LỜI NÓI ĐẦUViệt Nam có điều kiện sinh thái đa dạng với chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa cùng với sự phân hóa địa hình tạo nên các tiểu vùng sinh thái có điều kiện thuận lợi để phát triển
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TS Hà Duy Trường, TS Trần Đình Hà (Đồng chủ biên)
PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng, TS Trần Trung Kiên, TS Đào Thị Thanh Huyền
GIÁO TRÌNH
CÂY ĂN QUẢ CHUYÊN KHOA
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2023
Trang 3Viết tắt Đầy đủ/Tiếng Việt
BĐKH Biến đổi khí hậu
BVTV Bảo vệ thực vật
CU Cooling Unit/ Độ lạnh
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
FAO Food and Agriculture Organization /Tổ chức Nông lương thế giới
EU Khối Liên hiệp châu Âu
GA Gibberellic acid (Chất kích thích sinh trưởng)
IAA Indole acetic acid (Chất kích thích sinh trưởng)
IBA Indole butyric acid (Chất kích thích sinh trưởng)
IPM Integrated Pest Management/ Quản lý dịch hại tổng hợp KTCB Kiến thiết cơ bản
LAI Leaf Area Index/ Chỉ số diện tích lá
NAA Naphthalene acetic acid (Chất kích thích sinh trưởng)
PE Polyetylen/ Nilon
PTNT Phát triển nông thôn
TDMNPB Trung du miền núi phía Bắc
USD United States dollar/ Đô la Mỹ
VSV Vi sinh vật
Trang 4MỤC LỤC
Trang 52.2 NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ CÁC GIỐNG TRỒNG PHỔ BIẾN 66
Trang 7Chương 5 CÂY VẢI 157
Trang 9Chương 8 CÂY HỒNG 241
Trang 11Chương 11 CÂY MẬN 303
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam có điều kiện sinh thái đa dạng với chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa cùng với sự phân hóa địa hình tạo nên các tiểu vùng sinh thái có điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại cây ăn quả khác nhau, trong đó
có nhiều loại cây ăn quả có chất lượng, có lợi thế xuất khẩu (Thanh long, nhãn, vải, chuối, dứa, cam, bưởi, xoài, na…) và nhiều loài cây ăn quả đặc sản vùng ôn đới (mận, hồng, đào, lê…) ở các vùng sinh thái nông nghiệp trong cả nước.
Thị trường tiêu thụ quả hiện tại và tương lai có nhiều thuận lợi, số lượng, chủng loại, kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều tăng Đến nay, sản phẩm quả tươi của nước ta được xuất đi trên 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 10 thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nga, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Hà Lan, Thái Lan và Singapore…
Để phát triển các loại quả phục vụ nội tiêu và xuất khẩu, năm 2022, Bộ Nông nghiệp &PTNT đã phê duyệt đề án “Phát triển cây ăn quả chủ lực đến năm 2025 và 2030” với các nội dung và giải pháp thiết thực, trong đó việc đào tạo nguồn nhân lực có các kiến thức và kỹ năng về sản xuất cây
ăn quả là rất quan trọng Đặc biệt trong bối cảnh khoa học công nghệ thay đổi nhanh chóng, yêu cầu về chất lượng, chủng loại sản phẩm các loại quả tăng cao, cạnh tranh thương mại và rào cản kỹ thuật giữa các quốc gia khốc liệt và biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất cây ăn quả nói riêng.
Nhằm đào tạo sinh viên trình độ đại học các ngành: Khoa học cây trồng, Nông nghiệp công nghệ cao và ngành khác liên quan có được những thông tin cơ bản và công nghệ sản xuất các loại cây ăn quả chủ lực, cây ăn quả đặc sản ở miền Bắc nước ta, giáo trình “Cây ăn quả chuyên khoa” là tài liệu thiết thực phục vụ đào tạo, nghiên cứu theo định hướng ứng dụng Tập thể tác giả biên soạn giáo trình bao gồm:
Chương 1, 4: TS Trần Trung Kiên và TS Hà Duy Trường
Chương 2: PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng và TS Đào Thị Thanh Huyền Chương 3, 6: PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng và TS Trần Đình Hà
Chương 5: TS Trần Đình Hà và TS Trần Trung Kiên
Chương 7: TS Trần Đình Hà và PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng
Trang 13Chương 8, 10, 11: TS Hà Duy Trường và TS Trần Đình Hà
Chương 9: TS Đào Thị Thanh Huyền và TS Hà Duy Trường
Để biên soạn cuốn giáo trình này, tập thể tác giả đã lựa chọn các nội dung phù hợp, tham khảo tài liệu của nhiều tác giả trong và ngoài nước, trao đổi và nhận được nhiều sự đóng góp quý báu của các chuyên gia, chủ trang trại Trân trọng cảm ơn các tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ để hoàn thiện giáo trình.
Trong quá trình biên soạn giáo trình, không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để bổ sung, hoàn thiện giáo trình ngày càng tốt hơn.
TẬP THỂ TÁC GIẢ BIÊN SOẠN
Trang 14Chương 1 CÂY CÓ MÚI (CÂY BƯỞI, CÂY CAM)
1.1 GIÁ TRỊ, TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
1.1.1 Giá trị dinh dưỡng và kinh tế
1.1.1.1 Giá trị dinh dưỡng
Bưởi và cam là 2 loại quả quan trọng trong nhóm quả có múi (bưởi, cam, quýt, chanh), được trồng rộng rãi và tiêu thụ nhiều trên toàn thế giới Quả có múi có giá trị dinh dưỡng cao: đường tổng số 6 - 12%, vitamin C 40 - 90 mg/100 g tươi, chất đạm 0,9%, chất béo 0,1%, Fe 0,2 mg/100 g tươi, Ca 26 - 40 mg, P2O5 15 - 25 mg, năng lượng 430 - 460
calo/kg (Trần Như Ý và cs., 2000) Vì vậy, quả có múi có ý nghĩa trong việc bồi bổ sức
khỏe cho con người và có giá trị trong y học phương Đông, tham gia vào nhiều vị thuốc
cổ truyền Đặc biệt hàm lượng phong phú về vitamin C nên quả bưởi, cam đã được các thầy thuốc sử dụng như một vị thuốc quan trọng cho các thủy thủ chinh chiến dài ngày trên biển (từ thế kỷ XVII)
Phân tích lượng vitamin C ở các bộ phận khác nhau trên quả có múi cho thấy: phần vỏ ngoài chứa 175 - 190 mg/100 g, phần vỏ giữa chứa 85 - 125 mg/100 g, phần ruột quả chứa
45 - 75 mg/100 g (Trần Như Ý và cs., 2000) Chính vì vậy, người ta khuyên nên đưa quả
có múi vào chế biến công nghiệp để tận dụng được phần vỏ (trên thế giới, 1/3 sản lượng được đưa vào chế biến hằng năm)
Bảng 1.1 Giá trị dinh dưỡng có trong 100 gam tép quả bưởi, cam
Trang 15Chất dinh dưỡng Đơn vị Bưởi Cam
1.1.1.2 Giá trị kinh tế
Từ xa xưa, quả có múi đã là thức ăn của người nguyên thủy, nó có chứa đủ năm yếu tố
cơ bản cho con người (đường, đạm, béo, khoáng và vitamin) Ngày nay nó được sử dụng phổ biến và ưa chuộng làm thức ăn tráng miệng
Bưởi và cam có nhiều giống khác nhau, quả chín sớm muộn khác nhau, có thể kéo dài thời gian cung cấp quả tươi cho thị trường tới 6 tháng trong năm Nếu trồng ở các vĩ
độ khác nhau hoặc ở các bán cầu khác nhau, cùng với ưu điểm dễ cất giữ, vận chuyển, thì bưởi, cam có thể cung cấp quả tươi gần như quanh năm Trồng bưởi, cam sớm cho thu hoạch, đầu tư ban đầu không cao nhưng hiệu quả kinh tế lớn Chính vì vậy sản lượng 2 loại quả có múi này đã dẫn đầu các loại quả
- Cây bưởi đã mang lại giá trị kinh tế cao cho người nông dân Thực tế cho thấy, cây bưởi sau trồng từ 4 - 5 năm có thể thu lãi 40 - 100 triệu đồng/ha/năm, năng suất có thể đạt 250 quả/cây ở vườn có mật độ 400 - 500 cây/ha Hiệu quả của việc trồng bưởi Diễn gấp 4 - 5 lần trồng lúa, giá trị thu nhập của 1 sào bưởi (360 m2) khoảng trên 10 triệu đồng Đối với bưởi Đoan Hùng, thông thường những nhà trồng 30 cây bưởi thu
từ 15 - 20 triệu đồng/năm, với các giống bưởi Năm Roi, Da Xanh thu nhập lên tới 120
- 150 triệu đồng/ha Đầu tư cho 1 ha bưởi thời kỳ kiến thiết cơ bản trung bình khoảng
320 triệu đồng Trồng bưởi cho hiệu quả kinh tế khá cao, đặc biệt là bưởi ở những vùng đặc sản: bưởi Diễn 60 - 80 nghìn đồng/quả tương đương 500 - 600 triệu đồng/ha; bưởi Phúc Trạch 300 - 400 triệu đồng/ha; bưởi Da Xanh, bưởi Năm Roi cho hiệu quả kinh tế khoảng 500 - 550 triệu đồng/ha
- Cam Soàn có hiệu quả kinh tế cao, ở vùng sản xuất không tập trung cho doanh thu khoảng 710 triệu đồng/ha, lợi nhuận bình quân 300 triệu đồng/ha, cam Đường Canh
Trang 16khoảng 426 triệu đồng/ha, lợi nhuận bình quân khoảng 175 triệu đồng/ha và cam Xã Đoài cho doanh thu khoảng 450 triệu đồng/ha, lợi nhuận bình quân khoảng 178 triệu đồng/ha.Sản phẩm quả bưởi, cam được tiêu thụ rộng rãi trong và ngoài nước dưới dạng quả tươi, đồ hộp và nước giải khát, Giống bưởi và cam ở nước ta rất đa dạng, nhiều giống có tiềm năng suất khẩu với giá trị kinh tế cao Quả bưởi của Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường EU và Mỹ, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân và các vùng trồng bưởi Trong những năm gần đây, nhiều trang trại, nhà vườn đã áp dụng công nghệ ghép quả bưởi trên cây để tạo cây bonsai hoặc sử dụng khuôn thủy tinh để tạo các quả bưởi với các hình, dáng, tạo chữ làm gia tăng giá trị của quả bưởi lên nhiều lần.
