1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình đại cương về cây ăn quả

161 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Đại Cương Về Cây Ăn Quả
Tác giả TS. Trần Đình Hà, TS. Trần Trung Kiên
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Quốc Hùng, TS. Nguyễn Văn Tâm, TS. Hà Duy Trường, TS. Đào Thị Thanh Huyền, TS. Nguyễn Quang Tin
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông Lâm
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 3,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm giúp sinh viên đại học ngành Khoa học cây trồng, ngành Nông nghiệp công nghệ cao và các ngành liên quan khác có được những thông tin về sản xuất cây ăn quả trên thế giới và trong nư

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TS Trần Đình Hà, TS Trần Trung Kiên (Đồng chủ biên)

PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng, TS Nguyễn Văn Tâm, TS Hà Duy Trường,

TS Đào Thị Thanh Huyền, TS Nguyễn Quang Tin

GIÁO TRÌNH

ĐẠI CƯƠNG VỀ CÂY ĂN QUẢ

NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI - 2023

Trang 3

Viết tắt Đầy đủ/Tiếng Việt

ABA Axit abxixic/chất ức chế sinh trưởng

ATTP An toàn thực phẩm

BVTV Bảo vệ thực vật

CU Cooling Unit/Độ lạnh

DHBTB Duyên hải Bắc Trung bộ

DHNTB Duyên hải Nam Trung bộ

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSH Đồng bằng sông Hồng

FAO Food and Agriculture Organization/Tổ chức Nông Lương thế giới

EU Khối Liên hiệp Châu Âu

GA Gibberellic axit/Chất kích thích sinh trưởng

LAI Leaf Area Index/Chỉ số diện tích lá

PGS Participatory Guarantee System/Hệ thống đảm bảo có sự tham gia

PE Polyetylen/Nilon

PTNT Phát triển nông thôn

TDMNBB Trung du miền núi Bắc bộ

TBKT Tiến bộ kỹ thuật

USD United States dollar/Đô la Mỹ

VCCI Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Trang 4

MỤC LỤC

1.1.2 Vai trò nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu 11

1.2.3 Thời vụ thu hoạch một số cây ăn quả chính ở nước ta 19

1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả trên thế giới 20

1.4.7 Công nghệ tăng tỷ lệ đậu quả và tạo quả không hạt 35

Trang 5

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN

2.4.2 Quy luật hình thành cành và hiện tượng ra quả cách năm 44

3.2.1 Điều tra xác định điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 59

Trang 6

3.3 THIẾT KẾ VƯỜN CÂY ĂN QUẢ 64

4.1 THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG VƯỜN ƯƠM NHÂN GIỐNG CÂY ĂN QUẢ 75

5.3.4 Trình tự, thủ tục và yêu cầu chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ 124

Trang 7

5.4 MÃ VÙNG SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ 124

5.4.2 Các tiêu chí để cấp mã số cho vùng trồng cây ăn quả 125

5.4.4 Đăng ký mã số vùng trồng cây ăn quả và truy xuất nguồn gốc 127

6.1.1 Đặc điểm của thí nghiệm nghiên cứu cây ăn quả 128

6.1.4 Sai số thí nghiệm và biện pháp hạn chế sai số trong thí nghiệm cây

6.2.4 Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu quan trọng của cây ăn quả 139

6.4 VIẾT BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THÍ NGHIỆM CÂY ĂN QUẢ 1516.4.1 Yêu cầu khi trình bày kết quả nghiên cứu của thí nghiệm 1516.4.2 Các bước cần tiến hành trong trình bày báo cáo kết quả của thí nghiệm 152

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam có điều kiện sinh thái đa dạng giữa các vùng miền, nguồn tài nguyên thực vật phong phú có nhiều lợi thế cho phát triển sản xuất cây trồng nói chung và sản xuất cây ăn quả nói riêng Ở nước ta cây ăn quả được trồng từ lâu đời và sản xuất cây ăn quả ngày càng phát triển mạnh, thể hiện vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đóng góp cho nền kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, được xác định là nhóm sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia phục vụ cho thị trường trong và ngoài nước Trong bối cảnh mới đã và đang đặt ra yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có tri thức chuyên môn và kỹ năng tay nghề trồng cây ăn quả trình độ ngày càng cao hơn Nhằm giúp sinh viên đại học ngành Khoa học cây trồng, ngành Nông nghiệp công nghệ cao và các ngành liên quan khác có được những thông tin về sản xuất cây ăn quả trên thế giới và trong nước, kiến thức cơ sở lý luận để xây dựng quy trình sản xuất cây

ăn quả, phương pháp nghiên cứu cây quả Cuốn sách “Giáo trình đại cương về cây

ăn quả” được biên soạn làm tài liệu giảng dạy và học tập phục vụ cho chương trình đào tạo đại học theo hướng ứng dụng

Để biên soạn cuốn giáo trình này, tập thể tác giả đã nghiên cứu lựa chọn các nội dung phù hợp, tham khảo tài liệu của nhiều tác giả trong và ngoài nước, trao đổi và nhận được nhiều sự góp ý kiến của các chuyên gia, chủ trang trại sản xuất

Nội dung và tập thể tác giả biên soạn giáo trình bao gồm:

Chương 1: TS Trần Đình Hà và TS Nguyễn Quang Tin

Chương 2: TS Trần Đình Hà và TS Hà Duy Trường

Chương 3: TS Trần Trung Kiên và TS Đào Thị Thanh Huyền

Chương 4: TS Trần Trung Kiên và TS Trần Đình Hà

Chương 5: TS Nguyễn Văn Tâm và PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng

Chương 6: PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng và TS Trần Đình Hà

Tập thể tác giả xin trân trọng cảm ơn các tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ, có ý kiến phản hồi để xây dựng cuốn giáo trình Trong quá trình biên soạn giáo trình, không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để bổ sung, hoàn thiện giáo trình ngày càng tốt hơn.

TẬP THỂ TÁC GIẢ BIÊN SOẠN

Trang 10

Chương 1 VAI TRÒ VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT

CÂY ĂN QUẢ

1.1 VAI TRÒ CỦA CÂY ĂN QUẢ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

1.1.1 Vai trò dinh dưỡng và y học

Quả có chứa nguồn dinh dưỡng quý giá đối với con người, quả tươi không chỉ cung cấp cho cơ thể các chất có nhiều năng lượng như đường, chất béo, chất đạm mà còn cung cấp một phần lớn các loại vitamin, khoáng chất, chất xơ, men tiêu hóa rất thiết yếu cho

sự phát triển của cơ thể

Các loại quả đều có vai trò cung cấp nguồn năng lượng cho đời sống con người từ

20 - 160 Kcal/100 g quả tươi, trong đó, các loại quả như chuối, bơ, sầu riêng có năng lượng cao hơn các loại quả khác, đây là nguồn năng lượng có nguồn gốc thực vật nên có lợi cho sức khỏe con người

Quả tươi cung cấp nguồn vitamin rất phong phú như vitamin nhóm A, vitamin nhóm

B (B1, B2, B6 ) , đặc biệt là vitamin C có ở hầu hết các loại quả và trong đó, có hàm lượng cao ở quả: ổi, bưởi, cam, chanh, kiwi

Chất xơ trong quả là thành phần có vai trò quan trọng xúc tiến quá trình tiêu hóa, trao đổi chất, giảm sự tồn tại của các chất độc trong cơ thể Các loại quả chứa hàm lượng chất

xơ cao như ổi, cam, chanh, thanh long, lê

Khoáng chất là một trong những chất dinh dưỡng thiết yếu để duy trì hoạt động cũng như bảo vệ sức khỏe của con người Trong quả đều có hầu hết các chất khoáng thiết yếu như canxi, magie, sắt, natri, kali, kẽm cần thiết cho cơ thể Những chất khoáng này có hàm lượng cao nhất trong quả chuối, bơ, dâu tây, đào, kiwi

Trong quả còn chứa một số loại men cần cho tiêu hóa cho con người Men bromelin

ở trong quả dứa có lợi cho sức khỏe như giảm táo bón và tiêu chảy Men papain có trong quả đu đủ giúp các thức ăn giàu protein tiêu hóa dễ dàng hơn, tăng cường bài tiết Omega

- 3 chứa rất nhiều lipase có trong quả bơ giúp tiêu hóa chất béo Một số sản phẩm cây ăn quả dùng trong bài thuốc đông y cổ truyền chữa bệnh rất có giá trị như trần bì (vỏ quýt), thị đế (tai quả hồng), long nhãn, ô mai, táo tàu Trẻ em bị ho thường được dùng chanh hay quất hấp mật ong để điều trị; ăn các loại quả có múi thường xuyên có thể giảm béo Tinh dầu chiết xuất từ hoa quả có múi dùng để chế nước hoa, hoặc kết hợp tinh dầu khác

Trang 11

Bảng 1.1 Thành phần một số chất dinh dưỡng trong 100 g phần ăn được

của một số quả tươi

Loại quả lượng Năng

(Kcal)

Gluxit (g) Protein (g) Lipit (g) Chất xơ (g) Vitamin A (mg) Vitamin B 1 (mg) Vitamin C (mg)

Chuối 89 - 97 18,0 - 33,4 1,1 - 1,8 0,2 - 0,3 0,2 - 0,8 0,01 - 0,06 0,03 - 0,04 6,0 - 17,5 Dứa 38 - 50 8,8 - 11,0 0,4 - 0,8 0,1 - 0,2 0,4 - 1,4 0,02 - 0,03 0,06 - 0,08 26 - 47,8 Xoài 60 - 75 14,1 - 15,0 0,6 - 0,8 0,3 - 0,4 1,6 - 1,8 0,03 - 0,05 0,03 - 0,05 30 - 36,4 Thanh long 40 - 60 8,7 - 11,0 1,1 - 1,3 0,2 - 0,3 1,8 - 3,0 0,03 - 0,05 0,04 - 0,05 10 - 20,5

Đu đủ 36 - 68 7,6 - 10,8 0,5 - 1,0 0,1 - 0,3 0,6 - 1,7 0,02 - 0,03 0,02 - 0,03 54 - 61

Bơ 101 - 160 2,3 - 8,5 1,9 - 3,0 9,4 - 14,6 0,5 - 6,7 - 0,1 - 0,2 10 - 17 Sầu riêng 132 - 147 26,9 - 34,1 2,5 - 2,8 1,6 - 5,3 1,4 - 3,8 0,01 - 0,02 0,2 - 0,3 20 - 37 Cam 38 - 49 8,3 - 11,9 0,8 - 1,0 0,1 - 0,3 1,4 - 2,5 0,06 - 0,07 0,07 - 0,09 40 - 48,5 Bưởi 30 - 38 7,3 - 9,6 0,2 - 0,7 0,05 - 0,14 0,7 - 1,0 0,30 - 0,35 0,03 - 0,04 61 - 95 Chanh 24 - 30 4,5 - 10,5 0,9 - 1,1 0,2 - 0,3 1,3 - 2,8 - 0,03 - 0,04 53 - 77 Vải 45 - 66 9,6 - 16,5 0,7 - 0,8 0,3 - 0,4 1,1 - 1,3 - 0,01 - 0,02 36 - 72 Nhãn 48 - 60 10,9 - 15,1 0,9 - 1,3 0,1 - 0,15 1,0 - 1,1 - 0,02 - 0,03 58 - 84

Ổi 38 - 68 6,8 - 14,3 0,6 - 2,5 0,1 - 0,5 2,8 - 5,5 0,06 - 0,12 0,05 - 0,07 62 - 200

Na 66 - 101 14,2 - 25 1,6 - 2,1 0,3 - 1,0 1,0 - 2,4 0,01 - 0,02 - 20 - 36

Lê 45 - 58 10,2 - 13,8 0,4 - 0,7 0,12 - 0,2 0,6 - 3,1 - 0,01 - 0,02 4 - 10 Mận 20 - 56 3,9 - 8,0 0,5 - 0,7 0,1 - 0,3 0,7 - 1,9 0,01 - 0,02 0,06 - 0,2 3 - 37 Hồng 38 - 70 8,6 - 18,6 0,6 - 0,9 0,15 - 0,2 2,5 - 3,6 0,01 - 0,02 0,01 - 0,1 7,5 - 16 Kiwi 56 - 61 11,7 - 15,0 1,0 - 1,2 0,5 - 0,6 2,0 - 3,0 - 0,02 - 0,03 90 - 93 (Nguồn: Viện Dinh Dưỡng, 2007 và tổng hợp)

Quả tươi vừa giàu dinh dưỡng vừa tạo cảm giác thoả mãn được khẩu vị đa dạng của con người Ngọt thanh mát như quả thanh long, táo lê; ngọt thơm dịu như cam quýt; ngọt đậm, ngọt sắc như nhãn, như mít; thơm thoang thoảng như cam Bố Hạ, thơm ngan ngát như dứa và hương vị đặc biệt của quả sầu riêng Nam bộ, kích thích sự thèm muốn của nhiều người

