1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình cây ăn quả chuyên khoa

220 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình cây ăn quả chuyên khoa
Tác giả Vũ Thanh Hải, Đoàn Thuỷ, Đoàn Văn Lư, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Thị Phượng, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Quốc Hùng
Người hướng dẫn Chủ biên: Vũ Thanh Hải
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Chuyên ngành cây ăn quả
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 5,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ VÙNG PHÂN BỐ CÂY ĂN QUẢ Ở VIỆT NAM (15)
    • 1.1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGÀNH SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ Ở VIỆT NAM (15)
      • 1.1.1. Tình hình sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam (15)
      • 1.1.2. Các vấn đề đang đặt ra đối với ngành sản xuất cây ăn quả (18)
    • 1.2. Phân vùng cây ăn quả ở Việt Nam (19)
      • 1.2.1. Phân vùng cây ăn quả theo yêu cầu khí hậu (19)
      • 1.2.2. Phân vùng trồng cây ăn quả theo vùng kinh tế (21)
      • 1.2.3. Sự phân bố của các nhóm cây ăn quả (24)
  • Chương 2. CÂY XOÀI (MANGIFERA INDICA L.) (26)
    • 2.1. GIỚI THIỆU CHUNG (26)
      • 2.1.1. Giá trị sử dụng (26)
      • 2.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ (26)
    • 2.2. NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ PHÂN BỐ (28)
      • 2.2.1. Nguồn gốc và phân loại xoài (28)
      • 2.2.2. Phân bố của xoài (28)
      • 2.2.3. Các giống xoài đang được trồng trọt (28)
    • 2.3. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC (31)
      • 2.3.1. Rễ và thân xoài (31)
      • 2.3.2. Lá (31)
      • 2.3.3. Hoa (31)
      • 2.3.4. Quả và hạt (31)
    • 2.4. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH (32)
      • 2.4.1. Nhiệt độ (32)
      • 2.4.2. Nước và độ ẩm (32)
      • 2.4.3. Đất trồng (33)
    • 2.5. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG (33)
    • 2.6. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC (34)
      • 2.6.1. Thời vụ trồng (34)
      • 2.6.2. Mật độ và khoảng cách (34)
      • 2.6.3. Chuẩn bị hố trồng (34)
      • 2.6.4. Trồng cây (35)
      • 2.6.5. Bón phân (35)
      • 2.6.6. Tưới nước (36)
      • 2.6.7. Kỹ thuật cắt tỉa và tạo hình (36)
      • 2.6.8. Biện pháp kỹ thuật tăng khả năng ra hoa, đậu quả (37)
    • 2.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI (39)
      • 2.7.1. Sâu hại (39)
      • 2.7.2. Bệnh hại (41)
    • 2.8. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN (44)
      • 2.8.1. Thu hoạch (44)
      • 2.8.2. Bảo quản (44)
  • Tài liệu tham khảo (46)
    • Chương 3. CÂY DỨA (ANANAS COMOSUS L.) (48)
      • 3.1. GIỚI THIỆU CHUNG (48)
        • 3.1.1. Giá trị sử dụng (48)
        • 3.1.2. Tình hình sản xuất dứa (49)
      • 3.2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI (50)
        • 3.2.1. Nguồn gốc và phân bố (50)
        • 3.2.2. Phân loại (51)
        • 3.2.3. Các nhóm dứa và giống trồng trọt chính (52)
      • 3.3. ĐẶC TÍNH THỰC VẬT HỌC (58)
        • 3.3.1. Rễ dứa (58)
        • 3.3.2. Thân dứa (59)
        • 3.3.3. Các loại chồi trên cây (60)
        • 3.3.4. Lá dứa (60)
      • 3.4. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH (61)
        • 3.4.1. Nhiệt độ (61)
        • 3.4.2. Ánh sáng (61)
        • 3.4.3. Đất và dinh dưỡng (62)
        • 3.4.4. Nước (62)
        • 3.4.5. Gió (63)
      • 3.5. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG (63)
        • 3.5.1. Tách chồi nhân giống trên ruộng sản xuất (63)
        • 3.5.2. Tách chồi ở vườn nhân giống riêng (64)
        • 3.5.3. Nhân bằng chồi đỉnh quả (Chồi ngọn) (64)
        • 3.5.4. Giâm thân (65)
        • 3.5.5. Nhân giống in vitro (65)
      • 3.6. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC (66)
        • 3.6.1. Thời vụ và mật độ trồng dứa (66)
        • 3.6.2. Chuẩn bị đất và bón phân lót (66)
        • 3.6.3. Kỹ thuật trồng dứa (67)
        • 3.6.4. Bón phân cho dứa (67)
        • 3.6.5. Xử lý ra hoa rải vụ (68)
        • 3.6.6. Các biện pháp kỹ thuật chăm sóc khác (71)
      • 3.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI (72)
        • 3.7.1. Sâu hại dứa (72)
        • 3.7.2. Bệnh hại dứa (72)
      • 3.8. THU HOẠCH (73)
        • 3.8.1. Thu hoạch quả dứa ăn tươi (73)
        • 3.8.2. Thu hoạch quả dứa chế biến (73)
    • Chương 4. CÂY CHUỐI (77)
      • 4.1. GIỚI THIỆU CHUNG (77)
        • 4.1.1. Giá trị sử dụng (77)
        • 4.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ (77)
      • 4.2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI (79)
        • 4.2.1. Nguồn gốc (79)
        • 4.2.2. Phân bố của cây chuối (79)
        • 4.2.3. Phân loại các nhóm giống chuối (79)
        • 4.2.4. Một số giống chuối trồng chính trên thế giới (82)
        • 4.2.5. Các giống chuối trồng chủ yếu ở Việt Nam (83)
      • 4.3. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC (84)
        • 4.3.1. Bộ rễ (84)
        • 4.3.2. Thân chuối (84)
        • 4.3.3. Lá chuối (84)
        • 4.3.4. Hoa và quả chuối (85)
      • 4.4. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH CỦA CÂY CHUỐI (85)
        • 4.4.1. Nhiệt độ (85)
        • 4.4.2. Nước và độ ẩm (86)
        • 4.4.3. Ánh sáng (86)
        • 4.4.4. Đất trồng (86)
      • 4.5. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG (86)
        • 4.5.1. Kỹ thuật nhân giống chuối bằng phương pháp tách chồi (86)
        • 4.5.2. Nhân giống chuối bằng phương pháp nuôi cấy mô (87)
      • 4.6. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC (87)
        • 4.6.1. Thời vụ, mật độ và khoảng cách trồng (87)
        • 4.6.2. Kỹ thuật trồng (88)
        • 4.6.3. Kỹ thuật bón phân (88)
        • 4.6.4. Kỹ thuật tưới nước (90)
        • 4.6.5. Kỹ thuật cắt tỉa chồi (90)
        • 4.6.6. Kỹ thuật chống đổ cho chuối (91)
        • 4.6.7. Kỹ thuật bao buồng (91)
      • 4.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI (91)
        • 4.7.1. Sâu hại (91)
        • 4.7.2. Bệnh hại (92)
      • 4.8. THU HOẠCH (93)
        • 4.8.1. Thu hoạch quả (93)
        • 4.8.2. Xử lý quả sau thu hoạch (93)
        • 4.8.3. Bảo quản và rấm chín (93)
        • 4.8.4. Chế biến chuối (93)
    • Chương 5. CÂY THANH LONG (HYLOCEREUS SPP.) (96)
      • 5.1. GIỚI THIỆU CHUNG (96)
        • 5.1.1. Giá trị sử dụng (96)
        • 5.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ (97)
      • 5.2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI (97)
        • 5.2.1. Nguồn gốc, phân bố, phân loại (97)
        • 5.2.2. Các giống thanh long trồng trọt (98)
      • 5.3. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC (99)
        • 5.3.1. Rễ cây (99)
        • 5.3.2. Thân cành (100)
        • 5.3.3. Hoa (100)
        • 5.3.4. Quả và hạt (101)
      • 5.4. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH (101)
        • 5.4.1. Nhiệt độ (101)
        • 5.4.2. Ánh sáng (101)
        • 5.4.3. Nước (101)
        • 5.4.4. Gió (102)
        • 5.4.5. Đất (102)
      • 5.5. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG (102)
      • 5.6. KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT (102)
        • 5.6.1. Chuẩn bị đất, mật độ và khoảng cách trồng (102)
        • 5.6.2. Cây trụ (102)
        • 5.6.3. Thời vụ trồng (103)
        • 5.6.4. Bón phân (103)
        • 5.6.5. Tưới nước, tủ gốc và trừ cỏ dại (103)
        • 5.6.6. Kỹ thuật tạo hình và cắt tỉa (103)
        • 5.6.7. Xử lý ra hoa trái vụ bằng thắp đèn (104)
      • 5.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI (104)
        • 5.7.1. Sâu hại (104)
        • 5.7.2. Bệnh hại (106)
      • 5.8. THU HOẠCH (107)
    • Chương 6. CÂY CÓ MÚI (CITRUS SP.) (110)
      • 6.1. GIỚI THIỆU CHUNG (110)
        • 6.1.1. Giá trị sử dụng (110)
        • 6.1.2. Tình hình sản xuất (110)
      • 6.2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI (111)
        • 6.2.1. Nguồn gốc, phân bố (111)
        • 6.2.2. Phân loại (111)
        • 6.2.3. Những giống cây có múi phổ biến ở Việt nam (112)
      • 6.3. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC (115)
        • 6.3.1. Rễ (115)
        • 6.3.2. Thân và cành (115)
        • 6.3.3. Lá và hoa (116)
        • 6.3.4. Quả và hạt (116)
        • 6.3.5. Sự hình thành hoa và phát triển của quả (117)
      • 6.4. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH (118)