1.1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và thị trường
1.1.2.1 Trên thế giới
a) Tình hình sản xuất
Năm 2020, quả có múi trên thế giới có diện tích 10.045.789 ha, trong đó diện tích cho thu hoạch của cam là 3.953.011 ha và của bưởi là 355.906 ha Sản lượng quả cam trên thế giới là 76.566.646,65 tấn và bưởi là 9.381.189,83 tấn Năng suất bình quân của bưởi đạt 26,35 tấn/ha và của cam là 19,36 tấn/ha
Châu Á sản xuất bưởi, cam nhiều nhất trên thế giới với diện tích là 224.737 ha (đối với bưởi) và 1.666.501 ha (đối với cam) đạt sản lượng gần 7 triệu tấn đối với bưởi và gần
29 triệu tấn đối với cam Khu vực Đông Nam Á, Đông Á (Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia) có vị trí thuận lợi cho canh tác bưởi, cam và đây là vùng trồng quả có múi nói chung và cam, bưởi quan trọng nhất trên thế giới
Bảng 1.2 Sản xuất bưởi, cam trên thế giới năm 2020
Châu lục
Diện tích (1.000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
Diện tích (1.000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
Thế giới 355,906 263,586 9.381,189 3.953,011 193,692 76.566,646 Châu Á 224,737 308,864 6.941,326 1.666,501 172,170 28.692,105 Châu Mỹ 71,276 206,813 1.474,086 1.416,798 214,411 30.377,672
Trang 17Trung Quốc là quốc gia trồng bưởi lớn nhất trên thế giới, chiếm 25% diện tích trồng bưởi và 54% sản lượng của thế giới vào năm 2020 Đây là quốc gia có kỹ thuật thâm canh cao, năng suất bưởi đã gấp đôi bình quân của thế giới Quốc gia trồng bưởi nhiều thứ 2 thế giới là Việt Nam, diện tích trồng bưởi của Việt Nam năm 2020 đã vượt qua châu Phi, chiếm 19% diện tích canh tác của thế giới Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về kỹ thuật và công nghệ canh tác nên năng suất bưởi của Việt Nam còn rất thấp, chỉ bằng khoảng một nửa năng suất trung bình của thế giới.
Brazil là quốc gia có sản lượng cam cao nhất trên thế giới với 16.707.900 tấn, chiếm khoảng 22% sản lượng cam trên thế giới và năng suất cam cao hơn 150% năng suất cam trung bình của thế giới (đạt 29,17 tấn/ha so với 19,36 tấn/ha)
Bảng 1.3 Sản lượng bưởi và cam của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2020
STT
Quốc gia (1.000 tấn) Sản lượng Quốc gia (1.000 tấn) Sản lượng
Trang 18cao nhất trong năm 2018 là Việt Nam (6,3 kg/1.000 người), Trung Quốc (3,3 kg/1.000 người) và Thái Lan (3,3 kg/1.000 người)
Thị trường sản xuất cam tươi có tính tập trung cao, trong đó Brazil đứng đầu với thị phần gần 35%, tiếp theo là Trung Quốc, EU và Hoa Kỳ Ở Hoa Kỳ, Florida và California
là những vùng sản xuất cam chính chịu trách nhiệm cho phần lớn sản lượng cam của thế giới Khoảng 90% cam sản xuất ở Hoa Kỳ được tiêu thụ trong nước ở dạng tươi hoặc chế biến, chỉ có 9% cam được xuất khẩu sang các nước khác Hầu hết cam tươi được sử dụng
để sản xuất các loại đồ uống khác nhau bao gồm đồ uống thực phẩm và nước quả tươi Vì việc tiêu thụ nước giải khát thường xuyên hơn vào mùa hè, điều này sẽ làm tăng nhu cầu
và mức tiêu thụ theo mùa trên toàn thế giới Nhu cầu về cam đạt cao nhất trong các tháng
11, 12 và 1, khi nhiệt độ thấp hơn một chút Tăng trưởng ở thị trường châu Âu được duy trì, đặc biệt là ở Đức, nơi tiêu thụ cam có nhu cầu mạnh nhất trong những năm gần đây
Do đó, nguồn cung và sản lượng cam tươi cao hơn cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi đang kích thích tiêu thụ cam theo mùa
1.1.2.2 Trong nước
a) Tình hình sản xuất
Cây ăn quả có múi (cam, bưởi, quýt, chanh) hiện là nhóm cây ăn quả có diện tích lớn nhất, chiếm 24% tổng diện tích cây ăn quả cả nước Trong đó, cam chiếm tỷ trọng lớn nhất (41% diện tích), tiếp theo là bưởi (33%), chanh (16%) và quýt (10%)
Từ 2010 đến nay, diện tích trồng bưởi của Việt Nam tăng gấp 2 lần, diện tích trồng mới và diện tích cho thu hoạch ngày một tăng kéo theo sản lượng bưởi năm 2019 đạt 819.000 tấn Tuy có sự mở rộng về quy mô canh tác, hình thành nên các vùng chuyên canh bưởi ở các miền của đất nước nhưng năng suất bưởi của Việt Nam trong hơn 10 năm qua lại không có sự đột biến lớn Năm 2022, Việt Nam đã có 105.400 ha trồng bưởi, sản lượng gần 905.000 tấn; với các giống bưởi đa dạng, đặc trưng cho từng vùng miền Cụ thể, vùng Đồng bằng sông Hồng có hơn 13.000 ha với sản lượng trên 175.000 tấn, Trung
du và miền núi phía Bắc có hơn 30.000 ha với sản lượng 253.000 tấn Riêng Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 32.000 ha với sản lượng khoảng 369.000 tấn Đến tháng 11/2022, đã có 36 vùng trồng bưởi của 10 tỉnh (Bà Rịa Vũng Tàu, Bến Tre, Đồng Tháp,
An Giang, Tiền Giang, Phú Thọ, Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương và Đắk Nông) được cấp mã số vùng trồng bưởi xuất khẩu sang Hoa Kỳ với tổng diện tích 752 ha (chiếm 0,71% diện tích trồng bưởi của cả nước), sản lượng dự kiến 13.105,6 tấn (chiếm 1,4 % tổng sản lượng bưởi của cả nước) (vietnamplus.vn, 2022)
Năm 2019, diện tích cam phía Bắc 54,3 nghìn ha, sản lượng 487,9 nghìn ha, bằng 55,4% diện tích và 48% sản lượng cam cả nước Các tỉnh sản xuất chủ yếu gồm: Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Hà Tĩnh Diện
Trang 19tích cam ở phía Nam đạt 43,7 nghìn ha, sản lượng trên 529,3 nghìn tấn, tương ứng chiếm 44,6% và 52% so với cả nước; tập trung chủ yếu ở ĐBSCL (chiếm 84,6% so toàn miền) Các tỉnh sản xuất chủ yếu gồm: Hậu Giang (10,7 nghìn ha), Vĩnh Long (10,8 nghìn ha) và Sóc Trăng (hơn 3,5 nghìn ha) Năm 2022, diện tích cam miền Bắc khoảng 53,1 nghìn ha, sản lượng 394,6 nghìn ha, chiếm 13,5% tổng diện tích cây ăn quả toàn miền, bằng 54,5% diện tích và 47% sản lượng cam cả nước; năng suất ước đạt 13,1 tấn/ha, bằng 96,4% so với năng suất cam bình quân cả nước, bằng 93,2% so với năng suất cam bình quân tại các tỉnh miền Nam (Cục Trồng trọt - Bộ NN&PTNT, 2022).
