Tiểu luận Tiền lương khu vực công do sinh viên trường lao động xã hội tự viết và thực hiện. Chỉ nên là tài liệu để các bạn tham khảo. Số liệu có thể không còn đúng trong tương lai. Mong tài liệu hữu dụng với các bạn.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI CƠ SỞ II
Họ và tên: Đặng Thị Lợi Mã số sinh viên
2053404041076
Tiền lương khu vực công Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Văn Hiếu
TÁC ĐỘNG CỦA TIỀN LƯƠNG KHU VỰC CÔNG ĐẾN DUY TRÌ VÀ PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM Tiểu luận (hoặc tham luận): Cuối kì Giữa kì
Tiểu luận (hoặc tham luận) này được hoàn thành vào ngày 1/11/2023
Giám khảo 1 (Ký và ghi rõ họ tên)
Giám khảo 2 (Ký và ghi rõ họ tên)
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 11 NĂM 2023
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 Cơ sở lý luận về tiền lương khu vực công và duy trì, phát triển nguồn nhân lực 2
1.1.Một số khái niệm liên quan tới tiền lương khu vực công 2
1.1.1 Các quan điểm về tiền lương 2
1.1.2 Các quan điểm về khu vực công 2
1.1.3 Khái niệm về tiền lương khu vực công 2
1.2 Vai trò của tiền lương khu vực công 2
1.3 Nguồn nhân lực khu vực công 3
1.4 Duy trì phát triển nguồn nhân lực 3
1.5 Mối quan hệ giữa tiền lương khu vực công với duy trì và phát triển nguồn nhân lực 3
Chương 2 Thực trạng tiền lương khu vực công ảnh hưởng đến sự duy trì và phát triển nguồn nhân lực ở việt nam hiện nay 4
2.1 Tình hình chung về tiền lương trong khu vực công 4
2.2 Thực trạng tiền lương khu vực công tác động đến sự duy trì và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiên nay 5
2.3 Đánh giá chung về thực trạng tác động tiền lương khu vực công đến việc phát triển và duy trì nguồn nhân lực 9
2.3.1 Kết quả đạt được 9
2.3.2 Hạn chế 10
Chương 3 Một số giải pháp giúp thực hiện tốt vai trò của tiền lương khu vực công với việc duy trì, phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Đi đôi với nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển đó là nhu cầu đời sống
- xã hội của con người ngày càng cao Tiền lương luôn là vấn đề được xã hội quan tâm đến Bởi vì tiền lương có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tất cả người lao động đang làm việc trong mọi khu vực nói chung, khu vực công nói riêng, tiền lương là nguồn thu nhập tất yếu giúp cho người lao động trang trải cuộc sống của bản thân và gia đình Tiền lương được xem như một khoản chi phí đầu tư không nhỏ vào mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội của nước ta Tiền lương khu vực công được trích từ ngân sách nhà nước và cách thức trả lương do Nhà nước quy định Tiền lương trong khu vực công có vai trò trong việc giúp nhà nước ta đạt được các mục tiêu chung về kinh tế - chính trị - xã hội, nâng cao chất lượng dịch vụ công, tạo động lực làm việc, và đặc biệt là giúp thu hút và giữ chân nguồn nhân lực
Nhận thấy vai trò to lớn này, nên việc xây dựng hệ thống tiền lương khoa học, hợp
lý sẽ làm đòn bẩy kích thích cả số lượng lẫn chất lượng lao động trong khu vực công, đây được xem là nhiệm vụ lớn cho các cơ quan Nhà nước ta Tuy nhiên, vấn đề nào cũng có hai mặt, dạo gần đây có rất nhiều người lao động làm trong khu vực công nghỉ việc cho thấy rằng tiền lương trong khu vực công hiện nay đang kém hấp dẫn hơn so với các khu vực khác, tạo ra một làn sóng thôi việc của nguồn nhân lực ở khu vực Nhà nước đang gia tăng hay nói cách khác ở tiền lương ở khu vực công nước ta chưa thực
sự tác động tốt đến việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực Để giải quyết được vấn đề này đòi hỏi phải có phương án cải cách chính sách tiền lương phù hợp với thực tiễn góp phần nâng cao thu nhập, giảm thiểu tình trạng nguồn nhân lực ngày càng hao hụt dần
Vì vậy, nên em chọn đề tài “ Tác động của tiền lương khu vực công đến duy trì và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam” để kết thúc môn Tiền lương khu vực công