        • 6.4.1. Nhiệt độ (118)
        • 6.4.2. Ánh sáng (118)
        • 6.4.3. Nước (119)
        • 6.4.4. Đất trồng (119)
        • 6.4.5. Gió (120)
      • 6.5. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG (120)
        • 6.5.1. Gốc ghép đối với nhân giống (120)
        • 6.5.2. Các phương pháp nhân giống (120)
      • 6.6. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC (121)
        • 6.6.1. Chọn đất và giống trồng thích hợp (121)
        • 6.6.2. Thời vụ trồng (121)
        • 6.6.3. Mật độ và khoảng cách trồng (121)
        • 6.6.4. Trồng cây chắn gió (121)
        • 6.6.5. Chuẩn bị hố trồng và cách trồng (122)
        • 6.6.6. Tưới tiêu và giữ ẩm đất (122)
        • 6.6.7. Tạo tán và tỉa cành (122)
        • 6.6.8. Bón phân cho cây có múi (124)
        • 6.6.9. Khoanh vỏ (126)
      • 6.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI (126)
        • 6.7.1. Sâu hại (126)
        • 6.7.2. Bệnh hại (128)
      • 6.8. THU HOẠCH (129)
        • 6.8.1. Thu hoạch (129)
        • 6.8.2. Bảo quản (130)
        • 6.8.3. Chế biến (131)
    • Chương 7. CÂY BƠ (PERSEA AMERICANA MILL.) (132)
      • 7.1. GIỚI THIỆU CHUNG (132)
        • 7.1.1. Giá trị sử dụng (132)
        • 7.1.2. Tình hình sản xuất (133)
      • 7.2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI (133)
        • 7.2.1 Nguồn gốc và phân loại (133)
        • 7.2.2. Các nhóm giống bơ (134)
      • 7.3. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC (135)
      • 7.4. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH (138)
        • 7.4.1. Yêu cầu về cao độ (138)
        • 7.4.2. Yêu cầu về nhiệt độ (138)
        • 7.4.3. Yêu cầu về ánh sáng (139)
        • 7.4.4. Yêu cầu về độ ẩm và lượng mưa (139)
        • 7.4.5. Yêu cầu về đất đai (139)
      • 7.5. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG BƠ (140)
      • 7.6. KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT (140)
        • 7.6.1. Kỹ thuật trồng mới (140)
        • 7.6.2. Bón phân cho bơ (141)
        • 7.6.3. Tưới nước cho cây bơ (142)
        • 7.6.4 Cắt tỉa cho cây (142)
      • 7.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI (142)
      • 7.8. THU HOẠCH (143)
    • Chương 8. CÂY VẢI (LITCHI CHINENSIS SONN.) (146)
      • 8.1. GIỚI THIỆU CHUNG (146)
      • 8.2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI (146)
        • 8.2.1. Nguồn gốc và phân bố (146)
        • 8.2.2. Phân loại (148)
        • 8.2.3. Các giống trồng phổ biến (148)
      • 8.3. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC (150)
        • 8.3.1. Đặc điểm thân, cành (150)
        • 8.3.2. Đặc điểm lá vải (150)
        • 8.3.3. Đặc điểm hoa, quả (150)
      • 8.4. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH (151)
        • 8.4.1. Nhiệt độ (151)
        • 8.4.2. Ánh sáng (151)
        • 8.4.3. Nước và chế độ ẩm (151)
        • 8.4.4. Đất đai (152)
      • 8.5. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG (152)
      • 8.6. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC (152)
        • 8.6.1. Chuẩn bị hố trồng (152)
      • 8.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH (156)
        • 8.7.1. Sâu hại (156)
        • 8.7.2. Bệnh hại (159)
      • 8.8. THU HOẠCH (159)
    • Chương 9. CÂY NHÃN (DIMOCARPUS LONGANA LOUR.) (163)
      • 9.1. GIỚI THIỆU CHUNG (163)
      • 9.2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI (163)
        • 9.2.1. Nguồn gốc và phân bố (163)
        • 9.2.2. Phân loại (164)
        • 9.2.3. Các giống trồng (0)
      • 9.3. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC (165)
        • 9.3.1. Đặc điểm thân, cành (165)
        • 9.3.2. Đặc điểm lá nhãn (165)
        • 9.3.3. Đặc điểm hoa, quả (165)
      • 9.4. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH (166)
        • 9.4.1. Nhiệt độ (166)
        • 9.4.2. Ánh sáng (166)
        • 9.4.3. Nước và chế độ ẩm (166)
        • 9.4.4. Đất trồng (166)
      • 9.5. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG (166)
      • 9.6. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC (167)
        • 9.6.1. Chuẩn bị hố trồng (167)
        • 9.6.2. Thời vụ, mật độ và khoảng cách độ trồng (167)
        • 9.6.3. Cách trồng (167)
        • 9.6.4. Chăm sóc nhãn ở thời kỳ chưa cho quả (168)
        • 9.6.5. Chăm sóc nhãn ở thời kỳ cho quả (169)
      • 9.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI (171)
        • 9.7.1. Sâu hại (171)
        • 9.7.2. Bệnh hại (173)
      • 9.8. THU HOẠCH (174)
        • 9.8.1. Thời điểm thu hoạch (174)
        • 9.8.2. Kỹ thuật thu hái (174)
        • 9.8.3. Kỹ thuật bao gói và vận chuyển (175)
    • Chương 10. CÂY MẬN (PRUNUS SALICINA L.) (177)
      • 10.1. GIỚI THIỆU CHUNG (177)
      • 10.2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI (178)
        • 10.2.1. Nguồn gốc và phân bố (178)
        • 10.2.2. Phân loại mận (178)
        • 10.2.3. Giống trồng phổ biến (179)
      • 10.3. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC (180)
        • 10.3.1. Rễ (180)
        • 10.3.2. Thân và cành (180)
        • 10.3.3. Lá (180)
        • 10.3.4. Hoa (181)
        • 10.3.5. Quả và hạt (181)
      • 10.4. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH (181)
        • 10.4.2. Nước (182)
        • 10.4.3. Ánh sáng (182)
        • 10.4.4. Đất (182)
      • 10.5. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG (182)
      • 10.6. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC (183)
        • 10.6.1. Thời vụ trồng (183)
        • 10.6.2. Chuẩn bị đất trồng cây (183)
        • 10.6.3. Bón phân (183)
        • 10.6.4. Tưới nước (184)
        • 10.6.5. Tạo hình và cắt tỉa (185)
        • 10.6.6. Điều khiển ra hoa sớm (0)
      • 10.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI (187)
        • 10.7.1. Sâu hại (187)
        • 10.7.2. Bệnh hại (188)
      • 10.8. THU HOẠCH (189)
    • Chương 11. CÂY LÊ (PYRUS COMMUNIS L.) (193)
      • 11.1. GIỚI THIỆU CHUNG (193)
      • 11.2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI (194)
        • 11.2.1. Nguồn gốc và phân bố (194)
        • 11.2.2. Phân loại (194)
        • 11.2.3. Một số giống lê trồng ở Việt Nam (195)
      • 11.3. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC (196)
      • 11.4. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH (196)
        • 11.4.1. Nhiệt độ (196)
        • 11.4.2. Nước (197)
        • 11.4.3. Ánh sáng (197)
        • 11.4.4. Đất đai (198)
      • 11.5. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG (198)
        • 11.5.1. Gốc ghép (198)
        • 11.5.2. Mắt ghép và cành ghép (198)
        • 11.5.3. Thời vụ và phương pháp ghép (198)
      • 11.6. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM BÓN (199)
        • 11.6.1. Chuẩn bị hố và cách trồng (199)
        • 11.6.2. Thời vụ (199)
        • 11.6.3. Mật độ và khoảng cách trồng (199)
        • 11.6.4. Bón phân (199)
        • 11.6.5. Cắt tỉa và tạo hình (200)
      • 11.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI (200)
        • 11.7.1. Sâu hại (200)
        • 11.7.2. Bệnh hại (0)
      • 11.8. THU HOẠCH (0)
    • Chương 12. CÂY HỒNG QUẢ (DIOSPYROS KAKI L.) (0)
      • 12.1. GIỚI THIỆU CHUNG (0)
      • 12.2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI (0)
        • 12.2.1. Nguồn gốc và phân bố (0)
        • 12.2.2. Phân loại (0)
        • 12.2.3. Một số giống trồng ở Việt Nam (0)
      • 12.3. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC (0)
        • 12.3.1. Bộ rễ (0)
        • 12.3.2. Thân và cành (0)
        • 12.3.3. Lá (0)
        • 12.3.4. Hoa (0)
        • 12.3.5. Quả và hạt (0)
      • 12.4. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH (0)
        • 12.4.1. Nhiệt độ (0)
        • 12.4.2. Nước và độ ẩm (0)
        • 12.4.3. Ánh sáng (0)
        • 12.4.4. Đất trồng (0)
      • 12.5. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG (0)
      • 12.6. KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT VÀ CHĂM SÓC (0)
        • 12.6.1. Chuẩn bị hố trồng (0)
        • 12.6.2. Thời vụ trồng (0)
        • 12.6.3. Mật độ và khoảng cách trồng (0)
        • 12.6.4. Bón phân (0)
        • 12.6.5. Tưới nước (0)
        • 12.6.6. Cắt tỉa và tạo hình (0)
      • 12.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI (0)
      • 12.8. THU HOẠCH (0)
        • 12.8.1. Thu hoạch và bảo quản (0)
        • 12.8.2. Xử lý chất chát (0)