Bảng 1.4 Sản xuất bưởi và cam của Việt Nam năm 2019
TT Địa điểm
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/
ha)
Sản lượng (tấn) Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
cả nước; tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSCL (chiếm 63,3% so diện tích bưởi toàn miền) Địa phương có diện tích bưởi lớn gồm Bến Tre (gần 9,1 nghìn ha), Vĩnh Long (hơn 8,7 nghìn ha) và Đồng Nai (gần 8,3 nghìn ha) Các tỉnh sản xuất cam ở phía Bắc chủ yếu gồm:
Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Hà Tĩnh (Bộ NN&PTNT, 2022)
Trang 20mà còn được các doanh nghiệp xuất khẩu qua một số nước như Hàn Quốc, Hà Lan, Đức Đồng thời, nhiều thị trường tiềm năng có thể xuất khẩu như: Singapore, Nhật Bản, Nga Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, 10 tháng năm 2018, xuất khẩu mặt hàng rau hoa quả của nước ta đạt 3,2 tỷ USD, tăng 14% so với cùng kỳ năm 2017 Trong số các mặt hàng rau, củ, quả xuất khẩu của Việt Nam thì xuất khẩu quả bưởi trong 10 tháng năm
2018 trị giá đạt 5,12 triệu USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2017 - tốc độ tăng trưởng xuất khẩu quả bưởi lớn hơn so với tốc độ tăng trưởng chung Trong số gần 400 mặt hàng rau, củ, quả các loại xuất khẩu trong 10 tháng năm 2018 thì quả bưởi giữ vị trí thứ 51, chiếm 0,16% thị phần, lớn hơn so với mức 0,15% thị phần của cùng kỳ năm Quả bưởi Việt Nam là loại quả tươi thứ 7 của nước ta được phép nhập khẩu vào Mỹ, sau các loại quả xoài, nhãn, vải, thanh long, chôm chôm và vú sữa Bến Tre có 3 sản phẩm gồm bưởi, nhãn, chôm chôm được xuất khẩu sang Mỹ Tỉnh Bến Tre có diện tích trồng bưởi khoảng 10.000 ha, hàng năm cho sản lượng trên 200.000 tấn Bến Tre là địa phương xuất khẩu
lô bưởi đầu tiên sang thị trường đầy tiềm năng và đòi hỏi tiêu chuẩn, chất lượng cao này Công ty cổ phần Tập đoàn Xuất nhập khẩu quả tươi Chánh Thu, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre đơn vị đã trực tiếp đăng ký và chuẩn bị về mọi mặt để đưa sản phẩm bưởi Bến Tre sang thị trường Hoa Kỳ Năm 2022, tỉnh đã được cấp 25 mã số vùng trồng bưởi Da Xanh xuất khẩu sang thị trường EU và Mỹ; riêng đối với thị trường Mỹ đã được cấp 11
mã số với diện tích 156,76 ha, sản lượng 3.135 tấn/năm (Vietnamplus.vn, 2022)
Quả cam Việt Nam chủ yếu được tiêu thụ trong nước lượng xuất khẩu được ra thị trường quốc tế rất ít và hầu như không đáng kể Cam ở Việt nam chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng quả tươi, ít có các sản phẩm chế biến như nước ép, mứt, do nhu cầu thị trường
về các sản phẩm chế biến từ cam không cao Các tỉnh nỗ lực xây dựng thương hiệu cho cam, quýt Đã từ lâu, huyện Hàm Yên (Tuyên Quang) nổi tiếng với thương hiệu Cam sành Hàm Yên, được người tiêu dùng bình chọn là một trong 50 quả tươi đặc sản Việt Nam; lọt TOP 10 thương hiệu, nhãn hiệu nổi tiếng; được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp chỉ dẫn địa lý sản phẩm “Cam sành Hàm Yên”; Tỉnh Bắc Kạn đã coi cam quýt
là cây ăn quả chủ lực được thể hiện trong đề án “Cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” Tỉnh Hà Giang, năm
2022 đã có hơn 70 cơ sở sản xuất với khoảng 3.500 hộ trồng cam được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP trên diện tích hơn 4.200 ha
Trang 21c) Định hướng sản xuất và quy hoạch phát triển
Theo Đề án phát triển một số cây ăn quả chủ lực toàn quốc đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 của Bộ NN&PTNT (2022), định hướng sản xuất và quy hoạch phát triển 2 loại quả có múi là bưởi và cam như sau:
- Đối với cây bưởi:
Đến năm 2025 diện tích 110 nghìn ha, sản lượng 1,2 triệu tấn Đến năm 2030 diện tích
120 nghìn ha, sản lượng 1,6 triệu tấn Các tỉnh sản xuất bưởi trọng điểm: Vùng TDMNPB (Hòa Bình, Phú Thọ, Bắc Giang), vùng ĐBSH (Hà Nội), vùng Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh), vùng ĐBSCL (Tiền Giang, Bến Tre,Vĩnh Long, Hậu Giang) Các tỉnh phía Bắc, bố trí cơ cấu giống bưởi chính vụ 70%, rải vụ thu hoạch 30% diện tích Các tỉnh phía Nam, diện tích chính vụ 55% và rải vụ thu hoạch 45% diện tích Ưu tiên bình tuyển, phục tráng các giống bưởi bản địa, đặc sản địa phương có chất lượng, ít hạt, chống chịu sâu bệnh hại, xây dựng vườn giống đầu dòng sạch bệnh, nhân giống bưởi sạch bệnh, phục vụ sản xuất Kết hợp nghiên cứu chọn tạo, phát triển giống bưởi mới, có chất lượng phù hợp thị trường nội tiêu và xuất khẩu Đẩy mạnh sản xuất an toàn, ứng dụng kỹ thuật ghép cải tạo, tưới nước tiết kiệm, kỹ thuật thụ phấn bổ sung, xử lý ra hoa, đậu quả, phòng trừ sâu bệnh hại trong điều kiện BĐKH, chú trọng khâu bảo quản bưởi
- Đối với cây cam:
Đến năm 2025 - 2030 ổn định diện tích 100 nghìn ha, sản lượng 1,2 - 1,3 triệu tấn Các tỉnh sản xuất cam trọng điểm: Vùng TDMNPB (Hòa Bình, Tuyên Quang, Hà Giang), vùng ĐBSH (TP Hà Nội, Hưng Yên), vùng Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh), vùng ĐBSCL (Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng) Các tỉnh phía Bắc,
cơ cấu diện tích cam chính vụ 70 - 75%, diện tích cam rải vụ thu hoạch 25 - 30% Các tỉnh vùng ĐBSCL diện tích cam chính vụ 50%, rải vụ thu hoạch 50% diện tích Nhập nội, bình tuyển, chọn tạo và chuyển giao bộ giống cam có chất lượng, ít hạt hoặc không có hạt, chống chịu sâu bệnh hại, xây dựng vườn giống đầu dòng sạch bệnh, nhân giống cam sạch bệnh, phục vụ tái canh Hạn chế tình trạng phát triển nóng, tăng nhanh diện tích cây cam, nhất là các vùng không phù hợp; Áp dụng đồng bộ các quy trình sản xuất tiến tiến, hữu cơ,
an toàn, chú trọng kỹ thuật tưới nước tiết kiệm, công nghệ bảo quản sau thu hoạch cam
1.2 NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ CÁC GIỐNG TRỒNG PHỔ BIẾN
Trang 22nguyên sản Trung Quốc nghề trồng cây có múi đã có cách đây 3.000 - 4.000 năm Từ thời Hán, cam quýt đã khá phát triển, sang thời Tống đã có cuốn “Quýt lục” của Hàn Ngạn Trực, ghi chép tỉ mỉ về phân loại, cách trồng và chế biến cam, quýt
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á nên cũng có nhiều giống bưởi và cam nguyên sản Trong tập đoàn cây có múi của nước ta có nhiều cây trồng hoang dại (cây Chỉ Xác, cây Tắc ) là những loài tổ tiên của cam và hiện nay ở nhiều vùng, miền các giống bưởi chua, cam chua hiện còn tồn tại trong sản xuất và thường được sử dụng làm cây gốc ghép cho các giống trồng trọt
chi, 6 chi phụ, 33 giống và 203 loài Bưởi (Citrus grandis), bưởi chùm (Citrus paradisi), cam ngọt (Citrus sinensis) và cam chua (Citrus aurantium) là 4 trong 8 loài quan trọng
của chi phụ Eucitrus, tuy nhiên hiện nay 2 loài với rất nhiều giống quan trọng được sản
xuất rộng rãi trên thế giới và có giá trị thương mại là bưởi (Citrus grandis) và cam ngọt (Citrus sinensis)
1.2.3 Các giống trồng phổ biến trong sản xuất
1.2.3.1 Các giống bưởi
a) Bưởi Da Xanh
Có nguồn gốc từ xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, hiện được trồng nhiều nhất tại tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long Giống có đặc điểm: quả hình cầu, khối lượng quả trung bình đạt 1,2 - 2,5 kg/quả, vỏ vẫn giữ nguyên màu xanh khi chín, dễ tách
vỏ, vỏ mỏng (14 - 18 mm), tép màu hồng đỏ, bó chặt và dễ tách khỏi múi, nước quả khá,
vị ngọt, không he đắng, độ Brix 9,5 - 12% Thời gian thu hoạch từ tháng 9 đến tháng 11 dương lịch, quả có thể bảo quản trong điều kiện bình thường từ 1 - 2 tháng
b) Bưởi Diễn (Phú Diễn)
Có nguồn gốc từ Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, trước đây được trồng nhiều ở xã Phú Diễn, xã Phú Minh, huyện Từ Liêm, Hà Nội, hiện nay đã được trồng và phát triển tốt tại
Trang 23một số địa phương như: Hà Nội (Đan Phượng, Phúc Thọ, Hoài Đức, Chương Mỹ, Quốc Oai ); Bắc Giang (Hiệp Hòa, Tân Yên, Yên Thế ); Hưng Yên (Văn Giang, Tiên Lữ ) Bưởi Diễn là một loại quả đặc sản của miền Bắc Giống này ra hoa vào tháng 2, tháng 3;
tỷ lệ đậu quả khoảng 2%; thu hoạch quả vào cuối tháng 12 đến tháng 1 năm sau Đặc điểm quả: hình ô van, võ nhẵn, có màu vàng tươi khi chín, thịt quả màu vàng sẫm, vị ngọt đậm, tép dóc hơi dai, không nát, không có vị he đắng, khối lượng quả trung bình đạt 1,0 - 1,5 kg/quả, đường kính quả 11,5 cm, chiều cao quả 13,5 cm, độ dày vỏ 1,3 cm, số hạt/quả khoảng 90 hạt, số múi/quả là 13,5, tỷ lệ phần ăn được là 51,2%, độ Brix 12,8%; quả có thể bảo quản khoảng 3 tháng trong điều kiện bình thường Quả có hàm lượng đường tổng số: 6,9%, axit tổng số: 0,27%, vitamin C: 33,2 mg/100g
d) Bưởi đỏ Tân Lạc
Có nguồn gốc tại xã Khánh Thương, huyện Ba Vì (Hà Nội); hiện nay là giống bưởi đặc sản của huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình Giống có quả hình tròn, vỏ vàng Khi chín, múi bưởi có màu hồng đỏ, quả có khối lượng trung bình từ 1,2 - 1,4 kg/quả Tép bưởi đỏ Tân Lạc bó chặt, dễ tách, ăn rất giòn ngọt và không bị he đắng, mọng nước Thời gian thu hoạch từ tháng 10 đến tháng 12 dương lịch, quả có thể bảo quản trong điều kiện bình thường từ 1 - 2 tháng
e) Bưởi Năm Roi
Nguồn gốc ở xã Phú Hữu A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; trồng nhiều ở tỉnh Hậu Giang, Vĩnh Long và các tỉnh Nam Bộ Giống này ra hoa vào tháng 2, tháng 3; tỷ lệ đậu quả là 3,6%; thu hoạch tháng 9 - 10 Đặc điểm quả: hình quả lê, võ nhẵn, có màu vàng tươi khi chín, thịt quả màu vàng lơ, vị ngọt lẫn chua nhẹ, tép dóc, giòn, không nát, không có
vị he đắng; khối lượng quả trung bình đạt 0,8 - 1,0 kg/quả, đường kính quả 12,6 cm, chiều cao quả 14,1 cm, độ dày vỏ 1,15 cm, số hạt/quả > 100 hạt, số múi/quả là 13, tỷ lệ phần
ăn được là 47 - 50%, độ Brix 8,5%; quả có thể bảo quản khoảng 3 - 4 tháng trong điều
Trang 24kiện bình thường Quả có hàm lượng đường tổng số: 4,7%, axit tổng số: 0,44%, vitamin C: 32,5 mg/100g.
