Không nên phát triển giống này nhiều để ăn tươi vì chất lượng không thể cạnh tranh được với các giống xoài khác.. Nếu các chồi non không tích lũy được chất dinh dưỡng trong giai đoạn nầy
Trang 1Giới thiệu:
Bài bốn nói về đặc tính hình thái, nông học, và kỹ thuật trồng chăm sóc cây xoài Giới thiệu qui trình xử lý ra hoa hiện đại đang áp dụng ngoài thực tế có hiệu quả cao, các biện pháp quản lý dịch bệnh hạn chế được thiệt hại cho cây trồng từ đó đảm bảo được phẩm chất và năng suất của trái xoài đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu
+ Thực hiện quy trình trồng và chăm sóc xoài
+ Trung thực, có ý thức kỷ luật cao, sẵn sàng đảm nhiệm các công việc được giao;
+ Có ý thức học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn;
+ Làm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm, giải quyết công việc, vấn đề phức tạp trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối với nhóm;
+ Đánh giá chất lượng công việc sau khi hoàn thành và kết quả thực hiện của các thành viên trong nhóm
1 Giá trị, nguồn gốc, phân nhóm và giống trồng
1.1 Giá trị dinh dưỡng và sử dụng
Xoài được xem như là cây ăn trái quan trọng chiếm phần lớn thị phần trái cây trong nước, được sử dụng rộng rãi từ trái còn xanh đến trái chín Trái xoài chín bổ dưỡng hơn cả cà rốt vì ngoài carotene, tiền sinh tố C, giúp cho người ốm mới khỏi ăn mau lại sức, tăng sức đề kháng, chóng đói, thèm ăn
Trang 21.2 Nguồn gốc và phân bố
Xoài là loại cây ăn trái nhiệt đới, có nguồn gốc từ Ấn Độ chạy dài đến
Miến Điện và được trồng hơn 4.000 năm nay, nên tên khoa học của nó là M
indica L Cây xoài được canh tác rộng rãi tại 60 nước thuộc vùng nhiệt đới và
bán nhiệt đới với sản lượng hàng năm 28.848.000 tấn (Fao, 2001), tiềm năng thương mại của xoài rất lớn, Việt Nam đã xuất khẩu sang các nước như Hồng Kông (31,43 tấn), Australia (18,04 tấn), Singapore (8,28 tấn) và mở rộng thêm thị trường EU, Nga, Trung Quốc, Campuchia với xoài Cát Bồ, Cát Chu Những nước có diện tích trồng xoài lớn như Ấn Độ, Philippines Ở nước ta, diện tích trồng xoài khoảng 40.700 ha, riêng diện tích trồng xoài ở ĐBSCL là 12.706 ha (Nguyễn Minh Châu,1998), dự kiến đến năm 2010, diện tích trồng xoài cả nước
là 150.000 ha với tổng sản lượng 1.500.000 tấn
1.3 Phân nhóm
Trên thế giới, xoài được chia là 2 nhóm: (a ) Nhóm có hột đơn phôi hay còn gọi là nhóm Ấn Độ, được trồng ở Ấn Độ và một phần của Mã Lai Gọi là đơn phôi vì chỉ có mang một hột hữu tính, chỉ cho ra một cây con Khuyết điểm của nhóm nầy là cho trái cách năm và không giữ được đặc tính của cây mẹ Ưu điểm là có phẩm chất tốt (b) Nhóm có hột đa phôi hay còn gọi là nhóm Đông Nam Á, nhóm nầy thường gặp ở hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á, một phần Mã Lai và Nam Ấn Độ Hột thường mang từ 2-12 phôi vô tính (Hình 4.1a và 4.1b), hột đa phôi có thể có hoặc không mang phôi hữu tính Do tính chất của hột đa phôi mà khi gieo có thể cho ra từ 2-5 cây con, thường vô tính (Hình 4.1c), có nghĩa là cây con mang đặc tính giống cây mẹ, còn cây con hữu tính nếu có thì mọc chậm, yếu ớt Ưu điểm của nhóm nầy là cho trái thường xuyên hàng năm
Trang 3Hình 4.1: Xoài đa phôi (a) hột xoài đa phôi; (b) hột xoài đa phôi được tách
ra từng mảnh; (c) hột xoài đa phôi mọc nhiều cây
1.4 Giống trồng
- Giống trồng ở ĐBSCL: Giống xoài rất phong phú và đa dạng Kết quả
điều tra được ghi nhận có 43 giống xoài được trồng ở ĐBSCL với những đặc tính nổi trội như sau:
Tỷ lệ ăn được trên 80%: xoài Battambang, Cát Hòa Lộc, Cát chu,
Độ brix trên 20%: xoài Hồng Võ, Ngự, Cát Hòa Lộc - Dễ ra hoa đậu trái: xoài Thanh Ca, Cát Chu, Bưởi
Thích nghi được trên đất phèn: Bưởi, Châu Hạng Võ
Tỷ lệ hột nhỏ dưới 7% trọng lượng trái: Cát Đen, Đốc Binh Kiều
Đây là nguồn gen cần được sưu tập để bảo tồn Kết quả điều tra đánh giá được 4 giống xoài có triển vọng phát triển ở vùng ĐBSCL: xoài Cát Hòa Lộc, xoài Cát Chu, xoài Thanh Ca, xoài Châu Hạng Võ, xoài Thơm Sau đây là đặc tính một số giống xoài phổ biến ở miền Nam như:
♦ Xoài Cát Hòa Lộc
Giống này được trồng nhiều và tập trung ở Tiền Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ Tuy nhiên, hầu hết các tỉnh khác đều có trồng, nhất là ở các vườn mới lập trong vài năm gần đây Ở các vườn mới này, cây được trồng từ cây tháp nên phát triển khỏe và khá đồng nhất, và sau 3-5 năm trồng, cây ra hoa kết quả Ở các vườn trên 5 năm tuổi, người dân bắt đầu sử dụng hóa chất để điều khiển xoài
ra hoa theo ý muốn So với những giống khác như xoài Thanh Ca, Cát Chu, Hòn
Trang 4phải xem lại nếu có hướng xuất khẩu Phần thịt trái rất dày (2,5 cm) và hột lại nhỏ (8,2% trọng lượng trái), nên tỷ lệ phần ăn được khá cao (80,9%) Với cấu trúc thịt trái mịn, chắc và độ brix cao (21,0%), đây là một trong những giống được đánh giá có phẩm chất ngon nhất
Tuy nhiên, khảo sát ở Bộ môn Khoa Học Cây Trồng cho thấy xoài Cát Hoà Lộc có một số yếu điểm là khó bảo quản trái sau thu hoạch vì chỉ hai ngày sau khi thu hoạch, quá trình chín đã khởi sự Ngoài ra, nếu thu hoạch trái quá già, khi chín phần thịt gần hột trong suốt, làm giảm phẩm chất trái đáng kể ♦ Xoài Bưởi (xoài Ghép)
Được trồng phổ biến ở Tiền Giang và Đồng Tháp, nhất là vùng tiếp giáp với Đồng Tháp Mười Xoài Bưởi thường trồng bằng hột và cho trái sau 3 năm trồng Xoài Bưởi có phẩm chất không cao nhưng do đặc tính dễ ra hoa đậu trái, cũng như thích nghi được ở vùng đất phèn nên diện tích gia tăng đáng kể trong những năm gần đây
Xoài Bưởi có cở trái trung bình (247 g), hột to (16,1% trọng lượng trái) và thịt trái mỏng (1,7 cm), nên có tỉ lệ phần ăn được thấp (69,1%) Xoài không ngọt lắm (độ brix 12,5%) thịt nhão và có mùi hôi (mùi bưởi) ở phần gần vỏ, do đó nếu gọt vỏ dày thì thịt trái không còn mùi hôi
Không nên phát triển giống này nhiều để ăn tươi vì chất lượng không thể cạnh tranh được với các giống xoài khác Tuy nhiên, do vỏ trái dày, có thể vận chuyển xa Xoài Bưởi sấy được người tiêu dùng ưa chuộng nhờ giữ được hương thơm của xoài
♦ Xoài Cát Chu
hai giống xoài Cát Chu Trắng và Cát Chu Đen theo màu vỏ trái Xoài Cát Chu
dễ ra hoa đậu trái nên có khả năng cho năng suất cao Từ khi trổ đến khi thu hoạch khá dài, khoảng 3,5-4 tháng
Trái xoài Cát Chu lớn trung bình (329 g), thịt trái dày (2,3 cm), hột nhỏ (11,0% trọng lượng trái) nên tỷ lệ phần ăn được nhiều (76,5%) Nơi đầu trái, chỗ đính cuống, nổi nhọn lên, có lẽ vì vậy mà gọi là Cát Chu Ngoài những đặc tính tốt trên, xoài Cát Chu còn được ưa chuộng do có độ ngọt vừa phải (độ brix 14,4%) và thịt trái mịn dẽo Năng suất cao và ổn định
Trang 5ngọt hơn xoài Châu Hạng Võ trắng
Xoài Châu Hạng Võ có năng suất cao, trung bình cây 10 năm tuổi cho năng suất 125 kg/cây, và năng suất gia tăng 19 kg mỗi năm (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Châu Thanh Tùng, 2003) Trái có trọng lượng trung bình khoảng 400 g, khi chín có màu vàng nghệ rất đẹp và có tỉ trọng từ 1 trở lên, chỗ đính cuống trái bằng phẳng, vai lưng trái dốc nhiều nhưng vai bụng trái uốn cong lên, đầu trái và đuôi trái đều tròn Thịt trái có hàm lượng đường 8,73%, TSS là 14,4% và pH là 4,5 nên không ngọt gắt và hơi chua nhẹ, rất ngon, thích hợp cho xuất khẩu Trái
có trị số TSS là 14,4 % và pH là 4,5 Tỉ lệ thịt trái chiếm 81,9%, vỏ dầy
Xoài Châu Hạng Võ dễ ra hoa, đậu trái và cho năng suất cao Cây chịu đựng và mọc tốt ngay cả trong điều kiện đất thấp trũng, mặn và phèn Vỏ trái và thịt trái có màu sắc đẹp, thơm ngon, thích hợp thị hiếu người tiêu dùng Vỏ trái dầy có khả năng chuyên chở đi xa Nên thay đổi phương pháp nhân giống bằng cách ghép để cây mau cho trái và thuận lợi trong việc thâm canh Có thể sử dụng giống xoài nầy làm gốc ghép để chịu đựng điều kiện khắc nghiệt của môi trường