Trang 12

Tăng khẩu phần quả tươi trong bữa ăn hàng ngày là một trong chỉ tiêu phấn đấu của nhiều nước kinh tế phát triển Để con người hoạt động bình thường, theo các công trình nghiên cứu y học hàng năm phải cung cấp khoảng 100 kg quả các loại/người/năm Đó là những chỉ tiêu cơ bản để định kế hoạch phát triển cây ăn quả ở mỗi nước Ở Việt Nam, theo điều tra của Bộ Y tế, khẩu phần quả tươi ngày tăng cao từ 60,9 g quả chín/người/ngày (2010) lên 140,7g quả chín/người/ngày (2020), tuy nhiên, vẫn đang ở mức còn thấp so với nhiều nước trên thế giới (hiện mới chỉ đạt khoảng 50 kg/người/năm)

1.1.2 Vai trò nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu

Ngoài sử dụng quả ăn tươi, quả và sản phẩm của quả là nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thực phẩm: bánh kẹo, mứt quả, ép dầu quả (dầu ô liu, dầu chuối, tinh dầu bưởi ), đồ hộp, nước quả, bia, rượu và chế biến một số thuốc đông y

Hiện nay, sản xuất cây ăn quả ở nước ta đang thực hiện tái cơ cấu lại theo mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với chế biến và tiêu thụ Do vậy, việc phát triển vùng trồng cây ăn quả với quy mô tập trung hàng hóa đồng thời xây dựng và hình thành nhà máy, khu công nghiệp chế biến sản phẩm cây ăn quả Tính đến năm 2019, Việt Nam có 156 nhà máy chế biến rau quả các loại, tuy nhiên, so với sản lượng sản xuất, nhu cầu chế biến rau quả rất lớn Để giải quyết vấn đề này, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số: 417/QĐ - TT, ngày 22/3/2021 phê duyệt “Đề án phát triển ngành chế biến rau quả giai đoạn 2021 - 2030” với mục tiêu đến năm 2030 có trên 70% cơ sở chế biến, bảo quản rau quả xuất khẩu đạt trình độ và năng lực công nghệ sản xuất tiên tiến; Công suất chế biến rau quả đạt 2 triệu tấn sản phẩm/năm, gấp gần 2 lần so với năm 2020; Thu hút đầu tư mới

50 - 60 cơ sở chế biến rau quả có quy mô lớn và vừa; Xây dựng, phát triển thành công một số tập đoàn, doanh nghiệp chế biến rau quả hiện đại ngang tầm khu vực và thế giới với khả năng cạnh tranh quốc tế cao

Đến năm 2019, tổng thương mại từ quả trên thế giới đạt 311,0 tỷ USD, trong đó, quả tươi đạt 243,3 tỷ USD (chiếm 78,2%), quả chế biến đạt 67,7 tỷ USD (21,8%) Trong giai đoạn 2010 - 2019, tăng trưởng nhập khẩu quả thế giới đạt trung bình 5,2%/năm Đến năm

2019, tổng nhập khẩu quả thế giới đạt 160,7 tỷ USD, trong đó, quả tươi đạt 126,8 tỷ USD (chiếm 78,9% tổng nhập khẩu quả thế giới), còn quả chế biến đạt 33,9 tỷ USD (21,1%) Các loại quả là mặt hàng xuất khẩu độc đáo và quan trọng trong xuất khẩu nông sản ở nhiều nước trên thế giới, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia: Trung Quốc nổi tiếng xuất khẩu táo, quả có múi, lê, dứa ; Ấn Độ, Thái Lan xuất khẩu xoài, chuối ; Italia, Tây Ban Nha, Brazil, Ai Cập xuất khẩu cam chanh Israel, Ai Cập, Moroco xuất khẩu cam, quýt; Ecuado, Phillippines, Honduras, Costarica xuất khẩu chuối; Kenia, Nigeria xuất khẩu nhiều dứa, New Zealand xuất khẩu kiwi Theo Rabobank (2021), các quốc gia đạt giá trị xuất khẩu quả tươi lớn nhất năm 2016, bao gồm: Tây Ban Nha đạt cao nhất trên

Trang 13

8 tỷ USD, tiếp theo là Mỹ đạt trên 6 tỷ USD, Hà Lan và Chile đạt 5 tỷ USD, Trung Quốc

và Mexico đạt gần 5 tỷ USD, Italia đạt trên 3 tỷ USD

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, thị trường xuất khẩu quả tươi và sản phẩm

từ quả của nước ta đã dần dần phục hồi và tăng trưởng mạnh trở lại, trở thành một trong những sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu chủ lực quốc gia Các loại quả xuất khẩu chủ yếu là: chuối, dứa, vải, nhãn, xoài, dừa, thanh long, bơ, măng cụt Thị trường xuất khẩu là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, châu Âu, Thái Lan Việt Nam là nước xuất khẩu rau quả đứng thứ 3 trong số 5 nhà xuất khẩu chính khu vực ASEAN, chỉ sau Phillipines và Thái Lan Theo số liệu của Bộ NN&PTNT (2022a), kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam liên tục tăng trưởng cao: từ 151,5 triệu USD năm 2005 lên 451 triệu USD năm 2010; năm 2019 đạt 3,747 tỷ USD (tăng bình quân 26%/năm giai đoạn

2010 - 2019), trong đó, ước tính các giá trị kim ngạch cây ăn quả chiếm khoảng 84,78% giá trị xuất khẩu rau quả

1.1.3 Vai trò kinh tế trong sản xuất cây ăn quả

Ở nhiều nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam, cây ăn quả ngày càng trở thành cây trồng có hiệu quả kinh tế cao và quả là một trong sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia Phát triển cây ăn quả đã góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ, tăng thêm giá trị sử dụng đất, tăng thêm thu nhập cho các hộ nông dân Hiệu quả kinh tế của cây ăn quả khá cao, trung bình gấp 3 - 4 lần so với sản xuất cây lương thực và nếu chú trọng đầu

tư thâm canh tăng năng suất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thì cây ăn quả trở thành cây làm giàu cho người nông dân

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, trồng cây xoài, cây có múi và cây nhãn được tổ chức sản xuất thành vùng tập trung quy mô lớn, lợi nhuận của một số loại cây ăn quả chủ lực cao gấp 3 - 8 lần so với trồng lúa 3 vụ/năm, hàng năm thu lãi thuần đạt từ hàng trăm triệu đồng/ha Tại khu vực Miền núi phía Bắc, sản xuất cây ăn quả tập trung hàng hóa như vải Bắc Giang và Hải Dương, bưởi tại Phú Thọ, Yên Bái, cam tại Hòa Bình, Yên Bái, Tuyên Quang và Hà Giang, lê, mận ở Lào Cai, Sơn La đã phát huy lợi thế cạnh tranh và mang lại hiệu quả kinh tế cao, vượt trội so với cây trồng khác với lãi thuần thời kỳ kinh doanh trung bình từ 200 - 300 triệu đồng/năm

Để khai thác tăng hiệu quả kinh tế, rất nhiều mô hình sản xuất cây ăn quả kết hợp cây trồng khác như cây dược liệu dưới tán, mô hình “Vườn - Ao - Chuồng” phát triển rất có hiệu quả tại các nông hộ và các cơ sở sản xuất, trong đó, đáng lưu ý là việc chăn nuôi gia cầm thả trong vườn cây ăn quả đã mang lại nhiều lợi ích, đồng thời vườn cây ăn quả tạo môi trường thuận lợi cho chăn nuôi Đặc biệt, trồng cây ăn quả kết hợp nuôi ong lấy mật

là một điển hình khai thác rất có hiệu quả, mang lại lợi ích lớn trong mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp hiện nay, vừa cung cấp nguồn phấn và mật ong, vừa tăng cường thụ phấn, tăng đậu quả, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

Trang 14

1.1.4 Vai trò về cảnh quan và môi trường sinh thái

Cây ăn quả phần lớn là loài thân gỗ, sống lâu năm và thường xanh nên tạo ra bóng mát, hạn chế được xói mòn rửa trôi đất, đồng thời làm đẹp cảnh quan, không khí trong lành để cho con người nghỉ ngơi thư giãn Hiện nay, nhiều vùng trồng cây ăn quả đã trở thành khu du lịch sinh thái thu hút người đến thăm quan: Miệt vườn cây có múi, xoài, sầu riêng ở Tiền Giang, Hậu Giang, vùng thanh long và nho Bình Thuận, vùng cây ăn quả Sơn La, vùng vải Lục Ngạn, vùng mận Bắc Hà Ở các khu dân cư, đô thị, hai bên đường

đi và khuôn viên nhà, khu công viên trồng cây ăn quả còn tạo cây bóng mát

Với sự đa dạng, đặc sắc về hình thái, hương thơm của hoa và quả, cây ăn quả được trồng làm cây cảnh rất đẹp và quý như cây quất, quýt, đào, mận, cây thanh long , cây họ cam quýt được ghép có nhiều loại quả khác nhau tạo nên những tác phẩm cây cảnh có giá trị sử dụng và kinh tế cao

1.1.5 Vai trò về văn hóa - xã hội

Các nước trên thế giới và Việt Nam đều có phong tục thờ cúng thần linh và tổ tiên Trong đời sống tâm linh văn hóa, các loại quả được coi là đồ dâng cúng thiêng liêng và tiện lợi của mỗi địa phương, tổ chức tôn giáo và gia đình Các dịp lễ, tết, các loại quả được xem là biểu tượng để đón năm mới, cầu may mắn thịnh vượng Cây ăn quả luôn gắn

bó và đi sâu vào đời sống con người, nhiều cây ăn quả được tôn vinh là các cây di sản, nhiều vùng đã lập đền thờ có liên quan đến những người đầu tiên đưa cây ăn quả trồng tại địa phương như đền thờ cây vải tổ ở thôn Thúy Lâm, xã Thanh Sơn, tỉnh Hải Dương Trong những năm gần đây, nhiều địa phương trong cả nước tổ chức lễ hội quả cây gắn với du lịch như Lễ hội Vải thiều Thanh Hà (Hải Dương), Lễ hội Vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), Lễ hội Na Lạng Sơn, Lễ hội Cây ăn quả có múi tỉnh Hòa Bình, Lễ hội Bưởi Đại Minh (Yên Bái), Lễ hội Quả cây Nam bộ, Lễ hội Sầu Riêng (tỉnh Đắk Lắk) Rải rác khắp vùng miền đều có địa danh mang tên các loại quả: Làng Cam (Hà Nội), Sông Bưởi (Thanh Hóa), Làng Chanh (Nghệ An), Dốc Xoài (Gia Lai), Dốc Chuối (Bảo Lộc)

1.2 PHÂN LOẠI VÀ PHÂN BỐ CÂY ĂN QUẢ

1.2.1 Phân loại các cây ăn quả chính ở Việt Nam

Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và sử dụng, cây ăn quả có thể phân chia theo các dạng sau:

1.2.1.1 Phân loại theo hệ thống thực vật học

Cây ăn quả nước ta thuộc 2 lớp thực vật: 1 lá mầm (lớp đơn tử diệp) và 2 lá mầm (lớp

Trang 15

Bảng 1.2 Phân loại theo thực vật học các loài cây ăn quả chính ở Việt Nam

TT TÊN KHOA HỌC THỰC VẬT HỌC CÁC LOẠI TRỒNG PHỔ BIẾN

A MONOCOTYLEDONE LỚP ĐƠN TỬ DIỆP Ở VIỆT NAM

1 Anacardiaceae Họ đào lộn hột Xoài, quéo, muỗm, sấu, cóc, đào lộn hột, thanh trà, dâu da xoan

8 Guttifera = Clusiaceae Họ măng cụt Măng cụt, bứa, cây dọc, tai chua

11 Moraceae Họ dâu tằm Dâu, chay, mít, sung,

12 Myricaceae Họ thanh mai Dâu rượu, thanh mai

17 Rocaceae Họ hoa hồng Dâu tây, lê, táo tây, sơn tra (táo Mèo), mận, mơ, đào

18 Rutaceae Họ cam quýt Cam, chanh, bưởi, quýt, quất

20 Sapotaceae Họ chay Hồng xiêm, vú sữa, trứng gà

(Dẫn theo Trần Như Ý và cs., 2000)

Như vậy, trong tập đoàn cây ăn quả chính ở nước ta đa dạng và phong phú ở 21 họ, với gần 100 loài thực vật khác nhau Trong mỗi loài lại có các giống tùy theo địa danh

Trang 16

hoặc địa điểm, đặc tính của quả mà mang tên khác nhau Ví dụ, trong loài Citrus sinensis

(Cam chanh) có các giống: cam Xã Đoài, cam Thanh Hà, cam Sông Con, cam Vân Du

Hoặc trong loài Prunus salicina (mận) có các giống: mận Cơm, mận Hậu, mận Tam Hoa,

mận Tả Van, mận Máu

1.2.1.2 Phân loại theo yêu cầu sinh thái

Căn cứ về yêu cầu điều kiện khí hậu, đất đai và các yếu tố sinh thái khác, các loại cây

