Hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật dân sự nói riêng là những chuẩn mực pháp lý để các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự phải tuân theo. Tuy nhiên, pháp luật chỉ đi vào thực tiễn cuộc sống và được tuân thủ một cách triệt để với điều kiện nội dung của một quy phạm pháp luật phải được áp dụng để giải quyết cho các tranh chấp phát sinh. Luật Dân sự với vai trò (nhiệm vụ) bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và của các cá nhân cũng như các chủ thể khác nên các quy phạm pháp luật dân sự phải có vai trò hữu hiệu trong việc áp dụng vào thực tiễn cuộc sống. Một trong những thước đo đánh giá sự tương thích giữa pháp luật với thực tiễn cuộc sống là hoạt động áp dụng pháp luật.
Trang 1ÔN TẬP MÔN LUẬT DÂN SỰ
1 Áp dụng Luật Dân sự: Nguyên nhân, điều kiện và hậu quả ?
1.1 Khái niệm áp dụng Luật Dân sự
Hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật dân sự nói riêng là những chuẩn mực pháp lý để cácchủ thể khi tham gia quan hệ dân sự phải tuân theo Tuy nhiên, pháp luật chỉ đi vào thực tiễncuộc sống và được tuân thủ một cách triệt để với điều kiện nội dung của một quy phạm phápluật phải được áp dụng để giải quyết cho các tranh chấp phát sinh Luật Dân sự với vai trò(nhiệm vụ) bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và của các cá nhân cũng như các chủ thểkhác nên các quy phạm pháp luật dân sự phải có vai trò hữu hiệu trong việc áp dụng vào thựctiễn cuộc sống Một trong những thước đo đánh giá sự tương thích giữa pháp luật với thực tiễncuộc sống là hoạt động áp dụng pháp luật
Áp dụng Luật Dân sự là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc vận dụng các quy phạm pháp luật dân sự để giải quyết các tranh chấp dân sự hoặc xác định các sự kiện pháp lý phát sinh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, của tổ chức và của cá nhân
1.2 Điều kiện của áp dụng Luật Dân sự
Quy phạm pháp luật nói chung, quy phạm pháp luật dân sự nói riêng là những chuẩnmực ứng xử cho các chủ thể khi tham gia quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của LuậtDân sự Tuy nhiên, tranh chấp phát sinh từ các quan hệ mà chủ thể tham gia là điều khôngtránh khỏi Xuất phát từ lý do này cho thấy sự cần thiết của việc vận dụng các quy phạm phápluật vào thực tiễn điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điềuchỉnh của Luật Dân sự để các quan hệ này phát sinh, thay đổi hay chấm dứt phù hợp với ý chícủa Nhà nước
Hoạt động áp dụng Luật Dân sự không thể tách rời với hoạt động ban hành văn bản quyphạm pháp luật dân sự, đây là quá trình đưa những nội dung cụ thể của văn bản pháp luật vàocuộc sống Thông qua hoạt động này, tính phù hợp hay không phù hợp của văn bản pháp luậtđược coi là nguồn của Luật Dân sự sẽ được thể hiện rõ nét Tuy nhiên, hoạt động áp dụng LuậtDân sự có thực sự hiệu quả hay không ngoài việc phụ thuộc vào nội dung của văn bản còn phụ
Trang 2thuộc vào ý thức pháp luật của nhân dân và khả năng của chủ thể tiến hành hoạt động áp dụngpháp luật.
Hoạt động áp dụng Luật Dân sự phải được thực hiện một cách nghiêm túc với những nộidung cụ thể, được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đưa quan hệ xã hội thuộcđối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự vào một trật tự nhất định Áp dụng Luật Dân sự là họatđộng được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng phải đáp ứng những điềukiện sau đây:
- Quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự phải đang có tranh chấp hoặc
có sự kiện pháp lý mà Toà án phải xác định: Tranh chấp giữa các chủ thể tham gia quan hệ, tạothành vụ án dân sự và chủ thể yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hoặc không có tranh chấpnhưng liên quan đến quyền lợi của một chủ thể nhất định (sự kiện pháp lý), chủ thể đó yêu cầuToà án xác định - là việc dân sự (yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người là mất tíchhoặc đã chết );
- Hiện có quy phạm pháp luật dân sự đang trực tiếp điều chỉnh loại quan hệ xã hội phát sinhtranh chấp đó;
1.3 Hậu quả của hoạt động áp dụng Luật Dân sự
Bất cứ một hoạt động nào cũng đem lại những hậu quả nhất định Theo nghĩa rộng, hoạtđộng áp dụng Luật Dân sự đem lại sự ổn định của các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điềuchỉnh của Luật Dân sự, để các quan hệ đó phát sinh, thay đổi hay chấm dứt phù hợp với ý chícủa Nhà nước Theo nghĩa hẹp, hoạt động áp dụng Luật Dân sự có thể đem lại một trong sốnhững hậu quả pháp lý sau đây:
- Thừa nhận quyền cho một chủ thể nhất định và ghi nhận cụ thể nội dung của quyềnnày: quyền thừa kế, quyền theo một quan hệ hợp đồng cụ thể, quyền sở hữu ;
- Xác nhận nghĩa vụ cho một chủ thể nhất định theo yêu cầu của chủ thể khác: Buộc mộtchủ thể phải trả lại nhà thuê, buộc trả nợ vay, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật tới việcthực hiện quyền của chủ sở hữu
- Xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể: cho phép lyhôn hoặc không cho ly hôn
- Xác nhận một sự kiện pháp lý nhất định theo yêu cầu của chủ thể có liên quan: Tuyên
Trang 3bố mất tích hoặc đã chết đối với cá nhân, tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế nănglực hành vi dân sự
2 Áp dụng quy định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự
2.1 Nguyên nhân của việc áp dụng quy định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự
Hoạt động áp dụng Luật Dân sự sẽ thực sự hiệu quả nếu có đầy đủ các điều kiện, trong
đó có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dân sự hoàn chỉnh, bao quát được toàn bộ các quan
hệ xã hội phát sinh trong đời sống hàng ngày thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự Tuynhiên, trên thực tế điều này rất khó được thực hiện Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau
mà hoạt động áp dụng quy định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán để giảiquyết tranh chấp dân sự được BLDS ghi nhận Áp dụng tập quán, quy định tương tự của phápluật được ghi nhận tại Điều 3, BLDS 2005 như sau:
“Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật Tập quán
và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này.”