♦ Xoài Thanh Ca
Là giống rất lâu đời, hiện diện rải rác ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL, nhưng diện tích tập trung nhất là ở An Giang Xoài Thanh Ca có phẩm chất không cao nhưng nhờ đặc tính dễ ra hoa đậu trái nên năng suất cao hơn các giống khác Điều này nói lên tính thích nghi của giống phù hợp với điều kiện thời tiết và môi trường Xoài Thanh Ca có cở trái (280 g) và bề dày thịt trái (1,7 cm), tương đương xoài Bưởi nhưng hột nhỏ hơn (14,2% trọng lượng trái), tỷ lệ phần ăn được nhiều hơn (73,5%) Thịt trái cũng nhão như xoài Bưởi nhưng có độ ngọt hơn (độ brix 13,3%)
♦ Xoài Thơm
Có nguồn gốc ở Cái Bè (Tiền Giang) Có 2 loại là xoài Thơm Đen (vỏ có màu xanh sậm) và xoài Thơm Trắng (vỏ xanh nhạt) Lá non có màu nâu, lá trưởng thành có phiến phẳng do gân phụ không nổi rõ lên Trái to, trọng lượng
từ 400-500 g, dạng bầu, tròn nơi phần đầu trái (gần cuống) Thịt vàng, thơm, ngọt, dày, dẽ Tỷ lệ phần ăn được chiếm hơn 85% Trái có phẩm chất thơm ngon nhưng hơi khó vận chuyển và xuất khẩu Giống xoài nầy cho năng suất khá cao, trung bình có thể đạt 150-200 kg/cây (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1977)
Trang 6♦ Xoài Keow Savoey
Là giống xoài ăn xanh, có nguồn gốc Thái Lan đã được nhập vào Việt
Nam vài ba năm trở lại đây Giống xoài nầy còn được gọi Kaiew Sawei, Kaow Sawoey, Kiew Sa Waei, Khiew Savoy, Kyo Savoy, Khieo Sawoel
Hiện nay xoài đã cho trái và chất lượng khá ngon Lá xanh đậm, lóng dài, khó ra hoa trong điều kiện tự nhiên Trái thuôn dài giống như xoài Thanh Ca của Việt Nam nhưng tròn hơn, vỏ trái xanh đậm và rất dày, trọng lượng trung bình khoảng 300-350 g, trái vừa cứng bao đầu là đã có vị ngọt, không chua và hợp
khẩu vị Đây là giống xoài ăn sống ngon nhất của Thái Lan Nó được giải nhờ
thịt trái cứng, dòn và vị ngọt hấp dẫn Được dùng làm gỏi Khi chín trái rất mềm, màu vàng hơi xanh, thịt trái hơi trong và có mùi vị kém
♦ Xoài Falan
xanh và hột đa phôi Giống xoài nhỏ cây, tán lá rộng Nó cũng là giống xoài ăn sống thông dụng ở Thái Lan Falan có nghĩa là sấm sét Sở dĩ nó có tên như vậy
là do trái trưởng thành dễ bị nứt sau những cơn giông bão hay mưa lớn Do vậy,
nó không được thu hoạch trong mùa mưa và phải ngưng tưới trước khi hái Falan có mùi vị kém hơn Keow Savoey và thường được dùng để ngâm dấm làm dưa Giống nầy được sản xuất trái vụ ở Miền Bắc Thái Lan
♦ Xoài Rad
Nguồn gốc từ Thái Lan, còn có tên Rade, Rhino, Ai Rad và Rhinoceros
Trái có dạng thuôn dài màu xanh, trọng lượng trung bình 220 g, có hột đa phôi Xoài Rad có thể dùng để ăn chín Rad có nghĩa là con tê giác Bởi vì trên trái có chỗ lồi ra giống như cái sừng ở nửa phần trên của trái Thái Lan đã xuất khẩu xoài nầy sang Nhật Xoài có vị hơi chua khi ăn tươi và rất ngọt khi chín
♦ Xoài Lin Ngo Hou
Nguồn gốc từ Thái Lan, có tên Cobra Tongue Trái có màu xanh đậm và
có vị ngọt đắng khi ăn sống Trái dẹp có hình chữ "S" kéo dài, hột đa phôi
♦ Xoài Nan Klangwan
Nguồn gốc từ Thái Lan, có tên Elephant tusk, Nang Klang Wan,
Nangsangwon, MG 184, Nga Chan, Nuwun Chan, Hong Xiang, Ya-9 Trái dài
Trang 7chín
♦ Xoài Cedar Bay
Nguồn gốc Đông Nam Châu Á Còn có tên Raboul, Golek, New Guinea
long, Foo Fat, Ma 162 Trái dài màu xanh, hột đa phôi Trái to có thể nặng đến
800 g, trung bình 490 g Giống xoài nầy được trồng nhiều ở Châu Á và là giống dùng để ăn sống Được bày bán nhiều ở các chợ Bắc Queensland
♦ Xoài Pim Sane Mun
Có nguồn gốc Thái Lan Mun có nghĩa là mập mạp Trái có màu xanh hơi
tròn, mùi vị hấp dẫn nhất trong các giống xoài ăn sống Ở vùng canh tác có nhiệt độ thấp thì giống Pim Sane Mun có khuynh hướng cho ra những trái dạng cóc Ở Thái Lan những trái dạng cóc được bán ở thị trường nội địa như là xoài không hột
♦ Xoài Brooks
Nguồn gốc ở Florida, Mỹ Trái có dạng trứng màu xanh hoặc vàng, trọng
lượng từ 300 đến 800 g Ở bản xứ, giống xoài nầy không dùng để ăn sống Còn
ở Úc thì xoài dùng để ăn sống hoặc chín Xoài Brokks đậu trái rất tốt, tuy nhiên cũng thường cho trái dạng cóc Giống nầy đôi khi được dùng để ngâm dấm làm dưa
♦ Xoài Tượng
Nguồn gốc Việt Nam Còn có tên Elephant, xoài Cát Tượng Trái thuôn
dài, to, trọng lượng từ 600-800 g, hột nhỏ và đa phôi Khi ăn sống, thịt trái rất dòn, ít xơ và khá chua Vỏ trái dầy có màu xanh nhạt Cây to khoẻ Đây là giống xoài ăn sống phổ biến ở nước ta Giống kháng bệnh anthracnose, nhưng không kháng côn trùng Cây ra hoa sớm, tháng 3 đã có bán ở chợ (Trần Thế Tục, 2002)
♦ Xoài Nam Doc Mai
Nguồn gốc Thái Lan Còn được gọi Nam Dog Mai, Nam Docmai Trái
thuôn dài cân nặng từ 250-400 g Vỏ trái có màu xanh, phần phơi ra ánh nắng mặt trời có màu hồng Hột đa phôi Ở Thái Lan, xoài Nam Doc Mai không dùng
để ăn sống
Trang 82.1 Rễ
Rễ xoài ăn sâu xuống đất, cho nên sức chống chịu hạn giỏi (Phạm Thị Hương và ctv., 2000) Phần lớn rễ tập trung trong phạm vi cách gốc 2 m trở lại
ở tầng đất 1,25 m, chỉ có rễ cái có thể ăn sâu đến 6-8 m Trong những năm đầu
bộ rễ phát triển nhanh hơn các bộ phận khác trên cây, đến năm thứ 5, 6 rễ ăn sâu xuống đến 5,5 m
2.2 Thân
Xoài là cây ăn trái lâu năm, thân cao khoảng 10 đến 15 m Trong điều kiện tự nhiên cây có thể có đường kính 1 m Đường kính thân của xoài ở ĐBSCL biến thiên từ 25 cm (xoài Nghệ, 10 tuổi và xoài Tây, 10 tuổi) đến 68 cm (xoài Lữ Phụng Tiên, 20 tuổi) Chiều cao cây phân bố từ 5 m (xoài Tây, 10 tuổi) đến 15 m (xoài Hòn Phấn, 15 tuổi), đa số tập trung từ 8 m đến 13 m Tỉ lệ giữa chiều cao cây và rộng tán cây cho thấy sự phát triển cân đối của cây, hầu hết các giống đều tập trung trong khoảng từ 0,9 đến 1,3 m; ngoại trừ các giống xoài Xiêm, Chu Trắng và Voi có chiều cao cây lớn hơn rất nhiều so với rộng tán (tỉ lệ cao/rộng là 2,0; 1,7 và 1,7 theo thứ tự) Tất cả các giống điều tra đều có dạng cây thẳng (ngoại trừ giống Tứ Quí có dạng cong), vỏ thân từ hơi sần sùi đến sần sùi (ngoại trừ hai giống Rẻ Quạt và Thanh Ca Đen có vỏ thân láng), tập tính phân cành nghiêng (ngoại trừ giống Xiêm phân cành đứng và Rẻ Quạt phân cành ngang) và màu thân từ trắng xám lợt đến nâu trắng lợt
2.3 Lá
Lá thuộc dạng lá đơn nguyên hình lưỡi mác thuôn, màu xanh đậm, dai Khí khẩu có ở cả hai mặt lá, nhưng mặt dưới có nhiều hơn mặt trên (Singh, 1968) Chiều dài lá 15-30 cm, rộng lá 4-8 cm tuỳ theo giống, có khoảng 12-30 cặp gân chính nối liền với cuống lá dài khoảng 10 cm Lá non mới mọc màu nâu
đỏ, tím, mềm mại Bộ lá phát triển mạnh ở những cây tơ, mỗi một đợt ra lá khi quan sát ta thấy cành cũng vươn dài thêm khoảng 40-50 cm Tùy theo tuổi cây, giống, tình trạng sinh trưởng mà mỗi năm xoài có thể ra từ 1-5 đợt đọt Xoài sinh trưởng kém đôi khi 2 năm mới ra một đợt đọt Đọt non dễ bị nấm bệnh tấn công, cần có biện pháp bảo vệ, nhất là những đợt đọt ra vào mùa mưa.Các giống xoài điều tra có kiểu gân lá từ hơi đối đến so le, không có kiểu gân lá đối
Ở ĐBSCL, xoài có chiều dài phiến lá biến thiên từ 19,6 cm ở xoài Hòn Trắng đến 30,1 cm ở xoài Xiêm Núm Chiều rộng phiến lá từ 4,4 cm ở xoài Hòn
Trang 9đổi từ 44-64 gân (tương đương 22- 32 cặp gân) Trong đó giống xoài Rẻ Quạt có
số gân phụ nhiều nhất (64 gân) Về cuống lá, giống xoài có cuống lá dài nhất là Cát Ghép (5,3 cm) và có cuống lá ngắn nhất là giống xoài Ghép (2,3 cm) Nốt lá (là phần phình to của cuống lá) ngắn nhất (<1,0 cm) là giống xoài Rẻ Quạt, dài nhất là giống xoài Cát Ghép (3,1 cm) Còn lại, các giống có nốt lá dài từ 1,0 cm đến 2,0 cm Góc đáy lá hiện diện ở 2 dạng nhọn và tù Đuôi lá chỉ có ở một dạng
là nhọn nhưng mức độ nhọn khác nhau là: nhọn, nhọn ngắn và nhọn kéo dài
2.4 Hoa