Ngoài ra, ở từng vùng hiện có các giống bưởi địa phương chất lượng tốt: Bưởi Phúc Trạch (Quảng Bình), bưởi Xuân Vân (Tuyên Quang), bưởi Quế Dương, bưởi đỏ Mê Linh (Hà Nội), bưởi Luận Văn (Thanh Hóa) nhiều giống được cấp chỉ dẫn địa lý và là sản phẩm OCOP của các địa phương
1.2.3.2 Các giống cam
a) Cam Xã Đoài
Giống nhập nội từ thế kỷ XIX vào Nghệ An, Hà Tĩnh; là giống chín sớm trung bình Ưu điểm của giống: Cây sớm cho quả, sản lượng cao, chất lượng cao nhất trong các giống cam thương mại ở nước ta, có khả năng thích ứng cao nên được trồng ở nhiều nơi của miền Bắc và thường được gọi chung là cam Vinh Từ giống này đã chọn được các giống phù hợp cho từng vùng: Cam Xã Đoài ở Cao Phong gồm 2 dòng là cam Xã Đoài Cao và cam Xã Đoài Lùn, đây là giống cây ăn quả đặc sản của huyện Cao Phong (Hòa Bình) Đặc điểm: Cây cao trung bình 3,5 - 4 m, tán rộng 4 - 4,5 m cây phân cành tương đối thấp, lá có eo vừa, màu xanh đậm Quả có hai dạng: Dạng quả nhót (quả cao thành) và dạng quả bầu (quả dẹt) Đường kính quả trung bình 6,8
- 7,8 cm, khối lượng bình quân từ 200 - 250 g/quả, thường có từ 10 - 12 múi, màng múi mỏng, tôm nhỏ, nhiều nước, vỏ quả dày 2 - 3 mm, khi quả chín, vỏ có màu vàng tươi Theo kinh nghiệm của người trồng thì dạng quả nhót có tán cây thưa hơn, ra hoa sớm, quả chín sớm hơn nên mùa mưa ít bị nứt quả hơn dạng quả bầu, tuy số lượng quả dạng quả nhót ít hơn, nhưng phẩm chất cao hơn quả bầu Nhược điểm: Quả nhiều hạt và nhiều bã (xơ)
b) Cam Đường Canh
Là giống cam có vị ngọt đậm, vỏ màu vàng đỏ, là giống được trồng lâu đời ở xã Vân Canh, huyện Hoài Đức (Hà Nội) Cây sinh trưởng khỏe, tán cây hình dù, lá không eo, màu xanh đậm Thu hoạch tháng 11 - 12 âm lịch Quả hình cầu dẹt, chín màu đỏ, vỏ mọng, ruột màu vàng, ăn ngọt, thơm; khối lượng trung bình 80 - 120 g/quả Cam Đường Canh là giống có năng suất cao, thích nghi rộng, trồng được trên núi cao và vùng đồng bằng thoát nước tốt Tính chống chịu với sâu bệnh hại khá tốt
c) Cam Sành
Là giống cam vỏ dày, được trồng nhiều ở khu vực miền núi phía Bắc: huyện Bắc Quang và Vị Xuyên (Hà Giang), huyện Hàm Yên, Yên Sơn (Tuyên Quang), huyện Lục Yên (Yên Bái) Cây cam Sành có chiều cao trung bình đạt 3,5 m; đường kính tán trung bình 4,4 m; chu vi gốc trung bình 47,5 cm; tán hình cầu, rẻ quạt/phễu; thân cành có gai;
Trang 25cánh lá hình trái tim (3 × 2 mm); phiến lá hình bầu dục dài (9 × 5,2 cm) Năng suất quả khá (trung bình 7 - 9 tấn/ha), chín vào dịp Tết Nguyên Đán, khi chín vỏ quả màu vàng đỏ,
vỏ quả sần, có tinh dầu, ăn có hương thơm, ngon, vị chua ngọt
d) Cam Soàn
Là giống cam nổi tiếng, đặc sản của Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Cây dễ trồng và dễ chăm bón, sinh trưởng phát triển mạnh Cam Soàn thích hợp với những vùng đất khô ráo, thoát nước tốt, ưa sạch Quả cam Soàn to, khối lượng quả > 250 g, có ruột vàng, vỏ mỏng ăn vị ngọt thanh và rất ít hạt Cây ra quả quanh năm, quả càng nhỏ thì càng ngọt, mùi thơm nhẹ
e) Cam Sông Con
Giống cam nhập nội do một chủ đồn điền người Pháp đưa về trồng trên đất Đội sản xuất Đào Nguyên (Nông trường Sông Con ngày nay) nên có tên là “cam Sông Con” ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh Ưu điểm: có khả năng chịu hạn và chống sâu bệnh tốt, ngọt thanh, thơm dịu, ít hạt, ít bã Cây cao 3 - 4 m, tán lá đường kính từ 2 - 3 m, hình nơm ngược (do góc độ phân cành nhỏ hơn các giống khác) Lá dày, hơi bầu, cong lòng máng, màu xanh đậm, cành không có gai Quả trung bình 200 - 250 g/quả, đường kính quả ± 7,7 cm, chiều cao quả gần 7,3 cm, tép mịn màu mỡ gà, ít hạt, vỏ quả màu vàng sáng rất đẹp
f) Cam Vân Du (cam Sunkist)
Là giống nhập nội vào Trại cam Vân Du năm 1947, qua quá trình chọn lựa đã cho ra những dòng tốt Từ đây nhân giống đi các nơi và mang tên “cam Vân Du”, vùng trồng chính là Nghệ An, Hà Tĩnh Đây là giống chín trung bình, cây nhiều gai, tán rậm rạp, cây cao từ 4 - 5 m, đường kính tán từ 4 - 5 m, tán hình tháp hay hình mâm xôi, quả hình trống, khối lượng quả 170 - 180 g/quả, vỏ mỏng, trơn bóng, túi tinh dầu nhỏ và phân bố đều trên quả, khi chín vỏ màu đỏ vàng (da gấc) Có 11 - 12 múi, tép mịn, màu vàng tươi Vị ngọt thanh, thơm Chín vào tháng 11, năng suất cao (Một cây cam 7 - 10 tuổi cho 2 - 3 tạ quả) Nhược điểm: Quả không thu hái kịp, để trên cây dễ bị xốp, rụng
g) Cam Sành không hạt LĐ6
Được chọn tạo qua xử lý đột biến bằng tia gamma và được Bộ NN&PTNT công nhận cho sản xuất thử (theo Quyết định số 242/QĐ-TT-CCN, ngày 19/5/2011) Giống cam Sành không hạt LĐ6 đã được Cục Trồng trọt - Bộ NN&PTNT cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng (Quyết định số 263/QĐ-TT-VPBH ngày 19/9/2019) Đặc tính nổi trội của giống: Tỷ lệ hạt phấn bất dục cao (70%), số hạt/quả thấp <2 hạt/quả ổn định trong tất cả các quả ở tất cả các cây, thịt quả màu vàng cam, con tép bóng và đẹp, khối lượng quả trung bình 237g, nước quả nhiều (>40%), vị ngọt chua, mùi thơm đặc trưng giống như cam Sành thương phẩm Đặc tính để nhận biết giống cam Sành không hạt
Trang 26LĐ6 so với giống cam Sành thương phẩm bằng hình thái: Lá bé hơn, vỏ quả ít sần và bóng hơn so với giống cam Sành trong sản xuất, đỉnh quả có vòng tròn (đồng tiền) và rất dễ bóc vỏ Giống cam Sành không hạt LĐ6 đã được đưa ra trồng khảo nghiệm tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang và huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái cho kết quả tốt
và có đặc điểm vượt trội là khi quả chín cũng có màu quả vàng cam (Khác với cam LĐ6 trồng ở miền Nam có vỏ quả màu xanh)
Ngoài ra trong các năm gần đây, các cơ quan nghiên cứu cũng đã chọn tạo ra nhiều giống cam có chất lượng tốt, cung cấp giống trồng cho các vùng trồng cam: giống cam CS1, cam CT36, cam CT9, cam sành ít hạt HG1, cam Tề, cam NV03
đó phải xới nông và tạo điều kiện cho đất được tơi xốp, nhiều oxy Theo Girton quan sát thấy, nếu tỷ lệ oxy trong đất từ 1,2 - 1,5% thì rễ ngừng phát triển, vì vậy không nên chọn mực nước ngầm quá nông để trồng bưởi (Ngô Xuân Bình, 2010)
Sự phân bố của rễ: mức độ phát triển theo bề rộng và bề sâu của bộ rễ cam phụ thuộc vào các yếu tố đặc tính giống, cách nhân giống (cây gieo hạt, chiết hay ghép), mực nước ngầm tầng đất canh tác và chế độ chăm bón Cam Xã Đoài trồng trên đất
Xã Đoài (tầng canh tác mỏng) thì rễ chỉ tập trung ở tầng 0 - 25 cm, rễ cái thường ăn ngang Cùng giống này trồng trên đất bồi tụ của nông trường Sông Con thì rễ có thể
ăn sâu tới 2 m Cam Bố Hạ trồng trên đất phù sa sông Thương với cách nhân giống khác nhau, cho ta kết quả khác nhau về sự phân bố rễ (cây con cùng lứa tuổi, cùng chế độ chăm sóc)
Trang 27Bảng 1.5 Sự phân bố rễ cam Bố Hạ của cây gieo hạt
có gai nhưng khi nhân giống bằng hạt lại xuất hiện nhiều gai trên thân cành nhưng những
cành ở phía trên gai ngắn hơn (Trần Thế Tục và cs., 1998).