Nội dung

TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ VÙNG PHÂN BỐ CÂY ĂN QUẢ Ở VIỆT NAM

TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGÀNH SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ Ở VIỆT NAM

NGÀNH SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ Ở VIỆT NAM

1.1.1 Tình hình sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam

Nghề trồng cây ăn quả ở Việt Nam đã tồn tại hơn 2.000 năm, nhưng trước đây phát triển kém do điều kiện xã hội và kinh tế Mặc dù khí hậu và đất đai thuận lợi, sản lượng hàng hóa vẫn thấp Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, đặc biệt chú trọng đến nghề trồng cây ăn quả.

Trong những năm qua, phát triển cây ăn quả đã đóng góp quan trọng vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mùa vụ, gia tăng giá trị sử dụng đất và thu nhập cho nông dân Với điều kiện sinh thái đa dạng và khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có khả năng phát triển nhiều loại cây ăn quả nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới Chủng loại cây ăn quả phong phú và thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng Trong 10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu rau quả đã tăng mạnh, từ 451 triệu USD năm 2010 lên 3,26 tỷ USD vào năm 2020, với tốc độ tăng trưởng trung bình 62,2%/năm Trong 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 2,026 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2020.

Việt Nam trải dài gần 15 vĩ độ từ Nam ra Bắc, dẫn đến sự đa dạng khí hậu ở từng vùng Các yếu tố sinh thái như nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, bức xạ, gió, độ ẩm không khí, và đất đai ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của các giống cây ăn quả Những yếu tố này cũng quyết định sự phân bố của các loài và giống cây ăn quả trên toàn quốc.

Diện tích cây ăn quả tại Việt Nam đã tăng liên tục trong những năm gần đây, đạt 923.900ha vào năm 2017, tăng 156.400ha so với năm 2005 và 144.200ha so với năm 2010 Sự gia tăng này chủ yếu do nhiều địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ những cây trồng kém hiệu quả sang cây ăn quả Đặc biệt, một phần đất trồng lúa năng suất thấp đã được chuyển đổi sang trồng cây ăn quả ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, trong khi một số diện tích trồng cây hồ tiêu bị bệnh hại nghiêm trọng cũng đã được chuyển đổi ở Tây Nguyên Đồng bằng sông Cửu Long hiện là vùng sản xuất cây ăn quả lớn nhất cả nước, chiếm 36,3% tổng diện tích, tiếp theo là vùng Trung du miền núi phía Bắc (22,2%), đồng bằng sông Hồng (10,4%), và các vùng duyên hải Bắc Trung Bộ (6,8%), duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (mỗi vùng xấp xỉ 4,0%).

Bảng 1.1 Diện tích cây ăn quả cả nước phân theo vùng Đơn vị tính: 1.000ha

1 Trung du miền núi phía Bắc 179,1 157,7 206,0

3 Duyên hải Bắc Trung Bộ 58,8 55,2 63,5

Duyên hải Nam Trung Bộ 30,3 63,0 82,9

6 Đồng bằng sông Cửu Long 272,3 285,5 335,4

Nguồn: Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT (2018)

Giai đoạn 2010-2017, diện tích cây ăn quả phát triển chậm với mức tăng 1,8%/năm, nhưng nhờ cải tiến giống cây và nâng cao trình độ canh tác, năng suất và sản lượng cây ăn quả năm 2017 đạt trên 8,5 triệu tấn, tăng 3 triệu tấn so với năm 2005 và 1,7 triệu tấn so với năm 2010.

Nhóm cây ăn quả chủ lực tại Việt Nam bao gồm chuối, xoài, cam, vải, bưởi, nhãn, thanh long, dứa, sầu riêng và chôm chôm, chiếm 66,5% tổng diện tích cây ăn quả cả nước Trong đó, chuối dẫn đầu với diện tích 140,1 nghìn ha (15,2%), tiếp theo là xoài với 92,7 nghìn ha (10,0%), cam 90,7 nghìn ha (9,8%), nhãn 75,7 nghìn ha (8,2%), bưởi 74,2 nghìn ha (8,0%), vải 59,3 nghìn ha (6,4%) và dứa 45,6 nghìn ha (4,9%).

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng một số loại cây ăn quả chủ lực

(Đơn vị tính: Diện tích: 1.000ha; Sản lượng: 1.000 tấn)

Diện tích thu hoạch Sản lượng Diện tích Diện tích thu hoạch Sản lượng

Nguồn: Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT (2018)

Trên cả nước, đã hình thành nhiều vùng cây ăn quả chuyên canh tập trung, như xoài tại Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Khánh Hòa, Sơn La; nhãn ở Hưng Yên, Sơn La, Tuyên Quang; vải tại Lục Ngạn - Bắc Giang, Thanh Hà - Hải Dương, Đông Triều - Quảng Ninh; na ở Chi Lăng - Lạng Sơn, Bà Đen - Tây Ninh; mơ ở Bạch Thông - Bắc Cạn; mận tại Bắc Hà - Lào Cai, Mộc Châu - Sơn La; thanh long ở Tiền Giang, Bình Thuận; và sầu riêng tại Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bình Phước.

Sản phẩm cây ăn quả của Việt Nam không chỉ phục vụ tiêu thụ nội địa mà còn trở thành hàng xuất khẩu giá trị cao, bao gồm xoài, chuối, vải, nhãn, thanh long, bưởi, măng cụt và vú sữa Hiện nay, mặt hàng này đã có mặt tại 48 quốc gia trên thế giới, với doanh thu rau quả đạt 3,54 tỷ USD vào năm 2017 và tăng lên 3,74 tỷ USD vào năm 2019.

Trong những năm qua, cây ăn quả ở nước ta đã có sự phát triển mạnh mẽ, được nhiều địa phương chú trọng như một giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp Nông dân đã nhận thấy trồng cây ăn quả mang lại thu nhập cao, góp phần nâng cao đời sống và cải thiện môi trường sống Nhiều diện tích đất trước đây bỏ hoang hoặc trồng lúa kém hiệu quả đã được chuyển đổi sang trồng cây ăn quả Các vùng đất trống, đồi trọc, và đất nhiễm phèn cũng đã được khai thác hiệu quả nhờ vào chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp và các tiến bộ kỹ thuật Những vùng điển hình như Lục Ngạn - Bắc Giang với cây vải thiều và Bắc Quang với cam quýt đã chứng minh sự thành công này.

Hà Giang và Cao Phong - Hòa Bình; thanh long ở tỉnh Bình Thuận…

1.1.2 Các vấn đề đang đặt ra đối với ngành sản xuất cây ăn quả

Mặc dù sản xuất cây ăn quả có nhiều tiềm năng và lợi thế, nhưng các vùng sản xuất cũng đang đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn cần được giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững.

Hạn chế lớn nhất trong ngành nông nghiệp hiện nay là quy mô sản xuất nhỏ lẻ và phân tán, gây khó khăn cho việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tổ chức liên kết sản xuất, kiểm soát chất lượng và tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó, năng suất bình quân của nhiều loại cây ăn quả vẫn còn thấp so với năng suất trung bình chung và tiềm năng của giống cây.

Một số vùng sản xuất cây ăn quả miền Bắc có địa hình dốc cao và chia cắt mạnh, với nhiều núi cao và suối sâu Mùa mưa tập trung lớn trong thời gian ngắn thường dẫn đến xói mòn, rửa trôi và lũ quét Hơn nữa, trình độ dân trí và khả năng đầu tư, thâm canh của nông dân trong khu vực vẫn còn nhiều hạn chế.

Việc phổ biến, triển khai áp dụng các tiến bộ kỹ thuật một cách thống nhất, rộng rãi còn nhiều hạn chế, nhất là các vùng miền núi

Cơ sở hạ tầng cho các vùng sản xuất cây ăn quả tập trung chưa được đầu tư đúng mức, dẫn đến việc không đáp ứng kịp thời với tốc độ phát triển của sản xuất Các yếu tố như hệ thống giao thông nội vùng, phương tiện vận chuyển chuyên dụng và kho bảo quản cần được cải thiện để hỗ trợ sự phát triển bền vững của ngành này.

Tổ chức liên kết sản xuất hiện đang yếu kém, với phần lớn doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư vào việc phát triển vùng nguyên liệu Họ chủ yếu thu gom nguyên liệu qua thương lái, dẫn đến khó khăn trong việc quản lý truy xuất nguồn gốc, chất lượng sản phẩm không đồng đều và rủi ro cao.

Hệ thống phân phối và tiêu thụ sản phẩm hiện chưa chuyên nghiệp, thiếu sự tham gia của các doanh nghiệp lớn trong sản xuất và xuất khẩu Chuỗi giá trị trái cây tồn tại nhiều khâu trung gian, chủ yếu là thương lái, dẫn đến việc phân chia lợi nhuận không hợp lý Điều này làm cho giá thành nhiều loại trái cây cao, từ đó giảm sức cạnh tranh trên thị trường.

Phân vùng cây ăn quả ở Việt Nam

1.2.1 Phân vùng cây ăn quả theo yêu cầu khí hậu

Khí hậu đóng vai trò quan trọng trong sản xuất cây ăn quả (CAQ) Dựa vào yêu cầu nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của mầm hoa, các chuyên gia đã phân chia vùng trồng CAQ ở Việt Nam thành ba khu vực chính.

+ Vùng cây ăn quả nhiệt đới

Năm có nhiệt độ trung bình khoảng 24C, với sự phân chia rõ rệt giữa mùa khô và mùa mưa Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất trong năm luôn trên 18C, ảnh hưởng đến sự phân hóa mầm hoa, đặc biệt là phụ thuộc vào độ ẩm của đất Các loại cây ăn quả tiêu biểu trong khu vực bao gồm chôm chôm, măng cụt, vú sữa, xoài và nhãn nhiệt đới, trong đó có giống nhãn Xuồng Cơm Vàng và Tiêu Da Bò.

Bồ hòn (Sapindacea) như chôm chôm, nhãn và chi Citrus như bưởi, cam, được xếp vào nhóm cây ăn quả á nhiệt đới Tuy nhiên, một số dòng/giống như Bưởi Da Xanh, cam Soàn, quýt Hồng phát triển tốt tại vùng nhiệt đới Điều này cho thấy rằng một số dòng/giống có thể được trồng cả ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.

Nhóm cây ăn quả nhiệt đới bao gồm các loại cây thường xanh, không rụng lá theo mùa và có sự đa dạng phong phú Chúng cần nhiệt độ và độ ẩm cao để sinh trưởng, phát triển và ra hoa, thường phát triển ở vùng có vĩ độ từ 23 đến 27 Bắc và Nam Một số đại diện tiêu biểu của nhóm này là xoài, đu đủ, chuối và dứa Cây ăn quả nhiệt đới có thể được phân loại theo yêu cầu về nước và khả năng chịu hạn, bao gồm cây chịu hạn như dứa, thanh long, lạc tiên; cây điển hình như xoài, măng cụt, vú sữa; và cây ưa ẩm như chuối, đu đủ.