Điểm sinh trưởng của hoa xoài ở chỗ cuối của chồi non sinh ra từ nách lá, dài khoảng 30 cm trở lên Một vài trường hợp hoa mọc ra từ nhánh trưởng thành Phát hoa khá lớn dài khoảng 40 cm với gié hoa chứa khoảng 300-5000 hoa (Hoa hoàn chỉnh ở một số giống) Sự hiện diện của số hoa hoàn chỉnh chiếm
tỷ lệ khá lớn ở phần cuối phát hoa, giải thích lý do tại sao hầu hết trái đều được sinh ra ở cuối phát hoa
Phát hoa có màu vàng lục đến hồng Cánh hoa có màu trắng tím hay hồng, gồm 5 cánh hoa, 5 đài hoa màu xanh, 5 nhị đực nằm ở phần ngoài đế hoa trong
đó chỉ có 2 nhị là có khả năng thụ phấn Bầu nhụy chứa một túi noãn, vòi nhụy cái ngắn Trên một chùm hoa thường có cả hai loại hoa: hoa đực và hoa lưỡng tính (Hình 6.3) Tỷ lệ hoa lưỡng tính của một giống có liên quan trực tiếp đến tỷ
lệ đậu quả ban đầu (Phạm Thị Hương và ctv., 2000) Thời điểm tốt nhất cho hoa thụ phấn là vào buổi sáng (thời gian tung phấn vào lúc 8-12 giờ), lúc trời nóng, khô ráo
Hình 6.3: Hoa xoài A – hoa đực; B – hoa lưỡng tính
Trang 10
thơm dễ chịu, ở một vài loại trái có mùi hôi Giữa trái có hột, vỏ bao hột rất cứng, hình dạng và kích thước tùy giống, có ít hoặc nhiều xơ Thời gian từ khi trổ đến khi thu hoạch dài ngắn tùy giống, giống sớm dài 2-2,5 tháng; giống muộn từ 3,5-4 tháng Trong thời gian đầu phát triển, trái phát triển mạnh theo chiều dài trước, khi đạt chiều dài tối đa thì phát triển mạnh chiều ngang và hong (Bùi Thị Cẩm Hường và Nguyễn Bảo Vệ, 2003) Vì vậy, nếu giai đoạn sau của trái thiếu dinh dưỡng hay gặp điều kiện bất lợi, trái sẽ bị beo đuôi, có dạng tròn nhiều hơn Trọng lượng hột gần như không tăng vào giai đoạn cuối, khoảng 2-3 tuần trước khi thu hoạch (Bảng 4.1); trong khi đó hàm lượng chất khô của thịt trái và chất xơ vẫn tiếp tục tăng
Ở ĐBSCL, xoài có 4 dạng trái: tròn, trứng thon, trứng thon dài và dài Hầu hết các giống có dạng trái hình trứng thon hoặc trứng thon dài, chỉ có 2 giống có dạng trái dài (Thanh Ca Nghệ và Tượng) và 3 giống có dạng trái tròn (Dừa, Mộng Dừa và Tứ Quí) Hai giống xoài có lưng trái hơi cong ở giữa là Muổng và Châu Hạng Võ (Trà Vinh) Trong tất cả các giống thì chỉ có xoài Ghép có đầu trái dạng cổ chai, các giống còn lại ở dạng tròn đến nhọn
Cấu trúc vỏ trái sần sùi ở giống xoài: Thơm, Dừa, Nốt Ruồi, Battambang, Hòn Trắng và Đốc Binh Kiều, các giống còn lại có vỏ trái láng Màu vỏ trái khi chín của tất cả các giống đều có màu vàng, biến thiên từ vàng xanh đến vàng tươi, vàng sậm và vàng hồng Vỏ trái ửng hồng ghi nhận được ở giống xoài Ghép, Nốt Ruồi, Hồng Vỏ, Thanh Ca Tàu và Tây Đặc tính này rất được nhà vườn ưa chuộng vì đẹp rất thích hợp cho việc chưng Tết Trái xoài Ghép, Ghép Nghệ và Ghép Xanh có mùi bưởi, xoài Nốt Ruồi và Muổng có mùi hôi
Trang 11Tuổi trái
(ngày sau
khi trổ)
Trọng lượng (g)
Phần trăm gia tăng mỗi tuần (%)
Hàm lượng (%)
Phần trăm gia tăng mỗi tuần (%)
Hàm lượng (%)
Phần trăm gia tăng mỗi tuần (%)
3 Đất đai và khí hậu
Khí hậu và đất đai là hai nhân tố quan trọng cho việc canh tác xoài, bởi vì
nó không những ảnh hưởng đến năng suất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng của xoài
Khi khí hậu và đất đai thuận lợi, sẽ dễ dàng làm tăng năng suất, ít tốn chi phí, cải tạo môi trường, nên hạ được giá thành sản phẩm Hiện nay, ở tất cả các nước, những vùng được chọn trồng xoài hàng hóa phải có điều kiện tự nhiên thuận lợi
3.1 Khí hậu
và thuận lợi nhất để phát triển và canh tác xoài Tuy nhiên, nhiệt độ cao (46oC),
Trang 12chịu hạn tốt, nhưng để thu được sản lượng cao cần lượng nước cung cấp cho cây đầy đủ Sản lượng và lượng mưa có mối tương quan với nhau Tuy nhiên, ở vùng nào có mùa khô kéo dài và có đủ nước tưới, trái có phẩm chất ngon hơn và năng suất cũng cao hơn
Lượng mưa và ẩm độ cao là điều kiện để nấm bệnh phát triển, đặc biệt là ghẻ và thán thư Tỷ lệ đậu trái trên cây bị ảnh hưởng nếu mưa đúng vào lúc hoa
nở, vì mưa nhiều làm giảm sự hoạt động của côn trùng, do đó sự thụ phấn khó thành công Vì vậy, mùa khô là thời điểm ra hoa tốt nhất
hoạch vườn chuyên canh xoài nên lưu ý đến điều nầy Tác hại rất lớn của gió bão ảnh hưởng nặng đến vùng trồng xoài chuyên canh như Philippine, đây là quốc gia phải chịu nhiều thiệt hại do gió xoáy làm giảm sản lượng ĐBSCL có vận tốc gió trung bình dưới 3 m/giây, hiếm khi có trung tâm bảo đi qua, nên không cần phải lập vành đai chắn gió cho vườn xoài Trái lại, xoài còn được trồng làm cây chắn gió cho một số loài cây trồng khác, nhờ bộ rễ vững chắc
3.2 Đất
Xoài mọc tốt trên nhiều loại đất có sa cấu từ nhẹ tới nặng Tốt nhất là đất sét pha cát hay đất thịt thoát thủy tốt So với những loại cây ăn trái nhiệt đới khác, xoài là loại cây ăn trái chịu úng tốt nhất, có lẽ nhờ vào sự thành lập rễ khí sinh trên thân ngay chỗ mặt nước ngập (Hình 4.3) Sau 5 tháng cho ngập nước ở
3 giống xoài Châu Hạng Võ, Bưởi và Cát Hòa Lộc cho thấy Xoài Châu Hạng
Võ thành lập rễ khí sinh sớm và nhiều hơn hai giống xoài kia, nên chiều cao và
số lá của xoài Châu Hạng Võ cũng cao hơn, nghĩa là xoài Châu Hạng Võ chịu ngập tốt hơn (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Vĩnh Thúc, 2003)
Cây xoài chịu đựng phèn trong đất tương đối khá, nhiều giống xoài mọc tốt ở đất phèn Đồng Tháp Mười, Bán Đảo Cà Mau của ĐBSCL Trắc nghiệm khả năng chống chịu nhôm của 4 giống xoài Bưởi, Châu Hạng Võ, Thanh Ca và Cát Hòa Lộc trong điều kiện dung dịch dưỡng cho thấy xoài Bưởi và Châu Hạng
Võ chống chịu nhôm tốt nhất Sau 8 tuần xử lý nhôm ở nồng độ 100 ppm, chiều cao chồi của 2 giống xoài nầy không giảm bao nhiêu so với đối chứng (Bảng 4.2)
Trang 13
Hình 4.3: Xoài thành lập rễ khí sinh khi bị ngập nước
Trang 14sử dụng vì nó dễ thực hiện và tỉ lệ thành công cao Ở Malaysia và Indonesia, phương pháp thường sử dụng và thành công trong việc nhân giống xoài là tháp
bo
Cây sau khi ghép phải được vô bầu trước khi đem trồng ra vườn Việc đánh bầu được thực hiện từ từ, bằng cách đào xung quanh gốc bằng len nhỏ, giữ phần đất ở quanh bộ rễ Kích thước bầu đất tùy theo tuổi của cây Cây ghép được 1 năm tuổi cần bầu đất có đường kính từ 15-20 cm và chiều cao là 25-30
cm Cẩn thận khi đánh bầu, không không làm xáo trộn hệ thống rễ và làm vỡ lớp đất bao quanh Bầu đất được đặt vào trong giỏ tre hay bọc nhựa, dùng đất ém chặt bầu Cắt xén bớt phân nửa lá để giảm thoát hơi nước của cây Cây con mới làm bầu được đặt trong bóng mát một thời gian ngắn trước khi được đem trồng
Trang 154.3 Làm đất
Lên liếp cao 0,5-0,8 m, rộng 7 m Vùng ĐBSCL đất thấp và có nhiều sét,
dễ bị úng nước, nên trồng cây trên mô, đường kính mô từ 60-80 cm, cao 30-60
cm (tùy thuộc vào cao độ địa hình đất và hệ thống đê bao chống lũ), kiểu canh tác nầy được gọi là kiểu canh tác đồng bằng Đất dùng làm mô có thể là đất bãi bồi ven sông, đất mặt ruộng, đất mặt vườn cây ăn trái phơi khô trộn với phân chuồng, tro trấu theo tỉ lệ 2 đất + 1 phân chuồng + 1 tro trấu Tưới nước cho đất
mô ổn định vài tuần trước khi đặt cây con Ngoài ra, nên bón lót thêm từ
200-300 g phân 16-16-8 ở dưới mỗi hốc và xung quanh bầu cây Sau đó mỗi năm đấp mô rộng thêm ra theo sự phát triển của rễ
4.4 Khoảng cách trồng
Vì xoài là cây đại thụ có khả năng sống rất lâu (từ 30-50 năm), đồng thời xoài ưa sáng và có trái ở chồi ngoài tán cây, nên không trồng quá dầy Để tiện lợi cho công tác thâm canh (tỉa cành tạo tán, phòng trừ sâu, bệnh hại, xử lý ra bông đồng loạt, xử lý tiền thu hoạch,…), tùy theo điều kiện cụ thể mà có khoảng cách trồng khác nhau Tuy nhiên, trong điều kiện thâm canh có thể áp dụng khoảng cách trồng 6 x 6 m
Ở Thái Lan áp dụng kiểu canh tác trồng theo mật độ dầy với khoảng cách