ăn quả có thể được chia thành 3 nhóm:

- Nhóm cây ăn quả nhiệt đới: Bao gồm các loài cây ăn quả có nguồn gốc và vùng trồng thích hợp trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, được xác định từ đường vĩ tuyến 23,5 độ Bắc đến 23,5 độ Nam của xích đạo Vùng này có nhiệt độ nóng, ấm ổn định quanh năm, không có mùa lạnh Nhiệt độ trung bình thường trên 25oC, không thấp hơn 18oC Lượng mưa đạt cao hàng nghìn mm/năm, nguồn ánh sáng lớn, thời gian chiếu sáng trong ngày ít biến đổi và đạt khoảng 12 h/ngày Việt Nam nằm trọn vẹn trong vùng nhiệt đới Bắc bán cầu (vĩ độ Bắc: 8°34′ - 23°23′ và kinh độ Đông: 102°109′ - 109°24′) Do vậy, rất thích hợp cho nhóm CAQ nhiệt đới với đặc điểm: bộ lá thường xanh không rụng theo mùa và đa dạng chủng loại, các CAQ nhóm này có vai trò quan trọng, tiềm năng sản xuất phát triển xuất lớn tại Việt Nam như: xoài, chuối, đu đủ, dứa, thanh long, sầu riêng

- Nhóm cây ăn quả á nhiệt đới (cận nhiệt đới): Bao gồm các loài cây ăn quả có nguồn gốc và vùng trồng thích hợp trong điều kiện khí hậu cận nhiệt đới ôn hòa, được xác định ranh giới vĩ tuyến 23,5 độ đến khoảng 40 độ Bắc và Nam của xích đạo So với vùng nhiệt đới, vùng này có mùa Đông lạnh hơn và ẩm độ không khí thấp hơn, có sự thay đổi lớn

độ dài chiếu sáng trong ngày Giới hạn nhiệt độ trung bình tháng khu vực này khoảng

10oC Mặc dù nước ta không nằm trong vùng địa lý cận nhiệt đới, nhưng do địa hình biến động mạnh, nhiều vùng có độ cao nên tạo ra tiểu khí hậu á nhiệt đới và phù hợp với các loại CAQ quan trọng, có tiềm năng phát triển lớn, đại diện cho nhóm này có: bưởi, cam, chanh, nhãn, vải

- Nhóm cây ăn quả ôn đới: Bao gồm các loài cây ăn quả có nguồn gốc và vùng trồng thích hợp trong điều kiện khí hậu mát và có mùa Đông lạnh, được xác định là những khu vực còn lại của quả đất, ngoài vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nêu trên Ở nước ta, có một số vùng có độ cao trên 800 m so với mặt biển, có kiểu khí hậu này và phù hợp với các CAQ

ôn đới Nhóm cây này thường yêu cầu phải tiếp xúc với nhiệt độ lạnh trong một thời gian nhất định để phân hóa và ra hoa vào mùa Đông Một số cây ăn quả điển hình như: đào,

lê, mận, mơ, hồng là những cây trồng đặc thù ở vùng cao, khu vực miền núi phía Bắc

1.2.1.3 Phân loại theo đặc điểm thân cành

Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc và sinh trưởng thân cành, các cây ăn quả ở Việt Nam

Trang 17

- Nhóm cây ăn quả thân gỗ: Hầu hết các loài cây ăn quả được trồng phổ biến hiện nay thuộc nhóm này, cây có thân cành cứng như cây họ cam quýt, nhãn, vải, xoài, sầu riêng, mít, lê Vòng đời các loài cây ăn quả thuộc nhóm thân gỗ thường kéo dài hàng chục năm.

- Nhóm cây ăn quả ngoài thân gỗ: Đây là nhóm cây ăn quả có ít loài được trồng so với nhóm thân gỗ, nhóm này có thân cành mềm, ít hoặc không hóa gỗ như cây đu đủ, dứa, dâu tây hoặc thân leo như chanh leo, nho, thân củ như chuối Vòng đời các loài cây ăn quả thuộc nhóm thân thảo thường tồn tại ngắn hơn so với thân gỗ với thời gian vài năm đến dưới 10 năm

1.2.1.4 Phân loại theo mục đích sử dụng

Ngoài ra, dựa vào mục đích sử dụng, cây ăn quả ở Việt Nam có thể phân thành 5 nhóm chính sau:

- Nhóm cây ăn quả cho đường bột: Nhóm cây cho sản phẩm quả hoặc hạt giàu hàm lượng tinh bột, đường như chuối, hạt dẻ, hạt mít, xa kê

- Nhóm cây ăn quả cho chất béo: Nhóm cây cho sản phẩm quả hoặc hạt giàu hàm lượng lipit như cọ, bơ, óc chó

- Nhóm cung cấp nguồn vitamin: Nhóm cây cho sản phẩm quả giàu hàm lượng vitamin như cam quýt, chanh, bưởi, xoài, bơ, đu đủ, ổi, sơ ri,

- Nhóm cây ăn quả được sử dụng làm dược liệu, hương vị: Nhóm cây cho sản phẩm làm nguyên liệu chiết xuất thực phẩm chức năng, thuốc chữa bệnh, hương liệu như quả quất hồng bì, vỏ cam quýt

- Nhóm cây làm bóng mát và cây cảnh: Nhóm những cây thân gỗ lớn hoặc nhỡ, thân cành phát triển lá xanh quanh năm, bộ rễ khỏe như xoài, dừa, mít, sấu, nhãn, vải, hồng xiêm, vú sữa

Tuy nhiên, sự phân loại này là tương đối vì cùng 1 loại quả nhưng có nhiều chức năng

sử dụng khác nhau như cây ăn quả có múi vừa cung cấp đường, vitamin, vừa dùng để chiết xuất tinh dầu, làm thuốc và cảnh quan

1.2.2 Phân bố cây ăn quả chính ở Việt Nam

Nước ta có điều kiện sinh thái đa dạng với chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa cùng với

sự phân hóa địa hình, tạo nên các tiểu vùng sinh thái có điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại cây ăn quả khác nhau Theo Bộ NN&PTNT (2022b), đến năm 2019 các loại cây ăn quả chính được phân bố tại các vùng như sau:

1.2.2.1 Nhóm cây ăn quả chủ lực phục vụ nội tiêu và xuất khẩu

1) Cây chuối: Là cây ăn quả phân bố rộng ở tất cả các vùng, miền với quy mô sản xuất lớn nhất, với diện tích 150 nghìn ha và sản lượng đạt 2.194,2 nghìn tấn Tại miền

Trang 18

Bắc, diện tích chuối đạt 68,8 nghìn ha, sản lượng 1.154,7 nghìn tấn, chiếm 45,9% diện tích và 52,6% sản lượng chuối cả nước Tại miền Nam, diện tích chuối khoảng 81,2 nghìn

ha, sản lượng 1.039,5 nghìn tấn, chiếm 54,1% diện tích và 47,4% sản lượng chuối cả nước Vùng ĐBSCL có diện tích chuối lớn nhất cả nước đạt 39,9 nghìn ha (chiếm 28,3% diện tích chuối cả nước), sản lượng đạt 498,0 nghìn tấn (chiếm 23,7% sản lượng cả nước) 2) Cây vải: Có diện tích có 52,3 nghìn ha, sản lượng 304,1 nghìn tấn, tập trung chính tại các tỉnh miền Bắc, với 99% diện tích và sản lượng Các tỉnh sản xuất chủ yếu gồm: Bắc Giang (28,12 nghìn ha), Hải Dương (9,8 nghìn ha) chiếm hơn 65,2% diện tích vải cả nước

3) Cây nhãn: Có diện tích đạt 80,5 nghìn ha, sản lượng khoảng 552,0 nghìn tấn Miền Bắc có khoảng 45,4 nghìn ha, sản lượng 202,2 nghìn tấn, chiếm 56,3% diện tích và 38,3% sản lượng nhãn cả nước Các tỉnh phía Nam, diện tích nhãn 35,2 nghìn ha, sản lượng hơn 325,3 nghìn tấn, tương ứng chiếm 43,7% và 61,7% so cả nước; tập trung chủ yếu ở ĐBSCL với 71,1% diện tích nhãn toàn miền

4) Cây cam: Có diện tích 98 nghìn ha, sản lượng đạt 1.017,2 nghìn tấn Miền Bắc có 54,3 nghìn ha, sản lượng 487,9 nghìn ha, chiếm 55,4% diện tích và 48% sản lượng cam

cả nước Diện tích ở phía Nam đạt 43,7 nghìn ha, sản lượng trên 529,3 nghìn tấn, tương ứng chiếm 44,6% diện tích và 52% sản lượng so với cả nước; tập trung chủ yếu ở ĐBSCL (chiếm 84,6% so toàn miền)

5) Cây bưởi: Có diện tích 97,8 nghìn ha và sản lượng hơn 818,9 nghìn tấn Miền Bắc có hơn 49 nghìn ha, sản lượng 406,6 nghìn tấn, chiếm 50,1% diện tích và 49,6% sản lượng bưởi cả nước Tại miền Nam, diện tích có khoảng 48,8 nghìn ha, sản lượng 412,3 nghìn tấn, chiếm gần 50% diện tích và 50,4% sản lượng bưởi cả nước; tập trung chủ yếu

ở vùng ĐBSCL, chiếm 63,3% so diện tích bưởi toàn miền

6) Cây dứa: Có diện tích gần 46,7 nghìn ha, sản lượng gần 708 nghìn tấn Diện tích dứa miền Bắc ước đạt 13,9 nghìn ha, sản lượng 225,8 nghìn tấn, chiếm 29,8% diện tích và 31,9% sản lượng dứa cả nước Miền Nam là vùng trọng điểm sản xuất dứa, diện tích dứa toàn miền 32,8 nghìn ha, sản lượng 482 nghìn tấn, chiếm 70,2% về diện tích và 68,1% về sản lượng so với cả nước; tập trung ở ĐBSCL, chiếm 83,6% về diện tích so toàn miền.7) Cây xoài: Có diện tích 104,8 nghìn ha, sản lượng đạt 839 nghìn tấn Tại phía Bắc, diện tích xoài đạt 23,8 nghìn ha, sản lượng 83,9 nghìn tấn, chiếm 22,7% diện tích và 10% sản lượng xoài so với cả nước Phía Nam là vùng trồng xoài trọng điểm cả nước với diện tích 81,1 nghìn ha, sản lượng hơn 755 nghìn tấn, chiếm 77,3% diện tích và 90% sản lượng xoài cả nước; tập trung ở ĐBSCL, chiếm 57,6% về diện tích so với toàn miền

8) Cây thanh long: Có diện tích đạt 60,6 nghìn ha, sản lượng hơn 1,25 triệu tấn Hiện nay, có 60/63 tỉnh, thành ở nước ta có trồng thanh long Tuy nhiên, vùng thanh long tập trung chủ yếu tại 3 tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền Giang, với tổng diện tích 51,56 nghìn

Trang 19

ha, sản lượng 1.159,24 nghìn tấn (chiếm 85,1% về diện tích và 92,7% sản lượng thanh long cả nước)

9) Cây chôm chôm: Có diện tích đạt 23,8 nghìn ha, sản lượng đạt 352,4 nghìn tấn năm, tập trung chủ yếu vùng Đông Nam bộ (chiếm 52,9%) và vùng ĐBSCL chiếm 39,4% diện tích chôm chôm cả nước

10) Cây sầu riêng: Có diện tích 59,9 nghìn ha, sản lượng hơn 564,5 nghìn tấn Diện tích trồng sầu riêng tại các vùng Đông Nam bộ và ĐBSCL, Tây Nguyên tăng nhanh, nhất

là tại vùng Tây Nguyên

11) Cây mít: Có diện tích 43,0 nghìn ha, sản lượng đạt 402,0 nghìn tấn, tập trung ở vùng ĐBSCL là 19,5 nghìn ha, sản lượng đạt 188,0 nghìn tấn, chiếm 45,3% về diện tích

và 46,8% về sản lượng mít cả nước

12) Cây chanh leo: Có diện tích khoảng 10,5 nghìn ha, sản lượng 222 nghìn tấn; chanh leo hiện có mặt ở 36/63 tỉnh, thành phố trong cả nước Trong đó, 5 tỉnh sản xuất lớn nhất, gồm Gia Lai, Sơn La, Đắk Nông, Lâm Đồng và Đắk Lắk với diện tích trên 1.000 ha/tỉnh, chiếm hơn 86,3% diện tích chanh leo cả nước

13) Cây na/mãng cầu: Có diện tích 24,3 nghìn ha, sản lượng 190,45 nghìn tấn Diện tích na tập trung chủ yếu vùng TDMNPB là 7,7 nghìn ha (chiếm 31,6% diện tích na toàn quốc), sản lượng đạt 56,87 nghìn tấn (chiếm 29,8% sản lượng na toàn quốc)