Cành cây cam, bưởi sau khi mọc một thời gian, khi đã đạt đến độ thuần thục, tại các đỉnh sinh trưởng có hiện tượng giảm auxin đột ngột làm cho các tế bào đỉnh sinh trưởng ngừng phân chia, phần mô ở đỉnh sinh trưởng bị chết Ðây chính là nguyên nhân của hiện tượng rụng ngọn, nghĩa là cành sinh trưởng một thời gian thì dừng lại và thuần thục, sau
đó các mầm từ nách lá lại mọc ra phát triển thành đợt lộc mới Vì vậy, cam quýt nói chung
và bưởi, cam nói riêng không có thân chính rõ rệt, cành lá xum xuê, rậm rạp (Trần Thế
Tục và cs., 1998)
Căn cứ vào đặc điểm và chức năng có thể phân chia thành 3 loại:
- Cành mẹ: là cành sinh ra cành quả Nó có thể là cành xuân, cành hè hoặc cành thu năm trước Qua theo dõi cho thấy tùy theo giống, thường cành thu hoặc cành hè làm cành
mẹ thì số cành quả nhiều và tỷ lệ đậu quả cũng cao Có thể chủ động bồi dưỡng cành mẹ
để tạo cơ sở cho vụ quả sau Đây là một biện pháp quan trọng để hạn chế hiện tượng ra quả cách năm
- Cành dinh dưỡng: Cành không ra hoa, quả, chỉ có lá xanh, có nhiệm vụ chính là quang hợp, thực ra giữa cành mẹ và cành dinh dưỡng không có giới hạn rõ, năm nay là cành dinh dưỡng, sang năm có thể là cành mẹ Thuộc loại cành dinh dưỡng còn có một loại cành đặc biệt thường mọc vào mùa hè, đó là “cành vượt” Cành này mọc từ trong thân chính đâm thẳng ra, dài từ 30 cm, đến 1,5 m, cành có gai dài và to, đốt lá dài, lá to, màu
Trang 28xanh nhạt Khi cây còn nhỏ có thể lợi dụng loại cành này để tạo tán hoặc khi cây già yếu, cần phục tráng cho cây thì mới giữ loại cành này Còn đối với cam kinh doanh, phải cắt
bỏ (để tránh cho cây khỏi rụng quả và bớt sâu bệnh)
- Cành quả: tùy giống cam mà cành quả có độ dài từ 3,0 - 25 cm, thông thường từ
3 - 9 cm Cành quả có lá thường đậu quả tốt hơn cành quả không có lá Cành quả phần lớn đều ra trong mùa xuân Cành quả ở ngọn cành mẹ sẽ cho quả nhiều và phẩm chất tốt
Vì phải tập trung dinh dưỡng cho quả nên trong năm những cành quả không nảy lộc Sau khi thu quả, phải qua một thời gian nhất định tích luỹ dinh dưỡng nó mới có thể trở thành cành mẹ
1.3.1.3 Lá
Lá cây cam, bưởi thuộc loại lá đơn mọc cách, dạng phiến, hình bầu dục hơi nhọn đầu,
có eo lá rõ rệt Lá to dài xanh đậm, mép lá có răng cưa nhỏ Số lượng lá trên cây quyết định đến năng suất chất lượng bưởi Cây trưởng thành có từ 150.000 - 200.000 lá, tổng diện tích lá khoảng 200 m2/cây Tuổi thọ của lá tùy thuộc từng vùng sinh thái, vị trí, tình trạng sức khỏe của cây và cành mang lá Tuổi thọ của lá bưởi từ 17 - 24 tháng, tùy theo vùng sinh thái, vị trí, tình trạng sinh trưởng của cây, cành mang lá, vị trí của cấp cành, những lá hết thời gian sinh trưởng thường rụng nhiều vào mùa thu và mùa đông
Lá có quan hệ chặt chẽ với sản lượng, nhất là với khối lượng quả Theo nghiên cứu trên cam Washington Navel (Mỹ) thấy: nếu có 10 lá/quả → quả nặng 70 g; nếu có 35 lá/quả → quả nặng 120 g; nếu có 50 lá/quả → quả nặng 180 g Theo Takahashi (Nhật Bản) nghiên cứu với giống cam Mật Ôn Châu thấy nếu số lá/quả đạt từ 20 - 25 thì sản lượng đảm bảo, không có hiện tượng ra quả cách năm Vì vậy cần chú ý bảo vệ bộ lá, giữ tán lá xanh đen và cần rút ngắn giai đoạn chuyển lục của các đợt lá mới (chuyển từ xanh vàng sang xanh đậm)
1.3.1.4 Hoa, quả, hạt
Hoa cây có múi đa số là hoa tự chùm hoặc tự bông Hoa tự có khi mang lá hoặc không
có lá Hoa không có lá nhiều hơn; nụ hoa to hơn so với cam quýt; tràng hoa có từ 3 - 5 cánh tách biệt, cánh hoa có từ 3 - 6 cánh, dày có màu trắng Nhị có từ 22 - 47 cái, nhụy có
1 do các bộ phận đầu nhụy, vòi nhụy và bầu nhụy cấu tạo thành Đầu nhụy thường to, cao hơn bao phấn do vậy dễ nở hoa và thụ phấn Thời gian từ khi hoa nở đến khi tàn khoảng trên 30 ngày, khả năng ra hoa rất cao, tuy nhiên tỷ lệ đậu quả lại thấp (1 - 2%) Thời điểm
ra hoa của mỗi giống là khác nhau và phụ thuộc vào thời tiết của từng năm ( Domingo và
cs., 2007)
Quả do bầu phát dục mà thành, vách ngoài bầu hoa phát dục thành vỏ ngoài của quả, vách giữa của bầu hoa tạo thành lớp cùi, vách trong của bầu hoa gọi là tâm thất phát dục
Trang 29thành các múi, bên trong chứa nước dịch và hạt Từ khi ra hoa đến đậu quả phải trải qua
3 giai đoạn; rụng nụ, rụng hoa và rụng quả sinh lý Quả thường có từ 8 - 14 múi, số lượng hạt tùy thuộc vào từng loài và giống, các giống bưởi thường có nhiều hạt hơn cam, hạt to
và có dạng dẹt, các giống cam có hạt nhỏ, tròn dài, có nhiều giống không hạt có giá trị cao: bưởi Da Xanh, bưởi Năm Roi, cam V2, cam sành LĐ06 Cam quýt đậu quả chủ yếu
là nhờ thụ phấn chéo, tự thụ phấn hoặc không qua thụ phấn Hạt cam phần lớn là hạt đa phôi, riêng đối với bưởi và các hạt giống lai của chúng là đơn phôi Màu sắc vỏ quả thay đổi tùy theo giống, loài cùng các điều kiện sinh thái, các giống bưởi ở miền Nam thường
có màu xanh, các giống bưởi ở miền Bắc thường có màu vàng sáng khi chín (Trần Thế
Tục và cs., 1998), nguyên nhân chủ yếu do ở phía Nam, nhiệt độ cao nên diệp lục ở vỏ
quả không bị phân hủy khi chín, nếu mang các giống này trồng ở phía Bắc, vỏ quả vẫn chuyển màu vàng (các giống bưởi) hoặc màu cam (các giống cam)
Hình 1.1 Một số bộ phận hoa, quả cây có múi
1.3.2 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển
Trang 30Sự hoạt động của bộ rễ có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển cành và lá (chu kỳ hoạt động của rễ thường dài hơn chu kỳ của cành và lá khoảng 10 - 15 ngày, đây cũng là
cơ sở để xác định thời gian bón phân (Ngô Xuân Bình, 2010))
1.3.2.2 Sinh trưởng thân, cành, lá
Quan sát quy luật ra lộc cành trong một năm của bưởi cho thấy: Lộc Xuân thường được mọc ra từ cành của năm trước hoặc trên một số mầm ngủ của thân chính, lộc xuân
có ý nghĩa nhất là lộc mọc từ cành hè và cành thu của năm trước Lộc hè có thể mọc từ cành xuân, hay từ cành đông và cành thu của năm trước Tuy nhiên, mỗi điều kiện sinh thái khác nhau mối liên hệ giữa các lộc trong năm cũng có thay đổi
Sinh trưởng cành của cây cam, bưởi phụ thuộc vào tuổi cây, điều kiện môi trường và
kỹ thuật chăm sóc Nhìn chung những cây trẻ chưa cho quả sinh trưởng của cành (phát sinh lộc) thường xảy ra quanh năm, nghĩa là một năm thường có nhiều đợt cành xuất hiện Khi cây trưởng thành đã cho quả thì thường chỉ có 4 đợt lộc trong năm, đó là lộc xuân, lộc hè, lộc thu và lộc đông Ở những vùng khô hạn, hoặc rét sớm thì chỉ có 3 đợt lộc xuân,
Hè và Thu, không có lộc đông
- Cành mùa xuân: xuất hiện từ tháng 2 - 4 hàng năm Số lượng cành xuân thường nhiều, chiều dài cành tương đối ngắn Thường cành xuân là cành ra hoa và cho quả nên gọi là cành quả, không có hoa là cành dinh dưỡng Cành kết quả nhiều hoa không có lá hoặc ít lá thì tốt Cành mùa xuân ở lớp ngoài tán cây có thể tiếp tục nảy ra cành mùa hè, mùa thu Những cành mùa xuân ở bộ phận dưới tầng lá của tán cây có thể hình thành cành
mẹ kết quả của năm tới Cành cho quả mùa xuân 1 - 2 năm tuổi là cành chủ yếu nhất của cây bưởi, chiếm tới 90% tổng số cành quả Khi tuổi cây tăng lên, vị trí cành mẹ kết quả không ngừng chuyển dịch lên hướng trên phía ngoài của tán cây, khác so với một số loại cam quýt chủ yếu cành mẹ kết quả là cành mùa thu, mùa hè ở bên ngoài tán cây Chất lượng của cành mùa xuân rất quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của cây cần đặc biệt chú ý bồi dưỡng cành mùa xuân
- Cành mùa hè: xuất hiện từ tháng 5 - 7 hàng năm, thường xuất hiện không tập trung, sinh trưởng không đều, cành thường to, dài, đốt thưa Cành mùa hè là cành sinh dưỡng có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cành quả và là cành mẹ của cành mùa thu Tuy nhiên, nếu cành mùa hè nhiều sẽ dẫn tới sự cạnh tranh dinh dưỡng đối với quả và có thể gây rụng quả nghiêm trọng, nên cắt tỉa để lại một số lượng cành thích hợp