Cây ăn quả nhiệt đới có đặc điểm sinh trưởng theo nhịp mạnh, ngủ nghỉ và sinh trưởng yếu, với nhiều đợt phát triển trong năm tùy thuộc vào lượng mưa Chúng không rụng lá theo mùa mà chỉ khi lá già Thời gian ngủ nghỉ hoặc sinh trưởng yếu là cơ hội để cây phân hóa hoa, từ đó có thể điều khiển ra hoa rải vụ thu hoạch Trong các đợt sinh trưởng, cây thường phát triển sinh dưỡng mạnh mẽ, tạo tán dày, dẫn đến hệ số kinh tế thấp và nhiều sâu bệnh Do đó, việc điều chỉnh mật độ trồng và áp dụng kỹ thuật cắt tỉa, tạo hình là cần thiết để tăng khả năng ra hoa, đậu quả và giảm thiểu sâu bệnh.

Bảng 1.3 Đơn vị lạnh trung bình 10 năm của một số tỉnh miền núi phía Bắc

STT Tiểu vùng Độ cao (m) Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất Số đơn vị lạnh (CU)

Trung bình Tối cao Trung bình tối thấp

4 TX Lạng Sơn (Lạng Sơn) 257,9 18,89 10,73 203,7

6 Mù Cang Chải (Yên Bái) 955,0 20,02 8,85 277,5

9 Hoàng Su Phì (Hà Giang) 539,3 21,00 11,20 139,7

14 TP Điện Biên (Điện Biên) 475,1 23,40 11,20 84,50

17 TX Cao Bằng (Cao Bằng) 244,1 18,26 10,55 229,2

18 TX Hà Giang (Hà Giang) 116,9 20,15 12,86 120,3

19 TX Sơn La (Sơn La) 675,5 21,11 11,34 133,6

Các số liệu về đơn vị lạnh theo George & Nissen (1995) được sử dụng làm cơ sở để xác định vùng trung du miền núi phía Bắc, nơi phù hợp cho việc trồng trọt cây ăn quả á nhiệt đới và cây ăn quả ôn đới với độ lạnh thấp.

+ Vùng cây ăn quả á nhiệt đới

Vùng cây ăn quả á nhiệt đới có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm, với nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất từ 13-18 °C Để cây có thể phân hóa mầm hoa, cần đảm bảo đủ số giờ nhiệt độ thấp Một số loại cây ăn quả tiêu biểu trong vùng này bao gồm cam quýt, vải, nhãn, bơ và lựu.

Nhóm cây ăn quả á nhiệt đới yêu cầu điều kiện sinh thái ôn hoà, với đặc điểm pha trộn giữa vùng nhiệt đới và ôn đới, không có tuyết hoặc sương muối, nằm trong khoảng 23-30 của bán cầu Bắc và Nam Chúng có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm, với nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất từ 13-18C Các cây trong nhóm này thường phân hóa mầm hoa với số đơn vị lạnh không cao, có thể là cây thường xanh hoặc cây rụng lá theo mùa Đặc điểm chung là các đợt sinh trưởng và ngủ nghỉ rõ rệt theo mùa, với thời gian nghỉ hoặc sinh trưởng chậm giữa các đợt Nếu thời gian này đủ dài, cây có thể cảm ứng phân hóa hoa, tạo mùa quả trái vụ Hầu hết các cây thuộc nhóm này phân cành theo lối hợp trục, dẫn đến chỉ số diện tích lá cao, do đó cần được cắt tỉa để điều chỉnh chỉ số diện tích lá phù hợp với điều kiện khí hậu.

+ Vùng cây ăn quả ôn đới

Vùng cây ăn quả ôn đới có mùa đông dài, có thể có băng tuyết, và mùa hè mát mẻ, nằm trong khoảng 30° đến 60° của hai nửa trái đất Các loại cây ăn quả này thường rụng lá để bước vào kỳ ngủ đông và phân hóa mầm hoa, với những cây tiêu biểu như táo tây, lê, mơ, đào, mận, hồng, và phúc bồn tử, yêu cầu từ 150-300 đơn vị lạnh (Chilling Unit = CU) để phát triển Tại Việt Nam, các cây ăn quả ôn đới cần nhiều đơn vị lạnh thường được trồng ở những vùng có nhiệt độ xuống dưới 0°C và đôi khi có tuyết, như ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Sa Pa - Lào Cai, Mẫu Sơn - Lạng Sơn, và Phia Đén - Cao Bằng.

Một số loại cây ăn quả như ổi, chuối, na, hồng xiêm và mít không yêu cầu khắt khe về nhiệt độ thấp và thời gian chiếu sáng để phân hoá mầm hoa, cho phép chúng có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau Trong đó, cây ăn quả có múi là nhóm cây có khả năng thích nghi rộng rãi nhất, bao gồm cả các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và một số tiểu vùng ôn đới như Địa Trung Hải.

1.2.2 Phân vùng trồng cây ăn quả theo vùng kinh tế

Việt Nam hiện nay được chia thành 7 vùng với các đặc trưng riêng, phục vụ cho việc hoạch định chiến lược và phát triển kinh tế xã hội Trong đó, 15 loại cây ăn quả chủ lực bao gồm chuối, xoài, thanh long, dứa, sầu riêng, chôm chôm, mít, na, ổi, nhãn, vải, cam, quýt và chanh đang được tập trung phát triển.

+ Trung du và miền núi phía Bắc

Vùng trồng cây ăn quả á nhiệt đới và ôn đới yêu cầu nhiều đơn vị lạnh, bao gồm 12 tỉnh với vĩ độ Bắc từ 22 (Cao Bằng) đến 2117 (Bắc Giang) Nhiệt độ tháng 1, tháng lạnh nhất trong năm, có thể giảm xuống 13,7C ở Lạng Sơn và cao nhất là 16,4C tại Bắc Giang, cả hai đều dưới 18C Vùng này có mùa khô lạnh và mùa mưa nóng, với nhiệt độ giảm dần khi lên cao, tạo thành tiểu vùng khí hậu đặc thù.

Vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam có địa hình và độ cao so với mực nước biển khác nhau, dẫn đến sự đa dạng về thành phần cây ăn quả theo từng độ cao.

Vùng thấp dưới 500m: chuối, dứa, ổi, đu đủ, táo, hồng xiêm, cây ăn quả có múi: mít, nhãn á nhiệt đới, xoài á nhiệt đới, hồng địa phương, bơ, na

Vùng cao trên 500m thích hợp cho việc trồng các loại cây ăn quả như hồng giòn, lê châu Á, lê Đài Nông 2 và VH6 Các loại đất phù hợp bao gồm đất phù sa ven sông, suối, đất nâu đỏ, nâu vàng, nâu tím và đất xám mùn Ngoài ra, đất xám bạc màu cũng xuất hiện ở vùng trung du và một số khu vực miền núi.

Các khu vực có độ cao trên 800m thuộc cận ôn đới hoặc tiểu vùng ôn đới đang thử nghiệm trồng các loại cây ăn quả ôn đới, như đào và mận, với yêu cầu về số đơn vị lạnh thấp Điều này cho thấy tiềm năng phát triển cây ăn quả ở một số tiểu vùng núi cao.

+ Vùng đồng bằng sông Hồng

CÂY XOÀI (MANGIFERA INDICA L.)

GIỚI THIỆU CHUNG

Xoài, được mệnh danh là “vua của các loại trái cây”, nổi bật với hương vị phong phú, giá trị dinh dưỡng cao và màu sắc hấp dẫn Thuộc họ Anacardiaceae, xoài có kích thước bộ gen nhỏ là 439 Mb (2n = 40) (Singh & cs., 2016) Cây xoài là một trong những cây ăn quả nhiệt đới quan trọng, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới.

Quả xoài là nguồn dinh dưỡng phong phú, chứa axit amin, carbohydrate, axit béo, khoáng chất, axit hữu cơ, protein và vitamin Theo Anses (2013), trong 100g thịt quả xoài có 63,5kcal, 0,7% protein, 13,6% carbohydrate, 0,2% chất béo và 1,76% chất xơ Hàm lượng đường trong xoài là 13,1mg/100g, cùng với các khoáng chất như kali (180mg), canxi (12mg), magie (13mg) và sắt (0,7mg) Đặc biệt, xoài chứa nhiều vitamin, với vitamin C đạt 40mg, tiền tố vitamin A β-Caroten là 1.220µg và vitamin B1 là 0,04mg/100g thịt quả.

Cây xoài là loài cây đa dụng, không chỉ cung cấp quả ăn tươi mà còn được chế biến thành đồ uống, bánh kẹo và mứt Các bộ phận của cây như thân, lá và hạt cũng có công dụng làm thuốc cho người và gia súc Hoa xoài nở nhiều cung cấp mật cho ong, trong khi bộ tán rộng và lá xanh quanh năm giúp cây trở thành bóng mát và hạn chế xói mòn đất Cây xoài có khả năng chịu hạn và úng, thích nghi với nhiều loại đất, kể cả những vùng khô hạn và thiếu dinh dưỡng.

2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ

Cây xoài, một loại cây trồng phổ biến ở các nước nhiệt đới, có diện tích khoảng 56,813 triệu hecta và sản lượng đạt hơn 50,6 triệu tấn quả (FAO, 2017) Các quốc gia sản xuất xoài lớn nhất bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan và Mexico.

Indonesia, với Ấn Độ là quốc gia dẫn đầu về diện tích trồng xoài lên tới hơn 2.200 ha, chiếm hơn 40% sản lượng xoài toàn cầu Giá trị sản xuất xoài trên thế giới trong 10 năm qua đạt trung bình 30 tỷ đô la.

Việt Nam đứng trong nhóm 20 nước có diện tích và sản lượng xoài lớn nhất Năm 2017 sản lượng đạt 744 nghìn tấn chiếm 1,4% tổng sản lượng của thế giới (FAO,

2017) Trong đó, giá trị sản xuất xoài ở Việt Nam đạt từ 290 triệu USD (2010) đến

Xuất khẩu xoài của Việt Nam đã ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể, với giá trị đạt 618 triệu USD vào năm 2015, mặc dù giảm xuống còn 403 triệu USD vào năm 2016 Theo thống kê của FAO (2018), sản lượng xoài xuất khẩu liên tục tăng từ 228 tấn năm 2010 lên 2.351 tấn vào năm 2016.

Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng xuất khẩu xoài từ 689 nghìn USD lên 3,4 triệu USD, với thị trường lớn nhất là Trung Quốc, chủ yếu thông qua hình thức tiểu ngạch Ngoài ra, xoài Việt Nam cũng được xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore.

Bảng 2.1 Diện tích sản xuất và sản lượng xoài của một số nước

Bảng 2.2 Giá trị sản xuất của cây xoài ở một số quốc gia và Việt Nam từ 2010 đến 2016

Năm Ấn Độ Trung quốc Thái Lan Việt Nam Thế giới

NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ PHÂN BỐ

2.2.1 Nguồn gốc và phân loại xoài

Xoài, thuộc chi xoài (Mangifera) trong họ đào lộn hạt (Anacardiaceae), có nguồn gốc từ vùng Đông Bắc Ấn Độ và đã lan rộng ra Đông Nam Á do biến động địa chất Theo nghiên cứu của Singh & cs (2016), xoài có 69 loài chủ yếu ở châu Á nhiệt đới, mở rộng đến vĩ độ 27° và quần đảo Carolines Mukherjee & Litz (2009) cũng chỉ ra rằng có tới 72 loài xoài được xác định phân bố tại Malaysia và Indonesia.

Xoài hoang dại có nguồn gốc từ nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Lào, miền Nam Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines, Papua New Guinea, và các quần đảo Solomon và Carolines.

Theo nghiên cứu lịch sử, cây xoài có nguồn gốc từ Ấn Độ và được đưa đến bán đảo Malaysia và Đông Á vào thế kỷ IV-V trước công nguyên bởi các nhà phật giáo Vào thế kỷ VII, xoài được du khách Ấn Độ mang đến Trung Quốc Người Ba Tư đã giới thiệu xoài đến Đông Phi vào thế kỷ X, và vào thế kỷ XVI, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đã đưa xoài đến Tây Phi và Brazil Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIV, xoài được trồng ở Bắc Mỹ và châu Âu (Singh & cs., 2016).

Ngày nay, xoài được trồng rộng rãi ở các vùng có khí hậu nhiệt đới, chủ yếu là các giống hạt đa phôi, trong khi giống hạt đơn phôi ít được ưa chuộng do quả nhỏ và tỉ lệ phần ăn được thấp Một số quốc gia ôn đới như Nhật Bản cũng trồng xoài nhờ công nghệ canh tác hiện đại Tại Việt Nam, xoài được trồng khắp nơi, nhưng chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, và ở miền núi phía Bắc, xoài chủ yếu được sản xuất tại Yên Châu - Sơn La và Yên Minh - Hà Giang.

2.2.3 Các giống xoài đang được trồng trọt

Trên toàn cầu, có nhiều giống xoài được chọn lọc và canh tác, trong đó một số giống phổ biến bao gồm xoài Kesar, Aphonso, Atauflo, Keitt, Kent, Amelie, Nam Doc Mai và Palmer.

Xoài Kesar Xoài Aphonso Xoài Atauflo Xoài Keitt

Xoài Kent Xoài Amélie Xoài Nam Doc Mai Xoài Palmer

Nguồn: https://goodfruitguide.co.uk/

Hình 2.1 Một số giống xoài phổ biến trên Thế giới

Bảng 2.3 Một số giống xoài quan trọng ở các nước sản xuất chính

1 Bờ Biển Ngà Amelie, Kent

2 Ai Cập Alphonso, Bullocks Heart, Hindi be Sennara, Langra, Mabrouka, Pairie, Taimour,

5 Nam Phi Fascell, Haden, Keitt, Kent, Sensation, Tommy Atkins, Zill

6 Bangladesh Aswina, Fazli, Gopal Bhog, Himsagar, Khirsapati, Langra

7 Trung Quốc Gui Fei, Tainong No 1, Keitt, Sensation, Zill, Zihua, Jin Huang

8 Ấn Độ Chausa, Dashehari, Fazli, Fernandian, Himsagar, Kesar, Kishen Bhog, Langra,

Mallika, Mankurad, Mulgoa, Neelum, Pairi, Samar Behisht, Suvarnarekha, Totapuri, Vanraj, Zardalu

9 Indonesia Arumanis, Dodol, Gedong, Golek, Madu, Manalagi

10 Israel Haden, Tommy Atkins, Keitt, Maya, Nimrod, Kent, Palmer

11 Malaysia Apple Rumani, Arumanis, Golek, Kuala Selangor 2,

12 Myanmar Aug Din, Ma Chit Su, Sein Ta Lone, Shwe Hin Tha,

13 Pakistan Anwar Ratol, Began Pali, Chausa, Dashehari, Gulab Khas, Langra, Siroli,

14 Philippines Carabao, Manila Super, Pico

15 Đài Loan Irwin, Jin-hwung, Keitt, Tommy Atkins, Tainong No 1, Tsar-swain

16 Thai Lan Nam Doc Mai, Ngar Charn, Ok Rong, Keow Savoey, Pimsen Mum

17 Costa Rica Calypso, Kensington Pride, Haden, Irwin, Keitt, Mora, Tommy Atkins

18 Dominica Haden, Keitt, Kent, Tommy Atkins

19 Guatemala Haden, Keitt, Kent, Tommy Atkins

21 Mexico Ataulfo, Haden, Keitt, Kent, Manila, Palmer, Sensation, Tommy Atkins, Van Dyke

22 Costa Rica Haden, Irwin, Keitt, Mora, Tommy Atkins

Xoài đã được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XIV, với giống xoài bản địa được ghi nhận là chi M Cambodiana, hay còn gọi là xoài Voi.

Các giống xoài được trồng phổ biến ở nước ta theo Nguyễn Văn Luật & cs

Xoài Cát Hòa Lộc là một trong những giống xoài nổi tiếng nhất Việt Nam, được trồng chủ yếu tại Hòa Lộc, Tiền Giang Quả xoài này có kích thước lớn, trung bình từ 600-700 gram, với màu vàng chanh khi chín Thịt quả dày, không có xơ, hạt nhỏ, mang lại hương vị ngọt ngào và thơm ngon Tỉ lệ thịt quả đạt trên 80% và độ brix từ 20-24, làm cho xoài Cát Hòa Lộc trở thành lựa chọn hàng đầu cho người tiêu dùng.

Xoài Cát Chu, một đặc sản nổi tiếng của Cao Lãnh - Đồng Tháp, được Viện cây ăn quả Miền Nam tuyển chọn và công nhận vào năm 1997 Giống xoài này được trồng phổ biến ở các tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và miền Đông Nam bộ Với kích thước nhỏ hơn xoài Cát Hòa Lộc, mỗi quả Cát Chu nặng trung bình khoảng 350g, có thịt dày, hột nhỏ, ít xơ và hương vị thơm ngon Tỉ lệ phần ăn được đạt 75% và độ brix từ 18-22 Xoài Cát Chu từ Cao Lãnh đã được xuất khẩu sang các thị trường quốc tế như Nhật Bản và Hàn Quốc.

Xoài Thanh Ca là giống xoài phổ biến ở vùng triền núi Tịnh Biên, An Giang, thường được gọi là xoài Núi hay xoài Bảy Núi Quả xoài này có vỏ dày, màu xanh đậm khi còn xanh và chuyển sang màu vàng ngọt khi chín Khác với xoài hoang dã, người dân An Giang đã trồng và chăm sóc giống xoài Núi, tạo ra loại xoài thịt không xơ, hạt nhỏ và hương vị ngọt đậm.

Xoài Tượng, có nguồn gốc từ Bình Định, là loại xoài có trọng lượng lên đến 500g Vỏ xoài có màu xanh tươi và khi chín sẽ chuyển sang màu vàng Quả xoài này có hình dáng mập mạp và mang hương thơm đặc trưng.

Xoài Tròn: người dân quen gọi là xoài Trứng, trồng nhiều ở vùng Yên Châu - Sơn

Xoài Tròn là giống xoài bản địa duy nhất của các tỉnh phía Bắc, có hình dáng quả nhỏ, tròn, với hạt dẹt và thịt mềm, vị ngọt đậm cùng mùi thơm đặc trưng, vỏ xanh vàng Giống xoài này đã được FAO ghi danh trong danh mục các giống cây cần được gìn giữ và phát triển Tại huyện Yên Châu, ba xã Sặp Vạt, Chiềng Pằn và Viêng Lán trồng xoài Tròn, và đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lí cùng hệ thống nhận diện thương hiệu xoài Yên Châu.

Xoài Cát Chu Xoài Tượng Xoài trứng Xoài Thanh ca

Hình 2.4 Một số giống xoài phổ biến ở Việt Nam

ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC

Mukherjee & Litz (2009) đã mô tả đặc điểm thực vật học của cây xoài như sau

Hệ thống rễ cây từ hạt bao gồm rễ cọc mạnh mẽ và nhiều rễ nhánh tập trung ở bề mặt Phần lớn rễ phân bố trong tầng đất từ 0-50cm, nhưng ở những vùng có mực nước ngầm thấp hoặc đất cát, rễ có thể phát triển sâu tới 6-8m.

Cây xoài trưởng thành có thể đạt chiều cao trên 40m và có thể tồn tại trong vài trăm năm

Cây xoài thuộc nhóm cây giao phấn, vì vậy khi nhân giống bằng hạt đã tạo ra quần thể rất đa dạng về hình thái cây

Xoài là cây thường xanh với lá đơn, xen kẽ và cuống dài từ 1-12,5cm Hình thái lá đa dạng tùy thuộc vào giống, có thể là mũi mác, thuôn, hình trứng và các loại trung gian, với chiều dài từ 12-38cm và chiều rộng từ 2-13cm Lá non có màu đồng, chuyển dần sang xanh sáng và cuối cùng là xanh đậm Các lá sắp xếp theo hình xoắn ốc trên cành, phát sinh từ đỉnh chồi Tán cây thường có hình bầu dục, thon dài hoặc hình vòm, và thời gian từ khi cây mọc từ hạt đến khi ra hoa là từ 3 đến 7 năm.