14) Cây bơ: Có diện tích 20,6 nghìn ha, sản lượng đạt 110,5 nghìn tấn, vùng Tây Nguyên chiếm 82,1% diện tích bơ toàn quốc, gồm trồng thuần và trồng xen trong vùng cây công nghiệp cà phê, hồ tiêu

1.2.2.2 Nhóm cây ăn quả có lợi thế đặc thù, địa phương

1) Cây măng cụt: Có diện tích 7,6 nghìn ha, sản lượng 38,9 nghìn tấn Vùng sản xuất măng cụt trọng điểm là Bến Tre (1,09 nghìn ha), Vĩnh Long (1,1 nghìn ha), Bình Dương (1,0 nghìn ha), Đồng Nai (1,13 nghìn ha)

2) Cây vú sữa: Có diện tích 5,28 nghìn ha, sản lượng 49,5 nghìn tấn Vú sữa tập trung chủ yếu ở ĐBSCL với diện tích là 4,4 nghìn ha (chiếm 83,9%), sản lượng 42,0 nghìn tấn (chiếm 85,0% sản lượng cả nước)

3) Cây mận: Là cây ăn quả của vùng miền núi phía Bắc nước ta, hiện có 14,4 nghìn ha, sản lượng 75,5 nghìn tấn Tập trung chủ yếu ở Sơn La (9,7 nghìn ha), Hà Giang (1,0 nghìn ha), tiếp đến là Lào Cai, Lạng Sơn và Bắc Kạn

4) Cây mơ: Diện tích mơ có 1,3 nghìn ha, sản lượng 4,3 nghìn tấn, tập trung tại Bắc Kạn với diện tích 0,465 nghìn ha và Sơn La 0,609 nghìn ha

5) Cây lê: Có diện tích 2,8 nghìn, sản lượng 7,27 nghìn tấn, tập trung tại tỉnh Hà Giang 1,38 nghìn ha, sản lượng 4,96 nghìn tấn Tiếp đến các tỉnh trồng lê là Lào Cai, Bắc Kạn, Cao Bằng

Trang 20

6) Cây hồng: Có diện tích 7,6 nghìn ha, sản lượng 44,4 nghìn tấn Diện tích hồng tập trung chủ yếu ở vùng TDMNPB diện tích là 5,1 nghìn ha (chiếm 67,3% diện tích hồng toàn quốc), sản lượng đạt 17,2 nghìn tấn (chiếm 38,7% sản lượng hồng toàn quốc) 7) Cây nho: Có diện tích hơn 1,3 nghìn ha, sản lượng khoảng 26,1 nghìn tấn, tập trung chủ yếu tại tỉnh Ninh Thuận, chiếm 88,4% diện tích nho cả nước.

1.2.3 Thời vụ thu hoạch một số cây ăn quả chính ở nước ta

Nước ta có đa dạng loại hình sinh thái, do vậy, cây ăn quả phong phú về chủng loại, thời

vụ thu hoạch quả tự nhiên của các loại cây ăn quả chính được phân bố các tháng trong năm

Bảng 1.3 Thời vụ thu hoạch các cây ăn quả chính trong năm ở nước ta

Trang 21

1.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ QUẢ

1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả trên thế giới

1.3.1.1 Tình hình sản xuất cây ăn quả trên thế giới

Trên thế giới những năm gần đây, sản xuất cây ăn quả ngày càng phát triển về diện tích, năng suất và sản lượng (Bảng 1.4)

Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng cây ăn quả trên thế giới giai đoạn

từ năm 2000 - 2020 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) (triệu tấn) Sản lượng

(Nguồn: Statista, 2022a; 2022b)

Trong 20 năm gần đây, diện tích cây ăn quả của trên toàn thế giới tăng đều từ năm

2000 đến năm 2015 Năm 2000, tổng diện tích là 53,41 triệu ha, tăng lên 58,11 triệu ha vào năm 2005, tiếp tục tăng ổn định đạt 60,55 triệu ha vào năm 2010 và 64,47 triệu ha vào năm 2015, sau đó chững lại và tăng nhẹ đạt 66,02 triệu ha năm 2020 Như vậy, sau 20 năm, diện tích cây ăn quả thế giới đã tăng 12,61 triệu ha

Năng suất cây ăn quả thế giới ngày càng được nâng lên ổn định trong giai đoạn 2000

- 2020, đạt giá trị tương ứng 10,70 tấn/ha/năm (2000), 11,66 tấn/ha/năm (2005), 12,14 tấn/ha/năm (2010), 12,98 tấn/ha/năm (2015) và 13,63 tấn/ha/năm (2020) Như vậy, sau 20 năm, năng suất cây ăn quả thế giới đã tăng 2,93 tấn/ha/năm

Diện tích và năng suất tăng đã làm cho sản lượng quả thế giới tăng mạnh đều trong giai đoạn từ năm 2000 - 2020, thể hiện qua việc sản lượng đạt 572,03 triệu tấn/năm (2000), 677,37 triệu tấn/năm (2005), 736,37 triệu tấn/năm (2010), 836,85 triệu tấn/năm (2015) và 899,56 triệu tấn/năm (2020) Như vậy, sau 20 năm, năng suất cây ăn quả thế giới đã tăng 327,23 triệu tấn/năm

Theo tổ chức Nông Lương thế giới (FAO, 2022), trong năm 2020, khu vực châu Á Thái Bình Dương sản xuất cây ăn quả và thương mại lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 50% thị phần, Tây Âu đứng thứ 2 với tỷ lệ 13% Quốc gia sản xuất cây ăn quả đứng đầu thế giới là Trung Quốc với trên 252,40 triệu tấn/năm, chiếm 28,10% tổng sản lượng quả thế giới Ấn Độ và Brazil là hai quốc gia sản xuất quả đứng thứ 2 và thứ 3 với sản lượng tương ứng là 106,97 triệu tấn và 39,76 triệu tấn, chiếm tỷ lệ 11,89% và 4,42% sản lượng quả của thế giới (Bảng 1.5)

Trang 22

Bảng 1.5 Mười quốc gia sản xuất cây ăn quả quy mô lớn nhất, năm 2020 STT Quốc gia Sản lượng (triệu tấn) Tỷ lệ so với thế giới (%)

1.3.1.2 Tình hình tiêu thụ quả trên thế giới

Quả tươi là một loại thực phẩm thiết yếu không thể thiếu trong việc phục vụ nhu cầu

Trang 23

sống con người Định mức tiêu thụ quả phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, phong tục và văn hóa của con người sinh sống tại những khu vực khác nhau trên thế giới, kết quả thống

kê mức độ tiêu thụ quả/đầu người/năm của các châu lục và các loại quả phổ biến được sử dụng năm 2018 thể hiện ở bảng 1.7

Bảng 1.7 Mức tiêu thụ quả của các châu lục năm 2018 Châu lục, khu vực Mức tiêu thụ quả/người/ năm (kg) Loại quả tiêu thụ phổ biến

(Nguồn: Goodseedventures, 2022)

Tính theo sản lượng tiêu thụ quả ở mỗi quốc gia, thống kê của trang thư viện Helgilibrary (2022) xác định 15 nước (trong đó, có Việt Nam) đứng đầu thế giới về tổng sản lượng quả nội tiêu trong giai đoạn 2013 - 2017 (Bảng 1.8)

Bảng 1.8 Tiêu thụ quả ở một số nước trên thế giới giai đoạn 2013 - 2017

Trang 24

Trong 15 quốc gia tiêu thụ quả lớn nhất trên thế giới năm 2017, Trung Quốc là nước đứng thứ nhất, tiêu thụ gần 50 triệu tấn/năm, chiếm trên 25,0% tổng sản lượng quả thế giới, tiếp đến

là Ấn Độ tiêu thụ trên 40 triệu tấn/năm Indonesia là quốc gia có sản lượng tiêu thụ quả đứng thứ 3 với trên 7 triệu tấn/năm Như vậy, 3 quốc gia đứng đầu thế giới gồm Trung Quốc, Ấn Độ

và Indonesia chiếm trên 50% tổng sản lượng tiêu thụ quả của thế giới

Tính theo mức tiêu thụ quả/đầu người, năm 2019 quốc gia đạt chỉ số này cao nhất là Cộng hòa Dominican với 166 kg quả/người/năm, tiếp theo là Cộng hòa Malawi (gần 125

kg quả/người/năm) và Quốc đảo Papua New Guinea (120 kg/người/năm) Ngược lại một

số nước châu Phi như Liberia, Uganda và Zimbabwe, người dân rất ít sử dụng quả với số lượng tương ứng là 0,608 kg, 1,08 kg và 1,23 kg/người/năm (Helgilibrary, 2022b).Theo Bộ Công thương: Tiêu thụ quả trên thế giới hiện nay tăng gấp 1,3 lần so với thập

kỷ trước Do mức tiêu thụ rau quả ở các nước phát triển tăng cao (188 - 200 kg/người/năm), do vậy, nhu cầu của rau quả thị tường thế giới trong những tiếp theo sẽ tăng 6 - 8%/năm Nhìn chung, triển vọng phát triển cây ăn quả trên toàn cầu qua các nghiên cứu là rất khả quan Đây chính là cơ sở xây dựng chiến lược phát triển cây ăn quả ở nước ta

1.3.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ quả ở Việt Nam

1.3.2.1 Tình hình sản xuất

Cây ăn quả đã được trồng ở nước ta từ hàng ngàn năm với các truyền thuyết: Sự tích cây Khế, dưa hấu An Tiêm Trong những năm gần đây, sản xuất cây ăn quả Việt Nam đã

và đang phát triển theo hướng hàng hóa, có tốc độ phát triển nhanh về quy mô Giai đoạn

từ 2005 - 2020 tổng diện tích cây ăn quả cả nước tăng bình quân 3,2%/năm (tương ứng 24,5 nghìn ha/năm) Đến hết năm 2020, diện tích cây ăn quả cả nước đạt 1.135,3 nghìn ha, ĐBSCL là vùng sản xuất cây ăn quả chủ lực lớn nhất cả nước (chiếm 33,3%), tiếp đến là TDMNBB (23,3%), ĐNB (11,2%), ĐBSH (8,9%), Tây Nguyên (8,5%), DHNTB (8,2%), DHBTB (6,6%) (Bảng 1.9)

Bảng 1.9 Diện tích cây ăn quả theo vùng sinh thái ở nước ta 2005 - 2020

Trang 25

Nhờ tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi giống cây ăn quả, sản xuất chuyên canh và trình độ canh tác của các nhà vườn được nâng cao, nên năng suất và sản lượng cây ăn quả tăng trưởng mạnh (5 - 6%/năm) Năng suất bình quân của tất cả các loại cây ăn quả hiện đạt hơn 10 tấn/ha, tăng 1,9 tấn/ha so năm 2005 (8,1 tấn/ha) và tăng 0,8 tấn/ha so năm 2010 (9,2 tấn/ha) Tổng sản lượng quả năm 2019 đạt 11,35 triệu tấn, tăng 5,85 triệu tấn so năm 2005, tăng 4,55 triệu tấn so năm 2010.

Bảng 1.10 Sản xuất cây ăn quả chủ lực của Việt Nam

Đơn vị: DT: 1.000 ha; NS: tấn/ha; SL: 1.000 tấn

(Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2022a)

Trong những năm qua, nước ta đã có chính sách phát triển cây ăn quả theo định hướng phát triển tập trung vào một số cây ăn quả có lợi thế gọi là nhóm cây ăn quả chủ lực Tính riêng 14 loại cây ăn quả chủ lực năm 2020 có diện tích gần 910 nghìn ha, chiếm hơn 80% tổng diện tích cây ăn quả của cả nước Trong đó, chuối có diện tích lớn nhất 147,8 nghìn

ha (chiếm 13,0%); xoài 111,6 nghìn ha (chiếm 9,8%); bưởi 98,0 nghìn ha (chiếm 8,6 %); cam 96,5 nghìn ha (chiếm 8,5%); nhãn 80,2 nghìn ha (chiếm 7,1%); sầu riêng 71,4 nghìn

ha (chiếm 6,3%); thanh long 65,2 nghìn ha (chiếm 5,7%); mít 58,5 ha, chiếm 5,2%; vải 52,3 nghìn ha (chiếm 4,6%); dứa 46,0 nghìn ha (chiếm 4,1%) (Bảng 1.10)

Trang 26

Trên phạm vi toàn quốc đã hình thành các vùng sản xuất cây ăn quả hàng hóa tập trung quy mô lớn như: thanh long (Bình Thuận, Long An, Tiền Giang); vải (Bắc Giang, Hải Dương); nhãn (Sơn La, Hưng Yên, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp); cam (Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hậu Giang, Vĩnh Long); bưởi (Hà Nội, Phú Thọ, Hòa Bình, Bắc Giang, Đồng Nai, Vĩnh Long, Bến Tre); xoài (Sơn La, Khánh Hòa, Đồng Tháp, Đồng Nai, Tiền Giang); chôm chôm (Đồng Nai, Bến Tre, Tiền Giang); sầu riêng (Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Tiền Giang); chuối (Hưng Yên, Phú Thọ, Quảng Trị, Đồng Nai, Sóc Trăng); nho (Ninh Thuận); na/mãng cầu (Lạng Sơn, Quảng Ninh, Tây Ninh, Tiền Giang); mận (Lào Cai, Sơn La); mơ (Bắc Kạn, Sơn La)