4 x 6 m, tương đương với khoảng 400 cây/ha Trồng dầy phải có biện cắt tỉa, tạo hình ngay từ đầu, để xoài nhận được ánh sáng tốt nhất, mới cho năng suất cao Tuy nhiên, vùng ĐBSCL phải đào mương lên líp, trồng dầy rất khó chăm sóc và
di chuyển
4.5 Tưới nước
Mặc dù là cây chịu hạn nhưng nước có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và cho ra lá non Cây cần có thời gian khô hạn 2, 3 tháng, thời kỳ nầy gọi là giai đoạn nghỉ ngắn để phân hóa mầm hoa Sau thời kỳ khô hạn, cây lại cần nước để cho bông, trái phát triển, vào thời điểm nầy lượng nước cũng
góp phần quyết định đến phẩm chất và năng suất trái
4.6 Tỉa cành, tạo tán
Tỉa cành, tạo tán là khâu chăm sóc không thể thiếu được trong canh tác xoài hàng hóa; cần phải thực hiện sớm, ngay từ đầu Do ưu thế của chồi ngọn nên chồi bên phát triển kém Bấm ngọn cây sau 1 năm tuổi (khoảng 3-4 lần ra
Trang 16làm cho cành mọc ngang ra Khi cành ngang có khoảng 2-3 lần đọt, tiếp tục bấm ngọn cành ngọn cành nầy Chú ý giữ lại từ 3-4 chồi mọc ra các hướng tạo cân đối cho tán cây (Hình 4.4)
Cắt, tỉa phải được thực hiện thường xuyên hàng năm, sau mỗi kỳ thu hoạch trái, để cây ra đọt mới Cành nhỏ ốm yếu, cành vượt trong tán, cành bệnh
và những cành đã rụng hết trái phải được cắt tỉa Cắt tỉa sẽ tạo ra nhánh ngắn lý tưởng, cho cây có dáng thấp dễ điều khiển, và nhất là tán cây thông thoáng ít sâu bệnh Dùng kéo cắt cành nhỏ, dùng cưa tỉa cành lớn
2 năm đầu: Đào 4-5 lỗ xung quanh và cách gốc theo hình chiếu của tán, bón phân và lấp đất, số lần bón được chia làm 2 đợt/năm (Tháng 4-5 và tháng 11 dl): Bón 150-300 gr phân 16-16-8 và 100-200 gr Urea/cây/năm hoặc pha 01
Trang 17Sau khi thu hoạch bón theo công thức: 0,550-0,300-0,240 kg PK/cây/năm (Phân urê: 1,2 kg/cây/năm; Lân Long Thành: 2,3 kg/cây/năm; Clorua kali: 0,4 kg/cây/năm)
N- Trước khi xử lý ra hoa 30 ngày, bón theo công thức: 0,180-0,300-0,240
kg N-P-K/cây/năm: (Phân urê: 0,4 kg/cây/năm; Lân Long Thành: 2,3 kg/cây/năm; Clorua kali: 0,4 kg/cây/năm)
Sau khi đậu trái 2 tuần, bón phân theo công thức: 0,360-0,300-0,48 kg NP-K/cây/năm (Phân 20-20-15: 1,5 kg/cây/năm; Phân urê: 0,13 kg/cây/năm; Clorua kali: 0,425 kg/cây/ năm)
Liều lượng này thay đổi tùy theo tuổi cây và độ màu mỡ của đất Với công thức phân trên đã làm tăng năng suất xoài Châu Hạng võ rất đáng kể (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Hồng Phú, 2003), nhưng không làm ảnh hưởng đến phẩm chất trái So với cách bón của nông dân với liều lượng là 1,07-1,31-0,69 (kg N-P-K/cây/năm) thì liều lượng nầy đã làm tăng thu nhập trên 50% trong điều kiện ở huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh
Ở Malaysia, xoài được khuyến cáo bón phân cho cây ở giai đoạn còn tơ theo công thức sau (Bảng 4.4)
Bảng 4.4: Chương trình bón phân cho xoài ở Malaysia (Othman and
Suranant, 1995)
Tuổi (năm) Loại phân Số lượng
(g/cây)
Số lần bón (lần/năm)
4.8 Xử lý ra hoa
Do cây xoài chỉ ra hoa khi có điều kiện nhiệt độ thấp dưới 20oC (Batten
và McConchie, 1995) nên sự ra hoa và tỉ lệ ra hoa của cây xoài phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới như ở ĐBSCL, lượng mưa hàng năm cao, cây sinh trưởng mạnh và thường thiếu những đợt lạnh
Trang 18khá tập trung nên trong mùa thuận, sản lượng xoài rất nhiều, giá rẻ, nhưng ở vào những thời điểm khác trong năm, giá xoài có thể cao hơn 2-3 lần giá xoài chính
vụ Do đó, điều khiển cho xoài ra hoa trái vụ hay điều khiển cho xoài ra hoa ở những thời điểm thích hợp trong năm là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm điều tiết sản lượng xoài, tránh hiện tượng “được mùa, rớt giá” nhằm ổn định sản xuất và tăng thu nhập cho người trồng xoài
- Quá trình ra hoa của cây xoài
TheoTrần Văn Hâu (2001), quá trình ra hoa của xoài có thể tóm tắt thành 9 giai đoạn như sau:
♦ Giai đoạn 1: ra đọt
Đâm chồi hay ra đọt là yếu tố quan trọng quyết định khả năng ra hoa của xoài Xoài chỉ ra hoa trên ngọn của chồi được hình thành trước đó từ 4-9 tháng Thông thường chồi non dễ xuất hiện trong mùa khô (do ảnh hưởng của nhiệt độ) cao hơn trong mùa mưa nếu được bón phân và tưới nước đầy đủ Khả năng ra đọt của xoài tùy thuộc vào tuổi của cây Xoài tơ có thể ra 2-3 đợt đọt trong năm Trái lại đối với những cây xoài già mỗi năm chỉ ra một đợt đọt hoặc đôi khi không ra Cây xoài thường ra đọt non sau các đợt bị “sốc” như nhiệt độ thấp, ngập úng; hoặc phun Nitrate kali hay Thioure
♦ Giai đoạn 2: tích lũy dinh dưỡng
Sau khi ra đọt, chồi sẽ tích lũy chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình đậu trái và nuôi trái tiếp theo Nếu các chồi non không tích lũy được chất dinh dưỡng trong giai đoạn nầy, nghĩa là chồi ốm yếu, ngắn, số lá trên chồi ít, khả năng đậu trái và giữ trái của cây sẽ kém
♦ Giai đoạn 3: phát triển rễ
Bởi vì sự sinh trưởng của cây xoài không liên tục, nên sau khi chồi phát triển, rễ sẽ hoạt động để hấp thu chất dinh dưỡng Đây là giai đoạn thích hợp để bón phân bổ sung cho cây Nếu nhận thấy đọt xoài nhỏ, ngắn có nhiều đốt, lá
mỏng và mềm thì không đủ khả năng cho ra hoa
Trang 19các biện pháp kích thích cho xoài ra hoa Giống xoài Carabao của Philippines thường đạt năng suất cao khi kích thích ra hoa ở giai đoạn chồi được 6 tháng tuổi (Bugante, 1995) Nếu kích thích xoài ra hoa sớm, tỉ lệ đậu trái sẽ thấp và tỉ
lệ rụng trái non sẽ rất cao, có lẽ do cây không tích lũy đủ chất dinh dưỡng cần
thiết
♦ Giai đoạn 7: miên trạng
Sau khi hình thành, mầm hoa sẽ đi vào thời kỳ miên trạng nếu không có điều kiện thích hợp để ra hoa Thời gian miên trạng càng dài cây càng khó ra hoa
♦ Giai đoạn 8: quyết định ra hoa
Giai đoạn nầy cây có thể ra hoa mà không cần phải kích thích nếu có các điều kiện thích hợp như:
- Có mùa khô kéo dài, thường vào đầu mùa khô
- Có những đợt lạnh (nhiệt độ thấp nhất dưới 200C trong khoảng 20-30 ngày) và theo sau là nhiệt độ cao
♦ Giai đoạn 9: ra hoa
Nếu có các yếu tố tác động đưa mầm hoa ra khỏi thời kỳ miên trạng, mầm hoa sẽ phát triển và cây sẽ ra hoa Các tác nhân ảnh hưởng lên sự phá vở miên trạng mầm hoa là hiện tuợng cây xoài bị “sốc” bởi các yếu tố môi trường như: nhiệt độ lạnh, ngập úng hoặc do sự tác động của hóa chất như nitrat kali, Thioure
Tóm lại, quá trình ra hoa của xoài trải qua nhiều giai đoạn mà mỗi giai đoạn đều có ý nghĩa nhất định Do đó, muốn điều khiển cho xoài ra hoa ta phải tác động các biện pháp thích hợp trong suốt cả quá trình chứ không chỉ đơn
thuần một quá trình riêng lẻ nào (Hình 4.5)
Trang 20Hình 4.5: Sơ đồ xử lý ra hoa xoài chính vụ
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa xoài
♦ Yếu tố môi trường
Môi trường là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự ra hoa và là yếu tố quyết định để đạt được năng suất cao
Nhiệt độ Nhiệt độ giữ vai trò rất quan trọng quyết định kích thích ra hoa
xoài Nhiệt độ thấp có thể làm phá vở giai đoạn ngủ nghỉ của mầm hoa và làm cho cây xoài trổ bông, đặc biệt là nhiệt độ thấp vào ban đêm Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ vào ban đêm dưới 20oC là giới hạn cần thiết cho sự
ra hoa của xoài (Whiley, 1993) Nhiệt độ giữa ngày và đêm cao (30/25oC) cây xoài có xu hướng sinh trưởng dinh dưỡng mạnh hơn là sinh sản Theo kinh nghiệm nhiều năm, nhưng năm nào có gió mùa Đông Bắc về sớm nhiệt độ xuống thấp dưới 20oC xoài ra hoa sớm hơn các năm khác
Ngập úng Ngập úng cũng là một yếu tố gây “sốc” kích thích ra hoa trên
cây xoài Nhiều nghiên cứu cho thấy xoài sẽ ra hoa sau khi bị ngập khoảng 2 tháng Qua nhiều năm cho thấy năm nào nước lũ dâng cao, năm đó xoài ra hoa sớm Do đó, ở những vùng bị ảnh hưởng của lũ lụt, cây xoài sẽ ra hoa sớm và dễ kích thích cho xoài ra hoa hơn các vùng khác