Đối tượng nghiên cứu: Tiền lương khu vực công của công chức, viên chức, người lao động
Phạm vi nghiên cứu: Khu vực công ở Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu: Nắm bắt được những cơ sở lý thuyết về tiền lương khu vực công và tác động của tiền lương khu vực công đến duy trì và phát triển nguồn nhân lực Vận dụng những lý thuyết để tìm hiểu, phân tích những tác động của tiền lương khu vực công đến duy trì và phát triển nguồn nhân lực và đưa ra một số giải pháp để khắc phục những bất cập
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài này sử dụng phương pháp thu thập thông tin từ các nguồn: Sách, báo, tạp chí chuyên ngành liên quan, tài liệu từ cổng thông tin internet,… kết hợp với phương pháp phân tích, phương pháp lập luận để hiểu rõ về bài tiểu luận này
Trang 4Chương 1 Cơ sở lý luận về tiền lương khu vực công và duy trì, phát triển
nguồn nhân lực 1.1 Một số khái niệm liên quan tới tiền lương khu vực công
1.1.1 Các quan điểm về tiền lương
Theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương là số tiền mà người
sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác
Theo cách hiểu cá nhân, tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho sức lao động của người lao động thông qua thương lượng
1.1.2 Các quan điểm về khu vực công
Theo nhà kinh tế học người Mỹ - giáo sư trường đại học Columbia – Joseph E.Stiglitz có quan điểm: : “Khu vực công là khu vực hoạt động phi lợi nhuận, phục vụ cho đại đa số lợi ích cộng đồng, các đơn vị trong khu vực công được giao một số quyền hạn nhất định có tính chất bắt buộc, cưỡng chế mà các cơ quan tư nhân không thể có được
Theo quan điểm của Lê Minh Trường (2023): “Khu vực công cộng (hay khu vực chính phủ) thường được sử dụng để chỉ những tổ chức, cơ quan và hoạt động mà được điều hành hoặc tài trợ bởi chính phủ và phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội.”
Ngoài ra, còn có quan điểm khác của Vũ Hồng Phong: “Khu vực công là khu vực hoạt động do Nhà nước làm chủ sở hữu, phản ánh các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội do Nhà nước quản lý và quyết định nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho nhu cầu chung thiết yếu của xã hội Theo cách hiểu cá nhân: Khu vực công là khu vực thuộc quyền quản lý của nhà nước
1.1.3 Khái niệm về tiền lương khu vực công
Tiền lương trong khu vực công được hiểu là số tiền Nhà nước trả cho công chức, viên chức và người lao động làm việc trong khu vực công căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động phù hợp khả năng ngân sách quốc gia và các quy định của pháp luật
(Vũ Hồng Phong, 2020)
1.2 Vai trò của tiền lương khu vực công
Giúp thu hút và giữ chân nguồn nhân lực (bao gồm những lao động có trình độ chuuyên môn cao vào làm việc ở khu vực công Việc người lao động có gắn bó với tổ chức lâu dài hay không đều phụ thuộc nhiều vào chính sách quản trị nhân lực nói chung
và chính sách tiền lương nói riêng Việc xây dựng được một chính sách tiền lương khu vực công hợp lý và có tính cạnh tranh cao sẽ giúp giữ chân nguồn nhân lực (bao gồm những người có trình độ cao) ở lại làm việc trong khu vực công
Trang 5Làm đòn bẩy về mặt vật chất, tác động mạnh đến tinh thần, thái độ cũng như động lực làm việc của người lao động Nâng cao chất lượng các dịch vụ công Đóng góp vào quá trình thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước tốt hơn, nhanh hơn
1.3 Nguồn nhân lực khu vực công
Nguồn nhân lực khu vực công là những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, được phân chia thành nhiều nhóm với tên gọi khác nhau; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và các văn bản có liên quan
Đặc điểm của nguồn nhân lực khu vực công: Đa số việc làm trong khu vực công chủ yếu là hoạt động của quản lý Nhà nước, các hoạt động sự nghiệp như y tế, giáo dục, nghiên cứu,… và lực lượng vũ trang nên đòi hỏi nguồn nhân lực trong khu vực này phải
