1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn tập giao tiếp sư phạm

32 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giao Tiếp Sư Phạm
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 866,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tổng kết kiến thức trọng tâm môn giao tiếp sư phạm, có một số ví dụ đi kèm. Thích hợp cho những ai khó ghi nhớ và có thể sáng tạo dựa trên nền kiến thức có sẵn. Tài liệu chỉ tổng hợp lí thuyết, không kèm theo phần xử lí tình huống. Phù hợp cho sinh viên Sư Phạm.

Trang 1

Giao tiếp sư phạm CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO TIẾP SƯ PHẠM

1 Khái niệm giao tiếp sư phạm

- Theo nghĩa rộng: Qua trình tiếp xúc tâm lí giữa các chủ thể trong quá trình giáo dục, nhằm trao đổi thông tin, cảm xúc, nhận thức và tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, thiết lập nên những mối quan hệ để thực hiện mục đích giáo dục

- Theo nghĩa hẹp: Sự tiếp xúc tâm lí giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền đạt

và lĩnh hội tri thức khoa học, vốn kinh nghiệm sống, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng để xây dựng và phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh

2 Đặc trưng của giao tiếp sư phạm

2.1 Về chủ thể và đối tượng giao tiếp

Chủ yếu là giao tiếp giữa giáo viên và học sinh thông qua nội dung bài giảng, tri thức khoa học

 Người giáo viên không chỉ giao tiếp với học sinh bằng ngôn ngữ mà bằng cả nhân cách của mình (Trong quá trình giao tiếp có thể bộc lộ nhân cách con người của giáo viên, mỗi hành vi, lời nói, cử chỉ đều ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi của học sinh.) Như vậy để giáo dục học sinh, người giáo viên phải không ngừng hoàn thiện nhân cách của mình

2.2 Về mục đích trong giao tiếp

- Thông qua giao tiếp người giáo viên dạy học và giáo dục học sinhtheo mục đích giáo dục đã đề ra (quá trình hoạt động nghề nghiệp của giáo viên)

- Chủ yếu để thuyết phục, vận động, cảm hóa học sinh: Sử dụng giao tiếp như một phương tiện chủ đọa để giáo dục nhân cách học sinh, giúp hóc inh vừa hiểu biết tri thức khoa học, vừa hiểu biết các chuẩn mực xã hội để làm theo, tuân theo

- Mục đích của giao tiếp sư phạm là dạy học và giáo dục: Giáo viên cần thông qua

lí lẽ, tình cảm, nhân cách cao đẹp của mình để thuyết phục, cảm hóa học sinh Tuyệt đối không được sử dụng bạo lực, trù dập, mắng chửi làm tổn hại đến thể chất và tinh thần của học sinh, không được sử dụng bất kì hình thức gây áp lực nào

2.3 Về sự chuẩn mực trong giao tiếp

- Người giáo viên trong quá trình giao tiếp phải thể hiện sự chuẩn mực, khuôn mẫu, mực thước trong giao tiếp, quan hệ với người khác sao cho tương xứng với sự tôn kính của xã hội và phù hợp với nghề nghiệp của mình Không thể hiện sự tự do, buông thả, phóng túng trong quá trình giao tiếp với người khác nhất là với đồng nghiệp và học sinh

- Chính sự chuẩn mực đã tạo ra sự tôn trọng với người giáo viên và đã tạo ra truyền thống tôn sư trọng đạo

 Đặc trưng cơ bản đó là giao tiếp giữa hai đối tượng chủ yếu (học sinh – giáo viên) Chủ yếu hướng vào dạy học và giáo dục học sinh, trong quá trình giao tiếp giáo viên phải thể hiện sự chuẩn mực

Trang 2

3 Phân loại giao tiếp sư phạm

4 Chức năng

4.1 Trao đổi thông tin

Thông tin trao đổi trong giao tiếp sư phạm chủ yếu liên quan đến việc dạy học

và giáo dục học sinh: giáo viên truyền đạt tri thức khoa học tác động giáo dục học sinh Học sinh đổi lại với giáo viên thể hiện sự hiểu biết của mình giúp giáo viên điều chỉnh việc dạy học và việc giáo dục Từ đó giúp giáo viên có thể trau dồi kinh nghiệm,

và chuyên môn, nghiệp vụ Có thể nói chức năng trao đổi thông tin và chức năng quan trọng nhất của giao tiếp nói chung phải giao tiếp sư phạm nói riêng