Sự khô hạn Việc “xiết nước” để tạo “sốc” cho cây ra hoa trên một số loại
cây trồng như: cam, quýt, chanh, chôm chôm Nhưng trên cây xoài, ảnh hưởng nầy không cao, kém hơn so với ảnh hưởng của ngập Tuy nhiên, ẩm độ đất cao trong thời kỳ ra hoa sẽ thúc đẩy sự sinh trưởng dinh dưỡng và làm cho cây ra hoa không đều
Trang 21xoài Nam Dok Mai rất mẫn cảm với việc kích thích cho xoài ra hoa bằng Nitrat kali, nhưng giống Kiow Savoey thì trái lại, rất khó kích thích ra hoa Hiện nay, đặc điểm ra hoa của các giống xoài ở Việt Nam chưa được ghi nhận chính thức, nhưng qua kết quả điều tra được ghi nhận là xoài Cát Hòa Lộc khó kích thích ra hoa, ra hoa không tập trung; trong khi các giống xoài Thanh Ca, xoài Hòn (Batttambang), xoài Bưởi, xoài cát Chu là những giống dễ ra hoa (Trần Văn
Hâu, 1997)
Tuổi cây Tuổi cây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa
của cây xoài Trần Văn Hâu (1997) khi xử lý ra hoa cho cây xoài cát Hòa Lộc
6-8 năm tuổi, nhân giống bằng cách ương từ hột, nhận thấy rằng ở cùng một nồng
độ 5 g a.i Paclobutrazol/cây, cây 8 năm tuổi có tỉ lệ ra hoa trên 35% trong mùa nghịch, trong khi cây 6 và 7 năm tuổi tỉ lệ ra hoa thấp, không có hiệu quả kinh
tế Kết quả nầy cho thấy rằng, cây xoài 6,7 năm tuổi trồng từ hột ra hoa chưa ổn
định, vẫn còn bị ảnh hưởng của thời kỳ tơ
Tuổi cành và chồi Tuổi cành cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lên sự
ra hoa của xoài Cành còn non kích thích xoài sẽ ra đọt, trái lại cành quá già (trên 10 tháng tuổi, hình thành từ năm trước) thì miên trạng rất sâu nên khó kích thích ra hoa Kết quả nghiên cứu của Bugante (1995) trên các giống của Philippines cho thấy tuổi cành từ 4-9 tháng tuổi thích hợp cho việc kích thích ra hoa, nhưng cành 6 tháng cho kết quả cao nhất Đối với các giống xoài ở ĐBSCL, qua ghi nhận thì ngoại trừ giống xoài Cát Hòa Lộc kích thích ra hoa đạt hiệu quả cao khi lá chuyển từ màu xanh nhạt sang màu xanh, còn dẽo Trong khi
đó các giống còn lại như xoài thanh Ca, Thơm, Bưởi thời điểm kích thích ra hoa thích hợp khi lá đang chuyển sang màu sanh đậm, khoảng 4-5 tháng, tức là lá
phải già hơn so với lá của xoài Cát Hòa Lộc
Tình trạng sinh trưởng và năng suất năm trước của cây Ngoài yếu tố đất
đai màu mỡ thì tình trạng sinh trưởng của cây và năng suất năm trước có ảnh huởng rất lớn lên sự ra hoa của xoài, đặc biệt đối với các giống xoài có hiện tượng ra trái cách năm (năm trúng mùa, năm thất mùa) như các giống xoài Ấn
Độ Cây xoài bị kiệt sức do có tỉ lệ đậu trái quá nhiều hoặc cho năng suất cao trong năm trước sẽ làm giảm khả năng đâm chồi và phân hóa mầm hoa ở năm tiếp theo Do đó, trong những năm cây đậu trái quá nhiều cần phải tỉa bớt trái hoặc phải bón phân nhiều hơn để cây xoài không bị suy kiệt ở năm tiếp theo
Trang 22Chất lân Hàm lượng chất lân thấp, không thúc đẩy sự ra hoa (Singh and
Singh, 1973) nhưng hàm lượng chất lân trong chồi cao rất thích hợp cho sự khởi
phát hoa ở giống xoài Dashehari (Chadha and Pal, 1986)
Chất kali Kali là yếu tố quan trọng thứ hai sau đạm ảnh hưởng lên sự ra
hoa của xoài Bón đạm kết hợp với kali sẽ giúp cải thiện đáng kể sự ra hoa và
khả năng đậu trái cho xoài
Lượng phân bón thay đổi tùy theo tuổi cây, tán cây, độ màu mỡ của đất, tình trạng dinh dưỡng, vườn đã trúng mùa năm trước cần được cung cấp nhiều phân hơn Cần bổ sung phân hữu cơ để cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây Hiệu quả của việc xử lý ra hoa phụ thuộc vào đặc tính giống, tình trạng dinh dưỡng của cây, tuổi chồi, độ ẩm đất, khí hậu, thời tiết,
- Quy trình xử lý ra hoa Trần Văn Hâu, 2011)
Kích thích
- Tỉa cành: Cắt bỏ phát hoa đã ra hoa
trong mùa trước nhưng không đậu trái hoặc đã rụng trái non, những cành bị sâu bệnh, ốm yếu, bị che khuất bên trong tán cây nhằm tạo cho tán thông thoáng, kích thích cây ra nhiều chồi mới tập trung
- Bón phân: Giúp cho cây ra đọt mập,
tập trung giúp cho cây ra hoa, đậu trái
và nuôi trái tốt hơn Có thể sử dụng phân có công thức 1:1:1 như phân 15:15:15 hay trộn phân Urê với phân hỗn hợp 20-20-15 với tỉ lệ 1:1 Để đơn giản có thể sử dụng phân chuyên dùng AT1 của nhà máy phân bón Bình Điền
- Mùa khô, thời tiết khô ráo, nhiệt độ cao nếu được tưới nước đầy đủ sẽ thích hợp cho sự sinh trưởng và ra đọt non hơn mùa mưa Ngoài ra, cắt tỉa cành trong mùa mưa dễ bị nấm bệnh tấn công qua vết cắt
- Cây xoài được tỉa cành sẽ dễ ra hoa hơn cây không được cắt tỉa
- Cắt tỉa cành giúp cho cây ra đọt sớm và tập trung hơn
- Có thể cắt ngang phía dưới cuống phát hoa hay cơi đọt trước hoặc cắt ở
vị trí bất kỳ phía dưới đỉnh sinh trưởng
Trang 23với liều lượng tùy theo tuổi cây, tình trạng sinh trưởng của cây và năng suất
vụ trước Nên kết bón phân hữu cơ với liều lượng 10-15 kg/cây Nếu đất chua (pH <5) nên bón thêm vôi (liều lượng 1-2 tấn/ha) trước khi bón phân hóa học
và phân hữu cơ Chú ý năm trước cây cho năng suất càng cao thì lượng phân càng nhiều hơn cây cho năng suất thấp
- Tưới nước: 1-2 ngày/lần giúp cho cây
ra đọt non tốt Sau khi cây ra đọt non
có thể tưới 1-2 ngày/lần
- Cắt tỉa cành lớn có đường kính từ
4-5 cm (kết hợp sửa tán) cây sẽ bị trẻ hóa, ra cành lá rất mạnh nhưng chỉ ra hoa sau 1-2 năm
- Khi bón phân nên xới xung quanh tán cây, cách gốc 1 m bề rộng từ 20-
30 cm, sâu 20 cm, sau đó dùng cuốc răng trộn phân đều vào đất
- Trong giai đoạn nầy nên vệ sinh thân, gốc cây bằng Chlorin với nồng
độ 0,5%
Sau khi ra đọt non Chú ý phòng trừ các loại sâu, bệnh
gây hại đọt non
- Nếu đọt non phát triển không tốt (do bón phân không đủ lượng và đúng lúc) như ngắn, ốm yếu cần tiến hành phun
bổ sung phân bón lá có tỉ lệ đạm và lân cao để giúp cho đọt phát triển tốt
- Phun thuốc phòng trừ sâu bệnh gây hại đọt non, đặc biệt là bệnh thán thư, rầy bông xoài, sâu hại lá (câu cấu, bù lạch, )
Sâu: Có thể phun một số loại thuốc như Regent, Actara, Comite, Trebon Cyper 25 EC
Bệnh: có thể phun thuốc như Ridomyl Gold, Antracol, Amistar top 325 SC Zineb, Mancozeb, Probineb luân phiên thay đổi thuốc
- Khi phun thuốc ngừa bệnh thán thư
và rầy bông xoài nên phun đều khắp tán cây và cả thân, cành
- Khi phun phân bón lá nên phân đều
cả mặt trên và mặt dưới lá (phun từ trong ra và từ ngòai vô)
- Giai đoạn này nên phun thuốc trừ sâu lưu dẫn thì hiêu quả hơn để hạn chế câu câu, xén tóc, phá hại lá vào ban đêm
-75 -90 Xử lý Paclobutrazol
- Thời điểm xử lý: Khi lá non đã phát
triển hoàn toàn – lá có màu đồng
(15-20 ngày tuổi) hay lá có màu đọt chuối đến màu xanh nhạt Không nên xử lý hóa chất khi lá đã già (có màu xanh đậm) Xử lý Paclobutrazol khi đọt non mới nhú sẽ làm cho đọt ngắn, lá nhỏ,
- Trong giai đoạn này cũng có thể phun MKP với nồng độ 0,75% – 1% giúp lá trưởng thành đồng loạt hơn
Trang 24không phát triển được
- Liều lượng: 1-2 g nguyên chất/m đường kính tán
Liều lượng Paclobutrazol tùy thuộc vào:
- Cây còn tơ xử lý nhiêu hơn cây trưởng thành
- Cây sinh trưởng mạnh, lá xanh tốt
xử lý hóa chất nhiều hơn cây hơi cằn cổi
- Giống khó ra hoa như xoài cát Hòa Lộc xử lý với lượng lớn hơn giống dễ
ra hoa
- Không nên xử lý ra hoa đối với cây mới cho trái 1-2 năm hay cây quá suy yếu do năm trước cho năng suất quá cao
- Cách xử lý: Pha hóa chất với 20-50 lít
nước tưới đều xung quanh tán cây sau đó:
Trong mùa nắng: Tưới nước (1
ngày/lần) trong vòng 7 ngày để cây hấp thụ hóa chất
Trong mùa mưa: Có thể dùng nylon
phủ gốc hạn chế rửa trôi thuốc trong những trận mưa quá lớn
- Đối với đất có nhiều sét nên xới đất xung quanh tán cây để hóa chất thấm vào đất tốt, không bị mất do chảy tràn trên mặt