Hoa xoài có màu vàng nhạt và lông tơ mịn, mọc từ đỉnh sinh trưởng Chùm hoa cứng, thẳng, dài tới 30cm, phân nhánh nhiều, thường có ba cấp, với cụm hoa luôn nằm ở cuối nhánh.

Chùm hoa thường có từ 200-4.000 hoa, với tỉ lệ hoa lưỡng tính chỉ từ 1-36% Hoa có thể là đơn hoặc lưỡng tính, đường kính từ 5-10mm, và cả hai loại hoa đều xuất hiện trong cùng một chùm Tỉ lệ hoa đơn và hoa lưỡng tính bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố môi trường và canh tác Hoa có bốn hoặc năm cánh, hình bầu dục, hình trứng đến mũi mác, với mặt ngoài có lông mịn Đĩa hoa cũng có bốn hoặc năm thùy, nằm trên gốc cánh hoa Có năm nhị hoa lớn, trong đó chỉ một đến hai nhị chứa đầy hạt phấn, còn lại là nhị vô hiệu Nhụy hoa thường chín trước nhị, dẫn đến việc thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng.

Xoài khi chín có màu vàng hoặc tím vàng, thịt quả thường có xơ Hình thái và kích thước quả khá đa dạng, kích cỡ quả đạt từ 100 đến 1.500g

Hạt xoài lớn, vỏ hạt có lớp lông xơ khá dày, phía bên trong là nhân hạt thuộc loại nhân đơn phôi hoặc đa phôi.

YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH

Nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến chu kỳ sinh trưởng, thời gian và tần suất ra hoa, cũng như sự phát triển của quả và mùi vị của xoài Trong giai đoạn sinh trưởng, cây cần nhiệt độ tương đối cao, trong khi quá trình phân hoá hoa bắt đầu ngay sau mùa đông lạnh Sự ra hoa trở nên rõ rệt khi nhiệt độ tăng lên.

Nhiệt độ bình quân năm lý tưởng cho cây xoài là 24-26C, trong khi nhiệt độ tháng lạnh nhất không nên dưới 15C Cây xoài có khả năng chịu đựng nhiệt độ từ 0-48C trong thời gian ngắn (6-8 giờ), nhưng sẽ bị tổn thương nghiêm trọng khi nhiệt độ quá thấp Cây trồng ở vùng có biên độ nhiệt giữa ngày và đêm là 20/15°C cần 20 tuần để hoàn thành chu kỳ ngủ nghỉ, trong khi ở biên độ 30/25°C, chu kỳ này chỉ mất 6 tuần Hạt phấn sẽ bị tổn thương và bất dục ở nhiệt độ dưới 17C, và ống phấn hoa hoàn toàn bị vô hiệu ở nhiệt độ dưới 15C Các giống đa phôi có khả năng chịu nhiệt độ thấp tốt hơn so với các giống đơn phôi.

Xoài có khả năng phát triển ở độ cao từ mực nước biển đến 1.250m trong vùng nhiệt đới, nhưng sản xuất xoài thương mại thường gặp khó khăn ở những khu vực có độ cao trên 700m (Sthapit & cs., 2012).

Vùng trồng xoài cần có mùa khô để cây phân hóa hoa thuận lợi, vì nhiệt độ thấp và độ ẩm cao có thể gây khó khăn cho sự nảy mầm của hạt phấn, dẫn đến tỉ lệ đậu quả thấp Lượng mưa tối ưu cho cây xoài là từ 100-120mm/tháng, trong khi các khu vực có lượng mưa dưới 40mm/tháng không phù hợp cho sản xuất xoài thương mại Ở miền Nam Việt Nam, xoài ra hoa và phát triển từ tháng 12 đến tháng 5, mang lại sản lượng và chất lượng cao hơn so với miền Bắc, nơi chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và mưa phùn Chỉ có một số vùng như Yên Châu - Sơn La và Yên Minh - Hà Giang là thuận lợi cho xoài ra hoa đậu quả Vùng Yên Châu được che chắn bởi dãy Hoàng Liên Sơn, tạo điều kiện thời tiết lý tưởng cho cây xoài Lượng nước mưa phù hợp cho canh tác xoài là từ 500-1.500mm/năm; nếu cao hơn, xoài thường gặp nhiều sâu bệnh và ít hoa.

Xoài phát triển tốt trong khí hậu có lượng mưa thấp và ấm, đặc biệt trong thời điểm ra hoa, đậu quả và thu hoạch Mặc dù có thể trồng xoài ở nhiều vùng khí hậu nhiệt đới, nhưng bệnh thán thư có thể gây khó khăn cho việc canh tác trong môi trường ẩm ướt và có lượng mưa cao.

Xoài có thể trồng trên nhiều loại đất như đất phù sa, đất cát ven biển, đất đồi gò và đất bạc màu nhờ bộ rễ khỏe, ăn sâu, giúp cây chịu hạn tốt Độ pH lý tưởng cho đất trồng xoài là từ 5,5 đến 6,5 Theo Crane (2009), đất trồng xoài nên có hàm lượng hữu cơ từ 2-3%, thoát nước tốt và CEC từ 10-20 meq/100g đất Ngoài ra, đất trồng xoài cần ít sét, không có tầng đá và mạch nước ngầm ở độ sâu từ 2-2,5m (Vũ Công Hậu, 1996).

KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG

Để đảm bảo vườn xoài đạt năng suất và chất lượng cao, việc nhân giống cây từ cây đầu dòng đã được chọn lọc là rất quan trọng Cây đầu dòng lý tưởng cho xoài cần có tán thấp, ra quả đều hàng năm, khả năng kháng sâu bệnh tốt, hương vị đặc trưng và hấp dẫn, cùng với vỏ dày để chịu được vận chuyển xa.

Nhân giống hữu tính của xoài là quá trình quan trọng, vì cây xoài là cây giao phấn, dẫn đến sự phân ly ở thế hệ sau khi nhân giống bằng hạt Hạt xoài có nhiều giống đa phôi, tạo ra sự đa dạng cho cây con sau khi nảy mầm, từ đó giúp lựa chọn và đánh giá các giống mới Tại miền Đông Nam Bộ, xoài Bưởi được trồng phổ biến, không chỉ dùng làm giống mà còn làm gốc ghép cho xoài Cát (Vũ Công Hậu, 1996).

Nhân giống vô tính cây xoài gặp khó khăn do cây khó ra rễ, vì vậy phương pháp nhân giống bằng cành giâm và chiết cành không được áp dụng rộng rãi trong sản xuất kinh doanh.

Vũ Công Hậu (1996) khuyến nghị chiết cành từ những cành dưới 2 năm tuổi trên cây có độ tuổi dưới 30 năm để đạt quả ổn định Quy trình bao gồm khoanh vỏ, cạo nhớt ở tầng sinh gỗ, phơi một ngày và sử dụng giá thể trộn auxin nồng độ 5.000-10.000ppm để bó bầu Thời điểm chiết cành lý tưởng là vào mùa mưa, sau khoảng 2 tháng cành chiết sẽ bắt đầu ra rễ Trước khi tách cành khỏi cây mẹ, nên cắt thành 2-3 đợt và đưa vào vườn ươm từ 1 đến 2 tháng để đảm bảo sức sống Đối với cành giâm, nên chọn cành trưởng thành từ cây non và ngâm trong auxin nồng độ 500-1.000ppm trong 3-5 phút trước khi cắm vào nhà giâm, nơi cần có ánh sáng yếu và độ ẩm cao để cành ra rễ Ganer (1976) cũng chỉ ra rằng sử dụng hom giâm gốc từ cây 4-5 năm tuổi có khả năng ra rễ cao hơn so với hom giâm từ cây non hoặc cây 9-10 năm tuổi.

Ghép là phương pháp phổ biến nhất trong nhân giống xoài, với các bước kỹ thuật bao gồm chuẩn bị gốc ghép từ hạt của các giống địa phương như xoài Bưởi, xoài Xẽ, và xoài Cơm Tiêu chuẩn cây gốc ghép phụ thuộc vào từng kỹ thuật, thường ghép khi cây mọc 4-6 tháng ở Việt Nam Kỹ thuật ghép đoạn cành được ưa chuộng do tỉ lệ thành công cao, giúp cây con phát triển nhanh Thời vụ ghép chủ yếu vào đầu mùa mưa ở miền Nam và mùa Thu ở miền Bắc Cành lấy mắt ghép cần được xử lý để kích thích chồi nách, và độ dài vết ghép ảnh hưởng lớn đến thành công, thường từ 3-4cm cho ghép gốc và đoạn cành, trong khi ghép mắt chỉ cần 1-2cm.

Cây sau ghép cần được chăm sóc kỹ lưỡng trong vườn ươm với tỷ lệ thành công từ 80-90% Sau 5-6 tháng ghép, cây đạt chiều cao từ 60-80cm và có lá thành thục, đủ tiêu chuẩn để xuất vườn.

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

2.6.1 Thời vụ trồng Ở miền Bắc, xoài nên trồng vào mùa xuân (tháng 2-3) hoặc mùa thu (tháng 8-9) Ở miền Nam nên trồng xoài vào đầu mùa mưa (tháng 4-5)

2.6.2 Mật độ và khoảng cách

Mật độ trồng cây phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai, khả năng phát triển của giống cây và trình độ thâm canh Cụ thể, đất đồng bằng thường được trồng thưa hơn so với đất đồi, và giống xoài phát triển nhanh có thể trồng thưa hơn giống mọc yếu Để khai thác và thu hồi vốn nhanh, có thể trồng dày và sau một thời gian, khi cây giao tán, sẽ tiến hành tỉa thưa Theo phương pháp thâm canh mới, để thuận tiện cho cơ giới hóa và thu hoạch, cây thấp nên được trồng dày với khoảng cách 5 × 4m hoặc 5 × 5m, trong khi nếu để tán cây cao và rộng, khoảng cách trồng có thể tăng lên 8 × 8m.