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
1.4 Duy trì phát triển nguồn nhân lực
Duy trì và phát triển nguồn nhân lực là quá trình biến đổi cả về số lượng lẫn chất lượng, cơ cấu nhân lực và đảm bảo sự phù hợp của nhân lực đối với cơ quan, tổ chức bộ máy Nhà nước Đó là chuỗi các hoạt động giữ chân người lao động và đồng thời nâng cao trình độ lành nghê thông qua quá trình đào tạo và phát triển các năng lực cần thiết
để làm việc hiệu quả, đáp ứng mục tiêu của cơ quan, tổ chức bộ máy Nhà nước trong từng giai đoạn
1.5 Mối quan hệ giữa tiền lương khu vực công với duy trì và phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực được ví như một nguồn tài nguyên đặc biệt, góp vai trò quan trọng trong sự phát triển mục tiêu kinh tế - xã hội ở bất kì thời đại nào Việc đầu tư cho sự phát triển nguồn tài nguyên đặc biệt này chính là cơ sở cho sự phát triển bền vững trong tương lai
Việc sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và tăng tính hiệu quả tổ chức thông qua quá trình tạo bề dày trình độ tay nghề và chuyên môn nghiệp vụ, khả năng thích ứng của người lao động đối với xu thế kinh tế luôn biến đổi
Ở khía cạnh thực hiện tốt vai trò của tiền lương khu vực công trong việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực Tiền lương là một trong những yếu tố hấp dẫn giúp thu hút
và duy trì số lượng nhân lực trong khu vực công nói chung, khu vực khác nói riêng Nếu tiền lương trả cho NLĐ làm trong khu vực công xứng đáng và công bằng sẽ giúp thu hút số lượng và giữ chân được NLĐ tham gia làm việc cho khu vực nhà nước, khi tiền lương khu vực công cao sẽ khuyến khích NLĐ làm trong khu vực công không ngừng học tập và nâng cao trình độ chuyên môn của họ Ngược lại, nếu tiền lương thấp không phù hợp với số lượng, chất lượng lao động dẫn đến nhiều hệ quả khôn lường: tình trạng
người lao động thôi việc, chuyển sang công việc khác,…
Trang 6Chương 2 Thực trạng tiền lương khu vực công ảnh hưởng đến sự duy trì và phát
triển nguồn nhân lực ở việt nam hiện nay 2.1 Tình hình chung về tiền lương trong khu vực công
Bất kì ai tham gia quá trình lao động ở bất kì khu vực nào cũng đều quan tâm đến vấn đề tiền lương Đối với khu vực công, sự gia tăng của mức lương cơ sở được xem là một điều đáng để mong đợi với những công chức viên chức người lao động làm trong khu vực công nhất là trong tình hình vật giá đang ngày càng leo thang như hiện tại
Hình 1 Mức lương cơ sở qua các năm từ 1/10/2004 đến 1/7/2023
(Nguồn: Báo Sơn La, 2023)
Có thể thấy, tiền lương cơ sở tăng dần qua các năm với lượng tiền tăng thêm luôn biến động và khá ít so với mặt bằng chung thu nhập của người lao động ở mọi khu vực
Và có sự bất động trong khoảng thời gian dịch Covid-19 ở năm 2019, do dịch kéo dài
Từ 1/10/2004 đến 1/7/2023
Trang 7nên việc cải cách tăng lương cơ sở cũng bị gián đoạn, và bị chậm nhịp hơn so với những thời kỳ trước
Đến năm 2023, đã tổ chức Hội nghị Trung ương 13 khoá XII và Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã chỉ đạo lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương mới theo Nghị quyết số 27-NQ/TW vào thời điểm phù hợp Theo Bộ Nội vụ, trong thời gian chưa thực hiện tổng thể cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW,
để giảm bớt khó khăn trong đời sống của người hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách nhà nước, căn cứ tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, Bộ Nội vụ đã chủ động phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan trình Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2023/NĐ-CP ngày 14/5/2023 điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1.490.000 đồng/tháng lên 1.800.000 đồng/tháng (tăng thêm 20,8%) từ ngày 1/7/2023 đối với người lao động làm trong khu vực công và lực lượng vũ trang Đây có vẻ là tín hiệu tốt của việc điều chỉnh mức lương cơ sở đối với sự duy trì và phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công