- Đối với đất có thành phần cơ giới nhẹ, có nhiều cát nên pha hóa chất với lượng nước vừa phải và tưới từ từ vào tán cây để hóa chất không bị mất do thẩm lậu vào đất
- Hóa chất paclobutrazol không làm chết rễ cây xòai nhưng có thời gian lưu tồn trong đất khoảng 1,5 năm, do
đó nguyên tắc sử dụng hóa chất nầy là giảm liều lượng khoảng 50% ở năm tiếp theo và ngưng sử dụng ở năm thứ
3 Không nên tăng liều lượng ở năm sau khi thấy cây bị “suy” do có nhiều trái
-60 Bón phân 300-500 g/cây phân hỗn hợp
phân DAP và KCl theo tỉ lệ 1:1 hoặc phân AT2 để giúp cho cây chuyển sang quá trình sinh sản tốt hơn
Trang 25-30 Phun MKP nồng độ 0,5-1,0% (0,5-1
kg/100 lít nước)
-7-10 Phun MKP nồng độ 0,5-1,0% (0,5-1
kg/100 lít nước) -3 Rút nước trong mương khô kiệt
Thời gian xiềt nước kéo dài cho đến khi thấy mầm hoa phân hóa rõ mới tưới lại
0 Kích thích ra hoa: Thời điểm kích
thích ra hoa có thể dựa vào thời gian xử
lý paclobutrazol (60 sau khi xử lý paclobutrazol) tuy nhiên nên kết hợp với quan sát sự thay đổi của cơi đọt và chồi ngọn Kích thích ra hoa co hiệu quả khi:
- Lá của chồi ngọn có hai mép dợn sóng, xòe ra không còn túm như đọt còn non
- Chồi ngọn phát triển, nhô cao Phun nitrate kali ở nồng độ 2-2,5%
- Chỉ kích thích ra hoa khi trời khô ráo, rút nước trong mương khô kiệt
- Phun đều lên hai mặt lá xoài
- Chú ý: Thiourea phun quá liều hay
đúng nồng độ nhưng phun không đều
có thể làm cháy lá, rụng nhiều lá về sau nuôi trái kém
5-7 Phun hóa chất Nitrate kali lại lần hai với
nồng độ giảm 50%
15-20 - Bón phân thúc phát hoa phát triển Tỉ
lệ 1:1:1 như phân 15:15:15 với liều lượng 200-300 g/cây
- Phun phân bón lá 10-60-10 để giúp quá trình phân hóa hoa tốt hơn
- Nếu phát hoa phát triển tốt có thể không cần bón phân thúc phát triển phát hoa
- Không phun phân bón la khi thời tiết mưa nhiều
Khi phát hoa đạt kích thhước tối đa:
Phun hóa chất làm tăng đậu trái, canxi bo hay botrac
25-30 Phun thuốc ngừa sâu bệnh (đặc biệt là
bệnh thán thư trong mùa mưa) trước khi hoa nở
Sâu, rầy phun khi phát hoa dài 15-20
cm và có thể phun thuốc như Regent,
- Chú ý phun thuốc sâu, rầy hại bong xoài chỉ phun trước khi hoa nở 5-7 ngày và sau khi đậu trái tránh phun khi hoa đang nở
Trang 26Giai đọan ra hoa (Ngày sau khi hoa nở)
3-5 Phun hóa chất tăng đậu trái lần 2 khi
phát hoa nở 30%
Trong mùa nắng khi phát hoa đang
nở, hết sức chú ý bọ trĩ, rầy bông xoài, nếu có điều kiện dùng máy phun nước rửa bông kỹ để hạn chế bớt bọ trĩ, rầy bông xoài, nếu mật số cao vượt giới hạn có thể phun thuốc sau Regent, Dragon, Trebon, Cyper 25 EC, Secsaigon
Nên thường xuyên quan sát sự xuất hiện của sâu bệnh để có biện pháp phòng trị kịp thời Trong mùa mưa nên ngừa bệnh thán thư 5-7 ngày/lần Trong mùa khô nên quan sát sự xuất hiện của rầy bông xòai, bù lạch (bọ trĩ), sâu đo, sâu dù để xử lý đúng lúc đạt hiệu quả
Hạn chế phun thuốc khi hoa đang nở, nếu trong thời gian đang nở xuất hiện
bọ Trĩ và rầy bông xoài nên dùng nước rửa bông đợi khi hoa nở khoảng 50-60% thì phun thuốc
7-10 Sau khi đậu trái: Khi thấy ‘trứng cá’,
phun hóa chất hạn chế sự rụng trái non, 2 lần cách nhau 5-7 ngày hoặc
Phun phân 15:30:15 nồng độ 0,5%
Sâu : Có thể phun một số loại thuốc như Regent, Actara, Comite, Trebon Cyper 25 EC, , Hopsan 75 ND
Bệnh: có thể phun thuốc như Amistar top 325 SC, Ridomyl Gold, Antracol, Zineb, Mancozeb, Probineb luân phiên thay đổi thuốc Copper Oxychloride, Copper-B, Kocide.
- Phun thuốc ngừa sâu bệnh khi thấy
‘trứng cá’ lộ rõ, có màu xanh xuất hiện tương đối đều
- Phun phân bón qua lá giúp hạn chế rụng trái non do thiếu dinh dưỡng và trái sẽ có khả năng đạt kích thước lớn
ở giai đọan trưởng thành
- Không phun phân khi thời tiết ẩm, nhiều mưa
10-14 - Phun CaCl 2 với liều lượng từ 20-30
g/100 lít nước Phun lại lần hai sau
10-15 ngày
- Phun Gibberellin 5-10 ppm kết hợp
Nên thường xuyên quan sát vườn nếu mùa mưa thì chú ý yếu tố bệnh như thán thư, xì mủ…nếu mùa nắng chú ý yếu tố bọ trĩ, nhện đỏ, rầy bông xoài, sâu đục trái… để có phương án đối
Trang 27với NAA 20 ppm để hạn chế sự rụng trái non (có thể dùng các sản phẩm hạn chế rụng trái non) có thể kèm thêm phân bón lá như 20-20-15, 30-10-10 dạng bột
phó kịp thời nếu sâu bệnh ở mật số thấp thì dùng một số biện pháp thủ công như rung nước mưa hạn chế bệnh hay rửa trái hạn chế sâu, rầy, nếu mật số vượt giới hạn cho phép mới dùng thuốc với các loại thuốc trên.
28-35 Phun Gibberellin 5-10 ppm hạn chế sự
rụng trái non lần 2 30-35 - Bón phân thúc trái phát triển Tỉ lệ
Bệnh : có thể phun thuốc như Amistar top 325 SC, Ridomyl Gold, Antracol, Zineb, Mancozeb, Probineb
luân phiên thay đổi thuốc Copper Oxychloride, Copper-B, Kocide
Tiến hành bao trái bằng bao giấy Đài Loan
Đây là lần bón phân quan trọng giúp trái phát triển đạt kích thước tối đa, ít
bị “trái cóc” Lượng phân tùy theo tuổi cây, số lượng trái/cây
45-50 - Phun Canxi nitrate hay Canxi chlorua
- Bón phân có tỉ lệ kali cao như
14-14-21 hay AT3 để tăng phẩm chất trái
Khi thời tiết ẩm ướt, mưa nhiều nên bón phân kali vào gốc với liều lượng
từ 300-500 g/cây thay vì phun phân qua lá để giảm sự phát triển bệnh xì
mủ trái
85-90 Thu hoạch khi trái đã phát triển bề rộng,
bề ngang, “lên màu” hoặc tỉ trọng bằng 1,02
Có thể xác định thời điểm thu hoạch thích hợp bằng cách cho vào nuớc, nếu trái chìm dưới đáy từ từ thì trái vừa thu hoạch, trái nổi lơ lửng là trái chưa thật già và nếu trái chìm quá nhanh tức là trái đã quá già
Khi thu hoạch nên cắt cuống dài để
Trang 28tránh nhựa làm cháy vỏ trái làm giảm giá trị thương phẩm, đồng thời giúp cho trái chống chịu bệnh thán thư tốt hơn trong giai đọan sau thu họach
5 Sâu bệnh
Xoài có nhiều sâu bệnh Ở ĐBSCL, mùa mưa kéo dài và ẩm độ cao, đồng thời mực nước sông dâng cao gây ngập úng, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển Xoài trồng bằng hột, không được tạo tán, nên cây cao to gây khó khăn trong việc phòng trị sâu bệnh Sâu bệnh gây thiệt hại nhiều nhất là giai đoạn cây ra đọt non và lúc trổ bông (Bảng 4.5), nhất là khi điều khiển xoài trổ bông nghịch vụ trong mùa mưa Cần có biện pháp phòng trị
cụ thể đối với những sâu bệnh nguy hiểm
Bảng 4.5: Sâu bệnh trong các giai đoạn sinh trưởng của xoài ở ĐBSCL
Sâu bệnh chính
Giai đoạn nghỉ sau thu hoạch
Giai đoạn
lá non
Giai đoạn
lá già
Giai đoạn
ra hoa
Giai đoạn trái non
Giai đoạn trái già
Giai đoạn thu hoạch
Bệnh thán thư - - - - - Bệnh phấn trắng - - Bệnh chết đọt -
Bệnh khô hoa - - Rầy bông xoài - - - -
Trang 295.1 Sâu hại
Ruồi đục trái (Bactrocera sp.)
Loài ruồi này gồm nhiều loài phân bố chủ yếu ở vùng Đông Nam Á, gây hại quan trọng trên nhiều loại cây khác nhau như xoài, nhãn, mận, ổi, chôm chôm, Ruồi trưởng thành dài 7 mm giống ruồi nhà, ngực có màu nâu đỏ, cánh trong suốt, mép cánh và lưng bụng có sọc đen, chân màu vàng (Hình 4.6) Trứng được đẻ thành đám dưới lớp biểu bì vỏ trái, trứng dài 1 mm có màu trắng sữa, sắp nở có màu vàng nhạt Ấu trùng thuộc dạng giòi không chân dài 3 mm, đục vào trong ăn phá thịt trái, gây thối và rụng trái; nơi bị hại có vết thâm khi ấn nhẹ vào dịch nước sẽ rỉ ra (3 ngày sau khi ruồi đẻ trứng) Nhộng có màu đỏ nâu, hóa nhộng dưới đất
- Sau thu hoạch, cày lật đất để diệt nhộng sống trong đất
- Đặt bẩy Methyl eugenol để diệt ruồi trưởng thành
- Phun bả mồi Protein trộn thuốc hóa học để giết ruồi trưởng thành trước khi đẻ trứng, khi trái trưởng thành định kỳ phun 1 lần/tuần
- Sử dụng túi chuyên dùng để bao trái
Trang 30Đây là đối tượng trong kiểm dịch thực vật của nhiều nước nhập khẩu trái cây trên thế giới, cần thiết phải diệt trứng và ấu trùng sau thu hoạch Có thể dùng biện pháp xông hơi, xử lý nóng,
Rầy bông xoài (Idioscopus spp.)