Xoài là cây có bộ rễ sâu, vì vậy hố trồng ở vùng đồi cần đào rộng 80-100cm và sâu 60-80cm, trong khi ở đất vườn và ruộng chỉ cần đào rộng 60-80cm và sâu 40-50cm Mỗi hố cần bón 30-50kg phân chuồng hoai mục và 1-2kg supe lân; nếu đất có độ pH dưới 5, cần thêm 0,5-1kg vôi bột Đất cần được trộn đều với phân và chuẩn bị trước khi trồng ít nhất 1 tháng.

Khi trồng cây, cần chú ý đảm bảo thân cây đứng thẳng và bộ rễ phát triển nhanh Việc loại bỏ túi bầu và đặt cây thẳng, sau đó nén chặt đất xung quanh bầu cây là rất quan trọng.

Sử dụng cọc chống phù hợp giúp cây đứng vững trước gió bão Sau khi trồng, cần tưới nước và phủ gốc bằng lá cây, cỏ khô hoặc rơm rạ Cây cần được tưới nước ít nhất 1-2 tuần sau khi trồng Nếu cây chết, cần thay thế để duy trì độ đồng đều trong vườn.

Việc bón phân cho cây phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ phì nhiêu của đất, hàm lượng dinh dưỡng, tỉ lệ phân vô cơ và hữu cơ, khả năng đầu tư, loại đất, độ sâu canh tác, lượng mưa, khả năng tưới và mục tiêu sản xuất Tác động của phân bón đến cây trồng còn bị ảnh hưởng bởi nguồn gốc, tỉ lệ, phương pháp và thời gian bón, cũng như giai đoạn sinh trưởng và sức sống của cây.

Liều lượng phân bón nên được xác định dựa trên tuổi cây và năng suất Nhiều quốc gia phát triển áp dụng phương pháp đánh giá chất lượng đất và hàm lượng dinh dưỡng trong lá để làm cơ sở cho việc bón phân trong các năm tiếp theo (Crane & cs., 2009).

Mục tiêu bón phân cho cây trong năm thứ nhất và thứ hai là thúc đẩy sự sinh trưởng nhanh và tạo bộ khung tán khỏe mạnh Đối với giai đoạn cây cho quả, cần đảm bảo sức khỏe cây, ngăn chặn hiện tượng ra hoa luân phiên và cho phép cây ngủ đông để cảm ứng ra hoa Tại Việt Nam, trong giai đoạn kiến thiết cơ bản từ 1 đến 3 năm tuổi, lượng phân bón cho mỗi cây thường dao động từ 500-1.500 g Theo Trần Thế Tục & Ngô Hồng Bình (2004), trên đất giàu dinh dưỡng như đất phù sa hay đất phèn, cần bón nhiều đạm và lân hơn, sử dụng NPK đầu trâu 20:20:15; trong khi đó, trên đất xám, đất đỏ và đất cát, nên dùng NPK đầu trâu 15:15:15 Việc bón phân nên được thực hiện 3 lần trong năm trước các đợt ra lộc hoặc có thể chia thành bón hàng tháng.

Khi cây xoài bước vào thời kỳ kinh doanh từ năm thứ 4 trở đi, cần bón từ 10-15kg phân hữu cơ vi sinh và 1,5-2kg phân NPK hỗn hợp cho mỗi cây Theo Vũ Công Hậu (1996), trong giai đoạn từ năm thứ nhất đến năm thứ 10, lượng phân bón vô cơ cho cây xoài được xác định dựa trên cấp tuổi nhân với lượng bón ban đầu Mức trung bình bón cho xoài trong thời kỳ kinh doanh là 1kg N : 1,66kg P2O5 : 0,86kg K2O.

Việc bón phân cho xoài trong thời kỳ kinh doanh cần chú ý đến ba thời điểm quan trọng: sau thu hoạch, trước khi ra hoa và sau khi quả đậu Sau thu hoạch, cần kết hợp làm cỏ, cắt tỉa và bón phân hữu cơ, vôi bột cùng với 1/3 phân vô cơ Trước khi ra hoa, bón 1/3 lượng phân, và sau 60-70 ngày từ khi đậu quả, tiến hành bón nốt 1/3 lượng phân còn lại Đối với các nguyên tố vi lượng, nên sử dụng phân bón qua lá, nhưng cũng có thể bón qua đất tùy thuộc vào loại đất.

Thế Tục & Ngô Hồng Bình (2004) khuyến nghị phun phân bón lá đều lên cây từ trước khi ra hoa cho đến khi xuất hiện cựa gà hoặc sau khi đậu quả 7-10 ngày, với tần suất 5-7 ngày/lần Crane (2009) chỉ ra rằng các loại phân vi lượng như Mn, Zn nên được cung cấp dưới dạng kết hợp với phức chelate trên đất đá vôi, trong khi trên đất chua, nên sử dụng loại phân gốc tự do Việc áp dụng phân bón vi lượng nên được thực hiện 3-4 lần mỗi năm.

Tưới nước cho cây xoài phụ thuộc vào điều kiện canh tác, lượng mưa và mức độ thâm canh Không có công thức chính xác cho việc tưới nước mà chủ yếu dựa vào nghiên cứu thực tế và lượng mưa trong khu vực Đối với vùng có lượng mưa từ 1.600-1.700 mm/năm, đây được coi là dư thừa nước cho cây xoài (Vũ Công Hậu, 1996).

Xoài là cây có khả năng chịu hạn và úng tốt, nhưng việc tưới nước quá nhiều có thể ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của cây (Crane, 2009) Ở miền Nam Việt Nam, mùa khô kéo dài khiến việc tưới nước cho xoài trở nên cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn phân hóa mầm hoa kéo dài từ 60-90 ngày (Nguyễn Văn Luật và cs., 2004) Do đó, cần tưới nước nhiều hơn sau khi cây bắt đầu ra hoa và đậu quả Ngược lại, ở miền Bắc, thời kỳ ít nước rơi vào mùa đông trùng với giai đoạn phân hóa mầm hoa, do đó không cần cung cấp nước bổ sung cho cây (Vũ Công Hậu, 1996).

Các biện pháp cấp nước cho cây xoài rất đa dạng, bao gồm tưới rãnh, tưới phun mưa và tưới nhỏ giọt Việc lựa chọn phương pháp tưới phù hợp sẽ phụ thuộc vào điều kiện địa hình và đặc điểm của đất đai.

2.6.7 Kỹ thuật cắt tỉa và tạo hình

Hàng năm, sau khi thu hoạch, cần cắt bỏ các cành tăm, cành bị sâu bệnh, cành vượt và cành mọc lộn xộn trong tán để giữ cho tán cây thông thoáng Ngoài ra, nên quét vôi gốc vào mùa đông để bảo vệ cây.

Cắt tỉa hàng năm là biện pháp quan trọng giúp cây duy trì năng suất cao, cần được thực hiện kịp thời và kết hợp với các phương pháp xử lý ra hoa.

PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI

Xoài là cây có bộ tán lớn, phát triển tốt trong điều kiện nhiệt đới và ẩm ướt, nhưng cũng dễ bị sâu bệnh tấn công Ở miền Bắc, sâu bệnh hại xoài thường gia tăng từ tháng 12 đến tháng 4 khi độ ẩm cao, trong khi ở miền Nam, chúng chủ yếu xuất hiện vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm.

Nguyên tắc phòng trừ cơ bản là thực hiện biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) một cách triệt để Điều này bao gồm việc ưu tiên sử dụng các biện pháp phòng ngừa và hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng.

Theo Nguyễn Văn Luật & cs (2004), việc áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp trên xoài có thể tóm tắt như sau:

Lựa chọn giống cây trồng có chất lượng cao và khả năng kháng sâu bệnh tốt là rất quan trọng Chẳng hạn, giống xoài Bưởi có khả năng kháng sâu bệnh tốt hơn, nhưng chất lượng quả không bằng xoài Cát Chu, do đó có thể sử dụng làm gốc ghép Ngoài ra, cây giống trồng ngoài đồng ruộng cần phải được chọn lựa kỹ lưỡng, đảm bảo là cây khỏe mạnh và không bị sâu bệnh hại nghiêm trọng.

+ Sử dụng các biện pháp sinh học hiệu quả như thiên địch, các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh hại

Áp dụng các biện pháp canh tác như cắt tỉa để thông thoáng tán cây, bón phân một cách cân đối và duy trì độ ẩm đất phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng trong năm là rất quan trọng.

Sử dụng thuốc hóa học chỉ khi thật sự cần thiết, đảm bảo chất lượng tốt, ít gây ô nhiễm môi trường và tuân thủ nguyên tắc “Bốn đúng”.

Theo Trần Đình Chiến và Đỗ Tấn Dũng (2017), việc áp dụng các biện pháp cơ giới như bao quả, bắt vợt, tiêu hủy trứng sâu và sử dụng bẫy bả là hiệu quả trong việc loại bỏ sâu hại Ngoài ra, các biện pháp vật lý như xử lý nhiệt độ cao và chiếu xạ ngày càng được áp dụng phổ biến cho xoài và các loại cây ăn quả khác.

- Rầy xanh (rầy nhảy) (Idioscopus sp.)

Rầy có kích thước dài từ 3-5mm, màu sắc từ xanh đến xanh nâu, trong khi ấu trùng dài khoảng 0,9mm, chúng chích hút ở chồi lá và chùm hoa, gây ra hiện tượng hoa khô héo và rụng quả non Ngoài ra, sự xuất hiện của rầy còn tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển, làm cho cây bị đen bóng Rầy đẻ từ 100-200 trứng ở cuống hoa và chồi non, với thời gian ủ trứng khoảng 5-6 ngày Giai đoạn ấu trùng từ tuổi 1 đến tuổi 4 kéo dài từ 10-15 ngày, và vòng đời của rầy khoảng 16-21 ngày Cả ấu trùng và rầy trưởng thành đều chích hút nhựa từ hoa và lá non, nhưng gây hại chủ yếu trên cành hoa.

