỊC H c ơ C Ấ U K IN H T Ế T R Ê N Đ ỊA B À N T IN H T H Á I B ÌN H 66

3.1 Định hướng về hoạt động tín dụng ngân hàng đối với chuyên dịch cơ cấu

kinh tè trên địa bàn tỉnh Thái Bình 66

3.1.1 Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Thái Bình 66

3.1.2 Quan điểm và định hướng về hoạt động tín dụng ngàn hàng trên địa bàn tỉnh Thái Bình nhằm góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế 72

3.2 Những giải pháp chủ yếu về hoạt động tín dụng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tẻ trên địa bàn tỉnh Thái B ình 78

3.2.1 Giải pháp về huy động vốn của ngân hàng thương mại góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế 78

3.2.2 Giải pháp tăng cường đầu tư tín dụng của ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Bình góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế 84

Trang 8

1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, cùng với cả nước, nền kinh tế tỉnh Thái Bình đã từng bước đạt được những kết quả đáng khích lệ Tổng sản phẩm trong tỉnh năm 2005 đạt 6.455 tỷ đồng, gấp 1,42 lần năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 7,21% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực:

Tỷ trọng giá trị sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp giảm, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp, xây dựng và dịch vụ có chiều hướng gia tăng Tuy nhiên, so với cả nước và các tỉnh trong vùng đổng bằng Sông Hồng, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh Thái Bình còn chậm, chưa động viên khai thác đầy đủ, có hiệu quả khả năng sẵn có về vốn, về tài nguyên và về nguồn lao động dồi dào của địa phương.

Để thực hiện chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI, cần có sự tác động của nhiều nguồn lực, một trong những khâu then chốt cần giải quyết là vấn đề vốn Do đó, vấn đề cấp bách đặt ra là phải tiếp tục đổi mới hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng có hiệu quả yêu cầu về vốn cho phát triển kinh tế của địa phương.

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra, tôi đã lựa chọn đề tài:

"Giải pháp tín dụng Ngân hàng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tình Thái Bình " làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình.

2 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu

- Hệ thống hoá một số vấn đề cơ sở luận về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như tín dụng ngàn hàng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động của tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong những năm qua trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ đó tìm ra các tổn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó.

- Đề xuất những giải pháp đổi mới hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Thái Bình.

Trang 9

3 Đỏi tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tín dụng ngân hàng đối với quá trình chuyển dịch CCKT.

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Bình, thời gian từ năm 1998 đến năm 2005.

4 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử trong nghiên cứu kinh tế, đặc biệt là trên lĩnh vực tài chính - tiền tệ, đổng thời áp dụng phương thống kê, phàn tích tổng hợp, điều tra, so sánh và sử dụng các số liệu, tình hình thực tê để qua đó khẳng định các kết quả nghiên cứu của luận văn.

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu đồ và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Tín dụng ngân hàng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu KT Chương 2: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với chuyển dịch cơ cấu

kinh tế trên địa bàn tỉnh Thái Bình.

Chương 3: Giải pháp tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Thái Bình.

Trang 10

CHƯƠNG 1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH c ơ CẤU KINH TÊ

1.1 Cơ cấu kinh tê chuyển dịch cơ cấu kinh tê

Việc phát triển nền kinh tế có hiệu quả là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia Muốn đạt được mục đích trên đòi hỏi phải có một CCKT hợp lý, phải xác lập và giải quyết mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng lãnh thổ và các thành phần kinh tế.

1.1.1 C ơ cấu kinh tê

Nhìn chung các cách tiếp cận CCKT phản ánh bản chất của CCKT, đó là các vấn đề:

+ Tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia.

+ Số lượng và tỷ trọng của các nhóm ngành và của các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nước.

+ Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các yếu tố hướng vào mục tiêu đã xác định.

CCKT bao giờ cũng gắn với những điều kiện không gian và thời gian cụ thể, những điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội cụ thể và thích hợp với mỗi nước, mỗi vùng hoặc có thể của mỗi DN, mỗi thời kỳ, nó bao gồm:

Cơ cấu kinh tế ngành: Là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện tương quan tỷ lệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Thay đổi mạnh mẽ CCKT ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển.

Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia, người ta thường phân tích theo ba nhóm ngành (khu vực) chính:

- Nhóm ngành nông nghiệp: Bao gồm các ngành nông, lâm, ngư nghiệp.

Trang 11

- Nhóm ngành công nghiệp: Bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng.

- Nhóm ngành dịch vụ: Bao gồm thương mại, du lịch, bưu điện, dịch vụ

Cơ cấu lãnh thổ: Cơ cấu lãnh thổ là biểu hiện vật chất cụ thể của phân công lao động theo lãnh thổ, là không gian thích hợp các giao điểm của các quá trình, các sự kiện diễn ra trong nó Như Vày, CCKT lãnh thổ được hình thành chủ yếu

từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý Vì thế trình độ hình thành, phát triển và hoàn thiện cơ cấu lãnh thổ hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển của phân công lao động theo lãnh thổ Đến lượt mình, trình độ phát triển của phân công lao động theo lãnh thổ lại phụ thuộc vào trình độ CNH, HĐH mà động lực chính của nó là cuộc cách mạng khoa học công nghệ.

Cơ cấu thành phán kinh tế: Nếu như phàn cồng lao động xã hội là cơ sở hình thành cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ thì chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế Cơ cấu thành phần kinh tế là tổng thể các hình thức kinh tế, các khu vực kinh tế tổn tại trong mối quan hệ tương tác với nhau, vận động và phát triển phù hợp với các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối) tương ứng với nó.

Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa trên cơ sở hộ thống tổ chức kinh tế với các chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội Theo nghĩa đó, cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ Sự tác động đó là một biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế.

Cơ cấu kỹ thuât và cống nghê: Là tổng thể các loại trình độ (thế hệ) kỹ thuật và công nghệ tổn tại trong mối quan hệ tương tác giữa công cụ thủ công, nửa cơ khí, tự động hoá trong quá trình CNH, HĐH tương ứng với các nguồn lực, trong đó quan trọng nhất là vốn và sức lao động.

Cơ cấu tái sản xuất xã hổi: Là một cấu trúc được xem xét trong mối quan

hệ tương tác giữa các khâu của quá trình sản xuất - phân phối - lưu thông - tiêu dùng.

Như vậy, cơ cấu được sử dụng để biếu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống Cơ cấu được biểu hiện

Trang 12

như là tập hợp những mối quan hệ liên kết, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định Cơ cấu là thuộc tính của hệ thống Nền kinh tế quốc dân là một

hệ thống phức tạp, tinh tế và năng động, do vậy CCKT của nó cũng mang tính đa

cơ cấu Với đặc tính đa cơ cấu, việc trình bày một số cơ cấu chủ yếu nói trên xét

về mặt nội dung không phải là tất cả, mà chỉ là những cơ cấu chủ yếu trong hệ thống CCKT quốc dân.

Tuy nhiên ba bộ phận cơ bản hợp thành CCKT là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu lãnh thổ có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó

cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả.

1.1.2 Chuyên dịch cơ cấu kinh tế

CCKT không ngừng vận động và phát triển từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp; một CCKT mới được bắt nguồn từ sự vận động, biến đổi chuyển dịch CCKT trước đó, từ sự điều chỉnh và tích luỹ về lượng đủ mức dẫn đến sự biến đổi

về chất.

Chuyển dịch CCKT là sự vận động và phát triển đi lên tiếp cận một CCKT phù hợp nhất, đó là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế.

Trong chuyển dịch CCKT thì chuyển dịch CCKT ngành có vai trò quyết định nhất vì nó quyết định sản xuất cái gì? sản xuất bao nhiêu? chất lượng thế nào? sản xuất cho ai?

Chuyển dịch CCKT vùng kinh tế là lựa chọn vùng nào sản xuất cái gì? sản phẩm nào? ngành nào? sản xuất bao nhiêu? để khai thác được tối đa thế mạnh của từng vùng nhằm đạt chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội cao.

Chuyển dịch CCKT theo thành phần kinh tế là lựa chọn thành phần kinh tế nào sản xuất cái gì? sản xuất bao nhiêu? thì khai thác tối đa được sức mạnh của thành phần kinh tế đó và đảm bảo được hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất.

Chuyển dịch CCKT xét về mặt kỹ thuật công nghệ là quá trình thay thế công cụ lao động thủ công, năng suất lao động thấp bằng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại, năng suất lao động cao; đảm bảo cho tỷ trọng thu nhập quốc dân được tạo ra do công nghệ hiện đại, phương pháp và phương thức tiên tiến tăng lên và chiếm ưu thế trong toàn bộ thu nhập quốc dân của nền kinh tế.

Trang 13

1.1.3 Các nhân tố tác động đến chuyên dịch cơ cấu kinh tê

CCKT và xu hướng chuyển dịch CCKT chịu sự tác động chi phối của nhiều nhân tố khác nhau Các nhàn tố đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và có thể định hướng tích cực hoặc tiêu cực tới CCKT và sự chuyển dịch CCKT Các nhân

tố tác động đến CCKT và sự chuyển dịch CCKT có thể phân thành các nhóm sau:

1.1.3.1 Nhóm nhân tố về địa lý - tự nhiên

Nhân tố về địa lý - tự nhiên như vị trí địa lý, điều kiện đất đai và các nguồn tài nguyên khác như nguồn nước, khoáng sản có tác động quan trọng tới sự hình thành, vận động và sự biến đổi của CCKT.

Ớ mỗi quốc gia, các vùng, địa phương có vị trí địa lý khác nhau thì các điều kiện đất đai, khí hậu, hệ sinh thái khác nhau Sự khác nhau của các điều kiện tự nhiên dẫn đến sự khác nhau về số lượng, quy mô các ngành trong nền kinh tế Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên của mỗi vùng, mỗi địa phương có thể làm cho quy mô, số lượng của các ngành giữa các vùng có sự khác nhau và chính

sự khác nhau đó sẽ dẫn đến sự khác nhau về cơ cấu ngành Do vị trí địa lý khác nhau, mặt khác do tính đa dạng, phong phú của tự nhiên mà các nguồn lực tự nhiên khác nhau nên một số vùng có những điều kiện thuận lợi để phát triển một

số ngành sản xuất, tạo ra những lợi thế so với các vùng, địa phương khác.