Đồng thời, Bộ Nội vụ đang tiếp tục phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan liên quan hoàn thiện các nội dung cụ thể của chế độ tiền lương và phụ cấp mới (trong
đó có quy định hệ thống bảng lương mới theo vị trí việc làm đối với người lao động làm trong khu vực công) thay thế Nghị định số 204/2004/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với công chức, viên chức và lực lượng vũ trang trình các cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định để thực hiện vào thời điểm thích hợp sau năm 2023, đảm bảo theo yêu cầu của Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp
2.2 Thực trạng tiền lương khu vực công tác động đến sự duy trì và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiên nay
Gần đây nhất, thế giới và Việt Nam đã trải qua một trận đại dịch của Covid-19 kéo dài đằng đẵng gây áp lực đè nặng lên ngân sách nhà nước ta, hơn nữa tiền lương khu vực công chi trả cho những công chức, viên chức, người lao động cũng có phần ảnh hưởng không kém So với mặt bằng chung thu nhập của người lao động ở các khu vực làm việc, tiền lương trong khu công được đánh giá là rất thấp so với các khu vực ngoài nhà nước, thậm chí chưa đáp ứng đủ chất lượng cuộc sống của công chức, viên chức, người lao động
Việc thực hiện chủ trương tinh giản biên chế ở nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị phải tiến hành tinh giản biên chế trong khi khối lượng công việc ngày càng tăng bởi yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn, dẫn đến việc bị quá tải, áp lực lớn (điển hình nhất ở 2 lĩnh vực giáo dục và y tế) mà mức lương được chi trả chưa gắn liền với khối lượng, chất lượng, đặc thù của công việc cũng như kết quả công việc dẫn đến giảm sự ham muốn làm việc, tâm thế lao động hết mình cũng bị giảm sút theo Tiền lương khu vực công chưa thật sự là
Trang 8công cụ tốt để làm đòn đẩy duy trì và phát triển số lượng và chất lượng của công chức, viên chức, người lao động ở Việt Nam
Do chế độ tiền lương còn nhiều bất cập chưa thỏa mãn được nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống của công chức, viên chức, người lao động làm việc cho khu vực công, thêm vào đó vẫn chưa có tính công bằng trong việc trả lương chưa rõ ràng dễ gây ra sự bất mãn cho người lao động ở khu vực công khi làm việc và tiền lương khu vực công chưa mang tính cạnh so với các doanh nghiệp bên ngoài nhà nước làm cho xu hướng chuyển dịch từ khu vực công ra khu vực tư nhân ngày càng nhiều Ngoài ra, còn do điều kiện làm việc tại một số khu vực công chưa thật sự hấp dẫn, chưa tạo cơ hội để công chức, viên chức, người lao động có thể phát huy tốt năng lực bản thân
Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, tính từ ngày 1/1/2020 đến 30/6/2022 được thể hiện qua biểu đồ trên cho ta thấy số lượng công chức, viên chức, người lao động trong khu vực công nghỉ việc, thôi việc là 39.552 người, chiếm 1,94% tổng số biên chế được giao Trong đó, ở Bộ, ngành có 7.102 người, chiếm 17,96% (công chức là 1.505 người, viên chức là 5.597 người); ở địa phương có 32.450 người, chiếm 82,04% (công chức là 2.524 người, viên chức là 29.926 người), cho thấy tác động chưa tốt của tiền lương khu vực công đối với duy trì, phát triển quy mô và chất lượng nguồn nhân lực Điều này được thể hiện rõ nét qua biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ công chức, viên chức nghỉ việc thôi việc
ở Bộ, Ngành và Địa phương tính đến 6 tháng đầu năm 2022
(Nguồn: Báo cáo của Bộ Nội Vụ, 2022)
Trong thời gian qua, do tiền lương khu vực công khá thấp và không còn hấp dẫn gây ra tác động xấu đến nề nếp của người lao động trong khu vực công thông qua việc
17,96%,
82,04%
Bộ, ngành Địa phương
Trang 92021 có 20.382 lao động bị xử lý kỷ luật chiếm tỷ lệ 1% trên tổng số 2.037.307 công chức, viên chức cả nước (trong đó công chức là 12.651 người, chiếm 0,62%; viên chức