1996) Thời gian gây hại chủ yếu từ tháng 10 đến tháng 6 năm sau (Trần Thế Tục & Ngô Hồng Bình, 2004)

Để phòng trừ sâu bệnh cho cây xoài, cần tỉa cành thông thoáng và sử dụng bẫy đèn 1-2 tuần trước khi cây ra hoa để thu hút và diệt con trưởng thành Nên áp dụng các thiên địch như nhện bắt mồi, bọ rùa, ong ký sinh trứng Eulophids, Mymarids, kiến vàng, và nấm ký sinh như Verticilium, Hirsutella, Beauveria Sử dụng thuốc ức chế lột xác như Buprofezin, Dinotefuran, Thiamethoxam để phòng rầy, và khi mật độ sâu cao, phun thuốc bảo vệ thực vật theo khuyến cáo Cần chú ý luân phiên thuốc để tránh tình trạng sâu kháng thuốc và không phun thuốc khi cây đang nở hoa rộ.

- Ruồi đục quả (Dacus Dorsalis)

Ruồi đục quả, theo Vũ Công Hậu (2004), đẻ trứng vào quả chín mềm, sau 24-28 giờ trứng nở thành dòi và tiếp tục đục quả, tạo ra các đường rỗng trong thịt quả Ấu trùng phát triển trong 7-8 ngày trước khi hóa nhộng và nằm dưới đất Loại ruồi này gây hại nghiêm trọng cho nhiều loại cây ăn quả và là đối tượng kiểm dịch của nhiều quốc gia khi nhập khẩu trái cây (Trần Thế Tục & Ngô Hồng Bình, 2004) Do đó, việc áp dụng các biện pháp phòng trừ sớm là rất cần thiết.

Sử dụng bẫy pheromone như Vizubon trong vườn để thu hút và tiêu diệt ruồi trưởng thành, với số lượng 2-3 bẫy cho mỗi 1000m² Bên cạnh đó, áp dụng bả protein như Ento-Pro bằng cách phun điểm dưới tán lá ở độ cao 1-1,5m so với mặt đất, tránh phun ướt toàn bộ tán lá, với liều lượng 20 lít cho mỗi hecta.

30 điểm, 1 tuần phun lại 1 lần từ sau khi quả đậu 1,5 tháng

Để bao quả, sử dụng giấy nến, túi vải không dệt hoặc túi giấy keo mỏng sau khi quả đã rụng sinh lý khoảng 40-45 ngày sau khi tắt hoa Trước khi tiến hành bao quả, cần phun thuốc để phòng trừ sâu bệnh hại.

+ Xử lý quả sau thu hoạch bằng nước nóng 53C trong vòng 15 phút để giết trứng sâu và sâu non

- Rệp sáp (Icerya Seychellarum; Planococous Lilacinus)

Rệp sáp có hình bầu dục, thuôn dài, với con cái trưởng thành dài khoảng 2,5-4mm và chiều ngang khoảng 0,7-3mm Thân rệp có nhiều sợi sáp màu trắng, và khi gạt lớp sáp, cơ thể sẽ có màu vàng nhạt Rệp cái không có cánh, trong khi rệp đực nhỏ hơn có cánh, không có sáp, với mắt đen to và râu cùng chân có nhiều lông ngắn Rệp chích hút nhựa từ lộc non, nhánh, cuống quả non và hoa, gây ảnh hưởng đến sự phát triển và chất lượng của quả.

+ Tránh trồng xen với những loại cây dễ bị rệp sáp, tỉa bỏ những quả bị nhiễm ở giai đoạn đầu

+ Sử dụng thiên địch của rệp sáp phấn: Gồm nhiều loài bọ rùa và ong ký sinh Có thể phun nước vào quả để rửa trôi rệp sáp

+ Phun thuốc bảo vệ thực vật thích hợp, các dòng thuốc lưu dẫn mạnh như

Pymetrozin, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Abamectin, Emamectin benzoate kết hợp với chất bám dính

- Sâu đục đầu cành (Chlumetia transversa)

Sâu trưởng thành đẻ trứng trên chồi non, cuống hoặc gân chính của lá non, và sau khi nở, sâu non chui vào ăn rỗng bên trong, làm cho chồi và lá non bị héo Sâu đục vào cành hoa, gây khô gãy cành và rụng hoa, ảnh hưởng lớn đến năng suất Sâu trưởng thành có màu nâu, dài 7-8mm, với sải cánh khoảng 17-17,5mm, trong khi sâu non có màu hồng và trứng màu trắng, chuyển sang màu nâu khi gần nở Sâu trưởng thành đẻ trứng vào ban đêm, sau 3-4 ngày trứng nở thành sâu non, có 5 tuổi và thời kỳ sâu non kéo dài 12-15 ngày Kết thúc tuổi 5, sâu non hóa nhộng trong đường đục, với giai đoạn nhộng kéo dài trung bình 13-15 ngày Sâu đục cành gây hại quanh năm, nhưng đặc biệt nghiêm trọng trong giai đoạn ra lộc và hoa rộ.

Để phòng trừ sâu bệnh, cần vệ sinh vườn và tỉa cành để cây thông thoáng Cắt bỏ những chồi và ngọn non bị hại để tiêu diệt sâu non và nhộng bên trong Đối với những vườn thường xuyên bị hại nặng, có thể phun thuốc hóa học vào thời điểm ra lộc rộ và bắt đầu ra hoa, sử dụng các thuốc có tính nội hấp dòng Neonicotinoit (Nguyễn Văn Viên, 2017a).

- Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides)

Bệnh thán thư là một loại bệnh nguy hiểm trên xoài, gây hại cho lá, quả non, chùm hoa và làm thối quả trong quá trình bảo quản Triệu chứng đặc trưng bao gồm các vệt màu nâu đỏ với nhiều đốm trên lá, sau đó dẫn đến vết khô và thủng Cuống hoa xuất hiện vệt đốm nâu đen, gây rụng hoa và quả non Quả bị nhiễm bệnh có các vết đốm đen tròn, lõm xuống và lan rộng Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết ẩm ướt và mưa nhiều, đặc biệt ở miền Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong khi miền Nam bệnh xuất hiện trong mùa mưa.

THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN

Theo Kader (2002), người tiêu dùng có xu hướng chấp nhận cao hơn đối với xoài không có dấu hiệu tổn thương bên ngoài như vết bầm, vết thương mủ, hay vết sâu Các thuộc tính chất lượng bên ngoài như khối lượng đồng đều, màu sắc và hình dạng cũng rất quan trọng Thời điểm thu hoạch là yếu tố quyết định đến chất lượng xoài trên thị trường Xoài thường được thu hoạch khi còn xanh để thuận tiện cho việc vận chuyển, nhưng việc thu hoạch sớm và bảo quản lạnh có thể làm giảm chất lượng (Yahia, 2006) Cần tránh thu hoạch trong thời gian mưa hoặc nắng gắt để ngăn ngừa thối hỏng và mất nước Ngoài ra, trong quá trình thu hoạch và vận chuyển, xoài cần được xử lý nhẹ nhàng để tránh bị dập nát.

Sau khi thu hoạch, quả xoài cần được sơ chế để giảm thiểu hư hỏng do nấm bệnh, đặc biệt là bệnh thối cuống quả và thán thư Biện pháp phổ biến bao gồm rửa sạch và ngâm quả trong nước nóng 50-55°C trong 5-10 phút hoặc ngâm trong dung dịch hóa chất Prochloraz ở 55°C trong 2 phút Ngoài ra, chiếu xạ cũng được áp dụng để tiêu diệt nấm và vi sinh vật, đồng thời làm chậm quá trình chín của xoài Phương pháp sunfit hóa bằng khí SO2 hoặc H2SO3 ở nồng độ thấp (0,05%-0,2%) cũng có thể được sử dụng, nhưng cần thiết bị và đảm bảo an toàn cho người thực hiện.

Bảo quản xoài nhằm mục đích kéo dài thời gian sử dụng và dễ dàng vận chuyển Theo Johnson & Hopman (2009), có một số biện pháp phổ biến như:

Sử dụng sáp nóng chảy tự nhiên như sáp ong hoặc dầu cọ, cùng với vật liệu tổng hợp như polyethylene, giúp bao phủ quả, giảm thiểu mất nước và hạn chế sự trao đổi O2/CO2.

Việc đóng gói quả xoài là rất quan trọng, sử dụng giấy bọc và xốp bọc để giảm thiểu cọ sát và giập nát trong quá trình vận chuyển Đồng thời, cần thực hiện kiểm tra và sắp xếp hàng hóa một cách hợp lý bằng các kệ hàng phù hợp.

Hệ thống làm mát bằng không khí cưỡng bức giúp loại bỏ nhiệt một cách hiệu quả và nhanh chóng, ưu tiên đưa quả cây đến nhiệt độ bảo quản lý tưởng.

Xoài xanh bảo quản trong nhiệt độ 5,5-11 o C trong độ ẩm từ 85-90% có thể bảo quản được trong 4-8 tuần (Trần Thế Tục, Ngô Hồng Bình, 2004)

+ Kiểm soát và thay đổi tỉ lệ không khí: là biện pháp giảm O2 hoặc tăng nồng độ

CO2 trong kho bảo quản có khả năng giảm sản xuất ethylene, từ đó giúp duy trì hương vị tốt hơn, làm chậm quá trình héo và ngăn ngừa mất màu da xanh (Yahia, 2006) Theo McLauchlan & Barker, việc kiểm soát nồng độ CO2 là rất quan trọng trong việc bảo quản thực phẩm.

(1994) đã đề xuất 4% CO2 và 2-4% O2 cho việc lưu trữ xoài Kensington Pride ở 13°C, đã Lalel và Singh (2006) đề xuất nồng độ không khí bảo quản xoài Delta R2E2 ở mức 3% O2 và 6% CO2

1 Nêu những thuận lợi và khó khăn của các vùng trồng xoài chính ở Việt Nam?

2 Các giống xoài chính và kỹ thuật nhân giống xoài?

3 Đặc điểm thực vật của cây xoài?

4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây xoài?

5 Kỹ thuật cắt tỉa và bón phân cho cây xoài?

6 Kỹ thuật xử lý ra hoa để rải vụ và thu hoạch đối với cây xoài?

7 Nêu những sâu hại chính trên cây xoài và biện pháp phòng trừ?

8 Nêu những loại bệnh hại chính trên cây xoài và biện pháp phòng trừ?

Ngày đăng: 25/07/2023, 22:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w