1.1.3.2 Nhóm nhân tố về kinh tế - tổ chức

Đây là nhóm nhân tố liên quan đến thị trường, các nguồn lực và các công

cụ chủ yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế và chuyển dịch CCKT.

+ Nhân tố thị trường: Trong nền kinh tế hàng hoá nhân tố thị trường có ảnh hưởng quyết định tới sự phát triển kinh tế và sự hình thành, biến đổi CCKT Những người sản xuất hàng hoá chỉ sản xuất và đem ra thị trường trao đổi những sản phẩm mà họ cảm thấy chúng đem lại lợi nhuận thoả đáng Như vậy, thị trường thông qua quan hệ cung cầu mà tín hiệu là giá cả hàng hoá sẽ thúc đẩy hay hạn chê sản xuất, người sản xuất tự xác định khả năng tham gia cụ thể của mình vào thị trường để sản xuất những loại hàng hoá nào có lợi nhất Do vậy,

Trang 14

trên thị trường sẽ xuất hiện các loại hàng hoá dịch vụ với quy mô và cơ cấu khác nhau phản ánh phần nào CCKT ở từng vùng, từng địa phương.

Các quan hệ thị trường góp phần hết sức quan trọng vào việc thúc đẩy sự phàn công lao động trong nền kinh tế, là một trong những cơ sở để hình thành CCKT mới Bằng cách đó CCKT được hình thành khách quan theo tiếng gọi của thị trường.

+ Nhàn tố xã hội bao gồm số lượng và chất lượng nguồn lao động, phong tục tập quán, kinh nghiệm sản xuất , nhất là nhân tố con người có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành và chuyển đổi CCKT CCKT mang tính khách quan nhưng sự hình thành nó nhanh hay chậm, hợp lý hay không lại do sự tác động của con người Trình độ tay nghề, trình độ canh tác của người lao động cao hơn thì sẽ có điều kiện thuận lợi để chuyển dịch CCKT nhanh hơn và đặc biệt nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển dịch CCKT theo hướng sản xuất hàng hoá Trong các nhân tố có tác động đến quá trình chuyển dịch CCKT, nhân tố

có những tác động cực kỳ quan trọng đó là nhân tố vốn đầu tư ,nó là một trong những điều kiện quan trọng để tăng trưởng kinh tế nhanh và xây dựng được CCKT hợp lý.

Mặt khác, trong giai đoạn đầu chuyển dịch CCKT đối với cả nước nói chung, Thái Bình nói riêng do mức xuất phát điểm rất thấp, tích luỹ hầu như không có Do đó, tình trạng thiếu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế là tất yếu Bởi vậy, trong đầu tư tín dụng phải xác định được trật tự ưu tiên đối với những đối tượng, những vùng, những ngành kinh tế trọng điểm cấp bách trong nền kinh tế

Từ đó tạo sự ổn định và phát triển kinh tế, đưa tiến trình chuyển đổi CCKT hoàn thành trong một giai đoạn nhất định.

Từ những phàn tích trên có thể khẳng định được vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn vốn và chính sách tín dụng góp phần đẩy mạnh chuyển dịch CCKT nói chung và trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói riêng.

1.2 Tín dụng Ngân hàng đôi với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tê

1.2.1 N gàn hàng và tín dụng ngân hàng

1.2.1.1 Ngân hàng thương mại

Trang 15

NHTM là một định chế tài chính trung gian, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Hoạt động kinh doanh của Ngàn hàng cũng giống như một DN thương mại, đều hướng tới mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận NHTM tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay để cho vay lại.

Hàng hoá của NHTM là một loại hàng hoá đặc biệt, đó là tiền Giá cả của hàng hoá này biểu hiện ra bên ngoài là các mức lãi suất huy động hoặc lãi suất cho vay, chịu tác động bởi quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường và trên cơ sở khoản lợi nhuận đạt được khi đưa vốn vay vào sản xuất kinh doanh Để có hàng hoá kinh doanh, ngân hàng phải tạo ra được tiền, cũng như đa dạng các hình thức huy động vốn để có vốn cho vay Đổng thời, Ngân hàng cũng đa dạng hoá các hình thức cho vay nhằm phân tán giảm thiểu rủi ro Với nhiệm vụ kinh doanh, NHTM còn thực hiện các dịch vụ trung gian hưởng hoa hổng.

Ngày nay, hệ thống NHTM phát triển mạnh mẽ, nó tham gia sâu rộng vào vào tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội Sự đa dạng và phong phú các nghiệp vụ kinh doanh đã làm cho NHTM trở thành một tổ chức kinh doanh không thể thiếu trong tiến trình phát triển kinh tế.

NHTM là định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất, nó hoạt động mang tính tổng hợp, các định chế tài chính khác hoạt động trong một lĩnh vực hẹp hơn Ngoài ra, NHTM còn là thành viên chủ yếu tham gia vào hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn Với chức năng quan trọng của NHTM, Chính phủ các nước rất quan tâm đến hoạt động kinh doanh ngân hàng Nhà nước phải ban hành Luật Ngân hàng để tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng và hướng hoạt động ngàn hàng cho phù hợp với lợi ích chung của quốc gia.

Trong quá trình phát triền kinh tế thế giới, hệ thống NHTM đã trở thành một định chế tài chính trung gian lớn nhất và quan trọng nhất (trong việc đi vay

để cho vay).

Theo điều 20 khoản 2 và 7 Luật các TCTD đã được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X kỳ họp thứ hai thông qua ngày 12/12/1997 định nghĩa NHTM như sau:

NHTM là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Hoạt động ngân hàng là

Trang 16

hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.

Từ những định nghĩa trên và nhận thức của bản thân cho phép kết luận: NHTM là một DN hoạt động kinh doanh tiền tệ, trong đó có hai nghiệp vụ cơ bản:

Thứ nhất: Nhận tiền gửi của khách hàng - nghĩa là các NHTM sẽ nhận những khoản ký thác của các DN, cá nhân, các tổ chức dưới các hình thức ngắn, trung, dài hạn và không kỳ hạn.

Thứ hai: Sử dụng các khoản ký thác đó để cho vay, chiết khấu đối với các

cá nhân, DN trong nền kinh tế và làm phương tiện thanh toán cho các khách hàng của NHTM.

1.2.1.2 Tín dụng ngân hàng

Nói về tín dụng ngân hàng Mác đã chỉ rõ:

“ Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thòi giá trị của người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”.

Tín dụng là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế hàng hoá; không chỉ có ai chỉ mua mà không bán và ngược lại Là người sản xuất hàng hoá, lúc này họ xuất hiện với tư cách là người bán, lúc khác họ lại xuất hiện với tư cách là người mua Sự xuất hiện của tiền tệ trong quá trình sản xuất không ăn khớp với nhau về thời gian và không gian nên nảy sinh ra những mâu thuẫn trong xã hội Có những doanh nghiệp đã tiêu thụ được hàng hoá nhưng chưa đến kỳ trả công cho người lao động, chưa phải mua nguyên nhiên vật liệu hoặc các khoản chi chưa phải thanh toán tức là có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi Ngược lại có doanh nghiệp chưa tiêu thụ được hàng hoá nhưng lại có nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất, trả lương cho người lao động, thanh toán công nợ có nghĩa là cần một khoản tiền để chi tiêu.

Tín dụng là một phạm trù kinh tế thuộc về kinh tế hàng hóa, là mối quan

hệ kinh tê phát sinh giữa hai chủ thể là những người hoặc các quốc gia khác

Trang 17

nhau về khả năng và nhu cầu tiền tệ, có nhu cầu chuyển nhượng giá trị và chấp nhận giá trị Tín dụng không chỉ là một hình thức vận động của vốn tiền tệ (vốn vay) mà còn là một loại quan hệ xã hội, trước hết là lòng tin Từ xa xưa, tín dụng dựa trên lòng tin là chủ yếu, đến nay nó được bảo trợ của pháp luật nhà nước Song tín dụng không phản ánh mọi mối quan hệ xã hội, mà chỉ những quan hệ

xã hội biểu hiện các mối liên hệ vay mượn Tín dụng biểu hiện các mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình phàn phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả

Cở sở vật chất của tín dụng là tiền tệ và hàng hóa.

Như vậy xét trên phạm vi trên toàn xã hội, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh, một bộ phận dân cư có số tiền nhàn rỗi trong lưu thông với tư cách

là người sở hữu tiền tệ ai cũng muốn sao cho đồng tiền của mình sinh lời Ngược lại có doanh nghiệp, dân cư cần sử dụng số tiền đó trong thời gian nhất định và

họ chấp nhận trả một số tiền lời nhất định.

Nói cách khác: Tín dụng Ngân hàng là mối quan hệ giữa ngân hàng và các khách hàng là các doanh nghiệp và các cá nhân hộ gia đình thực hiện bởi nghiệp vụ huy động tiền gửi, cho khách hàng vay và tài trợ thuê mua.

Có thể nói chức năng tín dụng là đặc trưng và cơ bản nhất của ngân hàng,

có ý nghĩa đạc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nó chính là "cầu nối" giữa cung và cầu vốn trong xã hội, khơi nguồn vốn từ những người có thể vì lý do gì đó không dùng nó một cách sinh lợi sang những người

có ý muốn dùng nó để sinh lợi.

Khi Ngân hàng nắm trong tay nhiều khoản tài chính của xã hội thì vấn đề nẩy sinh ra Ngân hàng là nơi giữ nhiều tiền nhất Nhờ vào hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển mà người rút tiền ra khỏi Ngân hàng thì ít, người ký thác tiền vào Ngân hàng ngày càng nhiều.

Lợi dụng sự chênh lệch giữa thu tiền mặt vào thì nhiều, chi tiền ra thì ít nên các Ngân hàng có thể sử dụng một phần tiền mặt để cho vay khách hàng cần tiền

mà họ chưa có được các khoản thu Nói khác đi, Ngân hàng thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng với cam kết của khách hàng là sẽ hoàn trả cho Ngân hàng toàn bộ số vốn vay và một khoản tiền lãi kèm theo vào một thời hạn cụ thể Điều này đã tạo cho tín dụng ngân hàng có một vị trí quan trọng trên thị trường tài chính là có thể thoả mãn yêu cầu của khách hàng về một khoản thanh

Trang 18

toán nào đó mà khách hàng cần bất cứ lúc nào, nếu Ngân hàng tin tưởng rằng người vay có thể hoàn trả được nợ.

Chính vì việc cấp tín dụng này mà Ngàn hàng được coi là người có thể tạo

ra tiền Vì khi Ngân hàng cho một khách hàng vay tiền trên cơ sở số dư tiền gửi thanh toán của khách hàng, Ngân hàng đã tạo ra trong lưu thông thêm một khoản tiền nữa

Chính nhờ vào TDNH mà nhiều cá nhàn, tổ chức chưa tập trung được các khoản tài chính của mình vẫn có thể chi tiêu, mở rộng sản xuất làm cho hàng hoá ngày càng lưu thông nhanh chóng hơn

Chức năng trung gian tín dụng của các ngân hàng được hình thành rất sớm, ngay từ lúc hình thành các ngân hàng Ngày nay, thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân

Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá, tín dụng Ngân hàng

đã trải qua một quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp về

kỹ thuật nghiệp vụ, từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng lớn về không gian Tín dụng Ngân hàng có những đặc điểm sau:

M ột là : Tín dụng Ngân hàng là tín dụng bằng tiền, không bị hạn chế về không gian và địa lý

H ai là : Qui mô của túi dụng Ngân hàng có thể thoả mãn nhu cầu của người vay, nếu họ có đủ điều kiện

1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với quá trình chuyền dịch cơ cấu kinh tê

T hứ n h ất: Tín dụng ngân hàng tác động vào sự hình thành và phát triển xu hướng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân thông qua việc đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng lớn, đa dạng, phong phú của kinh tế thị trường

+ Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời thông qua quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh góp phần tác động vào sự hình thành và chuyển dịch CCKT

Trang 19

TDNH đóng vai trò trung gian giữa sản xuất với lưu thông, giữa tiết kiệm với đầu tư, giữa đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài sẽ tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, trong toàn bộ xã hội để đáp ứng nhu cầu vốn không chỉ cho duy trì tái sản xuất giản đơn mà quan trọng hơn là góp phần đầu tư tái sản xuất mở rộng nền kinh tế quốc dàn

Trong nền kinh tế thị trường, ai cũng muốn đồng vốn của mình "sinh sôi nảy nở", thừa hoặc thiếu vốn tạm thời tại một thời điểm, hay một chu kỳ nào đó của mỗi DN, mỗi cá nhân là một điều tất yếu trong quá trình sản xuất Việc phân phối vốn TDNH góp phần điều hoà, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục, tức là TDNH đóng vai trò trung gian để giải quyết việc đọng vốn tạm thời ở

DN, cá nhân khác Trong phạm vi đó rõ ràng TDNH đóng vai trò điều hoà vốn từ nơi tạm thời thừa đến nơi tạm thời thiếu vốn mà không hề làm tăng thêm cũng như làm giảm bớt tổng quỹ tiền tệ trong toàn xã hội

TDNH thu hút nguồn vốn tiết kiệm trong các tầng lóp dân cư, trong các tổ chức kinh tế - xã hội bao gồm tiền gửi có kỳ hạn ngắn hạn, trung dài hạn và không kỳ hạn, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng với qui mô ngày càng lớn cả chiều sâu lẫn bề rộng; TDNH thực sự làm cho đổng vốn "đơm hoa kết trái"

Trong qua trình hoạt động, TDNH như là một nguồn hình thành vốn lưu động, vốn cố định (Ngân hàng tạo ra tiền) để bổ sung thiếu hụt vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, thức đẩy quá trình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào hoạt động kinh doanh của chủ DN qua đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng qui mò sản xuất

+ TDNH tác động điều tiết sự di chuyển vốn đầu tư, làm bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận, thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển TDNH bao giờ cũng chú trọng đầu tư vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, hạn chế hoặc không đầu

tư vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp Nhờ đó mà TDNH làm thay đổi cơ cấu đầu tư hoặc chuyển hướng đầu tư trong từng DN và thay đổi cơ cấu ngành kinh tế

+ TDNH tác động làm giảm các chi phí sản xuất, góp phần làm giảm chi phí lưu thông, tiết kiệm vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh của các DN (không để lãng phí về vốn), tạo điều kiện cho các DN tăng lợi nhuận, tâng tích luỹ vốn cho đầu tư phát triển theo hướng CNH, HĐH

Trang 20

Thứ hai: Với tư cách là cầu nối giữa tiết kiệm với đầu tư, hoạt động tín dụng ngân hàng tạo động lực kích thích các thành phần kinh tế thực hành tiết kiệm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn nhàn rỗi để tiến hành đầu tư cho vay, nhờ đó mà góp phần kích thích các nguồn lực trong các tầng lớp dân cư, các

tổ chức kinh tế - xã hội trở thành các yếu tố nội sinh thúc đẩy sự hình thành và chuyển dịch CCKT

Mặt khác TDNH còn có vai trò trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài với các hình thức như: Đầu tư trực tiếp vào các DN có vốn đầu tư nước ngoài (DN 100% vốn nước ngoài, DN liên doanh với nước ngoài), thu hút nguồn vốn vay của nước ngoài để đầu tư cho nền kinh tế; thực hiện tốt danh mục hàng hoá, thiết bị trả chậm, sử dụng hạn mức L/C thanh toán với nước ngoài trở thành các yếu tố "ngoại sinh" hết sức quan trọng cho quá trình chuyển dịch CCKT

Kết hợp những yếu tố "nội sinh" với những yếu tố "ngoại sinh" tạo thành lực cộng hưởng cho quá trình hình thành và phát triển chuyển dịch CCKT, TDNH vừa là công cụ vừa là động lực quan trọng cho quá trình này

Thứ ba: Vốn tín dụng ngàn hàng là công cụ tài trợ chính thúc đẩy các ngành kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế phát triển, chuyển dịch theo các định hướng chiến lược; góp phần tác động, kết hợp khai thác tiềm năng

và thế mạnh về đất đai, tài nguyên thiên nhiên và lực lượng lao dộng, tạo điều kiện để giải phóng sức sản xuất, sức lao động và khai thác triệt để các nguồn lực trong nền kinh tế cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế: Chú trọng đầu tư tín dụng cho ngành

nông nghiệp nhằm chuyển đổi nhanh và mạnh cơ cấu nội ngành, áp dụng nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học để thâm canh, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị trên một đơn vị diện tích, tăng sản phẩm hàng hoá của ngành nông nghiệp có tính cạnh tranh Ưu tiên đầu tư cho ngành sản xuất công nghiệp, nhằm đưa tỷ trọng giá trị công nghiệp tăng nhanh chóng, trong đó đầu tư phát triển nhanh các ngành công nghiệp chế biến nông lâm, thuỷ hải sản, các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động; các ngành có lợi thế so sánh, có lợi thế cạnh tranh về thị trường, nguyên liệu và lao động Tiếp tục tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Đầu tư mạnh cho ngành dịch vụ quan trọng như tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, hàng không,

Trang 21

du lịch phát triển và nàng cao chất lượng hoạt động; mở rộng thị trường trong nước và phát triển mạnh thị trường ngoài nước

Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng- Đối với vùng miền núi thì tập trung

khai thác lợi thế kinh tế về tài nguyên đất đai, phát triển trồng rừng, phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp thích hợp

Đối với vùng đồng bằng, ven biển thì đẩy mạnh thâm canh cây lương thực, phát triển nuôi trồng thuỷ sản, khai thác hiệu quả các cảng cá, đầu tư chiều sâu công nghiệp chế biến hải sản

Đối với vùng đô thị chỉ tập trung phát triển mạnh công nghiệp cơ - kim khí Tập trung đầu tư để phát triển nhanh, mạnh các vùng trọng điểm, các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế mở nâng động

Về đầu tư phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, các chương trình, các khu vực kinh tế lớn: Với năng lực tài chính lớn mạnh, NHTM tập trung đầu tư cho

vay các ngành kinh tế mũi nhọn, các dự án, chương trình kinh tế trọng điểm, góp phần hình thành các khu công nghiệp tập trung Đây là những khu vực, những ngành, những lĩnh vực cần yêu cầu một khối lượng vốn lớn Mặt khác các DN và dân chúng vói thực trạng tài chính, kỹ thuật, công nghệ yếu kém của mình cũng đòi hỏi một lượng vốn lớn từ NHTM để đổi mới thiết bị công nghệ, tạo ra sản phẩm có thế cạnh tranh trên thị trường

Nói cụ thể hơn, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong chuyển dịch

cơ cấu ngành, cơ cấu nội bộ từng ngành và cơ cấu thành phần kinh tế trong các vùng lãnh thổ, các địa phương

Thứ tư: Thực hiện chức năng giám đốc đổng vốn cho vay, hoạt động tín

dụng của ngân hàng góp phần tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các DN.Với cơ chê tín dụng cơ bản là "đi vay để cho vay" và "vay có hoàn trả cả gốc và lãi (lợi tức)", nếu quá hạn thì phải chịu lãi suất phạt cao hơn, do vậy mà hoạt động tín dụng của ngân hàng phản ánh phần nào kết quả sản xuất kinh doanh của DN và thực sự là kênh vốn đảm bảo thanh toán tốt nhất yêu cầu nàng cao hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn cho chuyển dịch CCKT

Để bảo đảm an toàn vốn tín dụng ngân hàng không đầu tư vào những DN làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, vốn chủ sở hữu thấp, tình hình tài chính không

Trang 22

lành mạnh; không đầu tư vào những dự án thiếu tính khả thi Điều đó buộc người vay phải tìm mọi biện pháp để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tăng vòng quay vốn, tăng khả năng tích luỹ vốn Có nghĩa là tăng cường hạch toán kinh tế và chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách hợp lý hơn Trong nhiều trường hợp buộc người vay phải cơ cấu lại cả bộ máy tổ chức hoạt động sản xuất - kinh doanh của họ.

Thứ năm: Hoạt động tín dụng ngân hàng tác động hình thành đồng bộ hệ

thống thị trường bao gồm cả quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng và các yếu

tố cần thiết cho sản xuất kinh doanh như lao động, vốn, đất đai

Vốn tín dụng ngân hàng không chỉ tập trung đầu tư vào các ngành sản xuất

mà còn rất chú trọng đầu tư vào các ngành thương mại, dịch vụ đảm bảo cho quá trình luân chuyển vốn được thông suốt Vốn tín dụng ngân hàng không chỉ đầu

tư cho lĩnh vực sản xuất mà còn chú trọng cho vay tiêu dùng sinh hoạt nhằm kích thích tiêu dùng sinh hoạt tạo điều kiện để tiêu dùng sản phẩm xã hội kích thích sản xuất phát triển

Thứ sáu: Tín dụng ngân hàng tác động tới quá trình chuyển dịch CCKT

thông qua việc thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ, giao lưu kinh tế quốc tế.Trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, phát triển kinh tế của mỗi nước luôn gắn liền với sự phát triển của khu vực và của thế giới, chính sách mở cửa của nước ta nhằm mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài Đối với nước ta vấn

đề có ý nghĩa thiết thực là ở chỗ, từ một nền kinh tế lạc hậu, nông nghiệp là chủ yếu muốn chuyển đổi thành một nền kinh tế tiên tiến, vói một CCKT hợp lý thì yêu cầu tranh thủ sự hợp tác với nước ngoài, tranh thủ thiết bị chuyển giao công nghệ hiện đại của các nước tiên tiến là tất yếu khách quan

Rõ ràng, tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng, nó trở thành phương tiện để giải quyết yêu cầu đó một cách có hiệu quả thông qua việc cung ứng vốn bằng ngoại tệ; cung ứng dịch vụ thanh toán quốc tế; cung ứng hạn mức L/C thanh toán; tư vấn các vấn đề liên quan đến TDNH trong quan hệ quốc tế

Thứ bẩy: Tín dụng ngân hàng tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu

các thành phần kinh tế, đặc biệt là góp phần vào sự hình thành và phát triển các công ty cổ phần và thị trường chứng khoán

Trang 23

Với định hướng chiến lược thị trường, với những quan điểm chính sách và những giải pháp thực hiện nhằm đa dạng hoá khách hàng không phân biệt thành phần kinh tế theo phương châm an toàn, hiệu quả, vững chắc Tín dụng ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc thương mại, thị trường sẽ tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế, hàng loạt các DN nhỏ và vừa ra đời với

đủ hình thức sở hữu; nhiều DNNN được thực hiện cổ phần hoá, hoặc bán, khoán, cho thuê hoặc được cơ cấu lại cho phù hợp với năng lực quản lý

Riêng về công ty cổ phần, phải nói đây là mồ hình tổ chức hữu hiệu, nó đã, đang và sẽ được áp dụng rộng rãi trong nền kinh tế thị trường Sự ra đời, tồn tại

và phát triển của loại hình này không thể tách rời vai trò tác động của tín dụng ngân hàng Bởi vì trong nền kinh tế sự hoạt động của thị trường vốn, thị trường tiền tệ là các hoạt động có liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng và chính nhờ có hoạt động này mà việc phát hành cổ phiếu, chuyển nhượng và mua bán

cổ phiếu, kể cả trong quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh mới có môi trường thực hiện và đây cũng chính là môi trường hoạt động của NHTM

Các công ty cổ phần là một trong những thành phần chủ lực tham gia vào quá trình cung ứng hàng hoá (chứng khoán) cho thị trường chứng khoán Do đó, bên cạnh công cụ tín dụng thì các DN phải sử dụng công cụ của thị trường chứng khoán nhằm phát huy vai trò của mình trong đầu tư sản xuất kinh doanh

1 3 C ơ s ở đ ể tín d ụ n g N g â n h à n g tá c đ ộ n g đ ế n c h u y ể n d ịc h c ơ cấ u k in h tê

Dự báo đến năm 2010 và 2020, cơ cấu kinh tế của cả nước sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng của dịch vụ và công nghiệp Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm xuống còn 14% năm 2010 và 9% năm 2020; tỷ trọng công nghiệp tăng tương ứng lên 42% và 45%; dịch vụ tâng lên 44% và 46%

Cơ cấu kinh tế của các vùng cũng chuyển dịch theo hướng tăng dần các ngành, các sản phẩm chủ lực đóng góp nhiều vào GDP quốc gia Riêng vùng ĐBSH, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2010 và 2020 như sau: các ngành phi nông nghiệp của vùng ĐBSH chiếm khoảng 90% trong tổng GDP, các sản phẩm chủ lực đóng góp 60-65% GDP Cơ cấu kinh tế của vùng là cơ cấu hiện đại với các ngành mũi nhọn có khả năng đột phá, có sức cạnh tranh

Trang 24

Để đạt được xu thế trên Thái Bình phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh hơn, nhanh hơn so với các đĩa phương trong vùng Để đáp ứng được yêu cầu trên tín dụng ngân hàng trên địa bàn phải giải quyết những vấn đề sau:

1.3.1 N hững điều kiện về vốn

Việc chuyển đổi CCKT đòi hỏi phải có những điều kiện vật chất nhất định tương ứng với yêu cầu hình thành và chuyển đổi của nó Để đáp ứng sự đòi hỏi

về các điều kiện vật chất thì nhất thiết phải đầu tư và phải có vốn đầu tư

Nguồn vốn đầu tư để hình thành hay chuyển đổi CCKT bao gồm: Nguồn vốn tự có của các chủ thể kinh tế (vốn ngân sách, vốn từ dân cư, vốn kinh doanh của DN), nguồn vốn đi vay, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn tài trợ phát triển chính thức và tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ.Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, giải quyết tốt vấn đề vốn là một trong những điều kiện quan trọng để tăng trưởng kinh tế và xây dựng CCKT hợp

lý, phù hợp Để giải quyết vấn đề nguồn vốn đáp ứng nhu cầu chuyển dịch CCKT thì nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại có ý nghĩa quyết định

Trong cơ chế thị trường, huy động vốn qua kênh túi dụng ngân hàng chiếm

vị trí vô cùng quan trọng Bởi vì huy động qua kênh tín dụng ngân hàng là hình thức “đi vay để cho vay” Nó giải quyết cả hai đầu (đầu ra và đầu vào), tạo ra kênh lưu thông vốn trong xã hội rất nhanh nhạy Vậy khai thác nguồn vốn này như thê nào là trách nhiệm trước hết thuộc về các tổ chức tín dung và cũng là giải pháp chủ lực trong chiên lược huy động vốn lâu dài; thực hiện phương châm nguồn vốn trong nước là quyêt định, nguồn vốn nước ngoài là quan trọng”

Đối với tỉnh Thái Bình, trong lúc nguồn vốn ngân sách hết sức hạn hẹp, thì huy động vốn thông qua kênh ngân hàng thương mại có ý nghĩa vô cùng quan trọng Để khai thác tốt nguồn vốn này cần xử lý tốt các vấn đề:

1.3.1.1 Phải xác lập chiến lược huy động vốn phù họp với đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương, cụ thể:

- Đổi mới cơ chê huy động vốn tại các tổ chức tín dụng, trong đó, trước hêt là các Ngàn hàng thương mại phải là lực lượng để thường xuyên tăng trưởng nguồn vốn tín dụng Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế mở và sử dụng các

Trang 25

- Mở rộng phạm vi sử dụng tài khoản tiền gửi Theo chế độ hiện hành, các

đơn vị mở tài khoản chỉ sử dụng tài khoản của mình để hạch toán các khoản giao dịch trong phạm vi hoạt động của đơn vị được quy định trong giấy phép kinh doanh Nay trong cơ chế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp mang tính tổng hợp Do đó nếu xác định giới hạn phạm vi sử dụng tài khoản sẽ gây trở ngại cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Không chấp nhận thanh toán thì các doanh nghiệp sẽ bị xa lánh và tránh

sự kiểm soát của ngân hàng, không thanh toán thông qua tài khoản tiền gửi, gây rối loạn trong thanh toán Số dư trên tài khoản sử dụng như thế nào là quyền của chủ tài khoản Các Ngân hàng thương mại chỉ thực hiện thanh toán theo lệnh của chủ tài khoản một cách nhanh chóng, tiền lợi và chỉ từ chối khi phát hiện doanh nghiệp phát hành séc quá số dư, chứng từ không hợp lệ

- Áp dụng chế độ thưởng phạt đối với công tác thanh toán và sử dụng tiền

mặt

Để đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi của cả đôi bên: khách hàng và ngân hàng nên có chính sách thưởng phạt rõ ràng Nếu ngân hàng chậm thanh toán theo yêu cầu của khách hàng hoặc chuyển tiền sai địa chỉ thì ngân hàng phải bổi thường cho khách hàng phù hợp với thiệt hại do ngân hàng gây ra cho khách hàng Ngược lại, nếu khách hàng vi phạm quy chế thanh toán, như đổi séc hưởng

tỷ lệ, cho thuê mướn tài khoản thì bị phạt Qua một thời kỳ nhất định, ngân hàng cần tổng kết và thưởng cho khách hàng thực hiện tốt công tác thanh toán Quy chế này trong thời kỳ bao cấp đã thực hiện, nay cần duy trì ở mức hợp lý hơn

Trang 26

- Cần có chiến lược khách hàng, đặc biệt là khách hàng có số dư tiền gửi

lớn và thường xuyên thanh toán ngân hàng Ngân hàng nên có chính sách ưu tiên lãi suất cả tiền gửi và cho vay với mức độ nhất định so với thông thường, nhằm động viên họ gửi tiền vào ngân hàng, tránh sự cho vay mượn lẫn nhau không qua ngân hàng

1.3.1.1 Đa dạng hoá các hình thức huy động tiết kiệm khác nhau: Tiết kiệm

không thời hạn và có thời hạn; tiết kiệm bằng vàng, ngoại tệ; tiết kiệm xây dựng nhà ở Để thực hiện, cần cố gắng mở rộng mạng lưới huy động đến tận địa bàn dân cư; đofn giản hoá thủ tục; đổi mới phong cách giao dịch; mở rộng hình thức tiền gửi một nơi, lĩnh nhiều nơi

Mở rộng hình thức kỳ phiếu, tiết kiệm thành các loại giấy tờ có giá có khả năng chuyển nhượng (và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu) Áp dụng các loại tiết kiệm dưỡng già, tiết kiệm hưu trí, Đặc biệt là cơ chế lãi suất tiết kiệm phải phù hợp với diễn biến của thị trường và tỷ lệ lạm phát Lãi suất tiết kiệm phải được điều chỉnh hài hoà, đảm bảo lợi ích của người gửi tiền có được lãi suất thoả đáng Lãi suất tiết kiệm phải kích thích người gửi, gửi càng lâu, lãi suất càng cao, nhằm động viên tối đa nguồn tiền nhàn rỗi mà trước đây người dân thường cất trữ bằng vàng, ngoại tệ để dự phòng

Việc áp dụng nhiều hình thức huy động vốn chắc chắn sẽ làm nguồn vốn tăng lên, đáp ứng tối đa nhu cầu đa dạng của dân chúng Huy động vốn phải trên

cơ sở đảm bảo an toàn, bí mật, thuận tiện cho khách hàng Việc huy động vốn bằng hình thức này hay hình thức khác không thể tự ý “bày đặt”, mà phải nghiên cứu kỹ thị trường và tâm lý xã hội Chẳng hạn, mỗi hình thức ra đời phải nghiên cứu cụ thể các yếu tố: sự ổn định kinh tế, trình độ kinh tế hàng hoá, chính trị, xã hội, đời sống của nhân dân, phong tục tập quán,

Trong đầu tư tín dụng và một số lĩnh vực có nhiều rủi ro, như cho vay hộ sản xuất luôn gắn liền với điều kiện thiên nhiên nên thường xuyên bị thiên tai đe doạ Việc đầu tư tín dụng ngàn hàng cho nông nghiệp đã chứa đựng khả năng rủi

ro rất lớn, trong khi yêu cầu nàng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả đầu tư là vấn đề vô cùng cấp bách và thiết thực đối với hoạt động của ngân hàng Chính vì

lẽ đó, cần thiết lập Quỹ phòng ngừa rủi ro tín dụng với sự tham gia của ngân hàng và ngân sách Nhà nước, xin kiến nghị cụ thể:

Trang 27

2 0

+ Trích từ lợi nhuận của ngân hàng đầu tư cho hộ sản xuất, mức độ phải tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng vùng mà quy định Ngân hàng Truns ương nên khống chế tỷ lệ tối đa, sau đó giao quyền chủ động cho Ngân hàng thương mại vận dụng tuỳ thuộc vào điều kiện của địa phương

+ Trong đầu tư tín dụng, nên áp dụng biện pháp hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất, như phân tán khách hàng, tức là nhiều tổ chức tài chính tài trợ cho một

dự án (quy chê đồng tài trợ), hình thức bảo hiểm mùa màng, bảo hiểm tín dụng, tài sản thế chấp phải thực sự là sở hữu của khách hàng

+ Ngàn sách Nhà nước chi vốn bảo trợ cho nông nghiệp, cho phép đầu tư tín dụng với lãi suất thấp, nhằm góp phần tăng trưởng vốn đầu tư, kích thích sản xuất phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế

- M ở rộng việc phát hành kỳ phiếu ngân hàng:

Việc phát hành kỳ phiếu ngàn hàng được thực hiện mấy năm trở lại đây đã phát huy tác dụng tốt và có hiệu quả Trên cơ sở rút kinh nghiệm, nên tiếp tục duy trì và phát triển nó Các Ngân hàng thương mại căn cứ vào nhu cầu vốn của các doanh nghiệp từng thời kỳ, từng hoàn cảnh mà phát hành kỳ phiếu không thường xuyên, mỗi khi phát hành đều có mục đích

Thực tế hiện nay các Ngân hàng thương mại phải luôn phát hành kỳ phiếu

để tạo ra nguồn vốn và phần lớn số dư tiền gửi tiết kiệm lại được rút ra và chuyển sang mua kỳ phiếu có mục đích Như vậy việc huy động vốn sẽ ít đem lại hiệu quả thiết thực Để khắc phục, cần xác định lãi suất huy động vốn trên mức độ rủi

ro và thời điểm đến hạn Bên cạnh hình thức huy động kỳ phiếu như lâu nay vẫn làm, nên áp dụng hình thức huy động kỳ phiếu chuyển nhượng, tạo điều kiện thuận lợi cho người gửi và góp phần tạo lập thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán ở nước ta khi điều kiện cho phép

1.3.1.3 Huy động vốn thông qua thị trường tiền tệ và thị trường vốn

Để có vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trước hết phải cải cách và hoàn thiện thị trường tín dụng nhằm đổi mới các quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng thương mại với khách hàng bằng cách đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, tăng cường việc cung ứng vốn của Ngân hàng Nhà nước cho các Ngân hàng thương mại trên cơ sở tái chiết khấu, tái cấp vốn

Trang 28

- Thị trường tiền tệ:

Thị trương tiên tệ, trong đó thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng mới được mở ra Nhu cầu vốn càng tăng đặt ra cho các ngân hàng thương mại phai có kê hoạch và biện pháp cụ thể để thu hút vốn thông qua các thi trường này Trước hết phải hiện đại hoá công nghệ thanh toán để đầy nhanh tốc độ luân chuyển vốn trên từng địa bàn cũng như cả nước Chính sách lãi suất cũng phải được hoàn thiện trên cơ sở cung cầu tiền tiền tệ, cải tiến tổ chức theo hướng xoá

bỏ khâu trung gian, gắn chặt với sản xuất ở cơ sở, góp phần tăng nhanh vònơ

quay vốn, nàng cao hiệu quả vốn sẩn có trong xã hội

Để ngành ngân hàng thực hiện các giải pháp nói trên, Chính phủ có chính sách hô trợ, như thành lập Quỹ đầu tư trong nước và ngoài nước, sắp xếp lại các doanh nghiệp, tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước Cho phép mở rộng diện các doanh nghiệp được tổ chức đấu thầu trái phiếu doanh nghiệp; nhất

la cac doanh nghiệp có khả năng phát triển nhưng đang thiếu vốn Tăng cường sư hoạt động của cơ quan kiểm toán để có những thông tin trên thị trường chính xác, hạn chế gian dối và lừa gạt trên thị trường, Ban hành sớm các bộ luật cần thiết và triển khai nó có hiệu quả, như: Luật chứng khoán và kinh doanh chứng khoán

- Thị trường vốn:

Thị trường vốn hình thành và phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn dài hạn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu Mặt khác đây cũng là nơi tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể chuyển cổ phiếu thành tiền mặt một cách dễ dàng và nhanh chóng Hiện nay, các Ngân hàng thương mại huy động vốn chủ yếu là ngắn hạn Nguồn vốn trung và dài hạn chỉ được mở rộng trên cơ sở thông qua thị trường vốn dài hạn, nhưng hiện nay phát hành trái phiếu trên thị trường này còn rất khó khăn, vì khả năng thanh toán chỉ thuận tiện khi có thị trường vốn hoàn chỉnh Khi có thị trường vốn, nó sẽ tạo ra khả năng đa dạng, người đầu tư có thể tự ý lựa chọn nơi và hình thức đầu tư, tuỳ thuộc vào năng lực của họ

Xét trên khía cạnh pháp lý về quan hệ giữa các đối tượng hoạt động trên thị trường, hiện có ba loại thị trường vốn: thị trường ngầm, thị trường tín dụng qua hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là

Trang 29

ra đời, giải quyết nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế.

Nên thành lập Trung tâm tư vấn tín dụng và đầu tư để giúp đỡ nguời có tiền vốn nhàn rỗi lựa chọn hình thức đầu tư có lợi nhất tuỳ vào khối lượng tiền vốn của từng người và kế hoạch sử dụng tiền vốn của họ Trước mắt trung tâm tư vấn tín dụng và đầu tư hoạt động dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Nhà nước, sau một thời gian có thể chuyển sang hoạt động dịch vụ, vừa làm tư vấn, vừa làm marketing cho hệ thống Ngân hàng thương mại

1.3.1.4 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cần gắn kết với việc hình thành và phát triển các trung gian tài chính khác để luân chuyển vốn, vận động vốn có hiệu qủa

Vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế là nguồn vốn tổng hợp của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, được hình thành từ nhiều nguồn; nguồn vốn tín dụng ngân hàng chỉ là một bộ phận trong tổng nguồn vốn đó Hơn nữa bản thân ngàn hàng cũng là một trung gian tài chính, nên sự phối kết hợp trong hệ thống ngân hàng là tất yếu

Do đó, muốn vốn tín dụng ngân hàng phát huy hiệu quả và đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thì phải gắn kết với các nguồn vốn đầu tư của các trung gian tài chính khác đang hoạt động trên thị trường tài chính cùng đầu tư vào quá trình công nghiệp hoá nền kinh tế Điều này phải được thể hiện rõ trong chiến lược vốn gắn liền với việc giải quyết các yêu cầu cung ứng và chuyển dịch các nguồn vốn trong nền kinh tế giữa các chủ nguồn vốn, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp

Chính vì vậy, các giải pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu vốn là một bộ phận cấu thành của chính sách huy động và sử dụng vốn của Ngân

Trang 30

hàng thương mại Chính sách này có liên quan và định hướng, trước hết là hệ thống các tổ chức trung gian, chuyên làm nghiệp vụ vay trả (huy động vốn cho vay vốn) và các nghiệp vụ môi giới, giao dịch vốn Đó là hệ thống các Ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, các quỹ tín dụng nhân dân, các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí

Đối với chúng ta, suốt một thời gian dài, hệ thống các tổ chức tài chính trung gian đã không được chú ý hình thành, hoàn thiện phát triển Do đó, cả về

số lượng, loại hình và công nghệ phục vụ, chúng ta đã lạc hậu so với thế giới hàng nhiều chục năm Điều đó không những cản trở tới việc thực hiện chính sách đầu tư mà còn gây thiệt hại rất nhiều cho nền kinh tế do không thu hút được các nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư phát triển Nó còn là nguyên nhân làm phát sinh tự phát các hoạt động tài chính không chính thức (với các dịch vụ cho vay năng lãi, chơi phường, chơi hụi )

Việc khắc phục thiếu sót trên, đòi hỏi phải tiến hành hàng loạt các giải pháp cấp bách, bao gồm:

- Hình thành và phát triển đa dạng hệ thống các Ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, các quỹ tín dụng nhân dân làm nhiệm vụ thu hút vốn từ tất

cả các tầng lớp dân cư, các tổ chức xã hội và các doanh nghiệp để cung ứng cho sản xuất, đời sống và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Có một hệ thống luật pháp thống nhất, đồng bộ, đảm bảo quyền lợi về tài sản, vốn của người chủ sở hữu các khoản tiền gửi, tiền vay và các hợp đổng cung ứng, sử dụng vốn

- Thực hiện một chính sách hợp lý và sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức thu hút và cung ứng vốn, đảm bảo giá trị tiền gửi của người có tiền, hạn chế rủi ro, tăng cường chữ tín trong xã hội và trong nhân dân

- Hình thành và đổi mới hoạt động của các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí nhằm tăng cường và mở rộng diện hoạt động bảo hiểm, hạn chế tổn thất do rủi

ro bất ngờ gây ra trong sản xuất và đời sống Đổng thời, các tổ chức bảo hiểm phải trở thành những đơn vị cung ứng vốn quan trọng thông qua việc giành một phần phí thu được để mua cổ phiếu và trái phiếu các cồng ty; trái phiếu hoặc tín phiếu của Nhà nước

Trang 31

- Phát triển đa dạng các hình thức thu hút vốn thông qua việc cho phép phat hanh cac chứng khoán ngăn han và dài han của Nhà nước (công trái quốc

gia, tín phiếu kho bạc), của doanh nghiệp, của các ngân hàng Trên cơ sở đó

sơm hình thành thị trường tài chính (thị trường tiền tệ và thị trường vốn) trong cả nước Trước mắt tổ chức hoạt động của sở giao dịch chứng khoán tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

- Đổi mới công nghệ phục vụ của các tổ chức trung gian tài chính, nhằm mục đích phục vụ nhanh, gọn và kịp thời các yêu cầu về mua bán chứng khoán ngoại tệ, về thanh toán, chuyển nhượng mua bán các giấy tờ có giá

Nghiên cứu các mặt hoạt động của các tổ chức trung gian tài chính, của thị trường tài chính và sở giao dịch chứng khoán cho thấy hoạt động này rất phức tạp, nhưng cũng rất cần thiết đối với nền kinh tế trong quá trình luân chuyển các nguồn vốn tiền tệ, phục vụ cho các nhu cầu của sản xuất và đời sống Để có một thị trường tài chính thực sự, trước hết phải đảm bảo các điều kiện nhất định cho

sự ra đời và phát triển của các công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu; sự hoàn thiện và hoạt động đa dạng của các tổ chức tài chính trung gian, mà trung tâm là

hệ thống các ngân hàng thương mại

Bên cạnh đó, hệ thống luật pháp phải được ban hành một cách đồng bộ chặt chẽ, để có thể giám sát hoạt động của thị trường này, chống lại các hành vi lưa đao, bảo vệ lợi ích của người mua và người bán chứng khoán; kiểm tra tư cách pháp nhân, tài sản, vốn của các công ty và các nhân viên môi giới trên thị trương Và cuối cùng, phải có quy chế về luật chơi rõ ràng, bình đẳng cho các bên tham gia thị trường

Tóm lại, việc mở rộng các hình thức huy động và thu hút vốn của Ngân hang thương mại cho quá trình chuyển dịch CCKT là hết sức quan trọng và cần thiêt, song cần có bước đi cụ thể, rõ ràng cả tầm vĩ mô, vi mô bao gồm những hình thức trực tiếp, gián tiếp và sự kiên trì trong thực hiện Chúng ta sẽ khắc phục được khó khăn và tìm ra được những giải pháp xử lý nếu thực sự coi đây là một nội dung cấu thành của chiến lược huy động và sử dụng vốn

1.3.2 Cấp tín dụng

Trang 32

Để góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tín dụng ngân hàng cần tập trung giải quyết các vấn đề sau:

1.3.2.1 Về khách hàng, đối tượng vay

Theo Luật các TCTD, có 4 hình thức chủ yếu cấp tín dụng là: cho vay, bảo

lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn

v ề cho vay, theo quy chế hiện hành của NHNN có các hình thức cho vay:

cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay lưu vụ

Về khách hàng, Quy chế cho vay của NHNN quy định:

- Các pháp nhân là: DNNN, HTX, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty

cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 94 Bộ Luật dân sự

- Cá nhân; Hộ gia đình; Tổ hợp tác; Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; Các pháp nhân và cá nhân nước ngoài

Về đối tượng được vay, Quy chế cho vay của NHNN quy định:

- Để mua sắm các tài sản và các chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật không cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi

- Để thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật không cấm

- Để đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch mà pháp luật khôngcấm

1.3.2.2 Nội dung chủ yếu của tín dụng ngân hàng đối với quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế

Trong giai đoạn đẩy nhanh CNH-HĐH nông nghiệp, nông thổn, đã xuất hiện những đối tượng vay mới cần được bổ sung cụ thể hoặc phải được tập trung đầu tư; cũng tương tự về khách hàng cũng phải được làm rõ hơn và các hình thức

Trang 33

2 6

cho vay cũng phải được bổ sung cho phù hợp Có những nội dung cần chú ý để phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010

* Một là, đảm bảo đủ vốn cho 100% hộ nông dân cần vốn vay với mức

sản xuất hàng hóa giản đơn.

Đối với những hộ này, thực hiện rộng rãi “xã hội hóa” tín dụng ngân

hàng bằng sự phối hợp giữa ngân hàng với chính quyền cơ sở xã, phường và với

các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp Sự xã hội hóa này sẽ dần dần triệt tiêu nạn cho vay lãi nạng và nạn “cò tín dụng”

Để mở rộng diện hộ vay không có tài sản bảo đảm và hộ vay tín chấp của

các tổ chức chính trị - xã hội, hộ nghèo vay vốn của NHCSXH, cần thể chế hóa

trách nhiệm của các cấp chính quyền xã, phường, trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội tín chấp, trách nhiệm của Ban đại diện NHCSXH từ khâu xác

nhận, đề nghị hoặc xét duyệt hộ được vay đến đôn đốc và phối hợp với ngân hàng xử lý thu hội nợ vay Mặt khác phải có sự hỗ trợ, phối hợp của các tổ chức khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, để khắc phục tình trạng có vốn mà thiếu kiến thức, kém kỹ năng sản xuất sẽ dẫn đến hiệu quả thấp (sản phẩm chất lượng kém, giá thành cao, )

* Hai là, đối với các hộ sản xuất hàng hóa lớn, các chủ trang trại, các

doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất nông nghiệp:

Đây là khách hàng tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao, giá thành hạ, có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và có thể cung cấp nguyên liệu đủ tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp chế biến trong nước Với khách hàng

này cần thực hiện đầu tư theo chương trình, theo dự án có sự phối hợp các loại

vốn (ngân sách, tín dụng nhà nước, tín dụng thương mại) và gắn kết giữa người sản xuất, nhà chê biến và tiêu thụ, nhà khoa học và đặc biệt xúc tiến thương mại

xác định được thị trường tiêu thụ ổn định, đảm bảo có lãi Quan tâm đầu tư hình thành các chủ trang trại có quy mô khá lớn, có trình độ quản lý, có kiến thức để làm nòng cốt tập hợp các hộ nông dân nghèo giúp họ sản xuất, tiêu thụ sản

phàm, thậm chí thu hút những hộ này làm thuê Nên chăng phần vốn cho hộ

nghèo vay lãi suất ưu đãi được chuyển cho chủ trang trại sử dụng trên cơ sở chủ trang trại hợp đồng nhận nợ với ngân hàng và phải ký hợp đồng lao động dài hạn với hộ nghèo này.

Trang 34

* Ba là, đối với các doanh nghiệp chế biến nông, lâm, thủy, hải sản:

Cần được quy hoạch, chọn lựa trên cơ sở sản phẩm của họ có thị trườnơ

tiÊU thụ on đinh, co lai đê thực hiện viêc ký kết hợp đồng tiêu thu nông sản của người sản xuất theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chinh phu Khach hàng cua các doanh nghiệp chê biến là hộ nông dân và chủ

trang trại, cac doanh nghiệp san xuất nông nghiệp Cần có quy đinh cho vay theo

hình thưc liên kêt nhà nông, nhà doanh nghỉêp và nhà khoa học để thưc hiên có

hiệu quả Quyết định 80/TTg

* Bốn là, đối với kết cấu hạ tầng nông thôn:

Vốn ngân sách và tín dụng Nhà nước đầu tư các công trình đầu mối còn NHTM đầu tư cho hộ nông dân đưa từ mạng lưới về sử dụng (như dẫn điện về gia đình, kênh mương nội đồng cấp 5, đường giao thông thôn xóm, cơ sở thông

tin xa phường) Phương thức đầu tư này cần quy định sư phối hợp về các nguồn

vốn và tổ chức thực hiện của Uỷ ban nhàn dân tỉnh, huyện, xã Mọi nguồn vốn

đặc biệt nguồn đóng góp của dân phải được công khai, minh bạch và được tổ chức giám sát chặt chẽ

* Năm là, cùng với việc đầu tư cho các HTX đã được đăng ký và chuyển

đổi theo Luật hợp tác xã cần coi các tổ chức hợp tác được hình thành theo Điều

120 Bộ Luật Dân sự cũng được vay.

Hình thức hợp tác đa dạng đang phát triển và mang lại hiệu quả cao, lại phù hợp với nhu cầu của các cá nhân tham gia tổ hợp tác

* Sáu là, đê nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, cần phải đầu tư

đăng ký và phát triển thương hiệu, nhãn hiệu.

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là gắn liền với thị trường tren cơ sơ sưc cạnh tranh cua nông sản hàng hóa với nhãn hiệu, thương hiêu được

đang ký trong và ngoài nước Vì vậy các nhu cầu vay vốn cho quáng cáo xây

dựng nhãn hiệu, thương hiệu được tính như là một khoản chỉ phí cấu thành giá trị của sán phẩm *

* Bảy là, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng giảm

dần tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp và giảm lao động nông nghiệp thì việc thực

Trang 35

hiện tích tụ đất đai và hoạt động của thị trường kinh doanh bất động sản sẽ phát

sinh nhu cầu vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhu cầu vốn đóng

góp cổ phần.

Mặt khác, trong tiến trình cổ phần hóa DNNN, đặc biệt các doanh nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp sẽ có nông dân tham gia mua cổ phần; đối với những doanh nghiệp ký kết tiêu thụ sản phẩm theo Quyết định 80, Chính phủ đã cho phép họ được góp giá trị quyền sử dụng đất và được hợp đồng sản xuất trên

diện tích đó Những nhu cầu vay nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vay

góp cổ phẩn cũng cần được bổ sung vào đối tượng được vay.

* Tám là, sản xuất nông nghiệp luôn bị rủi ro do thiên tai, do biến động thị

trường, nhất là giá cả Sự bảo hiểm sản phẩm và bảo hiểm giá là rất cần thiết cho

người sản xuất nông nghiệp Chi phí này được tính vào chi phí giá thành và nhu

cầu vay mua bảo hiểm của người sản xuất nông nghiệp cũng cần được xem xét.

* Chín là, để đẩy nhanh CNH-HĐH, Ngân sách Nhà nước phải chi cho

đầu tư kết cấu hạ tầng, các cơ sở chế biến nông lâm, thủy hải sản, Những khoản chi đầu tư lớn phải cân đối ngân sách trong nhiều năm, trong khi nhiều dự

án, chương trình nếu hoàn thành sớm sẽ phát huy hiệu quả cao Ngân hàng có thể cho vay phần vốn ngân sách đầu tư và thu nợ dần từ nguồn ngân sách hàng năm

- Để mở rộng quy mô tín dụng gắn liền với hoạt động của sản xuất và lưu thông hàng hoá nhằm góp phần chuyển dịch CCKT, theo tôi cần thống nhất các quan điểm lớn sau đây:

Thứ nhất, không nên quá nhấn mạnh đến vai trò của đảm bảo tín dụng mà chỉ xem nó như là một điều kiện bổ sung để thực hiện sự hoàn trả:

Đảm bảo tín dụng là đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cuả người đi vay, tức là thiết lập cơ sở pháp lý để có thêm một nguồn thu nợ thứ hai, đề phòng nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được Trong thực tế nhiều ngân hàng khi cho vay đã coi đảm bảo như là tiêu chuẩn quan trọng nhất và thậm chí coi đó là tiêu chuẩn duy nhất Chính quan điểm này đã dẫn đến thiếu xem xét một cách thận trọng hiệu quả đầu tư và nguồn trả nợ trực tiếp của khách hàng có hay không Hay nói cách khác là thiếu đánh giá đầy đủ tính khả thi và hiệu quả của

dự án, năng lực tài chính của khách hàng

Trang 36

Vì vậy, trong cho vay vấn đề trước tiên phải xem xét công trình có khả năng hoàn vốn hay không người đi vay có khả năng trả nợ không, thông qua các tiêu chuẩn như mục đích vay, năng lực tài chính, mồi trường kinh doanh Tính đảm bảo đây là một điều kiện bổ sung để phòng ngừa các rủi ro Nó là phương tiện, chứ không phải mục đích.

Thứ hai, để mở rộng tín dụng cần thiết phải đa dạng hoá các hình thức đảm bảo:

Trên thực tế đảm bảo tín dụng hiện nay chủ yếu tập trung vào thế chấp bất động sản và quyền sử dụng đất

Thứ ba, mở rộng các hình thức đảm bảo Chẳng hạn, xây dựng ngành kinh doanh kho bãi; mở rộng hình thức cầm cố bàng quyền sở hữu về tài sản;

Thứ tư, thực hiện chính sách cho vay không bảo đảm bằng tài sản đối với tất cả các thành phần kinh tế kinh doamh có hiệu quả:

Một thực tế cũng cần chú ý: Nhà nước đã cho phép các ngân hàng được quyền cho vay không đảm bảo bằng tài sản Việc chọn lựa có đảm bảo hay không thuộc thẩm quyền kinh doanh của các ngân hàng và họ phải chịu trách nhiệm về quyết định cho vay của mình

- M ở rộng tín dụng trung, dài hạn gắn với tín dụng ngắn hạn, phục vụ cho

chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Chia tách giữa vốn ngắn hạn và dài hạn trong quá trình sử dụng chỉ là phương diện quản lý và nghiên cứu, còn trên thực tế giữa hai loại vốn này luôn luôn vận động đan xen nhau Vì vậy, trong quá trình sử dụng vốn cho công nghiệp hoá cần phải có cách kết hợp như thế nào để tạo ra hiệu quả tốt nhất, về tổng thể, tín dụng phục vụ cho công nghiệp hoá nền kinh tế chủ yếu là tín dụng trung và dài hạn Nhưng trong cùng một dự án đầu tư, cũng nhu một đơn vị sản xuất kinh doanh bao giờ cũng kết hợp giữa hai loại vốn: vốn cố định và vốn lưu động, kết hợp giữa tài sản lưu động và tài sản cố định Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng lại càng phải biết cách kết hợp tốt hơn vì nó nhạy cảm hơn các lĩnh vực sản xuất, lưu thông khác

Thực tế hiện nay vấn đề này đã được thừa nhận ngay cả từ trong chính sách Trước đây, thời bao cấp, đã từng có những cơ chế cấm sử dụng vãng lãi

Trang 37

30giữa hai loại vốn này, dù chỉ là một phần rất nhỏ của nhu cầu tất yếu Đến nay cái gì đến, nó sẽ đến, Nhà nước ta đã có những chính sách “sử dụng vốn ngắn hạn ôn đinh đê đâu tư cho dài han” Đó là môt tiên bô xã hôi Vân dung trong sư kết hợp chặt chẽ lại càng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá nền kinh tế Bởi vì trên thực tế, nguồn gốc của vốn tín dụng là từ vốn nhàn rỗi tạm thời, ngăn hạn qua quá trình trở thành dài hạn cũng không loại trừ khả năng vốn dài hạn này lại chuyển thành ngắn hạn (vốn khấu hao) theo hình thức tái tạo lại ban đầu Do đó sự kết hợp là một tất yếu.

Vấn đề là vận dụng nó như thế nào để có hiệu quả thiết thực, mang lại lợi ích kinh tế xã hội cao Hiện nay nhu cầu về đầu tư tín dụng dài hạn thì lớn nhưng nguồn vốn thì rất hạn hẹp, nên kết hợp giữa hai loại tín dụng ngắn hạn và dài hạn như thế nào trong quá trình phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá nề kinh tế có hiệu quả là 1 vấn đề cần đưọc nghiên cứu sâu

Trước mắt phải thấy rằng nền kinh tế Việt Nam đã tụt hậu xa so với các nước trong khu vực mà cách đây trên 20 năm bắt đầu một điểm xuất phát gần như nhau Trình độ công nghệ cũng như máy móc thiết bị của nước ta hiện nay hết sức lạc hậu, nên ảnh hưởng rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá

Để thực hiện mục tiêu đổi mới cơ bản thiết bị và công nghệ lạc hậu, theo các nhà kinh tế thì mức đổi mới hàng năm phải đạt khoảng 15% Để thực hiện được chỉ tiêu này, chúng ta phải có chính sách huy động vốn thích hợp để khai thác nguồn vốn trong nước và mở rộng nguồn vốn từ bên ngoài Bên cạnh những biện pháp huy động vốn, việc áp dụng phương thức tài trợ thích hợp cũng giúp cho chúng ta mở rộng nguồn vốn đầu tư

Cũng cần thấy rằng, trong thời gian qua, nguồn vốn trong nước chưa được khai thác triệt để, kể cả nguồn vốn đã huy động vào các ngân hàng Nhiều ngàn hàng thừa vốn không cho vay ra được hoặc chuyển vốn sang lĩnh vực tiêu dùng Trong lúc đó, nền kinh tế đang thiêu vốn trầm trọng để đổi mới thiết bị công nghệ

Như vậy, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển nói chung và đầu tư để đổi mới thiêt bị công nghệ nói riêng rất lớn, đòi hỏi chúng ta không chỉ có những chính sách, biện pháp huy động vốn thích hợp, mà còn phải đưa vào áp dụng các kỹ thuật tài trợ mới để thực hiên quá trình đầu tư Đây cũng là biên pháp tân dung

Trang 38

nguồn vốn trong nước, tức là nhanh chóng đưa vốn tiết kiệm sang đầu tư, đồng thời cũng nhàm mục đích khai thác thêm các nguồn vốn nhập khẩu từ bên ngoài.

- Nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng

Gần như trên tất cả các mặt báo ngành và báo kinh tế hiện nay đều quan tâm đến vấn đề chất lượng tín dụng ngân hàng ở nhiều góc độ: mô tả thực trạng chất lượng tín dụng ngân hàng còn nhiều yếu kém hiện nay, phân tích tìm kiếm nguyên nhân và giải pháp cứu chữa Đây quả thật là một trong những trọng tâm quan trọng nhất của hoạt động ngân hàng

T ó m tá t chưofng 1

Chương 1 nghiên cứu tổng quan lý luận chung và bối cảnh Việt Nam về chuyển dịch CCKT ; nghiên cứu chức năng và các nội dung chủ yếu hoạt động tín dụng Ngân hàng đối với chuyển dịch CCKT Từ đó luận văn luận giải vai trò của Tín dụng Ngân hàng trong việc thúc đẩy chuyển dịch CCKT theo hướng tích cực và khoa học n h ấ t Cụ thể, luận văn đã giải quyết một số nội dung chính sau:+ Chuyển dịch CCKT là một tất yếu khách quan Xu hướng chuyển dịch CCKT nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành, vùng nói riêng là tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong tổng GDP

+ Luận văn đã đi sâu phân tích vai trò, chức năng, những nội dung cơ bản hoạt động của Tín dụng Ngân hàng đối với chuyển dịch CCKT Với giác độ nhìn nhận theo quy trình khép kín cả ba phương diện: Huy động, sử dụng, quản lý thì NHTM tham gia toàn bộ vào quá trình huy động, sử dụng, quản lý vốn của công cuộc CNH, HĐH đất nước NHTM tạo điều kiện về vốn trong việc tạo động lực phát triển khoa học - công nghệ, phát triển kết cấu hạ tầng, thị trường thúc đẩy chuyển dịch CCKT và như vậy cũng là tạo các điều kiện tốt nhất để tín dụng phát huy vai trò của mình

Trang 39

2.1.1 N hững tiềm năng, th ế m ạnh về kinh tế - x ã hội tỉnh Thái Bình

Mỗi quốc gia, mỗi vùng (khu vực) hay mỗi địa phương đều có những đặc điểm riêng hàm chứa trong đó những đạc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội với những thuận lợi và khó khăn, những thế mạnh hay hạn chế, những cơ hội và thách thức đối với quá trình phát triển kinh tế nói chung cũng như quá trình chuyển dịch CCKT nói riêng Vấn đề đặt ra trước hết là phải nhận thức được cái khách quan của thực trạng để tìm thấy cái lợi thế về các nguồn lực, để có các giải pháp đầu tư khai thác có hiệu quả nhất

2.1.1.1 Lợi thế về vị trí địa lý kinh tế của tỉnh Thái Bình

Thái Bình là một tỉnh đổng bằng ven biển Phía Đông giáp vịnh Bắc bộ; phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam; phía Bắc giáp tỉnh Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hải Phòng Diện tích đất tự nhiên là 1.542 km2, chiêm 0,45% so với cả nước Thái Bình nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long, có trên 50 km bờ biển và hệ thống sông ngòi với 5 cửa sông lớn (Vân úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý và cửa Lân) thuận lợi cho giao lưu kinh tế, hướng ra biển Thái Bình chỉ cách Thành phố Hải Phòng 70 km và Thủ đô Hà Nội 110 km Với việc hoàn thành cầu Tân Đệ cuối năm 2002 và việc nâng cấp Quốc lộ 10 là yếu tố mới xuất hiện, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho Thái Bình phát triển sản xuất hàng hoá và mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong cả nước và quốc tế

Thái Bình thuộc đổng bằng châu thổ sông Hồng, có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1% Nhìn chung, toàn tỉnh có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, toàn bộ diện tích tự nhiên là đất bằng Lợi thế về vị trí địa lý kinh tế của Thái Bình rất thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế đa dạng, hội nhập với các tỉnh trong khu vực và cả nước

2.1.1.2 Về tiềm năng kinh tế tài nguyên

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 154 593 ha, trong đó đất đã khai thác sử dụng vào nông nghiệp chiếm 62,6%, bình quân 573m2/người Trong quỹ đất nông nghiệp, diện tích đất canh tác chiếm 96%, đặc biệt đất canh tác ở Thái Bình

đã được sử dụng và thâm canh ở trình độ cao Đất đai của Thái Bình chủ yếu là đất bổi tụ phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình nên nhìn chung tốt, thuận lợi

Trang 40

để phát triển nền nông nghiệp toàn diện với cơ cấu cây trổng vật nuôi phonơ phú

đa dạng Trong lòng đất vùng ven biển có nguồn tài nguyên khí đốt Mỏ khí Tiền Hai (C) đã được khai thác từ năm 1981 với sản lượng bình quân mỗi năm 23 44 triệu m3 phục vụ chủ yếu cho công nghiệp sản xuất đồ sứ, gạch ốp lát Khả năng khí ở huyện Thái Thụy và ngoài biển Thái Bình đang thăm dò và khẳng định trữ lượng, đây cũng là một tiềm năng lớn của tỉnh

Nguôn nước ở Thái Bình tương đối dổi dào, có khả nâng đáp ứng cho sản xuất và đời sống ở mức tăng trưởng cao Nguồn nước khoáng ở độ sâu 450m có trữ lượng tĩnh khoảng 12 triệu m3, đã được khai thác ở huyện Tiền Hải từ năm

1992, sản lượng khai thác đạt 9,5 triệu lít Thái Bình có trên 50 km bờ biển với nhiều bãi ngang rộng và hàng chục ngàn km2 vùng lãnh hải, nằm trong vùng biển thuộc ngư trường đánh bắt vịnh Bắc Bộ, có trữ lượng hải sản khoảng 50 vạn

tấn tạ° điều kiện thuận lợi để ^ thác l° ns hợp nguồn ^ biển khá lớn- Hàng năm Thái Bình đánh bắt bình quàn đạt trên 10 vạn tấn tôm, cá các loại Khu vực cửa sông và ven bờ có khả năng về nuôi trồng thuỷ sản như: Tôm, cua sò nghêu, Vùng ven biển có khả năng khai thác muối

Nói chung Thái Bình là vùng có khả năng tạo nên nguồn nông, thuỷ sản đa dạng, phong phú phục vụ cho chế biến và xuất khẩu Với 5 cửa sông lớn có thể phát triển các bến cá, cùng với khả năng phát triển các phương tiện đánh bắt xa

bờ, cũng là một yếu tố thuận lợi cho Thái Bình phát triển mạnh nghề cá Ngoài

ra, trên lãnh thô có khoảng 6.500 ha mặt nước của 4 sông lớn chảy qua có thể khai thác nghề nuôi cá lồng ven sông cho sản lượng không nhỏ nếu được đầu tư vốn và kỹ thuật cho nông dân

2.1.1.3 Về tiềm năng lao động

Dân sô của Thái Bình đên cuối năm 2005 là 1.825 nghìn người, chiếm hơn 12,5% dân số vùng ĐBSH và chiếm 2,47% dân số của cả nước Thái Bình có nguôn nhân lực dồi dào, giá lao động tương đối rẻ, khả năng phát triển kỹ năng lao động cao; tổng số người trong độ tuổi lao động là 1.009 nghìn người, bình quân mỗi năm tăng 12,5 nghìn lao động trẻ là lợi thế so sánh có thể phát triển cac ngành kinh tê thu hút nhiều lao động Lao động khu vực nông, lâm nghiêp chiêm tỷ trọng lớn (74,7%), công nghiệp xây dựng 18,3% và khu vực dịch vụ 6% Cơ cấu sử dụng lao động có chiều hướng tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp - xây dựng và giảm tương đối trong khu vực nông nghiệp.Lao động qua đào tạo chiếm 18,5% và chưa qua đào tạo chiếm 81,5%, ở vào mức trung bình khá so với cả nước Người Thái Bình ở ngoài tỉnh (các trung tâm kinh tê lớn) và ở nước ngoài nhiều, lực lượng này có những người giỏi có thể

hô trợ công cuộc xây dựng của tỉnh, nếu có được những chính sách hợp lý để thu hút nhân tài Con người Thái Bình chứa đựng sự cần cù, thông minh, có truyền thông cách mạng và nghiêm túc trong lao động, luôn trăn trở về sự phát triển phôn vinh của quê hương Nếu Thái Bình có chiến lược đào tạo nâng cao trình độ

Ngày đăng: 18/12/2023, 12:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2005), Tái cơ cấu các NHTM Nhà nước, kỷ yếu hội thảo khoa học, NXB Phương Đông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cơ cấu các NHTM Nhà nước
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2005
16. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Thái Bình, Báo cáo tổng kết hoạt động các năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động các năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006
17. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Thái Bình, Báo cáo tổng kết hoạt động của các TCTD trên địa bàn các năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động của các TCTD trên địa bàn các năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006
20. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình, Báo cáo tình hình phát triển kinh tế địa phương các năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển kinh tếđịa phương các năm 2001, 2002, 2003, 2004
21. Tổng Cục Thống kê(2005), Thống k ế tình hình phát triển kinh tế các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống k ế tình hình phát triển kinh tế các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng
Tác giả: Tổng Cục Thống kê
Năm: 2005
18. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tạp chí ngân hàng các tháng năm 2004, 2005, 2006 Khác
19. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thời báo ngàn hàng các tháng năm 2004, 2006 Khác
22. Ưỷ ban Nhân dân tỉnh Thái Bình, Báo cáo tình hình phát triển KT-XH tỉnh Thái Bình các năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005 Khác
23. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia 24. Văn kiện đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI, Nhà in tỉnhThái Bình Khác
25. Các văn bản quy phạm pháp luật, Luật, Nghị định, Quyết định, Thông tu, Chỉ thị của trong và ngoài ngành ngân hàng có liên quan đến cơ chế cho vay, bảo đảm tiền vay, xử lý nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng và các văn bản khác có liên quan Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w