Tình hình sản xuất cây ăn quả nước ta trong những năm gần đây có bước phát triển mới, nhiều công nghệ và TBKT được nghiên cứu, áp dụng thành công Hàng nghìn giống cây ăn quả đầu dòng đã được bình tuyển công nhận chuyển giao cho sản xuất ở nhiều địa phương: vải chín sớm; nhãn chín muộn, nhãn Ido, nhãn lai; cam không hạt, cam chín sớm, cam chín muộn; bưởi đỏ; thanh long (ruột đỏ, ruột tím hồng); hồng không hạt; sầu riêng (Ri6, Dona); xoài vỏ dày; chôm chôm Dona; chanh leo Đài Nông 1; bơ Booth7; chuối (Tiêu hồng, GL3 - 1); dứa MD2; táo 05; hồng MC1; cam Sành không hạt LĐ6, lê VH6 Các kỹ thuật mới trong canh tác được áp dụng trên quy mô hàng nghìn ha như: quy trình nhân và sản xuất chuối tiêu từ cấy mô; ghép cải tạo thay thế giống và trẻ hóa những vườn cây già cỗi; tỉa cành tạo tán; tưới nước tiết kiệm; thụ phấn bổ sung (bưởi, na); các quy trình công nghệ tác động ở giai đoạn cận và sau thu hoạch cho giống nhãn chín muộn, xử

lý hóa chất khắc phục hiện tượng ra quả cách năm trên cây nhãn; sử dụng đèn tiết kiệm điện (Compact, Led) xử lý ra hoa thanh long; kỹ thuật xử lý ra hoa xoài, nhãn trái vụ; cải thiện tăng đậu quả và chống rụng quả non chôm chôm; xử lý ra hoa vải, phòng trừ sâu đục cuống quả vải

Cùng với sự quan tâm của các địa phương trong ứng dụng cơ cấu giống, kỹ thuật canh tác rải vụ đã và đang hình thành rõ nét trong sản xuất cây ăn quả, góp phần thuận lợi cho tiêu thụ quả tươi, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, giá bán ổn định và cao hơn, hiệu quả sản xuất cao hơn chính vụ 1,5 - 2 lần, từng bước tăng khả năng cạnh tranh của ngành hàng cây ăn quả Ở phía Bắc, tại nhiều vùng tập trung, thời vụ thu hoạch cam, bưởi hiện kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2, 3 năm sau; vải từ tháng 5 tới nửa đầu tháng 7; nhãn từ giữa tháng 7 tới cuối tháng 9, đầu tháng 10 Ở phía Nam, sản xuất rải vụ thu hoạch quả cây đang trở thành phương thức sản xuất quan trọng Đến hết năm 2018, tổng diện tích 5 cây ăn quả rải vụ là 122,3 nghìn ha, diện tích rải vụ thu hoạch 59,3 nghìn ha chiếm 56% tổng diện tích thu hoạch, tổng sản lượng rải vụ 1.086,0 tấn, chiếm 56,5% tổng sản lượng Trong đó, diện tích rải vụ cây thanh long chiếm 65,4% diện tích, 64,6% sản lượng; xoài 46,4% diện tích, 34,1% sản lượng; sầu riêng 57% diện tích, 57% sản lượng; chôm chôm 75,8% diện tích, 63,1% sản lượng; nhãn 43,4% diện tích, 43,4% sản lượng

Trang 27

Nhiều địa phương triển khai sản xuất và chứng nhận VietGAP, các tỉnh phía Bắc chứng nhận tập trung vào các loại quả chủ yếu: vải, cam, nhãn, xoài, na, ổi Các tỉnh phía Nam, diện tích chứng nhận tập trung vào thanh long, nhãn, xoài, cam, bưởi, góp phần thúc đẩy tiêu thụ nội địa và xuất khẩu quả cây trong thời gian qua Tuy nhiên, diện tích chứng nhận VietGAP hiện còn hạn chế, mới đạt gần 2% tổng diện tích cây ăn quả cả nước Trên địa bàn cả nước hiện nay có 24 chứng nhận chỉ dẫn địa lý, trong đó, quả có múi: 10 chỉ dẫn (Cam sành Hà Giang, cam Cao Phong, quýt Bắc Kạn, bưởi Đoan Hùng, bưởi Luận Văn, bưởi Phúc Trạch, cam Vinh, bưởi Tân Triều, bưởi Năm Roi Bình Minh, bưởi Da xanh Bến Tre) Các loại quả khác gồm: thanh long Bình Thuận, vải thiều Thanh

Hà, vải thiều Lục Ngạn, xoài cát Hòa Lộc, xoài tròn Yên Châu, chuối Ngự Đại Hoàng, hồng không hạt Bắc Kạn, hồng không hạt Bảo Lâm, hồng không hạt Quản Bạ, mãng cầu (na) Bà Đen, nho Ninh Thuận, vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, chôm chôm Long Khánh, nhãn lồng Hưng Yên, gắn với Chương trình OCOP từng bước nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất quả cây

1.3.2.2 Tình hình chế biến quả

Cả nước năm 2019 có khoảng 150 cơ sở chế biến rau, quả quy mô công nghiệp (phía Nam có 71, phía Bắc có 79 cơ sở chế biến), với tổng công suất chế biến 1,2 triệu tấn sản phẩm/năm Các nhà máy có công nghệ hiện đại chiếm 50% số cơ sở chế biến rau quả Ngoài ra còn hàng nghìn cơ sở chế biến quy mô nhỏ Tỷ lệ rau quả được chế biến chiếm khoảng 5% còn khiêm tốn so với Philippines là 28%, Thái Lan 35%, Mỹ 65%

Đối với các cơ sở chế biến nông hộ, cả nước hiện có trên 10.000 hộ tham gia vào lĩnh vực sản xuất, chế biến rau quả đạt khoảng 40% sản lượng rau quả chế biến, trong đó, 4.000 - 5.000 tấn long nhãn, 3.500 tấn chuối sấy

Nhìn chung, lĩnh vực chế biến rau quả chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất chế biến chỉ

sử dụng 8 - 10% sản lượng rau quả sản xuất ra hằng năm, khâu chế biến quả rất cần được đầu tư phát triển trong thời gian tới để hỗ trợ sản xuất bền vững hơn

1.3.2.3 Tình hình tiêu thụ quả ở Việt Nam

Sản phẩm rau quả tươi của nước ta ngoài nội tiêu phục vụ cho đời sống của người dân, còn xuất khẩu mang lại nguồn tài chính lớn Trong khu vực ASEAN, Việt Nam là nước xuất khẩu rau quả đứng thứ 3 trong số 5 nhà xuất khẩu chính, chỉ sau Phillipines

và Thái Lan Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu rau quả nhanh và mạnh, bình quân là 32,2% năm trong giai đoạn 2011 - 2016, năm 2017 tăng mạnh lên 42,4% so

2016 Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 3,81 tỷ USD, tăng 8,8% so năm 2017, trong đó, riêng kim ngạch xuất khẩu quả đạt 3,13 tỷ USD, tăng 4,8% so với năm 2017 và chiếm 82,05% tổng xuất khẩu rau quả

Trang 28

Sản phẩm rau quả của Việt Nam năm 2018 đã được xuất đi trên 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó, các thị trường xuất khẩu chính là: Trung Quốc với các sản phẩm chủ yếu: thanh long, xoài, nhãn, vải, chôm chôm, chuối, dưa hấu, mít, măng cụt (chiếm 81,03% kim ngạch xuất khẩu quả) Hoa Kỳ với các sản phẩm chủ yếu: thanh long, nhãn, vải, chôm chôm, vú sữa, xoài (chiếm 3,94% kim ngạch xuất khẩu quả) Hàn Quốc với các sản phẩm chủ yếu: thanh long (trắng), xoài (chiếm 3,21% kim ngạch xuất khẩu) Nhật Bản với các sản phẩm chủ yếu: thanh long (đỏ, trắng), xoài, vải (chiếm 2,99% kim ngạch xuất khẩu) Hà Lan với các sản phẩm chủ yếu: chôm chôm, chanh, chanh leo, măng cụt, dừa, thanh long, (chiếm 1,65% kim ngạch xuất khẩu quả) Thái Lan với các sản phẩm chủ yếu: thanh long, sầu riêng, chuối, dừa (chiếm 1,35%) Châu Âu xuất khẩu hầu hết các loại sản phẩm quả (chiếm 1,18% kim ngạch xuất khẩu quả) Đài Loan với các sản phẩm chủ yếu: thanh long (ruột trắng và đỏ), sầu riêng, dừa (chiếm 1,15% kim ngạch xuất khẩu) Úc với các sản phẩm chủ yếu: thanh long, xoài, vải, nhãn (chiếm 1,14% kim ngạch xuất khẩu) (Bộ NN&PTNT, 2022a).

1.3.3 Định hướng phát triển cây ăn quả ở Việt Nam

1.3.3.1 Những thuận lợi và khó khăn

a) Những thuận lợi

- Điều kiện sinh thái đa dạng, phát triển được nhiều loại cây ăn quả khác nhau Việt Nam có vùng ĐBSCL là vùng sản xuất cây ăn quả trọng điểm có điều kiện rải vụ thu hoạch quanh năm

- Bộ giống cây ăn quả, đặc biệt là các giống cây ăn quả chủ lực được chọn tạo, bảo tồn và khai thác rất đa dạng, có giá trị trong xuất khẩu và tiêu thụ nội địa Việt Nam hiện

có 298 giống thuộc 25 nhóm cây ăn quả chủ yếu được trồng trong sản xuất và khoảng 134 giống cây ăn quả bản địa thuộc 15 nhóm cây ăn quả, rất đa dạng về chủng loại thuận lợi cho tiêu thụ

- Các loại cây ăn quả chủ lực đã hình thành vùng sản xuất tập trung, chuyên canh Diện tích cây ăn quả chủ lực có thể mở rộng, trên cơ sở rà soát chuyển đổi cơ cấu giống, chuyển đổi diện tích vườn tạp, diện tích cây trồng khác có hiệu quả thấp, xen canh trong vườn cây công nghiệp,

- Chính sách hỗ trợ phát triển CAQ của Trung ương và các địa phương, nhất là chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi đang được triển khai, đặc biệt là rau quả đang được xác định là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam

- Hiện nay, có 8 nhà máy chế biến rau quả lớn đã đi vào hoạt động, là cơ sở để ngành rau quả Việt Nam nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản xuất khẩu

Trang 29

- Tiềm năng tiêu dùng nội địa và xuất khẩu quả tươi còn rất lớn Thị trường xuất khẩu quả những năm qua cũng như triển vọng trong những năm tới có chiều hướng gia tăng với giá cả tương đối ổn định.

b) Những khó khăn, hạn chế

- Quy mô sản xuất cây ăn quả nhỏ lẻ, phân tán, khó khăn cho đầu tư cơ sở hạ tầng, tổ chức liên kết sản xuất, kiểm soát chất lượng và tiêu thụ sản phẩm Một số vùng sản xuất cây ăn quả miền Bắc có độ dốc cao, địa hình chia cắt mạnh, mùa mưa tập trung lớn trong thời gian ngắn thường gây xói mòn, rửa trôi, lũ quét; mùa khô lượng bốc hơi lớn gây khô hạn nặng; suất đầu tư cho sản xuất cây ăn quả lớn, trong khi trình độ dân trí, khả năng đầu

tư, thâm canh của nông dân trong vùng còn nhiều hạn chế

- Công tác bảo quản chế biến và thị trường tiêu thụ, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch còn cao; công nghệ bảo quản, xử lý sau thu hoạch chậm được đầu tư cải thiện, thiếu công nghệ

và nhà máy chế biến sâu ảnh hưởng đến giá trị gia tăng trong ngành hàng cây ăn quả Hệ thống phân phối, tiêu thụ sản phẩm chưa chuyên nghiệp, không có nhiều doanh nghiệp lớn tham gia sản xuất, xuất khẩu Chuỗi giá trị quả cây còn nhiều khâu trung gian, chủ yếu là các thương lái, chưa hợp lý về phân chia lợi nhuận, giá thành nhiều loại quả cây còn cao, làm giảm sức cạnh tranh

- Việc phổ biến và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật một cách thống nhất, đồng bộ và rộng rãi còn hạn chế nhất là các vùng miền núi khó khăn Tổ chức liên kết sản xuất còn yếu và chưa hiệu quả Đa số doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư phát triển vùng nguyên liệu mà chủ yếu thu gom qua thương lái, nên khó khăn trong quản lý truy xuất nguồn gốc, chất lượng không đồng đều, rủi ro cao