là 7.731 người, chiếm 0,38%) (Anh Văn, 2022)
Vấn đề đó được thể hiện rõ nét qua tình hình thực tiễn của 2 lĩnh vực quan trọng nhất nước ta đó là y tế và giáo dục Một sự thật ai cũng phải khẳng định rằng: Ngành nghề nào cũng có những áp lực riêng Thế nhưng với ngành y có lẽ khoảng thời gian chống dịch COVID-19 vừa qua là những chuỗi ngày khó khăn, vất vả nhất của các nhân viên y tế công lập Qua báo cáo của Bộ Y tế với Tổng Liên đoàn Lao động về số lượng 9.397 nhân viên y tế bỏ việc, thôi việc, chuyển từ khu vực công ra khu vực tư trong 1năm rưỡi qua (tính trong năm 2021 và 6 tháng năm 2022) Tuy nhiên, sự cống hiến và chế độ đãi ngộ lại thực sự chưa tương xứng khiến nhiều y bác sĩ, nhân viên y tế không thể sống với nghề chỉ vì lương và chế độ phụ cấp đối với viên chức y tế trong hệ thống
y tế công lập thấp, nhất là tại các cơ sở y tế dự phòng và y tế cơ sở Do tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập này, nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu là do ngân sách nhà nước bảo đảm, nguồn thu sự nghiệp thấp Theo quy định về chế độ tiền lương và phụ cấp ở năm 2022, (với mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng) thì bác sỹ sau khi học 6 năm và sau
18 tháng thực hành để được cấp chứng chỉ hành nghề, nếu tuyển dụng vào đơn vị sự nghiệp công lập thì hưởng lương là 2,34 x 1.490.000 đồng = 3.486.000 đồng Với phụ cấp ưu đãi nghề là 40% thì mức thu nhập 4.881.240 đồng (chưa trừ nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế) Mức lương này chỉ đảm bảo một phần nhu cầu của cuộc sống, vì vậy rất khó giữ chân người lao động trong lĩnh vực y tế làm việc trong cơ sở y tế công lập trong khi mức thu nhập tại các cơ sở y tế ngoài công lập cao hơn gấp 3 đến 4 lần, thậm chí có nơi cao gấp 5 đến 6 lần thu nhập của nhân viên y tế tại cơ sở y tế công lập Nhiều người đã lựa chọn thay đổi công việc, chuyển từ y tế công sang tư Thậm chí, có người đã cởi bỏ chiếc áo blouse trắng để tìm kiếm một công việc chẳng hề liên quan
(Hiền Minh,2022)
Trang 10Về sự phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực công, trong thời gian qua số người làm được việc đã rời đi khá nhiều qua số liệu dưới đây:
Biểu đồ 2.2 Số lượng công chức, viên chức có trình độ nghỉ việc, thôi việc từ 2021
đến 6 tháng đầu năm 2022
(Nguồn: Báo cáo của Bộ Nội Vụ, 2022)
Theo như trên, trình độ, tiến sĩ có 653 người, thạc sĩ có 4.018 người, đại học có 19.637 người, cao đẳng có 6.027 người, trung cấp có 6.972 người; sơ cấp có 1.046 người Trong đó, số lượng công chức, viên chức nghỉ việc có trình độ đại học trở lên chiếm phần đa số, điều này có nghĩa là "hiện tượng chảy chất xám" trong khu vực công đang ngày càng gia tăng đến báo động làm giảm đi sự phát triển về chất lượng nguồn lực trong khu vực công hiện nay ở nước ta
Tuy nhiên, theo Bộ Nội vụ số người nghỉ, thôi việc chủ yếu là viên chức, cơ bản tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn, có tốc độ phát triển kinh tế nhanh (tập trung nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế), các đô thị có hệ thống dịch vụ công khu vực ngoài nhà nước phát triển nên có nhiều cơ hội về việc làm; Việc công chức, viên chức nghỉ việc, chuyển việc thời gian qua cũng là xu hướng tích cực "vào - ra theo cơ chế thị trường" Tình trạng nghỉ việc, chuyển việc ở khu vực công thời gian qua có thể nhìn nhận ở hai góc độ Việc dịch chuyển này là xu thế của sự phát triển, vận động của kinh tế - xã hội
củ a một quốc gia, là sự "phân công lao động" theo quy luật thị trường và đây là cơ hội
để đổi mới (thay thế), cơ cấu lại, phát triển chất lượng đội ngũ công chức viên chức Mặt khác, việc dịch chuyển này cũng đặt ra yêu cầu cần phải nghiêm túc nhìn nhận những hạn chế, bấ t cập củ a cơ chế tiền lương chi trả cho công chức, viên chức, người
653
4018
19637 6027
6972 1046
Tiến sĩ
Thạc sĩ
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp
Sơ cấp