- Cành mùa thu: xuất hiện từ tháng 8 - 10 hàng năm, mọc đều và nhiều hơn cành mùa
hè Cành mùa thu thường mọc từ cành mùa xuân không mang quả và phần lớn từ cành mùa hè, có vai trò quan trọng trong việc mở rộng tán, tăng cường khả năng quang hợp của cây và là cành mẹ của cành xuân, do vậy số lượng và chất lượng của cành thu có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng cành xuân, cành mang quả của năm sau
Trang 31- Cành mùa đông: xuất hiện vào tháng 11 - 12 hàng năm, đợt cành này ít, cành ngắn,
lá vàng xanh Nếu xuất hiện nhiều sẽ làm tiêu hao dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự phân hóa mầm hoa của cành mẹ kết quả mùa xuân
Theo Trần Thế Tục và cs (1998) đặc tính sinh học của mỗi cấp cành có những đặc
điểm khác biệt nhau, trong những điều kiện nhất định chúng tuân theo những quy luật tương đối như sau: tuổi thọ và sức sinh trưởng của cành giảm từ cấp cành thấp đến cấp cành cao, cành cấp I có tuổi thọ cao nhất; tỷ lệ lộc mới ra trên cành giảm từ cành cao đến cành thấp; tỷ lệ đậu quả hữu hiệu tăng theo cấp cành; các cấp cành cao nở hoa trước rồi đến cành cấp thấp, số hạt trung bình trong một quả tăng dần từ cấp cành thấp đến cấp cành cao; khả năng cất giữ, vận chuyển của quả tăng từ cấp cành thấp đến cấp cành cao Quả ra trên các cấp cành thấp khả năng chịu cất giữ và vận chuyển kém hơn; đây là chính
là những quy luật quan trọng để có những tác động kỹ thuật hợp lý như: cắt tỉa, tạo hình đạt hiệu quả cao
1.3.2.3 Ra hoa, kết quả
Quá trình ra hoa của cây ăn quả chịu sự tác động của yếu tố ngoại cảnh và các yếu tố nội tại như: hydrat cacbon, hoocmon, nhiệt độ, nước và dinh dưỡng (Albrigo & Sauco, 2004) Trong các yếu tố nội tại trên thì hydrat cacbon là yếu tố ảnh hưởng lớn tới quá trình
ra hoa của cây, bởi vì nó là yếu tố cần thiết cho sinh trưởng của hoa, quy định quá trình trao đổi chất và quá trình phát triển của hoa (Goldschmidt, 1999) Quá trình ra hoa của bưởi trải qua các giai đoạn:
a) Cảm ứng và phân hóa hoa
Cảm ứng ra hoa có thể bị chi phối bởi nhiều yếu tố như: sự có mặt của một số chất kích thích ra hoa, sự tích luỹ sản phẩm quang hợp Có thể ở từng loài thực vật, quá trình
ra hoa được kích thích bởi một yếu tố cảm ứng ra hoa khác nhau Quá trình hình thành hoa diễn ra khi xuất hiện yếu tố hoạt hóa cho sự sinh trưởng của chồi đỉnh và sự có mặt của yếu tố cảm ứng hình thành hoa)
Cảm ứng ra hoa bắt đầu với sự ngừng sinh trưởng sinh dưỡng trong mùa đông - thời kỳ sinh trưởng không rõ ràng ở vùng á nhiệt đới hoặc thời kỳ khô ở vùng nhiệt
đới (Domingo và cs., 2007) Nhìn chung trên cây trưởng thành, sự sinh trưởng chồi
ngừng lại và tốc độ sinh trưởng rễ giảm khi nhiệt độ giảm vào mùa đông mặc dù nhiệt
độ không dưới 12,5oC Trong thời kỳ này các lộc sinh dưỡng phát triển khả năng ra hoa Vì thế, sự cảm ứng liên quan đến việc định hướng chuyển từ sinh trưởng sinh dưỡng sang tạo các chùm hoa Stress do lạnh và nước là những nhân tố cảm ứng chính, với độ lạnh là nhân tố chính ở vùng có khí hậu á nhiệt đới và nước ở vùng có khí hậu nhiệt đới Nhiệt độ dưới 25oC trong nhiều tuần là cần để cảm ứng lộc hoa với
số lượng đáng kể Trên đồng ruộng, cần có thời kỳ khô hạn kéo dài hơn 30 ngày để
Trang 32một số lượng lộc hoa có cảm ứng ra hoa đáng kể (Frederick và cs., 1998) Hiện nay
việc gây hạn nhân tạo đã được sử dụng như là một phương tiện để xúc tiến sự cảm ứng ra hoa ở cây có múi Ở vùng trồng cây cam, bưởi nhà vườn thường sử dụng biện pháp xiết nước để kích thích cho cây ra hoa theo ý muốn
b) Sự ra hoa
Sự ra hoa xảy ra sau khi cảm ứng và phân hóa hoa khi có nhiệt độ và độ ẩm đất thích hợp Nhiệt độ ngưỡng tối thiểu cho ra hoa là 9,4oC hoặc thấp hơn đáng kể nhiệt
độ tối thiểu cho sinh trưởng sinh dưỡng Các yếu tố có liên quan nhất đến sự nở hoa
là hydrat cacbon, hormon, nhiệt độ, nước và dinh dưỡng Cơ sở của hydrat cacbon có tác động đến sự nở hoa là khi khoanh vỏ làm tăng cảm ứng ra hoa, tăng khả năng đậu quả Sự ảnh hưởng của hormon tới ra hoa cũng đã được nghiên cứu sâu trong nhiều năm Dinh dưỡng của cây liên quan trực tiếp và gián tiếp đến sự ra hoa của cây, hàm lượng N trong lá cao, đặc biệt đối với cây non gây ra sự sinh trưởng sinh dưỡng mạnh
và ức chế sự ra hoa Ngược lại, hàm lượng N trong lá thấp kích thích ra hoa sớm Tuy nhiên, cây thiếu N nghiêm trọng thì ra ít hoa Các nghiên cứu cho thấy nên duy trì hàm lượng N trong lá ở mức tối ưu khoảng 2,5 - 2,7% sẽ tạo ra số hoa vừa phải và cho tỷ lệ đậu quả và năng suất cao nhất Nitơ ở dạng amôn có thể trực tiếp ảnh hưởng đến ra hoa thông qua điều khiển hàm lượng amôn và polyamine trong nụ hoa Stress
nước và nhiệt độ thấp làm tăng hàm lượng amôn trong lá và sự ra hoa (Domingo và
cs., 2007; Frederick và cs., 1998)
c) Quá trình thụ phấn và đậu quả
Hầu hết các giống loài cây cam, bưởi thương mại không cần thụ phấn chéo Tuy nhiên, một số loài lấy hạt hoặc để kích thích sinh trưởng của bầu nhụy đối với những giống quả không hạt (quả điếc - parthenocarpic) thì cần có sự thụ phấn bổ sung
Nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả thụ phấn do trực tiếp ảnh hưởng đến tốc
độ sinh trưởng của ống phấn Tốc độ nảy mầm và sinh trưởng của ống phấn để chui vào vòi nhụy đưa tinh tử vào thụ tinh cho tế bào trứng rất thích hợp trong khoảng nhiệt độ từ
25 - 30oC và bị giảm xuống hoặc ức chế hoàn toàn ở nhiệt độ thấp < 20oC (Domingo và
cs., 2007; Frederick và cs., 1998)
Sự đậu quả, rụng quả và cuối cùng là năng suất quả bị ảnh hưởng bởi một số yếu
tố sinh lý và môi trường Các giống cây cam, bưởi thường ra rất nhiều hoa khoảng 100.000 - 200.000 hoa trên một cây trưởng thành, tuy nhiên chỉ 1 - 2% số hoa đậu quả cho thu hoạch, số còn lại bị rụng đi Ngoài những hoa, quả rụng do không được thụ phấn thì rất nhiều quả non khác phải rụng bớt đi, người ta gọi là rụng quả sinh lý Thường có 2 lần rụng quả sinh lý: lần rụng đầu tiên xảy ra từ khi nở hoa cho đến 3 - 4 tuần sau nở hoa; lần hai xảy ra vào tháng 5 khi quả có đường kính từ 0,5 - 2,0 cm Rụng
Trang 33quả sinh lý là sự rối loạn liên quan đến sự cạnh tranh hydrat cacbon, nước, hormon
và các chất trao đổi chất khác giữa các quả non, tuy nhiên vấn đề này rõ nhất lại là
do tác động của các stress, đặc biệt là nhiệt độ cao và thiếu nước, người ta đã chứng minh được rằng khi nhiệt độ không khí trên 40oC và ẩm độ giảm xuống dưới 40% có
thể gây rụng quả hàng loạt (Domingo và cs., 2007)
Những nghiên cứu cho thấy rằng thời gian nở hoa cũng có liên quan tới tỷ lệ đậu quả Hoa nở sớm có tỷ lệ đậu quả thấp hơn nhiều so với hoa nở muộn Nở hoa vào nhiệt độ thấp đầu mùa sẽ làm giảm sinh trưởng của ống phấn nên tỷ lệ đậu quả thấp Ngoài ra, quả sinh ra trên những cành hoa không có lá hoặc có lá chét thì tỷ lệ đậu cũng kém và nhiệt
độ quá cao > 40oC gây ra sự rụng quả (Ngô Hồng Bình, 2004; Domingo và cs., 2007)
Nghiên cứu sự đậu quả của bưởi ở Thái Lan các tác giả thấy rằng: tỷ lệ đậu quả khi tự thụ phấn rất thấp (từ 0 - 2,8%) nhưng khi giao phấn giữa các giống thì tỷ lệ đậu quả tăng từ 9
- 24% Quả lớn lên được là do có sự kích thích của các chất sinh trưởng, chất này được tạo
ra từ vách tử phòng (với các giống kết quả đơn tính), hoặc từ hạt sau khi hạt hình thành Việc phun bổ sung thêm chất kích thích sinh trưởng (NAA, IAA, GA3 ) khi đang hình thành quả có thể nâng cao tỷ lệ đậu quả
1.4 YÊU CẦU SINH THÁI
1.4.1 Nhiệt độ
Cây cam, cây bưởi có thể trồng ở vùng có nhiệt độ từ 12 - 39oC, nhiệt độ thích hợp nhất là từ 23 - 29oC, nhiệt độ thấp hơn 12,5oC và cao hơn 40oC cây ngừng sinh trưởng Nhìn chung, nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sống của
cây cũng như năng suất, chất lượng quả (Frederick và cs., 1998).