4.2 Tri giác lẫn nhau

Chức năng tri giác lẫn nhau trong giao tiếp sư phạm thể hiện qua sự tác động qua lại với nhau, qua đó là bộc lộ cảm xúc tạo ra những ấn tượng những xúc cảm giữa chủ thể tham gia giao tiếp trong môi trường sư phạm Cá nhân tri gác với nhau trong giao tiếp để hiểu được tâm tư nguyện vọng tình cảm của đối tượng qua đó phản ứng cho phù hợp

 Tri giác để có cơ sở nhận thức về nhau là một chức năng quan trọng của giáo viên 4.3 Nhận thức và đánh giá lẫn nhau

Trong giao tiếp nói chung, giao tiếp sư phạm nói riêng, mỗi chủ thể tự bộc lộ quan điểm, thái độ, thói quen, tình cảm, của bạn thân Người giáo viên có thể hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý, đánh giá đúng học sinh của mình mới dạy học và giáo dục có

Phương

thức giao

tiếp

Giao tiếp trực tiếp: “mặt đối mặt”

Giao tiếp gián tiếp: Gửi tin nhắn, quà tặng,…

Số lượng

người tham

gia giao tiếp

Giao tiếp giữa cá nhân với các nhânGiao tiếp giữa 1 cá nhân với 1 nhóm ngườiGiao tiếp giữa 1 nhóm người này với 1 nhóm người khácQuy cách

giao tiếp Giao tiếp chính thức

Giao tiếp không chính thứcPhương tiện

giao tiếp

Giao tiếp bằng vật chấtGiao tiếp bằng ngôn ngữGiao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữMôi trường

giao tiếp

Giao tiếp trong nhà trườngGiao tiếp ngoài nhà trường

Trang 3

hiệu quả Ngược lại học sinh cũng phải hiểu, đồng cảm với giáo viên mới học hành tiến bộ

Trong giao tiếp giữa học sinh với học sinh, giáo viên với đồng nghiệp đều phải nhận thức đánh giá lẫn nhau theo hướng tích cực, tức là đánh giá theo xu hướng tiến

bộ của đối tượng, giúp mỗi người hoàn thiện bản thân

4.4 Ảnh hưởng lẫn nhau

Thể hiện qua việc truyền tải thông tin, tri giác lẫn nhau để ảnh hưởng đến nhận thức, tình cảm, ước mơ, lý tưởng, hành động, của nhau Sự ảnh hưởng thể hiện ở hành động làm theo, bắt chước, noi theo,

4.5 Phối hợp hoạt động sư phạm

Giáo dục bao giờ cũng có tính tập thể, phải có sự tham gia của nhiều lực lượng mới đạt hiệu quả cao Nhờ giao tiếp, các lực lượng giáo dục mới có thể phối hợp với nhau trong công tác giáo dục Không có một hoạt động sư phạm nào không cần đến sự phối hợp của nhiều người

Giáo viên với học sinh cũng phải phối hợp với nhau mới thực hiện được mục tiêu giáo dục

Học sinh cũng phải phối hợp với nhau mới nâng cao được hiệu quả học tập và các hoạt động giáo dục khác

4.6 Giáo dục và phát triển nhân cách

Người học không thể phát triển nhân cách nếu tách mình ra khỏi môi trường nhà trường, bạn bè, giáo viên, những người quản lý giáo dục, Việc giáo dục học sinh chủ yếu thông qua giao tiếp Giao tiếp là phương tiện cơ bản về giáo dục và phát triển nhân cách của học sinh (giúp các em lĩnh hội được các tri thức kỹ năng kỹ xảo để từ đó hình thành nhân cách)

5 Vai trò

5.1 Đối với hoạt động sư phạm

Giao tiếp sư phạm là bộ phận cấu thành hoạt động sư phạm

Không có giao tiếp thì hoạt động sư phạm sẽ không thể diễn ra Nếu coi hoạt động

sư phạm với 3 mục đích chính: giảng dạy, giáo dục và phát triển nhân cách thì giao tiếp sư phạm có vai trò:

- Là phương tiện để giải quyết nhiệm vụ giảng dạy: quá trình dạy học sẽ không diễn ra nếu không thông qua giao tiếp