Rầy có mặt ở hầu hết các nước có trồng xoài ở Châu Á Thành trùng có màu xanh nâu hay xanh nhạt, dài khoảng 4 mm (Hình 4.7a), chiều dài của ấu trùng mới nở khoảng 0,9 mm Trứng được đẻ thành từng đám trong nụ bông, gân lá, phiến lá, mới đẻ có màu trắng, sau đó màu trắng sữa Ấu trùng có màu sắc biến đổi từ trắng đến xanh hoặc vàng đen (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Mật
số rầy gia tăng khi bắt đầu trổ bông và đạt cao nhất lúc hoa nở, sau đó giảm dần Khi trái đã lớn cở ngón tay cái thì không còn rầy nữa
Rầy gây hại đọt non, bông (Hình 4.7b) và lá non Rầy chích làm lá không phát triển được, lá bị cong, rìa lá khô, còn ở trên bông làm cho phát hoa bị khô
và rụng; Còn ở trái, trái non không phát triển và sẽ bị rụng Mật số rầy cao có thể thất thu 100% năng suất
Khi chích hút, rầy còn tiết ra mật đường làm cho nấm bồ hóng phát triển mạnh gây đen bông và trái, đây cách nhận diện dễ dàng nhất sự có mặt của rầy Vườn xoài có rầy hiện diện, khi vào sẽ nghe những tiếng động nhỏ do rầy di chuyển nên rất dễ phát hiện
Phòng trị bằng cách:
- Sau khi thu hoạch trái cần xén tỉa cho vườn thông thoáng
- Những vùng thường xuyên bị rầy, cần phun ngừa lúc xoài vừa ra nụ hoa khi phát hiện có rầy trên lá
- Ngoài tự nhiên có một số loài thiên địch như bọ xít ăn thịt (Revudiidae),
ong ký sinh và nấm Verticellium lecanii, Hirsutella sp Các loại côn trùng nầy sẽ
tiêu diệt rầy
- Dùng các loại thuốc để phun như Actara, Admire, Dragon, để phun khi cần thiết
Trang 31
Hình 4.7: Rầy bông xoài: (a) thành trùng và (b) bông xoài bị rầy
Sâu đục trái (Deanolis albizonalis)
Xuất hiện chủ yếu ở Châu Á Bướm có màu nâu đỏ, chiều ngang cánh khoảng 25-28 mm (Hình 4.8a; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Thân có những khoang trắng đỏ xen kẻ nhau Trứng hình bầu dục, màu sắc thay đổi từ trắng đến nâu nhạt và trở nên sậm khi sắp nở Sâu mới nở dài khoảng 3-5 mm, khi phát triển đầy đủ dài khoảng 20-22 mm, có những khoang trắng đỏ trên lưng Nhộng (Hình 4.8b) dài từ 11-12 mm, lúc đầu có màu vàng lợt, dần chuyển sang nâu Sâu có thể gây hại ở mọi giai đoạn phát triển của trái, sâu non thường đục vào cuối trái rồi phát triển bên trong ăn phá, làm trái bị biến dạng, thối và rụng Trái
bị sâu đục vào có vết nứt và thối nên dễ dàng phát hiện Khi ăn hết phần hột, sâu
sẽ chuyển sang trái kế cận Nếu bị nặng năng suất có thể bị giảm đến 50% Phòng trị bằng cách thu lượm những trái bị hại đem tiêu hủy để loại bỏ nguồn sâu trong trái Áp dụng biện pháp bao trái từ khi trái còn nhỏ, đường kính khoảng 3-4 cm Cần phát hiện sớm và phun thuốc kịp thời để có biện pháp phòng trị, diệt được sâu khi mới đục vào trái
Hình 4.8: Sâu đục trái xoài: (a) bướm; (b) nhộng
( a)
( b)
Trang 32Bọ cắt lá gây hại nặng trong vườn ươm cây con Bọ trưởng thành đẻ trứng trên bìa lá non vào ban đêm và sau đó cắt ngang lá (Hình 4.9B), sáng sớm có thể quan sát nhiều lá non bị cắt rải rác dưới đất Lá non của cây con bị thiệt hại, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của cây, kéo dài giai đoạn cây con trong vườn ươm
Bọ cắt lá còn gây hại trên vườn sản xuất nhất là các tháng vào mùa khô và chủ yếu ở giai đoạn cây ra đọt non
Phòng trị bằng cách:
- Điều khiển cây ra đọt non đồng loạt
- Thu dọn các lá bị hại trong vườn đem tiêu hủy
- Phun thuốc khi thấy bọ trưởng thành xuất hiện trong vườn như Polytrin, Karate hoặc thuốc gốc cúc tổng hợp
- Ở vườn bị nhiễm nặng nên cày đất dưới tán cây, phun thuốc diệt nhộng
Hình 4.9: Bọ cắt lá: (A) Thành trùng và (B) lá bị cắt ngắn
Rệp Sáp (Pseudoccoccus sp)
Có nhiều loài rệp Sáp gây hại trên xoài nhưng quan trọng là loài gây hại trên trái vì nó ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất cũng như hình thức của trái, vì thế giá bán không cao (Hình 4.10)
Trang 33Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), có 2 nhóm sâu đục ngọn, chồi và cành
non Một nhóm thuộc Bộ cánh vảy (Lepidoptera) do bướm sinh ra là Chlumetia
transversa và Dudua aprobala Một nhóm khác thuộc Bộ cánh cứng, gồm ba
loài thuộc họ Vòi voi (Curculionidae) và một loài thuộc họ Xén tóc (Cerambycidae)
- Nhóm thuộc Bộ cánh vảy
Bướm có thân màu nâu đen (Chlumetia transversa), cánh màu nâu, dài
khoảng 7-8 mm (Hình 4.11a) Thành trùng đẻ trứng vào ban đêm, đẻ rải rác trên chồi non, lá non Trứng mới nở có màu trắng, nhưng trở nên màu nâu khi sắp
nở Ấu trùng có màu hồng, có 5 tuổi, mỗi tuổi biến động từ 2-3 ngày Nhộng
được làm trong đường đục trong cành non Một loại bướm khác (Dudua
aprobola) có thân màu nâu, cánh cũng có màu nâu, dài khoảng 6-6,5 mm Ấu
trùng có màu hồng mận, khi phát triển đầy đủ dài khoảng 11-13 mm (Hình 4.11 b)
Sâu mới nở thường đục ngay vào thân chính, cuống lá non hoặc chồi non, sau đó sâu chui dần xuống thân chồi non Chồi bị hại sẽ bị khô héo, khô Nếu sâu tấn công trên bông sẽ làm bông khô và rụng Trong quá trình gây hại cũng được ghi nhận là nó ăn cả lá non
Trang 34Phòng trị bằng cách quan sát thường xuyên xoài lúc ra đọt non, nếu thấy sâu và chồi héo cần cắt bỏ ngay Dùng vợt bắt côn trùng vào sáng sớm Khi bị nhiễm nhiều, dùng thuốc hóa học gốc lân và cúc tổng hợp để trị Nên sử dụng thuốc luân phiên
Hình 4.11: Bướm của sâu đục ngọn và cành non:
(a) Chlumetia transversa, (b) Dudua aprobala
- Nhóm thuộc Bọ cánh cứng
Bọ cánh cứng có thân hình bầu dục, dài khoảng 4-5 mm, màu nâu, lưng cong, vòi dài rất cong làm thành một góc 45-50o so với bề ngang của đầu (Hình 4.12a) Con cái đẻ trứng trên các cháng ba của cây, hoặc trong các khe nứt Sau khi nở ấu trùng sẽ đục vào trong thân cây, chủ yếu là chỗ phân nhánh (cháng ba của chồi) Một loài khác cũng đục ngọn cành, nhưng hình dạng khác với loài trên, thân màu nâu đen, thon dài khoàng 8-8,5 mm Vòi dài hơi cong làm thành một góc 3035o so với bề ngang của đầu (Hình 4.12b) Thành trùng dùng vòi đục nhiều lỗ liên tiếp vào cành non tạo thành buồng đẻ trứng Trứng màu trắng sữa Sau khi nở, ấu trùng đục vào chồi ăn phá các phần bên trong
Triệu chứng gây hại rất dễ nhận diện do cành khô không rụng mà còn dính lại trên cây một thời gian dài Tuy nhiên, đừng nhầm lẫn triệu chứng nầy với một số bệnh gây khô lá Phân biệt là đọt bị gảy gục; phần bên ngoài chỗ gảy
có lá bị khô, trong khi lá ở bên trong chỗ gảy vẫn còn xanh Phòng trị cũng giống như ở Bộ cánh vảy ở trên
( a)
( b)
Trang 35
Hình 4.12: Bọ cánh cứng của sâu đục ngọn và cành non:
(a) Loài thân bầu dục, và (b) Loài thân dài
Bù lạch
Gồm có 2 loài Scirtothrips dorsalis và thrips sp., trong hai loài nầy thì
Scirtothrips dorsalis xuất hiện phổ biến (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2002) Bù lạch
đẻ trứng rời rạt ở mặt dưới lá Trứng hình bầu dục có màu vàng nhạt Ấu trùng tuổi 1 có cơ thể trong suốt, sang tuổi 2 ấu trùng đã có kích thước của thành trùng Nhộng có màu vàng sậm Thành trùng có kích thước rất nhỏ, dài khoảng 0,1-0,2 mm, màu vàng đến vàng cam, cánh hẹp, hai bên rìa cánh có nhiều sợi lông nhỏ dài (Hình 4.13)
Hình 4.13: Bù lạch trên xoài: (a) thành trùng và (b) trái xoài bị bù lạch
Bù lạch chích nhựa từ biểu bì của vỏ trái và lá Nơi chích trở nên sậm màu, đọt non trở nên đen cong queo và sau cùng rụng đi, bị nặng thì toàn bộ lá
bị rụng Ở ĐBSCL, bù lạch xuất hiện nhiều lúc trổ bông và trái non khi có thời tiết nóng và khô hạn Bù lạch tiết ra dịch lỏng màu đỏ, khi khô trở nên màu nâu
(a) ( (b) (