Ở vùng á nhiệt đới cây cam, cây bưởi thường có 2 - 5 đợt sinh trưởng, còn ở vùng nhiệt đới thấp, một số vùng á nhiệt đới và vùng duyên hải có thể có nhiều đợt sinh trưởng Nhiệt độ để bắt đầu phát sinh một đợt lộc là > 12,5oC, thời gian phát sinh lộc khác nhau ở mỗi vùng sinh thái, nhiệt độ tốt nhất cho sinh trưởng của các đợt lộc là từ
25 - 30oC, cho hoạt động của bộ rễ từ 17 - 30oC Sự hút nước và các chất dinh dưỡng tăng khi nhiệt độ tăng trong phạm vi từ 17 - 30oC và ngược lại để có sự cảm ứng ra hoa nhiệt độ phải dưới 25oC trong nhiều tuần ở vùng á nhiệt đới, trên đồng ruộng cần
có thời kỳ khô hạn kéo dài hơn 30 ngày để phân hóa hoa Nhiệt độ ngưỡng tối thiểu cho ra hoa là 9,4oC, nhiệt độ thấp (< 20oC) thời gian nở hoa kéo dài, nhiệt độ cao (từ
25 - 30oC) thời kỳ nở hoa ngắn hơn
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thụ phấn, hoặc gián tiếp đến hoạt động của côn trùng (ong không hoạt động khi nhiệt độ thấp hơn 12,5oC, hoặc trực tiếp bằng tác động tới tốc độ sinh trưởng của ống phấn (Cayennene và Rebecca, 2003)
Trang 34Khi hạt phấn rơi xuống núm nhụy, tốc độ nảy mầm và sinh trưởng của ống phấn xuyên qua vòi nhụy được tăng cường trong điều kiện nhiệt độ 25 - 30oC, bị giảm xuống hoặc bị ức chế hoàn toàn ở nhiệt độ thấp dưới 20oC Nhìn chung ống phấn xuyên suốt được vòi nhụy mất từ 2 ngày đến 4 tuần phụ thuộc vào giống và nhiệt
độ (Davies và Albrigo, 1994)
Khi chênh lệch biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn, tạo cho cây sinh trưởng phát triển mạnh và làm cho khả năng tích luỹ vận chuyển đường bột trong quả tăng, đồng thời kích thích sự hình thành các sắc tố vỏ quả, làm cho mã quả đẹp, có màu sắc đúng với đặc trưng của từng giống Trong thời gian từ tăng trưởng quả đến chín, cần tổng tích ôn 1.500 - 2.500oC Nhìn chung ở những vùng có nhiệt độ trung bình hàng năm trên 20oC và có tổng tích ôn từ 2.500 - 3.500oC đều có thể quy hoạch trồng bưởi
1.4.2 Ẩm độ và lượng mưa
Ẩm độ không khí cũng ảnh hưởng tới thụ phấn và thụ tinh, ẩm độ cao làm tốc độ nảy mầm cũng như sinh trưởng của ống phấn nhanh hơn tốc độ mở của vòi nhụy gây vỡ ống phấn và quá trình thụ tinh không được thực hiện Ngoài ra ẩm độ không khí có liên quan tới số ngày mưa, đặc biệt là mưa phùn làm hạn chế sự hoạt động của côn trùng cũng như
sự tung phấn của hoa, ẩm độ thích hợp cho thụ phấn từ 80 - 85%
Rụng quả sinh lý là sự rối loạn liên quan đến sự cạnh tranh hydrat cacbon, nước, hoocmon và các chất trao đổi chất khác giữa các quả non Tuy nhiên, vấn đề này rõ nhất lại là do tác động của các stress, đặc biệt là nhiệt độ cao và thiếu nước Nhiều tác giả đã chứng minh được rằng khi nhiệt độ không khí trên 40oC và ẩm độ giảm xuống dưới 40%
có thể gây rụng quả hàng loạt (Chen và Huang, 2004; Thiwaporn và cs., 2011).
Lượng mưa phân bố đều trong năm được cho là thích hợp hơn lượng mưa lớn tập trung vào một số ít tháng Cây có múi cần nhiều nước ở thời kỳ bật mầm, ra hoa và quả phát triển Thiếu nước được sử dụng như là một phương tiện để tạo nên cảm ứng ra hoa
ở cây có múi trong nhiều năm trở lại đây Phương pháp gây hạn cũng đã được sử dụng để
cho cây có múi ra hoa trái vụ ở nhiều vùng sản xuất (Thiwaporn và cs., 2011) Tại Việt
Nam, biện pháp xiết nước đã được thực hiện khá phổ biến trên một số giống bưởi trồng ở các tỉnh phía Nam (Da Xanh, Năm Roi, ) nhằm tạo quả trái vụ )
Trang 35(photosynthetic photon flux) tăng từ 0 đến khoảng 700 µmol m-2 s-1 (Davies và Albrigo, 1994) Trên thực tế sự đồng hóa CO2 thực tối đa cho hầu hết các loài cây cam, cây bưởi chỉ đạt ở mức 30 - 35% ánh sáng đủ (ánh sáng đủ PPF từ 2.000 - 2.200 µmol m-2 s-1) Trong điều kiện bão hòa ánh sáng càng lâu thì tiềm năng đồng hóa CO2 thực càng lớn, với điều kiện nhiệt độ, nước, dinh dưỡng và các yếu tố khác không hạn chế sự quang hợp Mức
độ đồng hóa CO2 thực ít hơn 2 µmol mm-2 s-1 sẽ làm giảm số lượng hoa và năng suất thấp (Kriedmann và Brars, 1981)
Tốc độ phát triển của tán tùy thuộc vào cường độ ánh sáng, ở những cây có chỉ số diện tích lá (LAI - Leaf Area Index) cao, quả ra hầu hết ở những vùng ngoài tán vì năng lượng bức xạ bị giảm ở sâu trong tán LAI liên quan trực tiếp đến PPF trong tán Do vậy, LAI cao sẽ hạn chế sự tạo chồi và hoa (PPF < 50 µmol m-2 s-1) Việc tỉa ngọn hoặc cắt tỉa cành
là cần thiết để duy trì sự hấp thu ánh sáng, kích thích tạo quả ở cây trưởng thành (Davies
và Albrigo, 1994)
1.4.4 Đất và dinh dưỡng
Ở nước ta, theo Trần Thế Tục và cs (1998) và một số tác giả cho rằng cây cam, cây
bưởi trồng được ở nhiều loại đất khác nhau như: đất thịt nặng ở đồng bằng, đất phù sa châu thổ, đất đồi núi, đất phù sa cổ, đất thịt nhẹ đất cát pha, đất bạc màu Tuy nhiên, nếu trên đất xấu, nghèo dinh dưỡng cần phải đầu tư thâm canh cao, hiệu quả kinh tế sẽ tốt hơn Đất phù hợp là có tầng dày từ 1 m trở lên, giàu mùn (hàm lượng mùn trong đất từ 2 - 2,5% trở lên), hàm lượng các chất dinh dưỡng N, P, K, Ca, Mg đạt từ trung bình khá trở lên (N: 0,1 - 0,15%; P2O5 dễ tiêu: 5 - 7 mg/100g đất; K2O dễ tiêu: 7 - 10 mg/100g đất; Ca, Mg: 3 - 4 mg/100g đất Độ chua (pH) thích hợp từ 5,5 - 6,5 Đặc biệt là phải thoát nước tốt; thành phần cơ giới gồm đất cát pha, đất phù sa ven sông hoặc thịt nhẹ (cát thô đến đất thịt nhẹ chiếm 65 - 70 %); độ dốc từ 3 - 8 độ
Chất dinh dưỡng: cần đủ các nguyên tố đa lượng như: N, P, K, Ca và vi lượng như:
Fe, Cu, Zn, Bo Mỗi nguyên tố có những tác động riêng đến năng suất phẩm chất quả và sinh trưởng phát triển của cây, có ảnh hưởng đến năng suất cây
a) Đạm
Là nguyên tố có vai trò quyết định đối với năng suất và phẩm chất quả Đạm xúc tiến
sự phát triển thân cành lá, thúc đẩy việc hình thành lộc mới trong năm Nhiều đạm quá mức có ảnh hưởng xấu đến chất lượng quả: Quả to, vỏ dày, phẩm chất kém, quả lên mã chậm, màu sắc quả đậm hơn bình thường, hàm lượng vitamin C trong quả giảm Thiếu đạm, lá mất diệp lục ngả sang màu vàng, nhánh quả nhỏ mảnh, lá bị rụng, nhánh dễ chết khô, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất cây giảm Ở nước ta cây hấp thu đạm quanh năm nhưng
Trang 36mạnh nhất là vào những tháng trời ấm từ tháng 2 đến tháng 12 (Đào Thanh Vân và Ngô Xuân Bình, 2003).