- Là sự đảm bảo tâm lý – xã hội cho quá trình giao tiếp

- Là phương pháp tổ chức mối quan hệ qua lại giữa giáo viên và học sinh đảm bảo cho việc dạy học và giáo dục có hiệu quả

5.2 Đối với người giáo viên

Trang 4

Là một thành phần trong cấu trúc nhân cách của người giáo viên tạo nên đặc trưng nhân cách của họ Là phương tiện thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục và phát triển nhân cách học sinh

Nhờ có giao tiếp sư phạm, nhà giáo dục mới tổ chức được hoạt động của mình,

đi sâu vào thế giới tinh thần của học sinh, kích thích học sinh tích cực chủ động, sáng tạo,…

5.3 Đối với học sinh

Có vai trò đặc biệt đối với học tập, rèn luyện và phát triển nhân cách của học sinh Giao tiếp sư phạm sẽ tạo ra mối quan hệ của học sinh Thông qua việc hình thành các mối quan hệ để học sinh phát triển nhân cách, để điều chỉnh, điều khiển hành vi của bản thân, thay đổi những nhận thức, thái độ, hành vi không hợp lý

Là một thành tố trong nội dung giáo dục Cần phải dạy cho học sinh cả nghệ thuật giao tiếp – là điều kiện thành công của mỗi cá nhân

Thông qua giao tiếp, nhà giáo dục truyền đạt tri thức khoa học, kinh nghiệm, trải nghiệm, và học sinh tiếp thu lĩnh hội những tri thức, kinh nghiệm, chuẩn mực đạo đức đó để hình thành và phát triển nhân cách

Trang 5

6 Các nguyên tắc giao tiếp Khái niệm Vì sao phải đảm bảo nguyên

- Nếu không thực hiện nguyên tắc sẽ không thực hiện được mục tiêu giáo dục học sinh

- Sự mẫu mực trong thái độ, hành vi, cử chỉ cách nói năng của nhà giáo, thể hiện sự chuẩn mực, làm gương sáng cho đối tượng giao tiếp noi theo mọi lúc, mọi nơi

- Lời nói và hành động luôn thống nhất với nhau, tránh hiện tượng

“làm như tôi nói, đừng làm như tôi làm”

- Sự mẫu mực về trang phục: Trang phục của giáo viên cần lịch sự, gọn gàng, phù hợp với quy định của nghề giáo

Nhà giáo dục và học sinh trước hết phải rèn luyện ngôn ngữ, tác phong, tư cách,… phù hợp với môi trường giáo dục, phải thể hiện được tính văn hóa cao trong giao tiếp

- Khi lên lớp giáo viên lựa chọn trang phục sao cho lịch sự, kín đáo như áo sơ mi với quần âu, áo dài,… Ngoài khoảng thời gian ở trường thì giáo viên có thể diện những trang phục thoải mái, cá tính để

đi ăn, đi chơi,…

- Khi giao tiếp trong môi trường sư phạm cần chú ý cử chỉ, lời

ăn tiếng nói, không nói năng bất lịch sự, không cư xử quá xuồng xã,…

là coi trọng

- Áp dụng tốt nguyên tắc này sẽ tạo nên niềm tin của học sinh,

từ đó học sinh sẽ cởi mở, tự tin trong giao tiếp, tạo điều kiện

- Biết lắng nghe ý kiến của đối tượng giao tiếp, không nên ngắt lời bằng những hành

- Sử dụng các phương tiện giao tiếp có văn hóa như cách nói chuyện nhẹ nhàng, tình cảm,…

- Khi tra hỏi học sinh

về những hành vi vi phạm trong quá trình học tập cần tập trung lắng nghe lí do

Trang 6

- Biết động viên, khích

lệ đối tượng giao tiếp nói lên suy nghĩ của mình

- Có thái độ ân cần, niềm nở, trung thực, chân thành trong giao tiếp

- Không áp đặt suy nghĩ của mình lên người khác

- Bất luận trong TH nào nhà giáo dục cũng không được xúc phạm đến nhân cách đối tượng giao tiếp bằng những lời nói và hành động bạo lực, thiếu văn hóa

- Trang phục lịch sự, gọn gàng, phù hợp với quy định của nghề giáo

- Tư thế, tác phong đĩnh đạc, tự nhiên, phù hợp với môi trường giáo dục

- Ngôn ngữ sử dụng đảm bảo chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, trong sáng, gần gũi,…

- Lựa chọn môi trường giao tiếp lành mạnh

của học sinh, sau đó nhắc nhở và động viên khuyên nhủ, đưa ra giải pháp tránh trách phạt nặng nề khiến học sinh cảm thấy không được tôn trọng, tin tưởng

Trang 7

cho người khác

đối tượng giao

tiếp, luôn tin

tưởng và tạo điều

kiện thuận lợi cho

đối tượng giao

- Hình thành cho học sinh được tính cởi mở, tin yêu và nể trọng trong giao tiếp

- Người giáo viên luôn dành tình cảm tốt đẹp

và đem lại niềm vui cho học sinh; luôn nhìn thấy điểm mạnh của học sinh, giúp các em phát huy hết ưu điểm của mình

- Luôn động viên, khích

lệ học sinh phấn đấu vươn lên hoàn thiện bản thân

- Công bằng, khách quan trong phân công nhiệm vụ, trong nhận xét và đánh giá học sinh

Tạo ra quan hệ tình cảm tốt đẹp giữa giáo viên và học sinh.Khi xây dựng mối quan

hệ tốt đẹp, giáo viên và học sinh dễ cảm thông cho nhau

để cùng thực hiện mục đích

và nhiệm vụ giáo dục

- Với những em học sinh chưa hiểu bản thân, chưa khám phá

ra bản thân đam mê, yêu thích lĩnh vực

gì, thì giáo viên cần động viên, khích lệ, tìm ra những ưu điểm, điểm mạnh để

hỗ trợ định hướng giúp em vươn lên hoàn thiện bản thân hơn

 Tạo niềm tin

trong giao tiếp

Niềm tin là yếu tố quyết định đến kết quả của hoạt động giao tiếp nói chung và giao tiếp sư phạm nói riêng

- Tin tưởng vào khả năng tiến bộ, thay đổi theo chiều hướng tích cực của học sinh và những phẩm chất tốt đẹp, lương thiện của học sinh

Để cho đối tượng tin tưởng mình thì mình phải tin tưởng đôi tượng, phải xuất phát từ

sự chân thành, chân thật, không sáo rỗng, kiểu cách,…

Trong lớp có một học sinh nghịch ngợm hay pha trò trong giờ Giáo viên trong trường hợp này, không nên có định kiến với học sinh (bởi

có thể nảy sinh những đánh giá chủ quan tiêu

Trang 8

- Thể hiện niềm tin của bản thân qua lời nói, hành động

- Tìm ra những ưu điểm, mặt tích cực khi học sinh mắc sai phạm, chứ không miệt thị hay phê phán nặng nề

- Khích lệ, định hướng học sinh cố gắng tiến

bộ

- Bên cạnh đó nhà giáo dục cũng phải khiến đối tượng giáo dục tin tưởng vào mình (năng lực, nhân cách) thì giáo dục mới đạt được hiệu quả

cực của giáo viên ảnh hưởng đến quá trình giáo dục), luôn phải tin rằng học sinh luôn có mặt tốt, tìm hiểu nguyên nhân học sinh này nghịch như vậy là

do đâu, lắng nghe chia

sẻ từ phía học sinh, từ

đó khuyên nhủ, động viên, khích lệ và tìm hướng giải quyết thích hợp vì sự tiến bộ của học sinh đó

của đối tượng

giao tiếp, biết

Biểu hiện sự đồng cảm trong giao tiếp đó là sự gần gũi, thân mật, luôn cảm thấy an toàn, ấm cúng, tin tưởng

- Nắm vững đặc điểm tâm lí lứa tuổi của đối tượng giao tiếp

- Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình và đặc điểm tâm lí riêng của đối tượng giao tiếp (như: nhu cầu, nguyện vọng, sở thích,…) để trên

cơ sở đó, phác thảo được

Hoàn cảnh sống cũng ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống tâm lí học sinh Một học sinh luôn luôn không chăm chú học mà luôn phá phách, nghịch ngợm, nổi loạn

có thể do một tổn thương tâm lí nào đó

Trang 9

nghĩ với đối tượng

giao tiếp nhằm tạo

chính xác, chân dung tâm

lí của đối tượng giao tiếp

- Đặt mình vào vị trí của đối tượng giao tiếp trong những tình huống giao tiếp

cụ thể để thấu đáo tâm tư, nguyện vọng, suy nghĩ của đối tượng giao tiếp

- Biết gợi lên những điều

mà đối tượng giao tiếp muốn nói và tạo điều kiện

để thỏa mãn nguyện vọng chính đáng của họ

=> Giáo viên cần tìm hiểu, lắng nghe, cảm thông cho học sinh, từ

đó đưa ra những lời khuyên, tránh trách phạt để học sinh thấy được đồng cảm, an ủi

và từ từ nhận thức hành

vi của mình

7 Phong cách giao tiếp sư phạm

7.1 Khái niệm phong cách giao tiếp sư phạm

- Phong cách giao tiếp: toàn bọ hệ thống những phương pháp, thủ thuật tiếp nhận, phản ứng, hành động tương đối ổn

định và bền vững của chủ thể và đối tượng giao tiếp trong quá trình tiếp xúc với nhau và với mọi người

- Phong cách giao tiếp sư phạm: toàn bộ hệ thống các phương pháp, thủ thuật tiếp nhận, phản ứng hành động tương

đối ổn định, bền vững của giáo viên và học sinh trong quá trình tiếp xúc nhằm truyền đạt và lĩnh hội các tri thức

khoa học, các chuẩn mực xã hội, vốn kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo; từ đó, xây dựng và phát triển toàn bộ nhân cách

của học sinh

- Gồm 3 dấu hiệu cơ bản:

o Hệ thống các phương pháp, thủ thuật tiếp nhận, phản ứng hành động tương đối ổn định, bền vững của cá nhân,

giúp cá nhân phát triển trong quá trình hành động và giao tiếp

o Hệ thống các phương pháp, thủ thuật quy định những đặc điểm khác nhau giữa các cá nhân trong quá trình giao

tiếp

Trang 10

o Hệ thống các phương tiện có hiệu quả giúp cá nhân thích nghi với những thay đổi của môi trường (đặc biệt là môi trường xã hội) Dấu hiệu này cho thấy sự linh hoạt, cơ động, mềm dẻo của các hệ thống phương pháp, thủ thuật trong quá trình giao tiếp của cá nhân

- Những thành phần cơ bản:

7.1.1 Thành phần tương đối ổn định Những tác phong, hành vi, cử chỉ, điệu bộ,… tương đối ổn định và bền vững do tính chất hệ thần kinh và các giác quan, do tập luyện (các phản xạ có điều kiện) của cá nhân đã được củng cố khá bền vững,… quy định nên phong cách giao tiếp của mối cá nhân

 Đã được củng cố và trở thành thói quen hành vi rất khó xóa bỏ

7.1.2 Thành phần linh hoạt, mềm dẻo

Đó là những hành vi, cử chỉ rất linh hoạt và cơ động, xuất hiện nhanh chóng, bất thường để giúp người giáo viên mau chóng thích ứng với sự biến động, hay thay đổi môi trường làm việc Sự thay đổi của môi trường sống và môi trường làm việc là nguyên nhân trực tiếp làm cho phong cách giao tiếp sư phạm của người giáo viên trở nên linh hoạt, mềm dẻo Sự mềm dẻo, linh hoạt giúp cho quá trình giao tiếp đạt hiệu quả cao hơn, đạt được mục đích mong muốn

7.1.3 Tính chuẩn mực Giao tiếp sư phạm mang tính chuẩn mực, khuôn mẫu trong xã hội hay còn gọi là tính mô phạm Xã hội yêu cầu giao tiếp trong môi trường sư phạm phải mẫu mực vì ở đó đang giáo dục thế hệ tương lai của đất nước

7.2 Các phong cách giao tiếp sư phạm

ý kiến,… của học sinh;

tôn trọng nhân cách của các em Những đề nghị

Trong những tình huống giao tiếp cần phải có những quyết định ngay, cần sự dứt

Người có phong cách giao tiếp này thường đưa

ra những quyết định đúng đắn, khách quan; luôn tạo

- Không có nghĩa là

“nuông chiều, thả mặc” học sinh mà không tính đến những yêu cầu ngày

Trang 11

tập thể đều có thể đưa

ra ý kiến của mình,

làm mọi việc đều bàn

bạc công khai (lấy ý

kiến của tập thể)

chính đáng của các em được thầy cô đáp ứng kịp thời và có lời giải thích rõ ràng; luôn gần gũi, thân thiết với học sinh; giải quyết kịp thời những vướng mắc trong quan hệ, học tập, sinh hoạt; tạo ra

sự tin yêu, kính trọng ở các em với thầy cô

khoát thì người giáo viên có phong cách này sẽ làm cho quyết định bị chậm trễ, không tận dụng thời

ra được bầu không khí tâm lí thân thiện, gần gũi, cởi mở và quý trọng nhau; giải phóng được ý tưởng, suy nghĩ của mối người; làm cho cả thầy và trò đều thoải mái; đồng thời phát huy được tính độc lập, sáng tạo của cả giáo viên và học sinh

càng cao của nhiệm vụ học tập và rèn luyện của học sinh

- Không có nghĩa là “đề cao tính cá nhân” hoặc

“theo đuôi” những đòi hỏi không xuất phát từ lợi ích chung của tập thể học sinh

- Không phải là xóa đi ranh giới giữa thầy và trò, “cá mè một lứa” với nhau

- Khiến học sinh lệ thuộc, thụ động, thiếu tích cực và tạo ra sự “chống đối ngầm” từ phía học sinh

- Kiềm chế sứ sáng tạo và khả năng suy nghĩ của học sinh; đồng thời giảm những tác động giáo dục của giáo viêm đối với học sinh

Có ý nghĩa nhất định trong tình huống cần truyền đạt những thông tin cấp bách, cần sự thống nhất hành động mà thời gian có hạn, gấp rút, không cho phép bàn bạc

Phong cách này có tác dụng nhất định với những đối tượng giao tiếp thường muốn công việc được giải quyết dứt điểm, nhanh chóng và có thể nhìn thấy kết quả

Trang 12

giáo viên đối với học

sinh cũng dễ thay đổi

(thường hay thay đổi

đối tượng, mục đích,

nội dung giao tiếp)

Làm cho con người thoải mái, không bị trói buộc vào các quy tắc giao tiếp hay phải giữ ý với người khác, mọi người được tự

do trong tư tưởng, cách thể hiện ý tưởng của mình

và rất linh hoạt trong quá trình giao tiếp

Người giáo viên có phong cách này cũng hay dễ dãi quá mức trong quá trình tiếp xúc với học sinh, đôi khi dẫn đến tình trạng “cá mè một lứa”

Mục đích không rõ ràng, nội dung không phân định, phạm vi giao tiếp rộng nhưng mức độ nông cạn, hời hợt, ấn tượng không sâu sắc Do đó dễ sinh ra quá trớn, xã giao, đơn điệu, nhàm chán

Phát huy được tính tích cực, ý thức tự giác của học sinh, kích thích các

em tư duy độc lập, sáng tạo làm cho học sinh luôn cảm thấy thoải mái trong học tập, hoạt động,…

Chỉ nên sử dụng phong cách tự do trong giao tiếp

sư phạm ở những tập thể học sinh có trình độ nhận thức cao, có ý thức tự giác cao

Trong giao tiếp sư phạm rất khó để có thể nói một cá nhân chỉ mang một phong cách giao tiếp nhất định dù rằng phong cách giao tiếp của mỗi cá nhân có thể thể hiện nổi trội nhất định một kiểu loại nào đó Chúng ta cần khai thác triệt để những khía cạnh tích cực và hạn chế tối đa những nhược điểm của mỗi loại phong cách trong quá trình giao tiếp với học sinh

Tóm lại: Ba loại phong cách trên đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Tùy thuộc vào từng loại công việc, mục đích giao tiếp, tính cấp thiết của nội dung giao tiếp và phương tiện giao tiếp,… mà người giáo viên lựa chọn phong cách giao tiếp phù hợp để đạt được hiệu quả cao nhất trong giao tiếp sư phạm

Trang 13

8 Phương tiện giao tiếp

8.1 Khái niệm

Phương tiện giao tiếp sư phạm là những yếu tố trung gian (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ,…) giúp giáo viên, học sinh, các lực lượng giáo dục tiếp xúc, trao đổi thông tin, nhận thức lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau trong quá trình giao tiếp

 Chức năng khái quát hóa: mỗi từ ngữ không chỉ nhắc đến một sự vật hiện tượng

cụ thể, riêng lẻ mà còn chỉ một nhóm, một loại, một phạm trù các sự vật, hiện tượng có chung thuộc tính bản chất

 Chức năng thông báo ngôn ngữ dùng để truyền đạt và tiếp nhận thông tin

- Hai mặt:

 Mặt biểu đạt đạt quá trình chuyển từ ý đến lời hay còn gọi là quá trình mã hóa

 Mặt biểu đạt là quá trình chuyển từ lời đến ý hay còn gọi là quá trình giải mã

b Các loại phương tiện ngôn ngữ

- Ngôn ngữ bên trong: Hướng vào bản thân chủ thể, giúp chủ thể tự điều khiển, điều chỉnh mình (là suy nghĩ của cá nhân)

- Ngôn ngữ bên ngoài bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Đặc trưng của ngôn ngữ bên ngoài là hướng vào người khác Là phương tiện của giao tiếp đặc trưng

và cơ bản nhất của con người

Phương tiện ngôn ngữ trong giao tiếp sư phạm là lời nói và chữ viết giúp giáo viên, học sinh, các lực lượng giáo dục tiếp xúc, trao đổi thông tin, nhận thức lẫn nhau, tác động qua lại với nhau trong quá trình giao tiếp

 Ngôn ngữ nói

- Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ hướng vào người khác để thực hiện một mục đích

cụ thể, được biểu hiện bằng âm thanh và được tiếp thu bằng cơ quan phân tích thính giác

- Hai loại:

 Ngôn ngữ nói đối thoại: diễn ra giữa 2 hay một số người

 Ngôn ngữ nói độc thoại là ngôn ngữ mà trong đó một người nói và những người khác nghe

- Yêu cầu:

Trang 14

 Nói rõ ràng, mạch lạc để các nội dung biểu đạt được đối tượng tiếp nhận chính xác, đầy đủ

 Nhịp độ nói vừa phải, hợp lý để các nội dung biểu đạt không bị người khác nghe bỏ sót vì tiếp nhận không kịp

 Ngữ điệu lời nói phải phù hợp để cuốn hút sự chú ý của người nghe vào các nội dung trọng tâm, tránh tạo sự nhàm chán

 Bố cục nội dung nói phải chặt chẽ, logic, hệ thống

 Dùng từ sát với nội dung biểu đạt và tính chất bối cảnh, đảm bảo chính xác,

rõ ràng, cho dễ hiểu, gần gũi, tránh lặp lại đơn điệu

 Cách biểu đạt phù hợp với tính chất nội dung và mục đích lời nói; nhận ra được khi nào cần nói, lúc nào cần yên lặng

 Thể hiện thái độ trân trọng người nghe Khi nói phải suy nghĩ cẩn thận, phải tùy tình huống cụ thể; phải lịch sự; không nên nói dối, nói quá, nói nhiều; không nên bình phẩm, khoe khoang,

 Cần có sự hỗ trợ linh hoạt của các phương tiện phi ngôn ngữ để làm rõ nghĩa

và hỗ trợ trong quá trình biểu đạt

 Ngôn ngữ viết

- Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ hướng vào người khác để thực hiện một mục đích

cụ thể được biểu hiện bằng các ký hiệu chữ viết và được tiếp thu bằng cơ quan phân tích thị giác (hoặc tiếp thu bằng xúc giác)

- Hai loại:

 Ngôn ngữ viết đối thoại qua thư từ, điện tín

 Ngôn ngữ viết độc thoại như sách, báo, tạp chí,…

- Yêu cầu:

 Chữ viết cần dễ đọc, đúng chính tả, ngữ pháp văn bản

 Khi diễn đạt phải ngắn gọn, cô đọng, súc tích, mạch lạc, dễ hiểu, rõ ý và nghĩa của nội dung cần viết

 Trình bày phải đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm và nghệ thuật