- Tác động của biến đổi khí hậu (mưa bão, lũ lụt, khô hạn, ), tình hình sâu bệnh hại (nhất là các bệnh nguy hiểm: vàng lá Greening trên cam quýt, Panama trên chuối, vàng

lá thối rễ trên các cây ăn quả thân gỗ ) gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến diện tích, năng suất, sản lượng và chất lượng quả Năng suất bình quân nhiều loại cây ăn quả còn thấp so với năng suất bình quân chung và so với năng suất tiềm năng của giống

- Cơ sở hạ tầng các vùng sản xuất cây ăn quả tập trung chưa được quan tâm đầu tư, chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển của sản xuất như hệ thống giao thông nội vùng, phương tiện vận chuyển chuyên dùng, kho bảo quản

- Hệ thống thông tin thị trường còn hạn chế, chưa có nghiên cứu toàn diện về cung cầu ngành hàng cây ăn quả, đặc biệt là những thị trường lớn Thị trường tiêu thụ quả chủ yếu dựa vào Trung Quốc, thiếu tính ổn định Cạnh tranh thương mại giữa các nước sản xuất, rào cản kỹ thuật từ các nước nhập khẩu, đặc biệt là các yêu cầu về kiểm dịch, ATTP

Trang 30

1.3.3.2 Mục tiêu phát triển cây ăn quả đến năm 2030

Với quan điểm phát triển cây ăn quả trên cơ sở phát huy tiềm năng, lợi thế các vùng sinh thái; nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm; bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định số 4085/QĐ - BNN - TT phê duyệt Đề án Phát triển cây ăn quả chủ lực đến năm

2025 và 2030

a) Mục tiêu chung

Phát triển bền vững cây ăn quả chủ lực; góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, tăng giá trị xuất khẩu, thúc đẩy cơ cấu lại ngành nông nghiệp ổn định đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh khu vực nông thôn

b) Mục tiêu đến năm 2025

Diện tích cây ăn quả cả nước 1,2 triệu ha, sản lượng trên 14 triệu tấn; trong đó, diện tích cây ăn quả chủ lực 960 nghìn ha, sản lượng 11 - 12 triệu tấn Tại các vùng sản xuất cây ăn quả tập trung: Tỷ lệ giá trị sản phẩm được sản xuất dưới các hình thức hợp tác, liên kết đạt 30 - 35%; tỷ lệ diện tích trồng mới, trồng tái canh sử dụng giống chất lượng cao

70 - 80%; tỷ lệ diện tích cây ăn quả áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP và tương đương ) 30%; diện tích được tưới tiên tiến, tiết kiệm nước 20 - 30% Kim ngạch xuất khẩu quả đạt trên 5 tỷ USD

30 - 40% Kim ngạch xuất khẩu quả đạt khoảng 6,5 tỷ USD

1.3.3.3 Định hướng phát triển cây ăn quả chủ lực đến năm 2030

Theo Bộ NN&PTNT (2022b), Việt Nam đã định hướng phát triển 14 loại cây ăn quả chủ lực đến năm 2030 như sau:

(1) Cây thanh long: Ổn định diện tích thanh long khoảng 60 - 65 nghìn ha, sản lượng 1,3 - 1,5 triệu tấn Các vùng sản xuất thanh long tập trung gồm: Bình Thuận, Long An, Tiền Giang

(2) Cây xoài: Định hướng phát triển khoảng 130 - 140 nghìn ha, sản lượng 1,1 - 1,5

Trang 31

vùng Nam Trung bộ (Bình Thuận, Khánh Hòa), vùng Đông Nam bộ (Đồng Nai, Tây Ninh), vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang).

(3) Cây chuối: Định hướng phát triển khoảng 165 - 175 nghìn ha, sản lượng 2,6 - 3,0 triệu tấn Các tỉnh sản xuất chuối trọng điểm: Vùng Đồng bằng sông Hồng (TP Hà Nội, Hưng Yên), vùng Trung du miền núi phía Bắc (Sơn La, Phú Thọ, Lai Châu), vùng Bắc Trung bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị), vùng Nam Trung bộ (Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hòa), vùng Đông Nam bộ (Đồng Nai), Tây Nguyên (Gia Lai) và vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Trà Vinh, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau)

(4) Cây vải: Ổn định diện tích khoảng 55 nghìn ha, sản lượng 330 - 350 nghìn tấn;

bố trí cơ cấu giống vải chín sớm khoảng 30% diện tích, chính vụ khoảng 70% diện tích Các tỉnh sản xuất vải trọng điểm: Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh

(5) Cây nhãn: Ổn định diện tích khoảng 85 nghìn ha, sản lượng 700 - 750 nghìn tấn Các tỉnh sản xuất nhãn trọng điểm: Vùng Trung du miền núi phía Bắc (Sơn La, Bắc Giang, Tuyên Quang, Lào Cai), vùng Đồng bằng sông Hồng (Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội), vùng Đông Nam bộ (Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu), vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Sóc Trăng)

(6) Cây cam: Ổn định diện tích khoảng 100 nghìn ha, sản lượng 1,2 - 1,3 triệu tấn Các tỉnh sản xuất cam trọng điểm: Vùng Trung du miền núi phía Bắc (Hòa Bình, Tuyên Quang, Hà Giang), vùng Đồng bằng sông Hồng (TP Hà Nội, Hưng Yên), vùng Bắc Trung

bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh), vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng)

(7) Cây bưởi: Phát triển khoảng 110 - 120 nghìn ha, sản lượng 1,2 - 1,6 triệu tấn Các tỉnh sản xuất bưởi trọng điểm: Vùng trung du miền núi phía Bắc (Hòa Bình, Phú Thọ, Bắc Giang), vùng Đồng bằng sông Hồng (Hà Nội), vùng Bắc Trung bộ (Hà Tĩnh), vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Hậu Giang)

(8) Cây dứa: Phát triển khoảng 55 - 60 nghìn ha, sản lượng 800 - 950 nghìn tấn Các tỉnh sản xuất dứa trọng điểm gồm: Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Nam, Tiền Giang, Kiên Giang (9) Cây chôm chôm: Ổn định diện tích khoảng 25 nghìn ha, sản lượng 400 nghìn tấn Các tỉnh sản xuất chôm chôm trọng điểm: Đồng Nai, Bến Tre, Vĩnh Long

(10) Cây sầu riêng: Định hướng phát triển khoảng 65 - 75 nghìn ha, sản lượng 830 -

950 nghìn tấn Các tỉnh trọng điểm sản xuất sầu riêng: Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre), Đông Nam bộ (Đồng Nai, Bình Phước), Tây Nguyên (Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông)

Trang 32

(11) Cây mít: Ổn định diện tích khoảng 50 nghìn ha, sản lượng 600 - 700 nghìn tấn Các tỉnh sản xuất mít trọng điểm: Tây Nguyên (Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai), Đông Nam bộ (Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh), Đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Vĩnh Long, Long An, Đồng Tháp, Hậu Giang).

(12) Cây chanh leo: Định hướng phát triển khoảng 12 - 15 nghìn ha, sản lượng 250

- 300 nghìn tấn Các tỉnh sản xuất chanh leo trọng điểm: Lâm Đồng, Đắk Nông, Gia Lai, Đắk Lắk, Quảng Trị, Sơn La, Nghệ An

(13) Cây bơ: Ổn định diện tích khoảng 25 - 30 nghìn ha, sản lượng 250 - 300 nghìn tấn Các tỉnh sản xuất bơ trọng điểm: Tây Nguyên (Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đắk Nông), Trung du miền núi phía Bắc (Sơn La), Bắc Trung bộ (Quảng Trị, Nghệ An)

(14) Cây na/mảng cầu: Ổn định diện tích khoảng 25 - 30 nghìn ha, sản lượng 220

- 250 nghìn tấn Các tỉnh sản xuất trọng điểm: Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Tây Ninh, Tiền Giang

1.4 CÁC CÔNG NGHỆ ÁP DỤNG TRONG SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ

1.4.1 Công nghệ chọn tạo giống

b) Chọn giống từ đột biến tự nhiên

Đột biến trong tự nhiên khá phong phú ở thực vật nói chung và cây ăn quả nói riêng Trong tự nhiên, dưới tác động của các tác nhân vật lý, hóa học như các loại tia mặt trời đặc biệt là tia tử ngoại, nhiều hóa chất tồn tại như các loại kháng sinh, các hợp chất thải công nghiệp có thể tác động gây đột biến ở cây ăn quả Thông qua quan sát có thể phát hiện các

cá thể đột biến với các tính trạng tốt: tính chống chịu nóng, lạnh, hạn, úng, tính chín sớm, chín muộn, tính không hạt hoặc hạt lép Các cá thế này được thu thập, bồi dưỡng và theo dõi các tính trạng, nếu ốn định thì có thể trở thành vật liệu khởi đầu trong công tác nhân giống Trong thực tế, đã có nhiều giống cây ăn quả quý được chọn ra từ phương pháp này: cam Navel, xoài tím, mít, na, vải, nhãn hạt lép

Trang 33

1.4.1.2 Công nghệ tạo giống

a) Tạo giống bằng xử lý đột biến

Là công nghệ sử dụng các tác nhân vật lý, hóa học để tạo ra các cá thể có các tính trạng đột biến, từ đó chọn lọc, bồi dưỡng và tạo thành giống mới Phương pháp này cho kết quả nhanh, có hệ số đột biến lớn tạo nên sự đa dạng, phong phú của quần thể

bị đột biến Không quá phức tạp, có thể tiến hành trong điều kiện thiết bị bình thường (trừ những trường hợp xử lý bằng tia phóng xạ), tuy nhiên, việc xử lý đột biến thường không định hướng được các tính trạng mong muốn Trong thực tế đã tạo ra các giống cây ăn quả quý: giống cam Sành không hạt LĐ6 do xử lý bằng bằng tia gamma tạo ra giống có tỷ lệ hạt phấn bất dục cao, số hạt/quả thấp < 2 hạt/quả và ổn định tính trạng này ở nhiều vùng sinh thái

b) Tạo giống đa bội thể

Thông qua các phép lai, tạo được thể đa bội, sức sống về sinh trưởng, tính chống chịu

và năng suất của cây khá cao, nhiều loại đa bội có chất lượng tốt, nhất là có thể dễ dàng cho quả không hạt qua dạng đa bội hoàn chỉnh lẻ 2n = 3X, 5X, 7X, 9X, Thể đa bội khá phù hợp với cây trồng nhằm mục đích thu quả, thân lá và cây nhân bằng phương pháp vô tính (Đào Thanh vân và Ngô Xuân Bình, 2003) Phương pháp tiến hành đơn giản không đòi hỏi thiết bị phức tạp và chi phí tốn kém Trong thực tế, đã tạo ra giống nho Hạ Đen tam bội thể hiện nay được trồng rộng rãi ở Bắc Giang và các tỉnh lân cận cùng các giống xoài, mận có năng suất cao, chất lượng tốt

1.4.2 Công nghệ nhân giống

1.4.2.1 Công nghệ vi ghép đỉnh sinh trưởng trong sản xuất cây có múi sạch bệnh

Công nghệ sản xuất giống cây có múi sạch bệnh sử dụng kỹ thuật vi ghép mô phân sinh của đỉnh sinh trưởng để làm sạch bệnh cho giống và chẩn đoán, kiểm tra cây giống bằng các phương pháp phân tử bệnh cây như PCR và ELISA, các cây giống được sản xuất từ kỹ thuật vi ghép có ưu điểm tạo cây đầu dòng sạch bệnh (cây S0) bằng kỹ thuật vi ghép đỉnh sinh trưởng do đỉnh sinh trưởng gồm mô phân sinh chưa hình thành mạch, đồng thời tại ví trí này nồng độ auxin cao do vậy virus thường không tồn tại, sạch bệnh Các mắt ghép sạch bệnh từ các cây S0 được cung ứng để sản xuất cây S1 và các mắt ghép sạch bệnh từ các cây S1 được cung ứng cho các nhà lưới cấp 2 để sản xuất cây giống sạch bệnh thông qua giám định bệnh bằng kỹ thuật PCR, ELISA Thông qua phương pháp này đã khôi phục các vùng cây có múi bị nhiễm bệnh greening ở ĐBSCL, khu vực miền núi phía Bắc: cam Sành Hàm Yên (Tuyên Quang), quýt ngọt Trà Lĩnh (Cao Bằng)