* Nguyên nhân của việc áp dụng quy định tương tự của pháp luật được thể hiện:
- Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự vốn đa dạng và phức tạp,luôn luôn có sự phát sinh, thay đổi những quan hệ xã hội mới mà thực tế những quan hệ xã hộinày chưa có quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh Đây là điều không tránh khỏi trong hoạtđộng lập pháp bởi quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật nói chung, phápluật dân sự nói riêng luôn có sự vận động và biến đổi, trong khi đó các quy phạm pháp luật lại
có sự ổn định qua từng giai đoạn nhất định
- Hoạt động lập pháp còn có những hạn chế nhất định bởi trình độ chuyên môn của nhà lậppháp còn nhiều bất cập nên vẫn có những “kẽ hở” trong một văn bản quy phạm pháp luật dânsự
* Tập quán là những quy tắc xử sự được một cộng đồng dân cư thừa nhận như là một chuẩnmực ứng xử và được áp dụng để giải quyết cho các tranh chấp dân sự phát sinh Sở dĩ có tình
Trang 4trạng này bởi sự tồn tại nhiều dân tộc khác nhau trên lãnh thổ nước ta với những sự khác biệt,đặc trưng riêng của từng dân tộc Trong quá trình sinh sống, lao động sản xuất và thiết lập giaodịch dân sự, nhiều chuẩn mực ứng xử của cộng đồng dân cư, của một dân tộc, của một khu vựcđịa lý nảy sinh và được chấp nhận như một hiện tượng không thể loại bỏ
2.2 Điều kiện của việc áp dụng quy định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự
Hoạt động áp dụng quy định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán phải đápứng các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, quan hệ xã hội phát sinh tranh chấp cần giải quyết phải thuộc đối tượng điều chỉnh
của Luật Dân sự;
Thứ hai, hiện chưa có quy phạm pháp luật dân sự trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội phát
sinh tranh chấp đó;
Thứ ba, việc áp dụng quy định tương tự của pháp luật và phong tục tập quán chỉ được đặt ra
khi pháp luật chưa quy định và các bên tham gia giao dịch không thoả thuận, nhưng phải theotrình tự: Áp dụng tập quán trước, nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự củapháp luật;
Thứ tư, có quy định tương tự của pháp luật hoặc có tập quán có thể vận dụng để giải quyết
tranh chấp phát sinh;
Thứ năm, tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với các nguyên tắc
chung của pháp luật được quy định trong BLDS
2.3 Hậu quả của việc áp dụng quy định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự
Hoạt động áp dụng quy định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán để giảiquyết các tranh chấp dân sự được coi như là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động ápdụng Luật Dân sự Thông qua hoạt động áp dụng quy định tương tự của pháp luật và áp dụngphong tục tập quán, sự thiếu sót trong các quy định của pháp luật sẽ được bổ sung, hoàn thiện.Mặt khác, với hoạt động áp dụng quy định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tậpquán, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch dân sự được đảm bảo thựchiện
Trang 53 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
– Khái niệm và đặc điểm của năng lực hành vi dân sự của cá nhân:
Nếu như năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là yếu tố mang tính khách quan, trừu tượngthì năng lực hành vi dân sự của cá nhân lại là yếu tố mang tính chủ quan, hiện thực
Điều 17, BLDS 2005 quy định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá
nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Như vậy, năng lực hành vi dân sự của cá nhân cùng với năng lực pháp luật dân sự của cánhân tạo thành thuộc tính đầy đủ của năng lực chủ thể của cá nhân Nếu như năng lực pháp luật
là “khả năng” mà pháp luật cho phép cá nhân có thể hưởng quyền và thực hiện các nghĩa vụdân sự thì năng lực hành vi dân sự lại là sự “hiện thực” hoá khả năng này Do đó, nếu không cónăng lực hành vi dân sự của cá nhân thì năng lực pháp luật cũng chỉ là khả năng mà không thểtrở thành hiện thực Năng lực hành vi dân sự của cá nhân có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, năng lực hành vi dân sự của cá nhân do Nhà nước quy định dựa trên sự phát triển
về độ tuổi cũng như khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân Pháp luật mỗi nướckhác nhau quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khác nhau Ví dụ: Độ tuổi thànhniên theo quy định của pháp luật Nhật Bản là 20 tuổi, trong khi theo pháp luật Việt Nam là 18tuổi Ngoài việc căn cứ vào sự phát triển về thể chất, sự phát triển về tinh thần cũng được phápluật chú trọng khi quy định về các mức độ năng lực hành vi dân sự Bởi nếu là “khả năng của
cá nhân” thì cá nhân đó phải có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
Thứ hai, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là không bình đẳng, các cá nhân khác nhau có
năng lực hành vi dân sự khác nhau Pháp luật dân sự phân chia năng lực hành vi dân sự của cánhân thành các mức độ khác nhau, căn cứ vào nhiều yếu tố dựa trên sự phát triển tâm sinh lý,khả năng nhận thức và làm chủ hành vi thể hiện qua độ tuổi Điều này hoàn toàn hợp lý bởi trẻ
em sinh ra thì chưa có sự nhận thức về thế giới xung quanh, người mắc bệnh tâm thần khôngnhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì không thể bằng hành vi của mình để tham giacác giao dịch dân sự để hưởng các quyền và thực hiện các nghĩ vụ Việc phân chia các mức độnăng lực hành vi dân sự của cá nhân cho thấy các cá nhân khác nhau (khác nhau về độ tuổi, về
Trang 6khả năng nhận thức làm chủ hành vi của mình) sẽ có năng lực hành vi dân sự khác nhau Do
đó, có thể khẳng định năng lực hành vi dân sự của cá nhân là không bình đẳng
Thứ ba, năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có khi cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất
định và có thể bị mất hoặc bị hạn chế khi cá nhân còn sống Nếu như năng lực pháp luật của cánhân có từ khi người đó sinh ra thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có khi cá nhân đạtđến một độ tuổi nhất định bởi đến độ tuổi nào đó cá nhân mới có khả năng nhận thức và làmchủ hành vi của mình Mặt khác, trong quá trình sống, cá nhân có thể bị hạn chế về khả năngnhận thức hoặc bị mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình Do đó, bất cứ lúc nàonăng lực hành vi dân sự của cá nhân có thể bị tuyên bố mất hoặc bị tuyên bố hạn chế nếu có đủcăn cứ cho rằng cá nhân không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình hoặc bị hạn chế khảnăng nhận thức, làm chủ hành vi của mình
– Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân:
Năng lực hành vi dân sự của các cá nhân khác nhau là khác nhau Trên cơ sở quy định vềngười thành niên (người từ đủ 18 tuổi trở lên), người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi), căn
cứ vào sự phát triển về khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của cá nhân, dựa trên cơ sở độ tuổi
mà năng lực hành vi dân sự của cá nhân được chia thành các mức độ sau đây:
+ Năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Cá nhân đủ 18 tuổi trở lên, không bị toà án ra quyết địnhtuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, không bị toà án ra quyết định hạn chế năng lực hành vidân sự thì có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện cácgiao dịch dân sự và có nghĩa vụ thực hiện các giao dịch dân sự mà mình xác lập Ngoài ra, nếungười có đầy đủ năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì phải tự bồi thường
+ Năng lực hành vi dân sự một phần (năng lực hành vi dân sự hạn chế, năng lực hành vi dân
sự chưa đầy đủ): Những người có năng lực hành vi dân sự một phần là những người bắt đầu có
sự nhận thức về hành vi của mình, tuy nhiên sự nhận thức này vẫn còn có những hạn chế nhấtđịnh Người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi là người có năng lực hành vi dân sự một phần Đốivới người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi cần lưu ý:
* Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sựphải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt
Trang 7hằng ngày phù hợp với lứa tuổi Pháp luật không quy định thế nào là giao dịch nhằm phục vụnhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi, tuy vậy cần phải hiểu đó là những giao dịch
có giá trị không lớn, nhằm thoả mãn nhu cầu học tập (mua sách, bút ), sinh hoạt vui chơi trongmột giới hạn tài sản nhất định phù hợp với điều kiện sinh hoạt tại địa phương nơi cá nhân đósinh sống Nếu cá nhân từ đủ sáu tuổi đến dưới mười lăm tuổi tham gia các giao dịch dân sự mà
có giá trị lớn, không được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật thì người đại diện theopháp luật có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
* Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà khôngcần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy địnhkhác Sở dĩ pháp luật quy định như vậy vì bản thân người từ đủ mười lăm tuổi trở lên đã có thểtham gia lao động, do đó họ có thu nhập Khi tham gia lao động, có thu nhập thì pháp luật chophép người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền tự mình xác lập, thực hiện giao dịchdân sự mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật
quy định khác Ví dụ: Theo quy định tại Khoản 2, Điều 652, BLDS 2005 thì “Di chúc của
người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.”
+ Không có năng lực hành vi dân sự: Theo quy định của pháp luật, người chưa đủ sáu tuổikhông có năng lực hành vi dân sự Xuất phát từ việc khẳng định người dưới sáu tuổi không có
khả năng nhận thức được hành vi của mình nên “Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi
phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.” (Điều 21, BLDS 2005).
– Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân mặc dù là thuộc tính nhân thân của cá nhân nhưngkhông tồn tại tương ứng với năng lực pháp luật dân sự của cá nhân Điều đó có nghĩa là nănglực hành vi dân sự của cá nhân có thể có khi cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất định, nhưng nănglực hành vi dân sự của cá nhân có thể không tồn tại hoặc bị hạn chế khi xuất hiện những điềukiện do pháp luật quy định Thông thường, những điều kiện này được hiểu là những yếu tố ảnhhưởng trực tiếp đến khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân Xuất phát từ lý donày, pháp luật dân sự quy định về mất năng lực hành vi dân sự của cá nhân và hạn chế năng lựchành vi dân sự của cá nhân Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự
Trang 8được áp dụng đối với cá nhân khi xuất hiện những điều kiện nhất định và sẽ đem lại hậu quảpháp lý nhất định Có thể hiểu mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sựqua sự phân biệt sau đây:
Người nghiện ma tuý, nghiện cácchất kích thích khác dẫn đến phá tán tàisản của gia đình
3 Người
có quyền
yêu cầu
Người có quyền, lợi ích liên quan Người có quyền, lợi ích liên quan,
cơ quan, tổ chức hữu quan
4 Người
đại diện
Người đại diện (xác định theo quan
hệ giám hộ) Người đại diện toànquyền trong việc xác lập, thực hiệngiao dịch dân sự vì lợi ích của người
bị mất năng lực hành vi dân sự
Người đại diện, phạm vi đại diện dotoà án quyết định Giao dịch dân sự liênquan đến tài sản của người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự phải có sựđồng ý của người đại diện theo phápluật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhucầu sinh hoạt hằng ngày
lý giống người chưa đủ sáu tuổi
Đưa người bị tuyên bố hạn chế nănglực hành vi dân sự về tình trạng pháp lýgiống người từ đủ sáu tuổi đến dưới
Trang 9mười lăm tuổi.
Mặc dù pháp luật không quy định nhưng có thể hiểu thủ tục yêu cầu toà án ra quyết địnhtuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự được áp dụng đối vớingười từ đủ 18 tuổi trở lên Khi không còn căn cứ để tuyên bố cá nhân bị mất năng lực hành vi,
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì toà án có thể ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bốmất năng lực hành vi dân sự, tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự trên cơ sở yêu cầu củacác chủ thể có quyền theo quy định của pháp luật Việc huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất nănglực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ đưa cá nhân về tình trạng năng lực hành
vi dân sự đầy đủ
4 Tuyên bố mất tích, tuyên bố chết
Cá nhân sinh ra là thực thể của xã hội và là thực thể pháp lý Sự tồn tại của cá nhân với tưcách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự đem lại cho cá nhân các quyền và nghĩa vụ dân sự
do pháp luật quy định Thông thường cá nhân sinh ra, chết đi thông qua sự kiện đăng ký hộ tịch
là khai sinh và khai tử theo một quy luật thông thường Tuy nhiên, có những trường hợp cánhân biệt tích và sự biệt tích của cá nhân lại ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và nghĩa vụ của cácchủ thể khác Xuất phát từ lý do này, pháp luật dân sự quy định về tuyên bố mất tích, tuyên bốchết
4.1 Thông báo tìm kiếm người vắng mặt và quản lý tài sản của người vắng mặt
Trước khi yêu cầu toà án ra quyết định tuyên bố cá nhân mất tích, tuyên bố một cá nhân là
đã chết, những người có quyền và lợi ích liên quan có thể yêu cầu toà án ra thông báo tìm kiếmngười vắng mặt tại nơi cư trú (nếu cá nhân biệt tích sáu tháng liền) theo quy định của pháp luật
tố tụng dân sự Đồng thời với yêu cầu toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt, những người
có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ngườivắng mặt
– Theo quy định tại Điều 75, BLDS 2005 thì người quản lý tài sản của người vắng mặt đượcxác định như sau:
+ Đối với tài sản đã được người vắng mặt uỷ quyền quản lý thì người được uỷ quyền tiếp tụcquản lý;
+ Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;
Trang 10+ Tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặcchồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con đãthành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.
Trong trường hợp không có những người trên đây thì toà án chỉ định một người trong sốnhững người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có ngườithân thích thì toà án chỉ định người khác quản lý tài sản
– Quyền, nghĩa vụ của người quản lý tài sản:
+ Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các nghĩa vụ sau đây:
* Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình;
* Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng;
* Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt bằng tài sản củangười đó theo quyết định của toà án;
* Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho toà án biết;nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
+ Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các quyền sau đây:
* Quản lý tài sản của người vắng mặt;
* Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụthanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt;
* Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản
4.2 Tuyên bố mất tích
– Điều kiện của việc tuyên bố cá nhân mất tích:
Toà án có thể ra quyết định tuyên bố một cá nhân mất tích nếu có đủ các điều kiện sau đây: + Người có quyền, lợi ích liên quan có đơn yêu cầu tòa án tuyên bố cá nhân đó mất tích;+ Đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm người vắng mặt theo quy định củapháp luật tố tụng dân sự đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích;
+ Thời gian biệt tích: hai năm liền trở lên Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tintức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này
Trang 11được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác địnhđược ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếptheo năm có tin tức cuối cùng
Cần lưu ý là thời gian hai năm phải được tính là một khoảng thời gian liên tục, không bịgián đoạn Nếu có sự kiện gián đoạn, thời gian này sẽ được xác định lại từ đầu Ví dụ như Abiệt tích từ ngày 1/2/2007, đến ngày 1/5/2008 có tin tức xác định được A còn sống nhưng sau
đó A tiếp tục biệt tích Thời gian biệt tích để xác định A mất tích không thể tính là đủ 2 năm kể
từ ngày 1/2/2007 mà phải xác định lại kể từ ngày 1/5/2008
– Hậu quả của quyết định tuyên bố cá nhân mất tích:
+ Về tư cách chủ thể: Khi toà án ra quyết định tuyên bố mất tích, tạm thời tư cách chủ thể
của người bị tuyên bố mất tích bị dừng lại;
+ Quan hệ nhân thân: Các quan hệ nhân thân tạm dừng Trường hợp vợ hoặc chồng của
người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì toà án giải quyết cho ly hôn
+ Quan hệ tài sản: Tài sản của người bị tuyên bố mất tích sẽ do người đang quản lý tiếp tục
quản lý Trong trường hợp toà án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích
ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của ngườimất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mấttích quản lý; nếu không có người thân thích thì toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.Người quản lý tài sản sẽ có các quyền và nghĩa vụ của người quản lý giống như trong trườnghợp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú
– Quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố cá nhân mất tích và hậu quả của sự huỷ bỏ đó: Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theoyêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, toà án ra quyết định huỷ bỏquyết định tuyên bố một người mất tích Khi toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bốmất tích, quyết định này sẽ làm thay đổi hậu quả pháp lý của quyết định tuyên bố mất tíchtrước đó Cụ thể: Tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích được khôi phục lại tình trạngban đầu; Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người quản lý tài sảnchuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí quản lý; Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người
bị tuyên bố mất tích đã được ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác
Trang 12thực là người đó còn sống, quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật Trong trường hợpnày, nếu người bị tuyên bố mất tích trở về muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng với người kia thìcác bên phải đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
4.3 Tuyên bố chết
– Điều kiện của việc tuyên bố một cá nhân là đã chết: Người có quyền, lợi ích liên quan cóthể yêu cầu toà án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:+ Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của toà án có hiệu lực pháp luật màvẫn không có tin tức xác thực là còn sống Khi một người biệt tích hai năm liền (vắng mặt khỏinơi cư trú), người có quyền và lợi ích liên quan của người biệt tích có thể yêu cầu toà án raquyết định tuyên bố mất tích Như vậy, tổng thời gian mà người vắng mặt khỏi nơi cư trú có thể
bị toà án ra quyết định tuyên bố là đã chết là năm năm liền mà không có tin tức xác thực là cònsống hay đã chết
+ Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không cótin tức xác thực là còn sống Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà toà án xác định “ngày chiến tranhkết thúc” Ngày tuyên bố chấm dứt chiến tranh, ngày ký hiệp định đình chiến cũng có thểchưa được coi là ngày chấm dứt chiến tranh nếu chiến sự vẫn xảy ra
+ Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ,thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật cóquy định khác;
+ Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống Cách tính thờigian biệt tích giống như tính thời gian biệt tích trong trường hợp tuyên bố mất tích
Vì quyết định tuyên bố chết sẽ chấm dứt tư cách chủ thể của người bị ra quyết định tuyên bốchết nên khi toà án ra quyết định tuyên bố chết thì toà án xác định ngày chết của người bị tuyên
bố là đã chết căn cứ vào từng trường hợp cụ thể trên đây
– Hậu quả của quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết:
+ Tư cách chủ thể của người bị ra quyết định tuyên bố là đã chết: Chấm dứt hoàn toàn
(giống như một người chết bình thường);
+ Quan hệ nhân thân: Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của
Trang 13người đó được giải quyết như đối với người đã chết;
+ Quan hệ tài sản: Được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người bị tuyên bố
là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế
– Quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết và hậu quả của sự huỷ bỏđó:
Toà án ra quyết định tuyên bố là đã chết với cá nhân thì cái chết đó chỉ là cái chết mang tính
“suy đoán pháp lý” Do đó, sự suy đoán này có thể chính xác, có thể không chính xác
Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thìtheo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, toà án ra quyết định huỷ
bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết Tuy nhiên, nếu quy định như vậy sẽ có sự vướngmắc về thủ tục tố tụng liên quan đến tư cách chủ thể tham gia tố tụng Sự vướng mắc trong quyđịnh này của pháp luật thể hiện ở chỗ nếu một người bị tuyên bố là đã chết, họ bị chấm dứt tưcách chủ thể dưới góc độ pháp luật dân sự thì họ cũng không thể tồn tại tư cách chủ thể đểtham gia tố tụng được (yêu cầu toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố là đã chết)
Trường hợp toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố là đã chết sẽ đem lại hậu quảpháp lý sau đây:
+ Tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là đã chết được trở lại tình trạng ban đầu như khi họcòn sống;
+ Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi toà án ra quyếtđịnh huỷ bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, tuy nhiên cần lưu ý các trường hợp sauđây:
* Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được toà án cho ly hôn theo quy địnhtại Khoản 2, Điều 78 của BLDS 2005 thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật Nếungười bị tuyên bố là đã chết trở về mà muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng đối với vợ hoặcchồng được toà án cho ly hôn sẽ phải làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật
* Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn
đó vẫn có hiệu lực pháp luật
+ Quan hệ tài sản: Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người
Trang 14đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn Trong trường hợp người thừa kếcủa người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởngthừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệthại thì phải bồi thường.
5 Nơi cư trú của cá nhân
Cá nhân có quyền tự do cư trú theo quy định của pháp luật Quyền tự do cư trú được ghinhận trong Hiến pháp 1992 và trong BLDS 2005 (Điều 48) Theo quy định tại Điều 52, BLDS2005; Điều 12, Luật Cư trú 2006 thì nơi cư trú của cá nhân được xác định như sau:
– Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống;
“Nơi” ở đây được xác định là chỗ ở hợp pháp của cá nhân Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phươngtiện hoặc nhà khác mà cá nhân sử dụng để cư trú Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của
cá nhân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định củapháp luật
Nơi cư trú của cá nhân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú Nơi thường trú là nơi cá nhân sinhsống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thườngtrú Nơi tạm trú là nơi cá nhân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú
– Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân căn cứ vào nơi thường xuyên sinh sống thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống
BLDS 2005, Luật Cư trú 2006 còn có các quy định về nơi cư trú của người chưa thành niên,người được giám hộ (xác định theo nơi cư trú của cha mẹ, của người giám hộ), nơi cư trú của
vợ chồng, nơi cư trú của quân nhân, nơi cư trú của những người làm nghề lưu động
Xác định nơi cư trú của cá nhân đem lại những ý nghĩa pháp lý sau đây:
+ Nơi cư trú là nơi cá nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với Nhà nước với tư cách làcông dân;
+ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nơi cá nhân cư trú đăng ký và lưu trữ các giấy tờ về hộtịch đối với cá nhân;
+ Nơi cư trú là nơi mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tống đạt các giấy tờ có liên quanđến cá nhân;
Trang 15+ Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ mà cá nhân tham gia trongtrường hợp các bên trong quan hệ nghĩa vụ không thoả thuận về địa điểm này và đối tượng củanghĩa vụ là động sản (Điều 284, BLDS 2005);
+ Nơi cư trú là căn cứ để toà án ra quyết định tuyên bố một cá nhân là mất tích hoặc đã chết;+ Nơi cư trú được xác định là địa điểm mở thừa kế khi cá nhân chết (Khoản 2, Điều 633,BLDS 2005);
+ Nơi cư trú còn có ý nghĩa trong việc xác định thẩm quyền của toà án trong việc giải quyếttranh chấp dân sự trong một số trường hợp nhất định1
6 Điều kiện về ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự
Chủ thể tham gia giao dịch dân sự nhằm đạt được những lợi ích vật chất hoặc tinh thầnnhất định, do đó việc lựa chọn một giao dịch dân sự nào đó để tham gia cũng như xác địnhcác quyền và nghĩa vụ trong giao dịch dân sự đó là hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân chủ thể
tham gia giao dịch Xuất phát từ lý do này, BLDS quy định: “Người tham gia giao dịch
hoàn toàn tự nguyện” (Điểm c, Khoản 1, Điều 122, BLDS 2005).
Cơ sở để hình thành giao dịch dân sự là ý chí của chủ thể tham gia Ý chí là nguyện vọng,mong muốn chủ quan bên trong của chủ thể và phải được thể hiện ra bên ngoài dưới mộthình thức nhất định Tuy nhiên, ý chí này phải được kiểm soát bởi lý trí của chủ thể Khinguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong được thể hiện ra bên ngoài đúng như vậy (ýchí đích thực) thì khi đó cho thấy chủ thể có sự tự nguyện
Ý chí của chủ thể phải là ý chí đích thực, tức là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bêntrong của chủ thể không bị tác động bởi bất cứ yếu tố khách quan hay chủ quan nào khác dẫntới việc chủ thể đó không nhận thức hoặc kiểm soát được ý chí của mình Giữa ý chí đíchthực của chủ thể (bên trong) với sự biểu hiện ý chí (sự biểu hiện ra bên ngoài) phải có sựthống nhất Nếu không có sự thống nhất ý chí thì chủ thể không có sự tự nguyện
Những trường hợp sau đây chủ thể không có sự tự nguyện khi tham gia giao dịch dân sự:
6.1 Giao dịch dân sự được xác lập do sự giả tạo
1 Điều 35, BLTTDS quy định thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ, theo đó thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;
Trang 16Sự biểu hiện ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định chính là sự thể hiện sự tựnguyện của chủ thể Tuy nhiên, không phải sự tự nguyện nào của chủ thể cũng làm phát sinhhậu quả pháp lý Có những trường hợp bản thân chủ thể hoàn toàn kiểm soát được sự biểuhiện ý chí ra bên ngoài, không bị tác động bởi bất cứ yếu tố khách quan nào nhưng cũngkhông được pháp luật thừa nhận, đó chính là giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo.
Đối với giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo, chủ thể hoàn toàn mong muốn sự thểhiện một ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định mặc dù ý chí đó không phải là ýchí đích thực Do đó, có thể hiểu giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo là giao dịch dân sựđược xác lập để nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc để trốn tránh nghĩa vụ với người thứba
Trên cơ sở xác định mục đích của việc xác lập giao dịch giả tạo, Điều 129, BLDS 2005 đãphân chia giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo thành hai trường hợp:
– Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm che giấu một giao dịch khác:
Như vậy, ít nhất trong trường hợp này có hai giao dịch song song tồn tại – đó là giao dịch đíchthực (bên trong) và giao dịch giả tạo (giao dịch che giấu, thể hiện ra bên ngoài) Ví dụ: Ông A tặngcho con út của mình là B một ngôi nhà, nhưng vì lý do tế nhị (sợ rằng điều này có thể là nguyênnhân gây mâu thuẫn giữa những người con), ông A và B đã ký hợp đồng mua bán nhà Ở đây cóhai giao dịch cùng tồn tại, đó là giao dịch tặng cho nhà ở (giao dịch bên trong, giao dịch đích thực)
và giao dịch mua bán nhà ở (giao dịch bên ngoài, giao dịch giả tạo)
Giao dịch giả tạo để nhằm che giấu giao dịch khác luôn luôn vô hiệu, còn giao dịch đíchthực (giao dịch bên trong) vẫn có hiệu lực pháp lý Tuy nhiên, nếu giao dịch đích thực cũng
vi phạm vào các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì có thể vô hiệu
– Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba:Trong trường hợp này, giao dịch dân sự được xác lập có sự tự nguyện khi thể hiện ý chí,tuy nhiên sự thể hiện ý chí này lại nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ với một chủ thể khác.Thông thường, việc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thường thể hiện ở hai trường hợp:+ Bản thân chủ thể tham gia giao dịch đã tồn tại một nghĩa vụ với một chủ thể khác, do đó
để trốn tránh nghĩa vụ này, chủ thể đã xác lập giao dịch giả tạo Ví dụ: Để trốn tránh nghĩa
vụ trả nợ trong một hợp đồng vay tài sản, A đã ký hợp đồng giả tạo bán nhà cho người thân
Trang 17của mình là B để tránh trường hợp ngôi nhà đó có thể bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của A.+ Khi tham gia giao dịch, chủ thể có thể phải thực hiện một nghĩa vụ nhất định đối vớiNhà nước nhưng chủ thể đã xác lập giao dịch với sự giả tạo Ví dụ: A chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho B nhưng nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, A và
B đã ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất Thực tế chúng ta có thể thấy tình trạng xáclập giao dịch giả tạo để trốn thuế hoặc nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước rất phổ biến (ghigiá của hợp đồng thấp hơn thực tế)
BLDS 2005 cũng như BLDS 1995 chỉ đề cập đến giao dịch dân sự được xác lập bởi sự giảtạo (ít nhất cũng có một giao dịch đích thực) Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợpmột giao dịch dân sự được thể hiện ra bên ngoài nhưng hoàn toàn không có thực và cũngkhông nhằm che giấu một giao dịch nào cả Đây chính là giao dịch dân sự được xác lập bởi
sự tưởng tượng
6.2 Giao dịch dân sự được xác lập do sự nhầm lẫn
Tham gia giao dịch dân sự, chủ thể hoàn toàn chủ động trong việc nhận thức về đối tượng,mục đích, điều khoản của giao dịch nên xác lập giao dịch dân sự với sự nhận thức đó Tuynhiên, trong nhiều trường hợp bản thân chủ thể lại nhận thức không đúng về đối tượng, nộidung của giao dịch mà mình hướng tới nên xác lập giao dịch đó Trường hợp này bản thânngười xác lập giao dịch do sự hình dung sai của mình có sự nhầm lẫn
Điều 131, BLDS 2005 quy định: “ Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về
nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch ” Như vậy, bản thân chủ thể xác lập
giao dịch có sự nhầm lẫn nhưng chỉ xác định là giao dịch dân sự được xác lập bởi sự nhầmlẫn nếu chủ thể phía bên kia có lỗi vô ý Nếu chủ thể phía bên kia có lỗi cố ý làm cho mộtbên nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì đây là giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừadối Bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
Điều 131, BLDS 2005 chỉ đề cập đến sự nhầm lẫn về nội dung của giao dịch Tuy nhiên,bên cạnh sự nhầm lẫn về nội dung của giao dịch còn có thể có sự nhầm lẫn về chủ thể xáclập giao dịch
6.3 Giao dịch dân sự được xác lập do sự lừa dối
Điều 132, BLDS 2005 quy định: “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên
Trang 18hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.”
Như vậy, hành vi lừa dối có thể được thực hiện bởi một bên trong giao dịch, nhưng cũng
có thể được thực hiện bởi người thứ ba với lỗi cố ý Mục đích của việc lừa dối là nhằm làmcho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch(bán hàng do Trung Quốc sản xuất nhưng lừa dối người mua là hàng do Nhật Bản sản xuất,bán ngọc trai nhân tạo nhưng lại lừa dối người mua là ngọc trai tự nhiên )
6.4 Giao dịch dân sự được xác lập do bị đe doạ
“Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình” (Điều 132, BLDS
2005)
Tương tự như trường hợp giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối, giao dịch dân sựđược xác lập bởi sự đe doạ có thể là hành vi đe doạ của một bên và có thể là hành vi đe doạcủa người thứ ba với mục đích xác lập giao dịch
Để có thể xác định là giao dịch dân sự được xác lập bởi sự đe doạ, sự đe doạ phải đáp ứngcác yêu cầu sau:
– Bên đe doạ thực hiện hành vi đe doạ với lỗi cố ý, mục đích là buộc chủ thể phía bên kiaphải xác lập giao dịch dân sự với mình hoặc xác lập giao dịch dân sự với chủ thể mà bảnthân bên đe doạ mong muốn;
– Hành vi đe doạ nhằm làm cho bên kia “sợ hãi”, tức là bản thân bên bị đe doạ hoàn toàn
tê liệt ý chí mà không thể có một sự lựa chọn nào khác;
– Chủ thể bị đe doạ có thể là một bên trong giao dịch nhưng cũng có thể là người khác.Trước đây, BLDS 1995 xác định những người khác này là “người thân thích”, còn theo quyđịnh của BLDS 2005 thì những người này là cha, mẹ, vợ, chồng, con của người bị đe doạ;– Hành vi đe doạ chưa gây thiệt hại về đối tượng đe doạ mà hành vi đó hướng tới, tức làbên bị đe doạ mới chỉ “sợ hãi” về hậu quả của sự đe doạ có thể xảy ra
BLDS 2005 cũng không đề cập đến trường hợp giao dịch dân sự được xác lập bởi sự
Trang 19cưỡng bức Đối với giao dịch được xác lập bởi sư đe doạ thì hậu quả của sự đe doạ chưa xảy
ra (chủ thể bị tác động về mặt tinh thần), còn giao dịch dân sự được xác lập bởi sự cưỡngbức đã có hậu quả thực tế và bên bị cưỡng bức phải xác lập giao dịch nếu không thì hậu quảcủa sự cưỡng bức này có thể tiếp tục xảy ra (chủ thể bị tác động về mặt thể xác)
6.5 Giao dịch dân sự được xác lập mà vào thời điểm xác lập, người xác lập không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình
Đây là trường hợp bản thân chủ thể vẫn hoàn toàn nhận thức, làm chủ được hành vi củamình nhưng đúng vào thời điểm xác lập giao dịch dân sự thì họ lại không nhận thức và làmchủ được hành vi của mình (say rượu bia ký hợp đồng )
Việc không nhận thức và làm chủ được hành vi của chủ thể khi xác lập giao dịch có thể do
ý chí chủ quan của người này nhưng cũng có thể do chủ thể khác hoặc do nguyên nhânkhách quan Đây là yếu tố hết sức quan trọng cần phải được xác định cụ thể để đảm bảoquyền lợi cho các chủ thể khi tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
7 – TÀI SẢN
7.1 Khái niệm tài sản
Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nóiriêng Khái niệm tài sản được đề cập tại Điều 163, BLDS 2005 Theo đó thì tài sản bao gồm vật,tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Đây là cách định nghĩa tài sản mang tính chất liệt kê chứkhông mang tính khái quát Theo quy định này thì tài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn tại ở mộttrong bốn loại: Vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản
7.1.1 Vật
Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm giác đượcbằng các giác quan của mình Vật chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành đối tượng trong quan hệ phápluật nên nếu bộ phận của thế giới vật chất mà con người không thể kiểm soát, chiếm hữu được nóthì cũng đồng nghĩa với việc con người không thể tác động được vào nó Do đó, không khí, gió,mưa thuộc về vật chất nhưng không thể được coi là tài sản về mặt pháp lý Hơn nữa, là đối tượngtrong quan hệ pháp luật nên vật phải đáp ứng được lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ.Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thoả mãn những điều kiện sau:
Trang 20– Là bộ phận của thế giới vật chất;
– Con người chiếm hữu được; Mang lại lợi ích cho chủ thể;
– Có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai
7.1.2 Tiền
Tiền theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị củacác loại tài sản khác Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó đang có giá trị lưu hành trênthực tế Với việc BLDS 2005 đã bỏ quy định tiền thanh toán phải là tiền Việt Nam như quy địnhtại BLDS 1995 thì về mặt pháp lý tiền có thể được hiểu là nội tệ hoặc ngoại tệ Tuy nhiên, ngoại
tệ là loại tài sản hạn chế lưu thông chứ không được lưu hành rộng rãi như tiền Việt Nam
7.1.3 Giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay đặc biệt là giao dịchtrong các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trịgiá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá hiện nay tồn tạidưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, côngtrái Khác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là Ngân hàng Nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá
có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, các công ty cổ phần ;nếu tiền luôn có mệnh giá nhất định thể hiện thước đo giá trị của những loại tài sản khác, luônlưu hành không có thời hạn, không ghi danh thì giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không cómệnh giá, có thể có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể ghi danh hoặckhông ghi danh và việc thực hiện quyền định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ có giá cũngkhông bị hạn chế như việc định đoạt tiền
Cần lưu ý là các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấychứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng ký ô tô, sổ tiếtkiệm không phải là giấy tờ có giá Nếu cần phải xem xét thì đó chỉ đơn thuần được coi là mộtvật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó
7.1.4 Quyền tài sản
Quyền tài sản theo định nghĩa tại Điều 181, BLDS 2005 là quyền trị giá được bằng tiền và cóthể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ Theo đó thì quyền tài sản
Trang 21trước tiên phải được hiểu là xử sự được phép của chủ thể mang quyền Quyền ở đây chính là mộtquyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền này phải trịgiá được thành tiền hay nói cách khác là phải tương đương với một đại lượng vật chất nhất định.Quyền tài sản thì có rất nhiều nhưng chỉ những quyền tài sản nào có thể trở thành đối tượng trongcác giao dịch dân sự thì mới được coi là tài sản tại Điều 163, BLDS 2005 Hiện nay, pháp luậtdân sự Việt Nam công nhận một số quyền tài sản là tài sản như quyền sử dụng đất, quyền khaithác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị xâm phạm,quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống câytrồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đốivới phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng (Điều 322, BLDS2005).
7.2 Phân loại tài sản
Tài sản trên thực tế tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng Tuynhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính khác biệt cần thiết phải có quy chế pháp lý điềuchỉnh riêng Chính vì vậy, việc phân loại tài sản là cần thiết không chỉ có ý nghĩa trong hoạt độnglập pháp mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng pháp luật Rõ ràng, ở mỗi góc độ khác nhau,một sự vật, hiện tượng sẽ được nhìn nhận, đánh giá một cách khác nhau Do đó, ở mỗi tiêu chíkhác nhau, tài sản cũng sẽ được phân thành các loại cụ thể khác nhau Mỗi tài sản ở tiêu chí này
sẽ tồn tại ở dạng này nhưng khi được phân loại theo tiêu chí khác nó sẽ được tồn tại ở dạng khác
– Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
– Các tài sản khác do pháp luật quy định.
Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”.
Trang 22Cũng giống như cách định nghĩa tài sản, BLDS đã sử dụng phương pháp liệt kê để định nghĩabất động sản Căn cứ vào quy định đó thì hiện nay đất đai và những tài sản gắn liền với đất đainhư nhà, công trình xây dựng, cây cối, tài nguyên sẽ được coi là bất động sản Tuy nhiên, ở đâypháp luật đã liệt kê mở chứ không liệt kê khép kín như Điều 163, BLDS 2005 Do đó, cả nhữngtài sản khác do pháp luật quy định cũng sẽ được coi là bất động sản Ví dụ như theo quy định củaĐiều 6, Luật Kinh doanh bất động sản thì quyền sử dụng đất là bất động sản.
Cách phân loại tài sản thành động sản và bất động sản là cách phân loại chủ yếu dựa vào đặctính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được (một số nước còn dựa vào
cả công dụng của tài sản như luật của Pháp coi cả hạt giống, máy móc nông cụ là bất động sản).Cách phân loại này là tiêu chí mà hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới đều sử dụng bởiviệc xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến hai loại tài sản này rất khác nhau cần phải có quyphạm điều chỉnh riêng đối với từng loại Theo pháp luật dân sự Việt Nam, việc phân loại tài sảnthành bất động sản và động sản có rất nhiều ý nghĩa Có thể liệt kê một số ý nghĩa cơ bản sauđây:
– Xác lập thủ tục đăng ký đối với tài sản: Theo quy định tại Điều 167, BLDS 2005 thì quyền
sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của BLDS và pháp luật về đăng ký bấtđộng sản còn quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác
– Xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản: Khoản 1, Điều 168, BLDS
2005 quy định việc chuyển giao quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểmđăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Còn khoản 2, Điều 168 quyđịnh việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản đượcchuyển giao trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
– Xác định được các quyền năng của chủ thể quyền đối với từng loại tài sản nhất định: Đối vớibất động sản do đặc tính vật lý của nó là khó có thể di dời nên việc thực hiện các quyền năng củaquyền sở hữu đối với loại tài sản này sẽ gặp những hạn chế nhất định Chính bởi vậy, pháp luật
đã ghi nhận cho các chủ thể có những quyền năng nhất định đối với tài sản của người khác để bấtđộng sản có thể khai thác được công dụng một cách tốt nhất như quyền sử dụng hạn chế bất độngsản liền kề (từ Điều 273 đến Điều 278, BLDS 2005)
– Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản
Trang 23trong trường hợp các bên không có thoả thuận Theo quy định tại Điều 284, BLDS 2005 thì trongtrường hợp các bên không có thoả thuận khác thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi có bất độngsản nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản Nếu đối tượng không phải là bất động sản thì địađiểm thực hiện nghĩa vụ là nơi cư trú, trụ sở của người có quyền.
– Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu: Ví dụ nếu vật vô chủ, vật không xác định được ai làchủ sở hữu là động sản sẽ thuộc sở hữu của người phát hiện còn nếu vật là bất động sản sẽ thuộc
sở hữu nhà nước (Điều 239, BLDS 2005) Hoặc theo Điều 247, BLDS 2005 thì một người chiếmhữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục công khai trong thờihạn 10 năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản
đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu
– Xác định hình thức của hợp đồng: Theo quy định tại Điều 467, BLDS 2005 thì hợp đồngtặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng kýnếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu Hoặc theo quy định tạiĐiều 459, BLDS 2005 thì việc mua bán đấu giá bất động sản phải được lập thành văn bản cócông chứng, chứng thực hoặc phải được đăng ký nếu pháp luật có quy định
– Là căn cứ để xác định thời hạn, thời hiệu và các thủ tục khác: Ví dụ: thời hạn thông báocông khai tài sản bán đấu giá chậm nhất là bảy ngày đối với động sản, ba mươi ngày đối với bấtđộng sản (Điều 457, BLDS 2005); thời hạn chuộc lại đối với tài sản đã bán trong hợp đồng muabán có chuộc lại đối với động sản là một năm và đối với bất động sản là năm năm (Điều 462,BLDS 2005); việc bán đấu giá bất động sản được thực hiện tại nơi có bất động sản, sau khi cóthông báo về việc bán đấu giá bất động sản, những người muốn mua phải đăng ký mua và phảinộp một khoản tiền đặt trước (Điều 459, BLDS 2005)
– Xác định phương thức kiện dân sự: Theo Điều 257, Điều 258, BLDS 2005 thì điều kiện đểchủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu kiện đòi lại tài sản đối với độngsản và bất động sản là khác nhau Do đó, nếu không áp dụng được phương thức kiện đòi lại tàisản thì chủ thể sẽ phải áp dụng phương thức kiện khác như kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại – Xác định toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự: Theo Điều 35 Bộ luật Tố tụngdân sự năm 2004 thì toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bất động sản là toà án nơi cóbất động sản đó
Trang 247.2.2 Tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức
Dựa vào nguồn gốc và cách thức hình thành tài sản mà tài sản có thể được phân thành tài sảngốc và hoa lợi, lợi tức
Tài sản gốc được hiểu là tài sản khi sử dụng, khai thác công dụng thì sinh ra lợi ích vật chấtnhất định
Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại như con bê con do con bò đẻ ra, hoa quả thuhoạch từ cây cối Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản mà không phải là dotài sản tự sinh ra ví dụ như tiền lãi, tiền thuê nhà Như vậy, cả hoa lợi và lợi tức đều là những tàisản sinh ra từ việc khai thác, sử dụng tài sản gốc
Khi xem xét tài sản là hoa lợi, lợi tức hay tài sản gốc chúng ta cần lưu ý một số điểm sau đây: – Cần phải sử dụng phương pháp so sánh vì tài sản sẽ là tài sản gốc so với tài sản này nhưng
nó lại trở thành hoa lợi hoặc lợi tức của tài sản khác Ví dụ: Con ngựa có thể là hoa lợi được sinh
ra từ con ngựa mẹ nhưng lại là tài sản gốc khi nó sinh ra ngựa con
– Cần phân biệt hoa lợi, lợi tức với một bộ phận của tài sản: Chỉ khi tài sản được tách khỏi tàisản gốc nó mới được coi là hoa lợi, lợi tức của tài sản đó còn nếu nó vẫn gắn liền với tài sản gốcthì nó được coi là một bộ phận không thể tách rời của tài sản đó Ví dụ: Hoa quả vẫn ở trên cây,con bê con vẫn trong bụng con bò mẹ
– Cần phân biệt hoa lợi, lợi tức với sản phẩm: Chỉ được gọi là hoa lợi, lợi tức những tài sảnsinh ra từ tài sản gốc mà không làm giảm sút, ảnh hưởng đến trạng thái ban đầu của tài sản gốc.Trong trường hợp để thu được một lợi ích vật chất của tài sản mà tài sản gốc bị giảm sút khôngthể tái tạo bằng cách khai thác khả năng sinh sản của tài sản gốc hoặc chỉ có thể tái tạo bằng cáchlặp lại chu kỳ đầu tư nhằm khôi phục trạng thái ban đầu của tài sản gốc thì lợi ích vật chất thuđược gọi là sản phẩm chứ không phải hoa lợi Ví dụ: Cây trồng trên đất thì cây được thu hoạch làsản phẩm chứ không phải hoa lợi Quả của cây được thu hoạch lại được coi là hoa lợi
Việc phân loại tài sản thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức có ý nghĩa pháp lý trong một sốtrường hợp nhất định:
– Có ý nghĩa trong việc xác định chủ sở hữu của tài sản: Về nguyên tắc thì hoa lợi sẽ thuộcchủ sở hữu của tài sản, lợi tức sẽ thuộc về người có quyền sử dụng hợp pháp tài sản đó Do đó,khi thuê, mượn tài sản thì hoa lợi thuộc chủ sở hữu của tài sản, lợi tức thuộc về người sử dụng tài
Trang 25sản đó, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
– Xác định trong một số trường hợp người chiếm hữu tài sản gốc chỉ được hưởng hoa lợi sinh
ra từ tài sản mà không được khai thác công dụng của tài sản để thu lợi tức, ví dụ như trường hợpchiếm hữu hợp pháp gia súc, gia cầm thất lạc thì người chiếm hữu được hưởng một nửa số giasúc hoặc toàn bộ số gia cầm được sinh ra (Điều 242, Điều 243, BLDS 2005); trường hợp cầm giữtài sản trong hợp đồng song vụ thì bên cầm giữ tài sản có quyền thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ vàđược dùng để bù trừ nghĩa vụ (Điều 416, BLDS 2005)
7.2.3 Tài sản có đăng ký quyền sở hữu, tài sản không đăng ký quyền sở hữu
Căn cứ vào giá trị của tài sản, vai trò và ý nghĩa của tài sản đối với chính trị, kinh tế, an ninh,quốc phòng, quản lý nhà nước mà pháp luật có quy định về việc đăng ký quyền sở hữu đối vớimột số tài sản nhất định Tài sản có đăng ký quyền sở hữu là tài sản mà pháp luật quy định bắtbuộc phải đăng ký, nếu không đăng ký sẽ không được công nhận quyền sở hữu đối với tài sản đó.Tài sản có đăng ký quyền sở hữu hiện nay như nhà, máy bay, tàu biển, ô tô, súng săn, súng thểthao Tài sản không đăng ký quyền sở hữu là tài sản mà theo quy định của pháp luật không buộcphải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc phân loại tài sản thành tài sản có đăng ký quyền sở hữu và tài sản không đăng ký quyền
sở hữu có những ý nghĩa cơ bản sau đây:
– Xác định thời điểm phát sinh, chuyển giao quyền sở hữu: Đối với tài sản có đăng ký quyền
sở hữu thì theo quy định của pháp luật quyền sở hữu chỉ phát sinh khi hoàn thành thủ tục đăng
ký, không phụ thuộc vào tài sản đó là động sản hay bất động sản (Điều 439, BLDS 2005)
– Xác định phương thức kiện dân sự: Đối với động sản là tài sản phải đăng ký quyền sở hữuthì chủ thể có quyền kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình trừ trường hợp người đó cóđược tài sản đó thông qua bán đấu giá hoặc với người mà theo bản án, quyết định của cơ quannhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu của tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sởhữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa (Điều 258, BLDS 2005) Còn đối với tài sản làđộng sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì chủ thể có quyền đòi lại từ người chiếm hữu ngaytình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được tài sản này thông qua hợp đồng không
có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợpđồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc
Trang 26trường hợp khác bị chiếm đoạt ngoài ý chí của chủ sở hữu (Điều 257, BLDS 2005).
– Xác định hình thức của hợp đồng: Theo quy định của Điều 467, BLDS 2005 thì tặng cho bấtđộng sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theoquy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu
7.2.4 Tài sản cấm lưu thông, hạn chế lưu thông, tự do lưu thông
Căn cứ vào chế độ pháp lý đối với tài sản, người ta phân chia tài sản thành ba loại: Tài sản cấmlưu thông, tài sản hạn chế lưu thông và tài sản tự do lưu thông
– Tài sản cấm lưu thông là tài sản mà vì lợi ích của nó đối với nền kinh tế quốc dân, an ninhquốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước cấm giao dịch như vũ khí quân dụng, ma tuý, chấtphóng xạ, động vật quý hiếm…
– Tài sản hạn chế lưu thông là tài sản khi dịch chuyển trong giao dịch dân sự nhất thiết phảituân theo những quy định riêng của pháp luật Trong một số trường hợp phải được sự đồng ý, chophép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ví dụ: vũ khí thể thao, thanh toán bằng ngoại tệ với
số lượng lớn…
– Tài sản tự do lưu thông là những tài sản mà không có quy định nào của pháp luật hạn chếviệc dịch chuyển đối với tài sản đó, nếu có sự dịch chuyển thì các chủ thể không cần phải xinphép Hầu hết các tài sản tồn tại trên thực tế hiện nay đều là tài sản tự do lưu thông như xe máy, ti
vi, tủ lạnh, lương thực, thực phẩm…
Việc xác định đúng loại tài sản này cũng có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định hiệu lực pháp
lý của giao dịch dân sự Cụ thể: Tài sản cấm lưu thông không thể trở thành đối tượng trong giaodịch dân sự Chính vì vậy, nếu các bên vẫn xác lập những giao dịch này thì giao dịch đó sẽ làgiao dịch vô hiệu tuyệt đối do có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật; và khi đó tài sản giaodịch, hoa lợi, lợi tức thu được sẽ bị tịch thu sung quỹ nhà nước Còn đối với tài sản hạn chế lưuthông thì khi xác lập giao dịch các bên phải tuân thủ chặt chẽ về điều kiện giao dịch, nếu phápluật có quy định phải đăng ký hoặc xin phép thì các bên phải tuân theo thủ tục đó
7.2.5 Tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai
Căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu,tài sản được phân loại thành tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
Trang 27Tài sản hiện có là tài sản đã tồn tại vào thời điểm hiện tại và đã được xác lập quyền sở hữucho chủ sở hữu của tài sản đó Ví dụ nhà đã được xây, dây chuyền sản xuất đã được lắp ráp hoànthiện.
Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng
bộ vào thời điểm xem xét (thường là thời điểm xác lập nghĩa vụ hoặc giao dịch được giao kết)nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai, ví dụ: tiền lương sẽ được hưởng, vụmùa sẽ được thu hoạch, tàu đang được đóng, nhà, công trình xây dựng đang hình thành theo hồ
sơ, dự án, thiết kế bản vẽ thi công và tiến độ cụ thể Ngoài ra, tài sản hình thành trong tương laicòn bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểmgiao kết giao dịch tài sản đó mới thuộc sở hữu của các bên, ví dụ như tài sản có được do muabán, trao đổi, tặng cho, cho vay, thừa kế nhưng chưa hoàn thành thủ tục chuyển giao quyền sởhữu
Việc xác định được đúng tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai có một số ýnghĩa nhất định:
Xác định đối tượng được phép giao dịch: Chỉ những tài sản hiện có hoặc những tài sản hìnhthành trong tương lai được xác định ở trên mới có thể trở thành đối tượng của giao dịch cònnhững tài sản các chủ thể nghĩ rằng nó có thể sẽ có trong tương lai mà không có căn cứ để xácđịnh nó chắc chắn sẽ có thì không được coi là đối tượng của bất kỳ giao dịch cũng như quan hệnghĩa vụ nào Điều 282, BLDS 2005 có quy định đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải được xácđịnh cụ thể và theo quy định tại Điều 411, BLDS 2005 thì trong trường hợp ngay từ khi ký kết,hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vôhiệu
Xác định hình thức, thủ tục xác lập: Vào thời điểm xem xét thì tài sản hình thành trong tươnglai chưa tồn tại, chưa hoàn thiện hoặc chủ sở hữu chưa được xác lập quyền sở hữu Chính vì vậy,
về tính chất, vào thời điểm hiện tại thì quyền sở hữu của người sở hữu đối với tài sản sẽ hìnhthành trong tương lai thực chất là quyền tài sản Do đó, việc xác lập giao dịch liên quan đến đốitượng là tài sản sẽ có trong tương lai buộc các bên phải bàn giao những giấy tờ chứng minh mình
là người có quyền sở hữu đối với tài sản sẽ hình thành trong tương lai đó
Ngoài ra, tài sản còn được phân thành nhiều loại khác nhau như tài sản chung, tài sản riêng; tàisản là tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng; tài sản có thật, tài sản ảo; tài sản cố định, tài sản lưu
Trang 28động; tài sản công, tài sản tư; tài sản tài chính, tài sản phi tài chính
7.3 Phân loại vật
Trong các loại tài sản thì vật là tài sản thông dụng nhất, phổ biến nhất và được đưa vào giaodịch dân sự nhiều nhất Tuy nhiên, mỗi loại vật lại có đặc tính khác nhau và khi trở thành đốitượng trong các giao dịch dân sự lại cần phải có quy chế pháp lý để điều chỉnh riêng Dựa vào giátrị, đặc tính tự nhiên, xã hội, ý nghĩa pháp lý của chúng trong giao lưu dân sự, vật được chiathành các loại sau đây:
Việc phân loại vật thành vật chính và vật phụ có ý nghĩa trong việc xác định đúng nghĩa vụgiao vật Bởi vật phụ được tạo ra là để phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính vàluôn đi kèm vật chính nên khi bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phảichuyển giao cả vật phụ, trừ trường hợp có thoả thuận khác
Ngoài ra, việc phân loại vật chính, vật phụ còn có ý nghĩa trong việc xác định căn cứ xác lậpquyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập tài sản (Điều 236, BLDS 2005)
7.3.2 Vật chia được và vật không chia được
Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia ra thành nhiều phần nhỏ mà BLDSphân chia vật thành vật chia được và vật không chia được
Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu,
ví dụ: xăng, gạo, vải
Ngược với vật chia được là vật không chia được tức là vật khi chia thành nhiều phần nhỏ thì
Trang 29mỗi phần không thể có được tính chất cũng như tính năng sử dụng ban đầu của vật, ví dụ: nhưđồng hồ, ô tô, nhà diện tích hẹp
Việc phân loại này đặc biệt có ý nghĩa khi cần phải phân chia tài sản là vật Nếu cần phân chiavật chia được thì người ta sẽ chia luôn bằng hiện vật để tạo thuận tiện và đảm bảo sự khách quan,công bằng Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nếu chia bằng hiện vật thì tài sản sẽ mất giá trị vàkhông có khả năng sử dụng Do đó, đối với vật không chia được thì phải trị giá thành tiền đểchia
Ngoài ra, việc phân loại vật thành chia được và không chia được còn có ý nghĩa trong việc xácđịnh phương thức thực hiện nghĩa vụ dân sự Nếu vật chia được thì nghĩa vụ có thể phân chia đượctheo phần (Điều 300, BLDS 2005)
7.3.3 Vật tiêu hao và vật không tiêu hao
Dựa vào đặc tính, giá trị của tài sản sau khi sử dụng người ta chia vật ra thành hai loại và vậttiêu hao và vật không tiêu hao
Vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được hình dáng, tínhchất và tính năng sử dụng ban đầu Ví dụ như gạo, nước, thực phẩm Những vật không tiêu haokhông thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn bởi lẽ đây là những hợp đồngchuyển quyền sử dụng đối với tài sản trong một thời hạn nhất định và khi hết thời hạn thì bênthuê, bên mượn phải trả lại tài sản đúng ở trạng thái ban đầu Nếu tài sản là vật tiêu hao thì bênthuê hoặc bên mượn sẽ không thể thực hiện được nghĩa vụ trả lại vật đó
Trái với vật tiêu hao, vật không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữđược tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu như xe máy, bàn ghế, điện thoại
Trang 30Đối với vật đặc định, khi bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật thì phảigiao đúng vật đó, nếu giao vật khác mặc dù đúng số lượng, chất lượng vẫn bị coi là vi phạmnghĩa vụ và phải chịu trách nhiệm dân sự.
7.3.5 Vật đồng bộ và vật không đồng bộ
Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnhthể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quycách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút Vật đồng bộthường được thể hiện tên gọi dưới dạng bộ, đôi hoặc cặp ví dụ như bộ máy vi tính, bộ tam cúc,đôi giầy, đôi khuyên tai
Vật đồng bộ chỉ có thể khai thác được công dụng một cách toàn diện nhất khi có đầy đủ cácphần, các bộ phận trong một chỉnh thể Do đó, theo quy định của pháp luật khi thực hiện nghĩa
vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành,trừ trường hợp có thoả thuận khác
Cần lưu ý là chỉ cần xem xét vật là đồng bộ hay không đồng bộ khi vật bao gồm tập hợp cácvật đơn chiếc tạo thành còn nếu vật tồn tại ở dạng đơn chiếc, độc lập thì cách xem xét đó sẽkhông còn ý nghĩa
8 Quyền chiếm hữu tài sản
Trong các nội dung của quyền sở hữu thì chiếm hữu tài sản được coi là quyền năng đầu tiên để
thực hiện các quyền năng tiếp theo Theo quy định tại Điều 182, BLDS 2005 thì: “Quyền chiếm hữu
Trang 31là quyền nắm giữ, quản lý tài sản.”
Việc nắm giữ, quản lý tài sản có thể được thực hiện bởi bất kỳ chủ thể nào Tuy nhiên, phápluật chỉ bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể chiếm hữu nếu việc chiếm hữu đó dựa trên cơ sở pháp
lý do pháp luật quy định Xuất phát từ lý do này, BLDS 2005 quy định về chiếm hữu có căn cứpháp luật (dựa trên cơ sở pháp lý do pháp luật quy định) và theo nguyên tắc loại trừ thì nhữngtrường hợp chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp lý do pháp luật quy định sẽ bị coi là chiếm hữukhông có căn cứ pháp luật
* Chiếm hữu có căn cứ pháp luật
Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu dựa trên cơ sở pháp lý do pháp luật quyđịnh Theo quy định tại Điều 183, BLDS 2005 thì chiếm hữu có căn cứ pháp luật bao gồm:– Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản:
Chủ sở hữu là người có quyền sở hữu đối với một tài sản nhất định Việc có được tài sản đó dựatrên các căn cứ xác lập quyền sở hữu do pháp luật quy định
Thực tế việc xác định chủ sở hữu cũng không hề đơn giản Đối với trường hợp tài sản có đăng
ký quyền sở hữu thì có thể xác định chủ sở hữu thông qua các giấy tờ xác nhận chủ sở hữu (xemáy, ô tô, nhà, tàu biển ), còn đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu thì việc xác định chủ
sở hữu chỉ thông qua việc suy đoán: ai là người đang chiếm hữu thực tế thì người đó được coi làchủ sở hữu tài sản Tuy nhiên, việc xác lập giao dịch dân sự đối với các loại tài sản này đòi hỏichủ thể xác lập giao dịch phải cẩn trọng, tránh trường hợp xác lập giao dịch liên quan đến tài sảnkhông đăng ký quyền sở hữu nhưng lại do người không có quyền định đoạt tài sản thực hiện.Quyền của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu tài sản được pháp luật tôn trọng một cách tuyệtđối Theo quy định tại Điều 184, BLDS 2005 thì:
“Trong trường hợp chủ sở hữu chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Việc chiếm hữu của chủ sở hữu không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian, trừ trường hợp chủ
sở hữu chuyển giao việc chiếm hữu cho người khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
– Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản:
Trang 32Chủ sở hữu có thể trực tiếp chiếm hữu tài sản nhưng cũng có thể uỷ quyền cho người khácchiếm hữu tài sản Việc uỷ quyền chiếm hữu có thể được thực hiện thông qua hợp đồng uỷquyền.
Người được uỷ quyền quản lý tài sản của chủ sở hữu có thể chỉ được thực hiện việc quản lý tài sảnnhưng có thể được thực hiện các hành vi khác (sử dụng) nếu được chủ sở hữu cho phép Phạm vi, cáchthức, thời hạn chiếm hữu của người được chủ sở hữu uỷ quyền chiếm hữu được xác định theo hợpđồng uỷ quyền
Mặc dù là người được uỷ quyền chiếm hữu nhưng người được uỷ quyền chiếm hữu không thểđược xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu
– Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy địnhcủa pháp luật:
Giao dịch dân sự được xác lập phù hợp với quy định của pháp luật làm phát sinh quyền vànghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao dịch đó Tuy nhiên, việc chuyển giao quyền chiếm hữuthông qua giao dịch dân sự phải phù hợp với ý chí của chủ sở hữu, ý chí của Nhà nước
Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung khôngbao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tàisản đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch Ví dụ, trong quan hệ cầm cố, khi bên cầm
cố giao tài sản cho bên nhận cầm cố giữ thì bên nhận cầm cố phải giữ gìn, bảo quản tài sản cầm
cố, không được làm hư hỏng hoặc giảm sút giá trị của tài sản cầm cố
Thông qua giao dịch dân sự với chủ sở hữu, người được giao tài sản ngoài việc chiếm hữu tàisản còn có thể có quyền sử dụng tài sản được giao (ví dụ như, người nhận cầm cố được khai tháclợi ích từ tài sản), được chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó cho người khác, nếu đượcchủ sở hữu đồng ý Mặc dù có thể có những quyền này nhưng người được giao tài sản không thểtrở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao
– Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản
bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quyđịnh:
Người phát hiện và giữ tài sản là vật vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu, tài sản dongười khác đánh rơi phải tiến hành đầy đủ các thủ tục hành chính cần thiết theo quy định của