Trang 36hay đen dính trên vỏ trái, làm thành một vòng màu nâu đen quanh cuống trái, vết nầy vẫn bám đến khi trái trưởng thành, làm trái có chất lượng kém (Hình 4.12) Phun nước lên cây có thể hạn chế được sự phát triển của bù lạch Đến nay biện pháp hóa học vẫn là biện pháp chính trong phòng trị bù lạch Có nhiều loại thuốc trị được bù lạch, chỉ phun khi bù lạch có mật số 3 con/trái non Phải thay đổi thuốc thường xuyên, vì bù lạch dễ lờn thuốc
5.2 Bệnh hại
Bệnh thán thư (Do nấm Colletotrichum gloeosporioides)
Nấm tấn công lên hoa, trái, lá và cành non, nhất là vào mùa mưa hoặc khi
có sương mù
Trên lá: Bệnh chủ yếu xuất hiện trên lá non, triệu chứng bắt đầu có những đốm nhỏ như mũi kim có màu nâu sẫm đến đen, có hình dạng không hình, lúc thì hình tròn, bầu dục, hình ngôi sao và về sau vết bệnh phát triển liên kết với nhau thành từng mảng và lan rộng ra, ở giữa vết bệnh lớp tế bào bị khô và có những lỗ thủng làm lá non không phát triển đôi khi bị biến dạng, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây (Hình 4.14a)
Trên bông: Bệnh phát triển trên cả chùm bông làm đen bông và rụng, bệnh
còn phát triển trên các cành non của cây
Trên trái: Bệnh còn phát triển trên trái (Hình 4.14b), bệnh nhiễm từ lúc trái còn non đến thu hoạch, lúc đầu vết bệnh là những đốm nhỏ hình tròn, có màu nâu hoặc nâu đen, sau lan dần ra, nhiều đốm kết hợp với nhau thành những đốm lớn hơn lõm vào phần thịt trái, khoảng 5-10 mm và có thể lan ra bao quanh trái, làm cho thịt trái bị chai sượng và thối, sau đó sẽ rụng
Cách phòng trị:
Trong vườn ươm: Luôn vệ sinh vườn sạch sẽ thoáng mát, có đầy đủ ánh sáng, tránh ẩm độ không khí cao Cần chú ý làm sao cho cây con ra đọt non phải đồng loạt để dễ dàng phòng trị, khi thấy bệnh bắt đầu xuất hiện cần phải phun thuốc nhằm ngăn chận sự lây lan của bệnh
Ngoài đồng: Để phòng trị bệnh thán thư trên xoài việc tiêu hủy các cành lá bệnh để tránh lây lan là rất quan trọng Tránh trồng quá dày tạo ẩm độ cao làm cho bệnh phát triển mạnh Luôn vệ sinh vườn thoáng mát tránh sự lây lan của bệnh
Trong các đợt ra lộc non, ra bông, trái non cần chú ý đến bệnh, đặc biệt trong mùa mưa nếu thấy bệnh có triệu chứng cần phun thuốc để phòng trị Còn ở trên bông và trái non khi bệnh phát triển nhiều có thể phun định kỳ 7-10 ngày 1
Trang 37lần bằng các loại thuốc như Score, Daconil, Nustar, Derosal, Dithane, Copper B, Antracol, Tilt super, từ khi hoa nở đến 2 tháng, sau đó giảm số lần phun khoảng 1 tháng phun 1 lần Ở trái, sau giai đoạn rụng sinh lý của trái, chúng ta
có thể sử dụng bao trái để bao, không những hạn chế bệnh thán thư mà còn giảm các loại bệnh hại khác
Hình 4.14: Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides):
(a) trên lá và (b) trên trái
Bệnh phấn trắng (do nấm Oidium mangiferae)
Bệnh thường gây hại trong điều kiện thời tiết nóng ẩm hoặc có sương đêm Nấm bệnh đóng thành lớp phấn trắng trên lá non, phát hoa và trái non Bệnh thường phát triển từ ngọn của phát hoa, lan dần đến cuống hoa, trái non, lá non
và cành Thường hoa bị nhiễm bệnh trước khi thụ phấn và trái bị nhiễm bệnh khi còn rất nhỏ Trái bị nhiễm bệnh sẽ bị biến dạng, méo mó, nhạt màu, bị khô và rụng sớm Bệnh gây thiệt hại nặng nhất trong giai đoạn trổ hoa đến tạo trái trong điều kiện nóng ẩm, có sương về đêm, bệnh bộc phát và lây lan rất nhanh (Hình 4.15)
Phòng trị bằng cách cắt tỉa cành tạo tán cho cây phát triển mạnh, tránh tạo
cơ hội cho bệnh phát triển, cung cấp phân bón đầy đủ Cần chú ý sự phát triển của bệnh trong giai đoạn cây ra bông và tạo trái non Nếu thấy bệnh xuất hiện cần xịt thuốc để phòng trị ngay bằng các loại thuốc gốc đồng, Tilt super, Score, Bayfidan, Benomyl, Ridomil, Topsin… theo liều lượng khuyến cáo
Có thể bao trái khi xoài hết giai đoạn rụng sinh lý (Từ 35-40 ngày tuổi) để tránh ruồi đục trái và phòng ngừa nấm bệnh Sử dụng Benomyl với nồng độ 1 g/lít
Trang 38
nước, ở giai đoạn 1 tháng trước thu hoạch để hạn chế bệnh trên trái sau thu hoạch (đối với vườn không bao trái)
Hình 4.15: Bệnh phắn trắng trên bông xoài
Bệnh nấm hồng (do Corticium salmonicolor)
Đầu tiên trên mặt vỏ thân hay nhánh có tơ nấm trắng bò lan, sau đó nấm tạo thành những mảng màu hồng Đôi khi không thấy mảng màu hồng mà chỉ thấy các gai nấm màu hồng phát triển từ các vết vỏ thân hay nhánh (Hình 4.16) Nhánh và thân cây bị nấm tấn công sẽ bị mất dinh dưỡng, sau đó sẽ bị khô
và chết Ngoài ra, vết bệnh là một lớp phấn phủ màu trắng bao xung quanh thân cành Nấm có thể gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau, đặc biệt các loại cây ăn trái như mít, sầu riêng,
Bệnh thường phát triển trên những cây có tàn lá rậm rạp và che khuất nhau, nhất là vào những tháng mưa ẩm Do đó, nên trồng cây với khoảng cách hợp lý, tỉa bớt cành lá vô hiệu để tránh che rợp Cắt bỏ và tiêu hủy các nhánh nhiễm bệnh, phát hiện bệnh sớm và đánh chải vùng bệnh bằng dung dịch thuốc hóa học như Bonanza, Rovral, Validacin hoặc Kitazin
Trang 39Hình 4.16: Bệnh nấm hồng trên cây xoài
Bệnh khô đọt, thối trái (Diplodia natalensis)
Bệnh này gây hại nặng trong điều kiện nóng ẩm, nhất là trong mùa mưa Trên nhánh đọt bị các đốm sậm màu, lan dần trên các cành non, cuống lá làm lá
bị biến màu nâu Cành bị khô, nhăn và có thể chảy mủ Chẻ dọc cành bệnh, bên trong các mạch dẫn nhựa biến thành màu nâu tạo nên những sọc nâu Nếu sử dụng cành ghép, mắt ghép từ cành bị nhiễm bệnh, bệnh có thể phát triển trên cây con sau khi ghép
Bệnh tấn công trên trái sau giai đoạn thu hoạch và tồn trữ hay vận chuyển, làm thối phần thịt trái nơi gần cuống có màu nâu sậm lan dần làm thối nát cả trái hoặc nơi vỏ trái bị trầy trụa Vết thối mềm và lây lan khá nhanh chỉ sau 2-3 ngày, nhất là trong môi trường nóng ẩm, đặc biệt khi thu hoạch trái không chừa cuống rất dễ bị nấm xâm nhập vào (Hình 4.17)
Phòng trị bằng cách tránh gây bầm dập, rụng cuống trái khi thu hoạch Khi thu hoạch cần chú ý tránh sự va chạm giữa các trái, tránh tạo vết thương làm cho bệnh dễ xâm nhập vào bằng cách đặt từng trái vào thùng chứa giấy báo Tỉa cành kết hợp tỉa các bộ phận bị bệnh và tiêu hủy, hạn chế sự lây lan của nguồn bệnh trên vườn Chọn mắt ghép sạch bệnh để tránh lây lan bệnh cho cây con Cần phun các loại thuốc để phòng trị bệnh như Tilt super, Dithane, Carbenzim, Benlate, Manzate, Topan Trái sau thu hoạch có thể xử lý bằng nước nóng 520C trong 10 phút cũng ngừa được bệnh thối trái và thán thư
Trang 40Hình 4.17: Bệnh khô đọt, thối trái
Bệnh đốm vi khuẩn (Xanthomonas campestris)
Bệnh thường gây hại trong mùa mưa và gây hại ở cành non, cuống trái, lá, trái Trên lá, vết bệnh thường có màu nâu đến đen và góc cạnh, vết bệnh thường
bị giới hạn bởi các gân phụ trên lá, đôi khi xung quanh vết bệnh có quầng màu vàng, nhiều vết bệnh có thể liên kết lại tạo thành mảng cháy lớn (Hình 4.18) Trên trái, vết bệnh nhỏ có màu đen hoặc không màu tùy thuộc vào ẩm độ không khí, vỏ trái bị nứt nhựa chảy ra lúc dầu vết nứt không màu hoặc màu đen (khi ẩm độ cao), nhựa màu nâu, vết bệnh cũ có màu đen, nếu thời tiết có ẩm độ cao vết bệnh có thể nhũn ra, trái non bị rụng, trái già nứt ra, đôi khi cũng bị thối
và rụng đi
Khi có dịch bệnh, không nên tưới phun lên toàn cây, không phun phân bón
lá hoặc KNO3 sẽ làm bệnh nặng thêm Phòng trị bằng cách cắt tỉa cành, trái bị bệnh đem tiêu hủy Vệ sinh vườn cây sau những vụ thu hoạch để tạo điều kiện thông thoáng cho vườn Phun thuốc gốc đồng để ngừa bệnh như Bordeaux 1%, Coper Zinc 85 WP, Coc 85 nồng độ 0,2-0,4%, hoặc Kasuran 50 WP, Kasumin 2
L, starner 20 WP nồng độ 0,1-0,2% phun 7-10 ngày/lần