8.2.2 Phương tiện phi ngôn ngữ

a Khái niệm Phương tiện phi ngôn ngữ trong giao tiếp là những hành vi, cử chỉ, điệu bộ, động tác, nét mặt, giọng nói, trang phục, Giúp giáo viên, học sinh, các lực lượng giáo dục tiếp xúc với nhau để trao đổi thông tin, nhận thức lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau trong quá trình giao tiếp

b Đặc điểm

- Luôn tồn tại, không phụ thuộc hoàn toàn vào ngôn ngữ

- Có giá trị thông tin và cảm xúc cao

- Mang tính quan hệ

- Thông điệp có thể mang tính đa nghĩa

Trang 15

- Mang tính xã hội, lịch sử, văn hóa

c Các loại phương tiện phi ngôn ngữ

- Nét mặt: được cấu tạo bởi nhiều giác quan, sự biểu lộ các trạng thái tâm lý trên mặt rất phức tạp phụ thuộc vào nghề nghiệp, độ tuổi, giới tính, cá tính của mỗi người

 Ánh mắt:

Có vai trò quan trọng nhất trong quá trình giao tiếp, có thể truyền tải khoảng trên 75% lượng thông tin đi vào não nên đôi mắt còn được gọi là cửa sổ tâm hồn Đôi mắt biểu cảm rất nhiều trạng thái tâm lý như yêu thương, tức giận, nghi ngờ, ngạc nhiên, bối rối, hạnh phúc,

Trong giao tiếp sư phạm giáo viên lên nhìn thẳng vào mắt người đối diện, thỉnh thoảng đưa mắt nhìn xung quanh họ; hướng mắt vào trán hay tóc của người đối diện; đôi mắt của thầy cô dần tắt lên sự dịu dàng và tính thân mật, toát lên sự ấm áp và thân thiện

cô giáo phải luôn có vẻ mặt vui vẻ xuất phát từ nội tâm, tức là nụ cười chân thật

- Cử chỉ, động tác, điệu bộ: trong giao tiếp sư phạm, cử chỉ, điều bộ, động tác của thầy, cô giáo phải thể hiện sự văn minh, lịch sự, tế nhị, thân thiện, tự nhiên, chuẩn mực

- Giọng nói: người giáo viên nên nói đủ to để học sinh có thể nghe thấy, nghe đúng Tốc độ nói nên có sự biến hóa phù hợp, lúc cao lúc thấp, lúc đẩy, lúc kéo; lúc cần thiết phải nâng cao giọng nhấn mạnh trọng điểm

- Trang phục: mỗi thầy giáo, cô giáo đều phải chú ý đến trang phục khi lên lớp sao cho gọn gàng, lịch sự, trang trọng, phù hợp với quy định của nghề giáo

- Ngoài ra: tay, chân, kiểu ngồi, khoảng cách khi giao tiếp…

8.2.3 Phương tiện công nghệ hiện đại

- Với sự phát triển của thời đại công nghệ thì trong giao tiếp sư phạm ngoài việc liên lạc truyền thống như dùng sổ liên lạc, gửi tin nhắn qua SMS,… thì giáo viên

có thể phổ biến trao đổi với học sinh, phụ huynh học sinh bằng cách sử dụng sổ liên lạc điện tử, nhắn tin trên điện thoại, tạo các nhóm trang mạng xã hội để giữ liên lạc thường xuyên

- Bên cạnh đó thì việc sử dụng công nghệ cũng có những hệ lụy không nhỏ

Trang 16

 Phạm vi tiếp cận rộng rãi tốc độ lan truyền nhanh dẫn đến khó kiểm soát mạng

xã hội như con dao 2 lưởi có thể giúp con người phát triển tiến bộ và cũng có thể khiến cho con người bị lợi dụng trở nên tiêu cực

 Trong quan hệ giao tiếp trên mạng xã hội thì có một số cá nhân luôn muốn chứng tỏ thái độ bảo vệ quan điểm của mình với người khác dẫn đến sự tự trọng gia tăng và có một số người thì hành động trên mạng không trùng khớp với hành động ngoài đời thực

 Ờ mình khó đánh giá cảm xúc thái độ hành vi của các chủ thể giao tiếp trở nên thiếu chính xác hơn qua những kể cả những cuộc gọi thoại video

 Vì vậy để tránh xảy ra những cái hệ lụy không đáng có của công nghệ thì cần phải cố gắng tạo ra những ngôi trường học lành mạnh để không xảy ra những điều gì đáng tiếc ở trường, lớp

9 Quy trình giao tiếp sư phạm

9.1 Căn cứ vào các khâu của QTDH

9.2 Căn cứ vào mục tiêu của QTDH

Ngày đăng: 11/12/2023, 00:14

w