b) Lân
Rất cần cho quá trình phân hóa mầm hoa Thiếu lân cành lá sinh trưởng kém, lá rụng nhiều, rễ không phát triển được Lân có tác dụng làm giảm hàm lượng axit trong quả, nâng cao tỷ lệ đường, axit làm cho hương vị quả thơm ngon, giảm hàm lượng vitamin
C, vỏ quả mỏng, trơn, lõi quả chặt không rỗng, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển mã nhanh (Đào Thanh Vân và Ngô Xuân Bình, 2003)
c) Kali
Rất cần cho bưởi, cam khi cây ra lộc non và vào thời kỳ quả phát triển mạnh Kali có ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất quả Cây được bón đủ kali quả to, ngọt, chóng chín, chịu đựng cao trong khi cất giữ và vận chuyển Tuy nhiên, nếu thừa kali trong lá, trong cây thì cành lá sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây không lớn được Trong đất nếu có nhiều kali sẽ ngăn trở quá trình hấp thu Ca, Mg làm cho quả tuy to nhưng mẫu mã xấu,
vỏ dày, thịt quả thô (Huỳnh Ngọc Tư và Bùi Xuân Khôi, 2003)
d) Canxi
Cần cho bộ rễ phát triển, khi bón tăng canxi phải tăng kali (vì hai nguyên tố này đối kháng nhau) Thiếu canxi: Thí nghiệm trong chậu cho thấy, nếu thiếu canxi thì dọc gân chính và mép lá nhạt màu, lá sớm rụng, mầm chết từ ngọn, quả mau rụng Thừa Canxi: Làm pH đất tăng, khi pH ≥ 7 lá cam thường bị bệnh rỉ sắt, cây khó hút các nguyên tố vi lượng (Zn, Mg, Fe)
Vai trò của chất khoáng đối với cây đã được nhiều nghiên cứu khẳng định, rõ rệt nhất
là khi đáp ứng đúng lúc cây cần
Hiện nay nhiều nước đã áp dụng phương pháp bón phân dựa trên cơ sở phân tích hàm lượng chất khoáng có trong lá: có 5 mức sau đây:
1 - Thiếu: ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và sản lượng
2 - Thấp: cây sinh trưởng chậm (do không đủ nhu cầu dinh dưỡng)
3 - Đủ: cây sinh trưởng tốt
4 - Cao: ảnh hưởng đến sinh trưởng cây, đến hấp thụ các yếu tố khác
5 - Thừa: ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng và sản lượng
Khi hàm lượng chất khoáng trong lá ở mức thấp và thiếu ta cần bổ sung dinh dưỡng cho cây Ở mức cao và thừa, chứng tỏ cần ngừng việc bón phân để tránh độc hại cho cây
Trang 37Bảng 1.6 Hàm lượng chất khoáng trong lá ở 5 mức độ ở cây cam
Mức độ
Đa lượng (% chất khô)
- Triệu chứng thiếu dinh dưỡng trên cây có múi
+ Thiếu đạm (N): Cây sinh trưởng kém, còi cọc, lá vàng, ít hoa và quả, năng suất thấp.+ Thiếu lân (P): Lá già có màu đỏ đồng, rụng sớm Bộ rễ không phát triển
+ Thiếu kali (K): Lá già có màu xanh đậm hơn bình thường, rìa các lá lá này bị cháy.+ Thiếu canxi (Ca): Quả bị nứt, có thể chết chồi nếu bị thiếu nặng
+ Thiếu magie (Mg): Lá bị mất màu, phần thịt lá có những vết hoại tử màu vàng nâu,
lá rụng sớm Cây tăng trưởng kém
+ Thiếu lưu huỳnh (S): Lá non có màu trắng
+ Thiếu đồng (Cu): Lá non bị gợn sóng, cong queo, cây mau già cỗi
Trang 38+ Thiếu boron (Bo): Chồi ngọn, phát hoa kém phát triển Cây còi cọc, khó ra hoa Hoa nhỏ, khô và dễ bị rụng Quả nhỏ, méo mó, sần sùi, dễ rụng Quả lớn chua, nhão thịt,
dễ bị nứt
+ Thiếu kẽm (Zn): Lá non bị cong uốn vào bên trong, có các vết hoại tử không đều nhau, lá nhỏ, phiến lá giòn Chồi còi cọc, năng suất giảm
+ Thiếu sắt (Fe): Lá non màu vàng nhạt, gân lá màu xanh
+ Thiếu mangan (Mn): Lá non bị mất diệp lục tố Cây phát triển kém, còi cọc
1.5 KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
1.5.1 Nhân giống
1.5.1.1 Khả năng nhân giống
Bưởi, cam có thể nhân giống bằng gieo hạt, chiết cành và ghép cây, gieo hạt thường
sử dụng công tác nghiên cứu và tạo gốc ghép, chiết cành cây cho quả nhanh nhưng chu
kỳ kinh doanh ngắn Hiện nay trong sản xuất chủ yếu được nhân giống bằng ghép cây
1.5.1.2 Các phương pháp nhân giống chủ yếu trong sản xuất
Bưởi, cam được nhân giống chủ yếu bằng ghép cây Để tạo cây giống sạch bệnh, đã
sử dụng công nghệ vi ghép đỉnh sinh trưởng (Micrografting tip grafting) Cây gốc ghép
có thể sử dụng cây gieo hạt của các giống bưởi chua hoặc cam Ba lá (Citrus trifoliata L.)
hoặc cây chấp có nhiều ở vùng Thái Bình, Nam Định
Khi ghép sử dụng kiểu ghép đoạn cành hoặc ghép mắt (Cửa sổ hoặc chữ T) đều cho
tỷ lệ ghép sống cao
1.5.1.3 Tiêu chuẩn cây giống
Cây giống bưởi được sản xuất theo Luật Trồng trọt năm 2020; Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 9302:2013 Cây giống bưởi, quýt, bưởi, bao gồm:
- Cây giống bưởi, cam được nhân bằng phương pháp ghép mắt trên gốc chấp, bưởi chua hoặc cam 3 lá, được trồng trong túi bầu PE (chiều rộng từ 15 - 25 cm, chiều cao từ
25 - 35 cm, có đục lỗ thoát nước) Mắt ghép được khai thác từ cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng, sạch bệnh Greening, Tristeza và bệnh virus khác Cây sinh trưởng phát triển tốt, không nhiễm sâu bệnh hại nguy hiểm, chiều cao cây giống tính từ mắt ghép đạt khoảng
> 50 cm, có đường kính gốc ghép từ 1,0 cm trở lên, có đường kính cành ghép từ 0,5 cm trở lên, có bộ lá xanh tốt
- Cây giống bưởi, cam được nhân bằng phương pháp chiết cành phải có thời gian giâm lại trong túi bầu PE, kích thước: cao × đường kính = 35 × 15 cm và được chăm sóc
Trang 39trong vườn ươm từ 4 - 6 tháng, có bộ rễ đã hóa nâu và từ cấp 3 - 4 trở lên, có 2 - 3 cành cấp 1, đường kính của các cành từ 1,0 - 1,5 cm với bộ lá xanh khỏe, không sâu bệnh, dài
từ 50 cm trở lên
1.5.2 Làm đất, lập vườn
Đất trồng mới cây cần được giải phóng trước từ 4 - 6 tháng Nếu là đất chu kỳ 2 nên trồng 2 - 3 vụ cây họ Đậu để cải tạo đất, trước khi trồng cần vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ Đất có kết cấu xốp, giữ mùn, giữ màu và giữ các chất dinh dưỡng tốt, có khả năng thoát nước Độ pH 5,5 - 6,5 là thích hợp nhất Tránh trồng cây ở những vùng đất trống
có nhiều gió vì sẽ làm hoa rụng nhiều, tỷ lệ đậu quả giảm Biện pháp khắc phục: đối với những vườn riêng lẻ ngoài cánh đồng trống thì nên trồng xen các loại cây chắn gió.Trước khi thiết kế, phải được phát quang và làm sạch cỏ Đối với đất bằng (đất ruộng, đất phù sa ven sông, ) cày sâu 25 - 30 cm sau đó bừa san phẳng và nhặt sạch cỏ Những đồi có độ dốc thấp có thể cày, bừa làm sạch cỏ như đất bằng, còn những đồi có độ dốc lớn hơn nên áp dụng các biện pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là giữ lại thảm cỏ và chỉ san, lấp những chỗ cao, trũng để tạo mặt bằng tương đối theo độ dốc
Đối với đất bằng hoặc đất có độ dốc nhỏ hơn 5 độ, vườn được thiết kế theo kiểu chia
lô, thửa hình vuông hoặc hình chữ nhật, tùy thuộc vào địa hình có sẵn của mảnh đất, diện tích mỗi lô từ 0,5 - 0,6 ha Trong mỗi lô, hàng cây được bố trí thành các băng luống có rãnh thoát nước ở giữa, rộng 40 - 50 cm
Đối với đất bằng hoặc đất có độ dốc 5 - 18 độ thì bố trí hàng cây theo đường đồng mức có bề mặt rộng từ 1,5 - 2,0 m, mặt đường nghiêng về phía đồi Mép đường sát vòng đồi phía trong đào rãnh thoát nước rộng 30 - 40 cm, sâu 30 - 40 cm Tất cả các rãnh thoát nước của các đường đồng mức được nối với rãnh thoát nước của đường chia lô Đường chia lô có thể thiết kế kết hợp làm đường giao thông, rộng 2,5 - 3,0 cm, có độ dốc thường dưới 15 độ
Đối với vườn có diện tích lớn hơn 1 ha cần trồng cây chắn gió Đai rừng chắn gió chính được thiết kế ở hướng đón gió mạnh, thường xuyên gây hại và thẳng góc với hướng gió Bề dày của đai rừng chắn gió từ 2,5 - 3,0 cm và phải cách xa hàng cây đầu tiên từ 10
- 12 m Cây chắn gió phải là cây sinh trưởng nhanh, thân tán lớn, tuổi thọ cao và không phải là cây ký chủ trung gian của các đối tượng sâu bệnh gây hại cho cây bưởi
1.5.3 Mật độ, khoảng cách trồng
Tùy vào đất từng vùng là đất xấu hay đất tốt, thích hợp hay không thích hợp cho cây cam, cây bưởi mà có mật độ khoảng cách trồng khác nhau Nếu đất tốt điều kiện thâm canh cao có thể trồng dày, nếu đất xấu thì trồng thưa hơn, trồng theo kiểu ô vuông, chữ nhật hoặc nanh sấu
Trang 40- Bưởi khoảng cách: 5 × 5 m hoặc 5 × 6 m (tương đương với mật độ 330 - 400 cây/ha)
- Cam khoảng cách: 4 × 4 m hoặc 4 × 5 m, mật độ 625 - 500 cây/ha
Hình 1.2 Cách đào hố và bón phân lót
- Lượng phân bón lót (tính cho 1 hố):
+ Phân hữu cơ hoai mục: 50 - 60 kg hoặc phân hữu cơ vi sinh: 0,5 - 1 kg
+ Phân lân supe: 1 - 2 kg
+ Vôi bột: 1 kg
+ NPK tổng hợp bón lót: 0,2 - 0,3 kg
1.5.5 Thời vụ trồng
Thời vụ thích hợp ở miền Bắc mùa xuân (từ tháng 2 - tháng 4) và mùa thu (từ tháng
8 - tháng 10) Trong điều kiện chủ động được nước tưới, trồng vào vụ Thu cây ổn định sinh trưởng, đến mùa xuân năm sau cây sinh trưởng tốt hơn
Thời vụ thích hợp ở các tỉnh miền Nam vào đầu mùa mưa (từ tháng 6 - 7) và cuối mùa mưa (từ tháng 8 - 9)