Trang 34

1.4.2.2 Công nghệ nhân giống bằng in vitro

Công nghệ sản xuất cây giống bằng nuôi cấy mô tế bào (in vitro) đã được ứng dụng

để sản xuất hàng vạn cây giống có chất lượng tốt dựa trên nguyên lý tái sinh đỉnh sinh trưởng ở mô phân sinh, nơi chưa hình thành mạch dẫn và nồng độ auxin cao nên thường rất sạch bệnh Đối với cây ăn quả, vi nhân giống thường được thực hiện từ đoạn cành (cam, chanh ) hoặc từ cụm tế bào đỉnh sinh trưởng (chuối, dứa) Đối với nhân giống từ vật liệu đoạn cành (chồi bất định) thường trải qua 4 bước cơ bản: Chọn vật liệu nuôi cấy, nhân nhanh chồi, tạo cây hoàn chỉnh, huấn luyện cây con Trong khi nhân giống từ đỉnh sinh trưởng được thực hiện thêm bước tạo mô sẹo (mô callus) trước khi nhân nhanh chồi Phương pháp nhân giống này có hệ số nhân giống cao, cây hoàn toàn sạch bệnh, đồng đều và cho năng suất vượt trội so với cây nhân giống bằng tách chồi 130 - 150% Hiện nay, hầu hết các giống dứa, chuối trồng tập trung theo phương thức sản xuất hàng hóa đều được trồng từ cây nuôi cấy mô tế bào

1.4.3 Công nghệ tưới nước và cung cấp dinh dưỡng

1.4.3.1 Tưới nhỏ giọt

Là công nghệ tưới tiết kiệm nước tối ưu nhất hiện nay, với việc đưa nước tới tận gốc cây và nhỏ từng giọt từ từ để nước thấm dần vào rễ cây Nước được đưa tới gốc cây thông qua hệ thống gồm các van, đường ống, béc tưới Đây là phương pháp tưới được sử dụng

để khắc phục tình trạng bay hơi nước so với cách tưới bề mặt trước đây, hạn chế xói mòn

và rửa trôi đất, tiết kiệm lao động, áp dụng được ở mọi địa hình, mang lại hiệu quả kinh

tế cao Tưới nhỏ giọt hiện nay đã được áp dụng ở nhiều nhà vườn trồng cây ăn quả: thanh long, nho, cây có múi

1.4.3.2 Tưới nhỏ giọt kết hợp cung cấp dinh dưỡng

Công nghệ tưới tiết kiệm nước kết hợp với việc cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, bằng cách hòa phân bón vào bể chứa nước rồi vận chuyển tới từng bộ rễ, thông qua hệ thống tưới hoặc kết hợp với hệ thống phun sương, cung cấp cho các cây cần tưới lá để mang lại hiệu quả cao hơn Công nghệ này đã được ứng dụng ở nhiều nhà vườn trồng cây ăn quả: thanh long, nho, cây có múi mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa tiết kiệm nhân lực, chủ động cung cấp dinh dưỡng theo nhu cầu của cây, tránh được thất thoát dinh dưỡng

1.4.4 Công nghệ điều chỉnh thời điểm ra hoa, ra quả

1.4.4.1 Điều chỉnh bằng quang chu kỳ

Mỗi cây trồng nói chung và cây ăn quả nói riêng đều có nhu cầu về thời gian chiếu

Trang 35

yêu cầu về quang chu kỳ (thời gian chiếu sáng) tương đối nghiêm ngặt, nếu không đủ thời gian chiếu sáng thì cây không ra hoa Điển hình là thanh long, yêu cầu thời gian chiếu sáng dài trong ngày (tối thiểu 12 giờ/ngày) Với đặc điểm này, các nhà vườn trồng thanh long thường chiếu sáng bổ sung vào ban đêm cho cây, để kích thích cây ra hoa sớm đầu mùa Hè hoặc kéo dài thêm đợt hoa vào mùa Thu ở miền Bắc và xử lý cho thanh long ra trái vụ ở các tỉnh phía Nam

1.4.4.2 Điều chỉnh bằng hóa chất

Trong thực vật nói chung và cây ăn quả nói riêng, luôn có các chất kích thích sinh trưởng (điển hình là auxin) và các chất kìm hãm sinh trưởng (điển hình là etylen) theo những tỷ lệ nhất định Lợi dụng đặc điểm này, nhà vườn có thể tác động các chất kích thích sinh trưởng hoặc ức chế sinh trưởng để ức chế và kích thích ra hoa trên cây ăn quả Hiện nay, các ứng dụng xử lý etylen cho dứa, phun ethrel cho vải, na để thay đổi tỷ lệ C/N trong cây, tưới hoặc phun PBZ (pacbutrazol) cho xoài để giảm tỷ lệ GA/ABA trên chồi giúp cây ngừng sinh trưởng, phân hóa hoa đã được ứng dụng và mang lại hiệu quả cao

1.4.4.3 Điều chỉnh bằng tác động cơ giới

Các tác động cơ giới vào rễ, lên cây, cành và lá đã gián tiếp ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của cây thông qua điều chỉnh dòng vận chuyển các chất hữu cơ, vô cơ tác động đến hiệu suất quang hợp và sinh trưởng phát triển của cây Biện pháp cắt rễ để giảm

tỷ lệ GA/ABA trên chồi giúp cây ngừng sinh trưởng, phân hóa hoa Trong sản xuất cam canh, người nông dân có thể sử dụng phương pháp chặn rễ Trong sản xuất quất cảnh, để cây ra hoa trái vụ và cho thu hoạch quả vào dịp Tết Nguyên Đán, có thể dùng biện pháp chặn rễ, bứng lên khỏi mặt đất đến khi cây héo thì trồng trở lại Biện khoanh thân để tăng

tỷ lệ C/N, ngắt lá đã được áp dụng trên cây vải, cây có múi, đào, mận, mít, na để chủ động điều khiển sự ra hoa của cây vào các thời điểm thuận lợi và mang lại hiệu quả kinh

tế cao Trên cây mít, người nông dân thường áp dụng kỹ thuật tạo các vết chặt trên thân cây để hạn chế sinh trưởng thân lá, thúc đẩy cây ra hoa, đậu quả

1.4.4.4 Điều chỉnh bằng cắt tỉa

Cắt tỉa, tạo hình là kỹ thuật quan trọng trong sản xuất cây ăn quả nhằm tạo cho cây

có khung tán vững chắc, điều chỉnh sinh trưởng, phát triển của cây, loại bỏ các cành, lá

vô hiệu, tạo độ thoáng cho tán cây để nhận ánh sáng và xử lý thuốc BVTV, phân bón lá, hạn chế sâu bệnh hại, tập trung dinh dưỡng cho các cành mẹ, cành quả, hoa, quả của cây Công nghệ này đã được áp dụng thường xuyên và nghiêm ngặt trong các cây ăn quả thân

gỗ, nhất là trong điều kiện trồng dày và thâm canh cao: nho, vải, nhãn, na, mận, lê mang

Trang 36

lại hiệu quả kinh tế Nhiều biện pháp cắt tỉa còn có tác dụng điều chỉnh sự ra hoa của cây

để rải vụ thu hoạch quả như đối với ổi, na, nho

1.4.5 Công nghệ thụ phấn bổ sung

Thụ phấn bổ sung cho cây ăn quả là công nghệ nhằm hỗ trợ quá trình thụ phấn, thụ tinh của hoa Nhiều giống, loài cây ăn quả do đặc điểm thực vật học, đặc điểm di truyền mà quá trình tự thụ hoặc giao phấn không thuận lợi Cây bơ và na mặc dù là hoa lưỡng tính nhưng nhị đực và nhụy cái trên cùng 1 hoa chín không đồng thời nên tự thụ thường cho kết quả thấp hoặc một số loài có đặc tính tiến hóa mà hoa không tiếp nhận hạt phấn cùng hoa (mận, lê ) Chính vì vậy, cần thiết phải thụ phấn bổ sung cho hoa bằng các nguồn hạt phấn phù hợp hoặc trồng bổ sung các cây cho phấn để tăng tỷ lệ đậu quả cho vườn

1.4.6 Công nghệ tỉa quả, bọc quả, tạo hình quả

- Công nghệ tỉa quả nhằm phân bố quả đều trên cây, trên cành, loại bỏ các quả ở các chùm quả quá dày, quả dị tật và quả bị sâu bệnh Công nghệ này hiện nay áp dụng ở hầu hết các loại cây ăn quả, nhất là các loài, giống cây ăn quả ra quả dạng chùm: vải, nhãn, xoài, nho, ổi, mận, đào để tạo quả đồng đều, chủ động về năng suất của cây

- Hầu kết các loại quả là đối tượng của sâu bệnh hại tấn công, đồng thời do tác động của ngoại cảnh: gió, nắng, mưa làm quả có thể bị hư hỏng hoặc giảm phẩm cấp Khắc phục hiện tượng này, các nhà vườn đã thực hiện bọc quả bằng các túi bọc chuyên dùng bằng giấy, vải, sợi cho hầu hết các loại quả: nho, ổi, lê, bưởi, na, thanh long, chuối để nâng cao chất lượng, nhất là các loại quả phục vụ cho xuất khẩu

- Để nâng cao giá trị gia tăng của quả, các nhà vườn đã áp dụng công nghệ tạo hình, tạo chữ bằng cách sử dụng các khuôn cứng thủy tinh, nhựa để tạo hình đối với một số loại quả: hình Hồ Lô, các chữ Phúc, Đức, Tài, Lộc đối với quả bưởi, tạo hình Tiểu đồng đối với quả lê được nhiều người ưa thích

1.4.7 Công nghệ tăng tỷ lệ đậu quả và tạo quả không hạt

Sử dụng các chất kích thích sinh trưởng nhóm auxin và gibberellin phun cho vào thời điểm ra hoa, hình thành quả cho một số loại quả, nhằm kích thích bầu hoa phát triển mà không qua quá trình thụ tinh, tạo quả không hạt: sử dụng GA3 phun cho nho, sử dụng α - NAA và GA3 phun cho cam khi cây ra hoa đã có tác dụng tốt, vừa cung cấp auxin giảm

tỷ lệ rụng hoa, rụng quả và giảm số hạt trong quả rõ rệt

Trang 37

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA CÂY ĂN QUẢ THÂN GỖ

2.1 CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY ĂN QUẢ

Đời của cây ăn quả tức là thời gian được tính kể từ khi gieo (hạt) trồng, trải qua quá trình sinh trưởng phát triển đến khi cây già cỗi, chết hoặc được thay thế Thời gian này thường rất khác nhau giữa các loài cây ăn quả Đời cây ăn quả có thể được chia thành 3 thời kỳ: thời kỳ cây con (từ khi trồng cho đến khi thu hoạch quả), thời kỳ cho thu hoạch

có sản lượng (giai đoạn kinh doanh) và thời kỳ già cỗi Ở mỗi thời kỳ, cây có đặc điểm sinh trưởng phát triển riêng và đòi hỏi những biện pháp kỹ thuật khác nhau

2.1.1 Thời kỳ cây con

Thời kỳ cây con được tính từ giai đoạn vườn ươm, trồng và đến lúc cây cây bắt đầu cho quả (bói quả)

2.1.1.1 Giai đoạn vườn ươm

Là thời kỳ nhân giống và tạo ra cây con đủ tiêu chuẩn để trồng trong sản xuất, thời gian có thể kéo dài từ 3 tháng đến 1 năm tùy theo loài cây ăn quả và hình thức nhân giống

Ở thời kỳ này, cây rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh và yêu cầu cần sự chăm sóc cao

do cơ thể còn non chưa hoàn chỉnh để thích ứng với điều kiện môi trường Phương thức và các kỹ thuật nhân giống, chăm sóc trong giai đoạn vườn ươm sẽ được đề cập ở chương 3

2.1.1.2 Giai đoạn kiến thiết cơ bản

Thời gian này có thể kéo dài 3 - 5 năm, tùy vào loài cây, hình thức nhân giống và mức độ chăm bón Nếu nhân giống bằng cách ghép, chiết cành, giâm cành (nhân giống vô tính) thì thời gian này ngắn hơn là cây trồng bằng hạt (hữu tính) Những loài cây như mít, nhãn, vải nếu trồng bằng hạt và trong điều kiện không được chăm sóc chu đáo thì rất lâu bói quả; ngược lại, nếu ta trồng bằng cành chiết, cây ghép thì có khi chỉ một năm đã ra quả ngay, nhất là xu thế hiện nay, trong sản xuất có thể trồng những cành chiết với kích thước khá lớn

Đặc điểm sinh trưởng chủ yếu của cây ở giai đoạn này là chưa hoặc ít cho quả, để tập trung phát triển thân cành mạnh mẽ để hình thành bộ khung tán cây, một năm cây có thể

ra 4 - 6 đợt lộc, đặc biệt vào thời gian có điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp

Trang 38

Biện pháp kỹ thuật giai đoạn này cần chú ý là:

- Bón lót phân hữu cơ và bón thúc phân vô cơ nhiều lần để thúc các đợt lộc ra mạnh Tỉa bỏ hoa, quả trong 2 - 3 năm đầu, để tập trung dinh dưỡng cho cây phát triển thân tán.Chú ý cắt tỉa và tạo hình cho cây theo mục đích, không để thân cành của cây mọc tùy tiện Cây có kích thước còn bé chưa khép tán cần quan tâm biện pháp phòng chống cỏ dại và xói mòn rửa trôi đất (đất dốc)

- Ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, các biện pháp kỹ thuật tác động cực đoan: đốn đau, cắt chặt rễ, bón quá nhiều phân khoáng đều không có lợi cho sự sinh trưởng phát triển của cây Ngược lại, nếu không chú ý quan tâm chăm sóc, bón phân, tưới nước sẽ làm cho cây sinh trưởng còi cọc, lâu ra quả Khi quá nóng vội để ra hoa quả sớm ở giai đoạn cây còn nhỏ sẽ làm cho cây thiếu hụt dinh dưỡng, không ra được lộc, thân cành chậm phát triển

Cả 2 trường hợp này đều khiến cây yếu ớt, còi cọc, sau này khó có thể hồi phục

2.1.2 Thời kỳ cho thu hoạch quả (kinh doanh)

Thời kỳ cho thu hoạch quả có thời gian dài hay ngắn tùy thuộc vào loài cây ăn quả, điều kiện sinh thái, chế độ canh tác áp dụng, hình thức nhân giống Thời kỳ này kéo dài

từ sau khi cây bói quả đến khi cây cho sản lượng tối đa rồi tiếp đến là suy giảm Với các loài cây ăn quả thân gỗ ở các nước ôn đới có thể kéo dài vài chục năm Ở các nước nhiệt đới, do sâu bệnh nhiều, phần lớn các loài cây ăn quả đều có thời gian thu hoạch quả ngắn hơn Tuy nhiên, ở nước ta các cây vải, nhãn, hồng, cũng có thể kéo dài tới vài chục năm nếu được canh tác tốt

Đặc điểm sinh trưởng phát triển trong thời kỳ này là vừa sinh trưởng dinh dưỡng vừa sinh trưởng sinh thực có mối quan hệ chặt chẽ Nếu cây sinh trưởng dưỡng (thân, cành, lá) quá mức hoặc kém sẽ ảnh hưởng đến sự ra hoa, năng suất và sản lượng quả thấp Ngược lại, nếu để cây ra quả sai quá hoặc quá ít quá sẽ làm giảm hoặc tăng sinh trưởng thân cành Cây chỉ có 2 - 3 đợt lộc/năm, cần đặc biệt quan tâm đến các đợt lộc có thể làm cành mẹ cho vụ quả năm sau để tránh mất mùa và ra quả cách năm

Biện pháp kỹ thuật cần chú ý trong thời kỳ này là:

- Bón phân trả lại cho đất tùy theo sản lượng quả lấy đi hàng năm, đặc biệt chú ý thúc các đợt cành sẽ làm cành mẹ cho vụ quả năm sau;

- Cắt tỉa, tạo tán cân đối cho cây nhận đủ ánh sáng, giữ lại các cành hữu hiệu loại bỏ những cành vô ích (cành sâu bệnh, cành vượt ) để ổn định năng suất hàng năm;

- Khống chế tỷ lệ cành hoa và cành dinh dưỡng hợp lý, điều chỉnh tỷ lệ mang hoa quả phù hợp, bồi dưỡng đợt cành mẹ để ngăn chặn sự ra quả cách năm;

- Tưới nước, phòng trừ sâu bệnh hại, thụ phấn bổ sung, bọc quả để giúp cho cây sinh

Trang 39

2.1.3 Thời kỳ già cỗi

Sau một kỳ cho thu hoạch quả ổn định (kinh doanh), cây ăn quả bước vào thời kỳ già cỗi, đây là thời gian kể từ khi năng suất của cây bắt đầu suy giảm liên tục cho đến khi kết thúc vòng đời Thời kỳ này dài hay ngắn tùy vào mục đích sản xuất của chủ vườn Nếu chủ vườn muốn thu hoạch thêm một số năm thì kéo dài thời kỳ này bằng cách tăng cường chăm sóc, còn nếu thấy hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả nữa thì nên phá bỏ, trồng lại hoặc luân canh với các cây trồng khác

Đặc điểm của thời kỳ này là khả năng sinh trưởng của cây suy giảm, cành già yếu, sâu bệnh nhiều, cho ít và quả nhỏ hơn, chất lượng quả giảm, các đợt lộc ít hơn chủ yếu chỉ còn lộc Xuân, lộc Hè

Biện pháp kỹ thuật cần chú ý là:

- Nếu tiếp tục muốn khai thác, cần phải cắt tỉa cành đau cho ra đợt cành mới để cây

có khả năng ra quả tốt hơn

- Tăng cường cung cấp dinh dưỡng và các biện pháp thâm canh khác, để hỗ trợ cho cây sinh trưởng, cải thiện năng suất và chất lượng quả

- Nếu là giống quý hiếm, muốn vườn cây trẻ lại, ta có thể đốn đau chỉ để lại một đoạn thân chính 30 - 50 cm, tăng cường bón phân, tưới nước, thúc cho các mầm ngủ hình thành cành mới, giữ lại 2 - 3 mầm khỏe để thay thế cây mẹ Không thu hoạch quả một vài năm

để thân cành phát triển thành một bộ khung tán mới

- Trường hợp vườn quả quá xấu, già cỗi, sâu bệnh nhiều thì nên phá đi trồng lại sớm

để mang lại hiệu quả kinh doanh có lợi nhất

2.2 CHU KỲ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN HÀNG NĂM

Ở điều kiện miền Bắc nước ta, hàng năm cây ăn quả phải trải qua một chu kỳ sinh trưởng, phát triển thường được bắt đầu vào mùa Xuân và kết thúc vào mùa Đông Phần lớn các cây ăn quả thân gỗ, khi cây bước vào thời kỳ kinh doanh bắt đầu chu kỳ sinh trưởng vào mùa Xuân đều vừa sinh trưởng sinh dưỡng (ra cành lá) vừa sinh trưởng sinh thực (ra hoa) Để thuận lợi cho công việc quản lý chăm sóc, tác động các biện pháp kỹ thuật hợp lý cho vườn cây ăn quả, người ta chia chu kỳ phát triển hàng năm ra làm bốn giai đoạn, bao gồm: giai đoạn ra lộc, giai đoạn ra hoa, giai đoạn mang quả và giai đoạn sau thu quả Có những loài vừa ra hoa vừa ra lộc, thì một năm chỉ có ba giai đoạn

Đặc tính sinh trưởng và phát triển của mỗi loài cây ăn quả do đặc tính di truyền quy định, chúng sẽ có phản ứng nhất định với điều kiện của môi trường sống Các thời kỳ này thường rất khác nhau giữa các loài cây ăn quả khác nhau, tuy nhiên, ở một loài thì sự lặp lại các giai đoạn này trong một năm thường khá chính xác Căn cứ đặc tính này, người ta

có thể dự đoán được các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của loài cây ăn quả diễn ra

Trang 40

hàng năm vào thời điểm nào Ví dụ, trong điều kiện sinh thái các tỉnh phía Bắc, nhiều cây

ăn quả như cam quýt, vải, xoài, hồng, lê, đào ra hoa vào tháng 2 - 3 và cho thu hoạch quả vào các thời gian khác nhau trong khi cây táo thường ra hoa vào tháng 7 - 8 hoặc ra hoa vào thời điểm nào đó trong năm, tùy thuộc vào thời điểm đạt được sự thành thục của cây như cây ổi, mít hay chanh tứ mùa Với các loài cây ăn quả có thời gian ra hoa cố định vào một thời điểm trong năm, sự thay đổi hàng năm do điều kiện môi trường có thể xảy

ra, nhưng về cơ bản là chính xác

2.2.1 Giai đoạn ra lộc

Thông thường ở khu vực phía Bắc, khi mùa Xuân đến có thời tiết phù hợp các mầm trên thân cành bắt đầu hoạt động, tùy loài cây ăn quả mà các mầm này có thể là mầm lá (táo, mít, sầu riêng ), mầm hoa (đào, mơ, mận ) hay mầm hỗn hợp (cây có múi, nhãn, vải, hồng, xoài ) sẽ phá vỡ lớp vảy bọc mà bật chồi hình thành cành mới Các mầm lá luôn có sức nảy mầm mạnh hơn mầm hoa, thường bật ra trước và tốc độ vươn dài ra nhanh hơn

Đợt lộc Xuân thường chỉ thấy các mầm cố định (mầm ở ngọn cành và nách lá) hoạt động còn các mầm bất định trên thân cây hoặc các cành lớn ít hoạt động hơn Đây là đợt lộc quan trọng nhất trong năm, nó sẽ quyết định đến tất cả các đợt lộc tiếp theo như lộc

Hè, lộc Thu Nếu trên cây ra lộc Xuân hình thành cành khỏe, sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy cây ra lộc Hè, lộc Thu ra sớm, tập trung và số lượng lộc một đợt nhiều ), đó chính là yếu

tố quyết định đến năng suất cây, khối lượng quả, đến tính ổn định năng suất đến các năm.Một số loài cây ăn quả có đặc điểm ra lộc Xuân vừa là cành dinh dưỡng, vừa là cành mang hoa (cam, quýt, vải, nhãn, hồng ) thì cần chú ý khống chế tỷ lệ hai loại cành này thích hợp để cây không quá sai quả, sẽ ảnh hưởng đến vụ quả năm tiếp theo

2.2.2.Giai đoạn ra hoa

Ở cây ăn quả, mỗi một loài có đặc điểm ra hoa khác nhau Nhiều loài cây ăn quả ra hoa cùng đợt lộc Xuân, cũng có những loài ra xong lộc Xuân, sau một thời gian mới ra hoa (táo ta, thanh long) Nhiều cây ăn quả có đặc điểm ra hoa ở đầu cành như: nhãn, vải, xoài nhiều cây ăn quả ra hoa xen ở các nách lá như: cây ăn quả có múi, hồng xiêm và một số cây ăn quả có đặc điểm ra hoa trên thân cây hoặc trên cành như: mít, sầu riêng,

na, khế

Ở giai đoạn cây ra hoa, cần chú ý kỹ thuật tác động cho cây có tỷ lệ đậu quả cao, giảm thiểu những tác nhân có hại cho sự thụ phấn của hoa Những năm cây ra hoa quá sai cần tỉa bớt hoa một cách hợp lý Trên cây ăn quả có 2 dạng hoa, là hoa lưỡng tính và hoa đơn tính:

Ngày đăng: 05/12/2023, 10:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thành phần một số chất dinh dưỡng trong 100 g phần ăn được - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Bảng 1.1. Thành phần một số chất dinh dưỡng trong 100 g phần ăn được (Trang 11)
Bảng 1.2. Phân loại theo thực vật học các loài cây ăn quả chính ở Việt Nam - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Bảng 1.2. Phân loại theo thực vật học các loài cây ăn quả chính ở Việt Nam (Trang 15)
Bảng 1.4. Diện tích, năng suất và sản lượng cây ăn quả trên thế giới giai đoạn - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Bảng 1.4. Diện tích, năng suất và sản lượng cây ăn quả trên thế giới giai đoạn (Trang 21)
Bảng 1.5. Mười quốc gia sản xuất cây ăn quả quy mô lớn nhất, năm 2020 - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Bảng 1.5. Mười quốc gia sản xuất cây ăn quả quy mô lớn nhất, năm 2020 (Trang 22)
Bảng 1.6. Mười loại cây ăn quả có sản lượng lớn nhất trên thế giới, năm 2020 - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Bảng 1.6. Mười loại cây ăn quả có sản lượng lớn nhất trên thế giới, năm 2020 (Trang 22)
Bảng 1.8. Tiêu thụ quả ở một số nước trên thế giới giai đoạn 2013 - 2017 - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Bảng 1.8. Tiêu thụ quả ở một số nước trên thế giới giai đoạn 2013 - 2017 (Trang 23)
Bảng 1.9. Diện tích cây ăn quả theo vùng sinh thái ở nước ta 2005 - 2020 - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Bảng 1.9. Diện tích cây ăn quả theo vùng sinh thái ở nước ta 2005 - 2020 (Trang 24)
Hình 3.3. Lên luống theo kiểu đắp mô - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Hình 3.3. Lên luống theo kiểu đắp mô (Trang 64)
Hình 3.8. Bố trí cây ăn quả trên đất dốc - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Hình 3.8. Bố trí cây ăn quả trên đất dốc (Trang 75)
Hình 4.1. Các bước chiết cành - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Hình 4.1. Các bước chiết cành (Trang 96)
Hình 4.2. Kích thước bầu chiết - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Hình 4.2. Kích thước bầu chiết (Trang 97)
Bảng 4.1. Các tổ hợp ghép và kiểu ghép cây ăn quả thường áp dụng ở nước ta - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Bảng 4.1. Các tổ hợp ghép và kiểu ghép cây ăn quả thường áp dụng ở nước ta (Trang 102)
Hình 4.5. Ghép mắt kiểu cửa sổ - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Hình 4.5. Ghép mắt kiểu cửa sổ (Trang 105)
Hình 4.4. Ghép mắt kiểu chữ &#34;T&#34; - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Hình 4.4. Ghép mắt kiểu chữ &#34;T&#34; (Trang 105)
Hình 4.6. Ghép mắt nhỏ có gỗ - Giáo trình đại cương về cây ăn quả
Hình 4.6. Ghép mắt nhỏ có gỗ (Trang 106)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm