1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG KHU VỰC CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

16 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 62,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm chung cơ bản Tiền lương - Trong thành phần kinh tế nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp, tiền lương là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh, các cơ quan, tổ chức của nhà

Trang 1

MỤC LỤC

Lời nói đầu……… 1

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm chung cơ bản

1.2 Vai trò của tiền lương trong khu vực công

1.3 Nội dung của tiền lương trong khu vực công

1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương trong khu vực công

II THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG KHU VỰC CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Thực trạng tiền lương khu vực công

2.1.1 Tiền lương tối thiểu (Mức lương cơ sở)

2.1.2 Thang bảng lương

2.1.3 Các hình thức trả lương

2.2 Đánh giá chung

2.2.1 Ưu điểm

2.2.2 Nhược điểm

III CÁC KHUYẾN NGHỊ

3.1 Khuyến nghị chung

3.2 Đối với công chức và lực lượng vũ trang

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Tiền lương có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và có tác động lớn đến hệ thống kinh tế - xã hội của cả nước trên tầm vĩ mô, tác động lớn đến bản thân người lao động hưởng lương và gia đình họ; do vậy, tiền lương là mối quan tâm hàng đầu và là động lực làm việc của người lao động trong bất cứ tổ chức nào Với tầm quan trọng đó, việc xây dựng một hệ thống tiền lương khoa học, hợp lý, làm đòn bẩy kích thích năng suất và chất lượng, hiệu quả lao động luôn là nhiệm vụ lớn đặt ra cho các cơ quan Nhà nước Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường lao động của khu vực Nhà nước kém hấp dẫn hơn so với khu vực tư nhân và làn sóng ra đi của những người tài, có năng lực trong các cơ quan Nhà nước đang gia tăng Mặc dù trong những năm qua luôn được Nhà nước quan tâm cải cách, điều chỉnh, song chính sách tiền lương khu vực công ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế và bất hợp lý, ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các cơ quan Nhà nước nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung Với tầm quan trọng

và thực trạng của chính sách tiền lương khu vực công của nước ta hiện nay, tôi xin chọn

đề tài: “Thực trạng tiền lương trong khu vực công ở Việt Nam và các khuyến nghị ” nhằm đóng góp phần nào ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn trong việc nhận thức một cách hệ thống, đầy đủ hơn về pháp luật, các bất cập của pháp luật cũng như giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về chính sách tiền lương.

Trang 3

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm chung cơ bản

Tiền lương

- Trong thành phần kinh tế nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp, tiền lương

là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh, các cơ quan, tổ chức của nhà nước trả cho người lao động theo cơ chế và chính sách của nhà nước và được thể hiện trong hệ thống lương thang lương, bảng lương do Nhà nước qui định

Tiền lương danh nghĩa là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc… ngay trong quá trình lao động

- Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mau được bằng tiền lương danh nghĩa của họ

Như vậy tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào số tiền lương danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà

họ muốn mua Mối quan hệ giữa tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa ta có thể thấy rõ là nếu giá cả tăng lên thì tiền lương thực tế gảim đi Điều này có thể xảy ra ngay

cả khi tiền lương danh nghĩa tăng lên (do có những thay đổi, điều chỉnh trong chính sách tiền lương) Đây là một quan hệ rất phức tạp do sự thay đổi của tiền lương danh nghĩa, của giá cả và phụ thuộc vào những yếu tố khác nhau Đó cũng là đối tượng quản lý trực tiếp trong các chính sách về thu nhập, tiền lương và đời sống

Khu vực công là khu vực phản ánh các hoạt động kinh tế, chính trị xã hội do nhà

nước quy định

Tiền lương trong khu vực công là số tiền nhà nước trả cho cán bộ, công chức, viên

chức, người lao động làm trong khu vực công căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động phù hợp với quy luật cung cầu, khả năng ngân sách quốc gia và các quy định, pháp luật

1.2 Vai trò của tiền lương trong khu vực công

- Tiền lương đảm bảo đủ chi phí để tái sản xuất sức lao động

- Đảm bảo vai trò kích thích của tiền lương

- Đảm bảo vai trò điều phối lao

- Vai trò quản lý lao động của tiền lương

- Tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia

- Lương thể hiện đánh giá chính xác của xã hội với tài năng, trí tuệ, năng lực, kết quả lao động và cống hiến của mỗi người

- Tiền lương là một trong nhưng hình thức kích thích lợi ích đối với người lao động

- Đảm bảo có dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi người lao động hết khả năng lao động hoặc gặp bất trắc rủi ro

1.3 Nội dung của tiền lương trong khu vực công

Tiền lương tối thiểu (Mức lương cơ sở) là một mức lương thấp nhất theo quy định

của Luật lao động do Quốc hội Việt Nam ban hành Đó là số tiền trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong xã hội với điều kiện làm việc và cường độ lao động

Trang 4

bình thường, lao động chưa qua đào tạo nghề Số tiền đó đủ để người lao động tái sản xuất giản đơn sức lao động, đóng bảo hiểm tuổi già và nuôi con Mức lương tối thiểu này được dùng làm cơ sở để tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật

Thang bảng lương

- Thang lương dùng để xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa những công nhân

cùng nghề khi họ đảm nhiệm những công việc có mức độ phức tạp khác nhau Mỗi thang lương gồm các bậc lương nhất định và các hệ số lương phù hợp với các bậc lương ấy Thông thường, số bậc của thang lương và hệ số lương giữa các bậc phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất (mức độ phức tạp công việc, trình độ lành nghề công nhân, yếu tố trách nhiệm, điều kiện lao động) Hệ số mức lương: chỉ rõ rằng lao động của công nhân bậc nào đó phải được trả cao hơn mức lương tối thiểu bao nhiêu lần

- Bảng lương: Theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, NĐ205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các công ty Nhà nước; Nghị định 206/2004/N Đ-CP ngày 14/12/2004 quy định quản lý lao động , tiền lương và thu nhập trong Nhà nước

Các hình thức trả lương

- Trả lương theo vị trí công việc đảm nhiệm

- Trả lương theo kết quả thực hiện công việc

- Kết hợp 2 hình thức trên

1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương trong khu vực công

Quan điểm, chính sách pháp luật của Nhà nước: Các văn bản quy phạm pháp luật

của Nhà nước trong từng thời kỳ quy định về mức tiền lương tối thiểu, thang bảng lương

và phụ cấp

Ngân sách Nhà nước: Quỹ lương chiếm khoảng 60% chi thường xuyên và khoảng

30% tổng chi Ngân sách Nhà nước hàng năm (khoảng 200 ngàn tỷ đồng chi tiền lương hàng năm); - Số người hưởng lương từ NSNN: Hiện nay cả nước có trên 1,7 triệu viên chức sự nghiệp, gần 400.000 công chức hành chính, gần 300.000 cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã phường chưa kể đến đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp xã hội từ nguồn ngân sách Nhà nước;

Hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu: Đối với các đơn vị HCSN

phụ thuộc vào nguồn thu và tiết kiệm; đối với đơn vị có hệ số lương tăng thêm như: ngành Thuế, KBNN, BHXH phụ thuộc vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và các nhân người lao động (qua bình xét thi đua); phụ thuộc ngân sách của địa phương có thể hỗ trợ vào lương

Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: Trình độ lao động:

Với lao động có trình độ cao thì sẽ có được thu nhập cao hơn so với lao động có trình độ thấp hơn bởi để đạt được trình độ đó người lao động phải bỏ ra một khoản chi phí tương đối cho việc đào tạo đó Có thể đào tạo dài hạn ở trường lớp cũng có thể đào tạo tại doanh nghiệp Để làm được những công việc đòi hỏi phải có hàm lượng kiến thức, trình

độ cao mới thực hiện được, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp thì việc hưởng lương cao là tất yếu

Trang 5

II THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG KHU VỰC CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Thực trạng tiền lương khu vực công

2.1.1 Tiền lương tối thiểu (Mức lương cơ sở)

Mức lương tối thiểu chung: Từ tháng 01/2003 đ ến 5/2011 qua 7 lần điều chỉnh mức lương tối thiểu Tháng 01/2003 là 290.000 đ, tháng 10/2005 là 350 000đ, tháng 10/2006 là 450.000đ, tháng 1/2008 là 540 000đ, tháng 5/2009 là 650 000đ, tháng 5/2010

là 730 000đ, tháng 5/2011 là 830.000 đ (mức lương tối thiểu được điều chỉnh tuỳ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt và cung cầu lao động theo từng thời kỳ)

Tiền lương danh nghĩa của cán bộ, công chức, viên chức có xu hướng tang do nhiều lần điều chỉnh mức lương tối thiểu chung trên cơ sở bù trượt giá và tang trưởng kinh tế, mở rộng quan hệ tiền lương tối thiểu – trung bình – tối đa, từng bước tiền tệ hóa các khoản ngoài lương nhằm khắc phục bình quân, bao cấp và ổn định đời sống của cán

bộ, công chức, viên chức Theo Bộ Nội vụ, từ năm 2003 đến nay, mức lương tối thiểu chung cho người lao động trong khu vực hành chính – sự nghiệp đã điều chỉnh 7 lần từ 210.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, mới mức tăng gần 4 lần Từ ngày 1/5/2012, mức lương tối thiểu đã được quyết định tăng lên mức 1.050.000 đồng/tháng Việc điều chỉnh này được thực hiện trên cơ sở các mức đã dự kiến trong Đề án tiền lương giai đoạn

2003 - 2007 và 2008 – 2012, có điều chỉnh linh hoạt theo mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng và khả năng của ngân sách Nhà nước

Duy trì quá lâu một chính sách tiền lương thấp đối với cán bộ, công chức, viên chức Các lần cải cách vừa qua luôn bị chi phối tuyệt đối bởi khả năng của ngân sách Nhà nước, nên đã thực hiện một chính sách tiền lương quá thấp đối với cán bộ, công chức, viên chức và gắn chặt tiền lương tối thiểu chung vốn rất thấp (chỉ đáp ứng 65%-70% nhu cầu mức sống tối thiểu của người lao động) Hơn nữa, chính sách tiền lương thấp này đã lại ngày càng thấp xa so với khu vực sản xuất kinh doanh, chưa đảm bảo cho cán bộ, công chức, viên chức sống chủ yếu bằng tiền lương Đó là một bất cập, nghịch lý và mâu thuẫn lớn Theo kết quả điều tra của Công đoàn Viên chức Việt Nam, tiền lương cứng của cán bộ, công chức, viên chức khá thấp, phần lớn hưởng lương ở mức cán sự và chuyên viên, chiếm khoảng 73% (cán sự chiếm 32% và chuyên viên 41%), còn ở mức chuyên viên chính là 24% và chuyên viên cao cấp là 3%

Trong khi tiền lương không đủ sống, thì thu nhập ngoài lương lại rất cao (phụ thuộc vào vị trí, chức danh công việc, lĩnh vực quản lý, vùng, miền…) và không có giới hạn, không minh bạch, cũng không kiểm soát được Trong phần thu nhập ngoài lương cho đến nay không ai có thể thống kê, đánh giá, định lượng được, có thể có phần chính đáng, song chỉ yếu là không chính đáng do lợi dụng quyền lực để tham nhũng, tiêu cực trong thi hành công vụ (từ biếu xén, cơ chế xin – cho, cơ chế ăn chia…) Mức lương tối thiểu của công chức năm nay được nâng lên 1.050.000 đồng, song vẫn là mức quá thấp, không đủ cho chi phí trong cuộc sống vốn ngày càng đắt đỏ do lạm phát Chính điều này

đã tạo “đất sống” cho tham nhũng, tiêu cực ngày một nhức nhối

Hạn chế:

Việc xác định mức lương tối thiểu chung vẫn bị phụ thuộc bởi ngân sách nhà nước, chưa gắn với nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và sát với mức tiền công

Trang 6

trên thị trường để đảm bảo tiền lương tối thiểu đủ sống Một thực tế cho thấy, mặc dù trong những năm gần đây, việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu đã được thực hiện thường xuyên, tuy nhiên, mức tiền lương tối thiểu do nhà nước quy định không đáp ứng được cuộc sống tối thiểu cho người lao động Chính sách tiền lương tối thiểu thấp đã gây ra những hệ quả tiêu cực làm cho người hưởng lương không sống được bằng tiền lương và thu nhập ngoài lương chiếm tỷ lệ cao, lại không được kiểm soát, làm cho chính sách tiền lương bị bóp méo Chính sách tiền lương tối thiểu bị ràng buộc bởi những quan hệ kinh

tế, quan hệ lao động, quan hệ xã hội (Chính sách bảo hiểm xã hội, chế độ đóng bảo hiểm

xã hội trong các doanh nghiệp, trợ cấp thôi việc, bồi thường lao động…)

Tiền lương tối thiểu khu vực hành chính Nhà nước gắn liền với tiền lương tối thiểu chung là một sự bất hợp lý trong quan hệ tiền lương, làm cho tiền lương khu vực này luôn thấp hơn khu vực thị trường và do đó dẫn đến dòng di chuyển lao động từ khu vực Nhà nước sang khu vực có tiền lương cao hơn, đồng thời là một trong những nguyên nhân gây tiêu cực, tham nhũng Mặt khác, khu vực dịch vụ công (nhất là sự nghiệp công) với cơ chế tiền lương tối thiểu hiện hành chưa thúc đẩy mạnh lao động khu vực này tham gia thị trường lao động và trở thành lực cản mạnh nhất trong cải cách hành chính ở nước

ta hiện nay

Tồn tại rất nhiều cơ chế tiền lương tối thiểu cho các khu vực sản xuất kinh doanh (cơ chế tiền lương tối thiểu doanh nghiệp ngoài Nhà nước, đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) dẫn đến phân biệt đối xử về tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp và tạo thành sân chơi không bình đẳng trong cạnh tranh trên thị trường đối với các loại hình doanh nghiệp

Việc quy định căn cứ để điều chỉnh lương tối thiểu còn chưa đầy đủ Ngoài yếu tố lạm phát của tiền tệ thì việc tăng mức lương tối thiểu cũng cần được xem xét điều chỉnh khi năng suất lao động trung bình của xã hội tăng lên và theo sự tang trưởng của nền kinh

tế Song, các quy định của pháp luật và thực tế điều chỉnh tiền lương tối thiểu trong hơn chục năm qua chưa xác định yếu tố này Như vậy, pháp luật chưa có sự đảm bảo để người hưởng lương tối thiểu nói riêng và người lao động nói chung được tham gia đầy đủ vào

sự phồn vinh của nền kinh tế

Ưu điểm

Thứ nhất, tiền lương tối thiểu đảm bảo tái sản xuất sức lao động giản đơn và một phần để tích lũy tái sản xuất sức lao động được mở rộng cho những người lao động làm công ăn lương, phù hộ với khả năng của nền kinh tế, khả năng chi trả của người sử dụng lao động và bảo đảm quan hệ hợp lý với mặt bằng tiền công trên thị trường và mức sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội

Thứ hai, tiền lương tối thiểu bảo vệ những người lao động không có trình độ tay nghề hoặc những người lao động trong các ngành, nghề có cung – cầu lao động bất lợi trong thị trường hưởng mức tiền lương thấp nhất Các nức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định có tác động ổn định mức sống cho người lao động ở mức tối thiểu, là một trong các biện pháp bảo vệ người lao động thoát khỏi sự nghèo đói

Thứ ba, tiền lương tối thiểu là căn cứ để trả công lao động, mức tiền lương tối thiểu được coi là mức sàn thấp nhất để người sử dụng lao động không được trả công thấp

Trang 7

hơn mức đó; dùng làm căn cứ tính các mức lương khác của hệ thống thang, bảng lương

và phụ cấp lương trong khu vực nhà nước

Thứ tư, tiền lương tối thiểu thiết lập mối quan hệ về kinh tế giữa người sử dụng lao động và người lao động trong từng ngành, từng vùng; duy trì và nâng cao sức cạnh tranh của lao động, hạn chế và ngăn ngừa các tranh chấp lao động Tăng khả năng hội nhập của lao động Việt Nam vào trị trường lao động của khu vực và quốc tế, là yếu tố để thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường lao động Chính sách tiền lương tối thiểu đi vào cuộc sống đã phát huy vai trò của nó trong cải thiện đời sống lao động và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động theo đúng nguyên tắc thị trường Tiền lương tối thiểu được điều chỉnh tang dần (trên 20% mỗi lần điều chỉnh) đã từng bước thực hiện tiền tệ hóa tiền lương, thay đổi cơ cấu nhu cầu của mức sống tối thiểu tối thiểu theo hướng cải thiện hơn, do đó, làm cho mức sống của người lao động làm công ăn lương được nâng lên phù hợp với mức sống chung ngày được cải thiện của toàn xã hội Qúa trình thực hiện tiền lương tối thiểu đã thực sự tham gia vào điều tiết quan hệ cung – cầu lao động trên thị trường; làm cho thị trường lao động phát triển sôi động trên cơ sở chính sách tiền lương linh hoạt hơn Thông qua việc quy định tiền lương tối thiểu, tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh dần trả đúng giá trị lao động, phụ thuộc vào năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh

2.1.2 Thang bảng lương

Nguyên tắc trả lương: Việc trả lương phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức(đảm bảo ngày công và nhiệm vụ được giao) và nguồn trả lương (từ ngân sách nhà nước cấp hoặc hỗ trợ và từ các nguồn thu theo quy định của pháp luật dùng để trả lương) của cơ quan, đơn vị

Nguồn kinh phí để thực hiện chế độ tiền lương

- Tiết kiệm 10% chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất lương) đối với từng cơ quan hành chính, từng đơn vị sự nghiệp thuộc các Bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ của các đơn vị sự nghiệp có thu (kể cả các đơn vị đã thực hiện cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu) Riêng các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành y tế sử dụng tối thiểu 35%

- Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ của các cơ quan hành chính

có thu

- Ngân sách địa phương sử dụng 50% số tăng thu giữa dự toán năm kế hoạch so với dự toán năm trước liền kề do Thủ tướng Chính phủ giao và 50% số tăng thu giữa thực hiện so với dự toán năm kế hoạch do Thủ tướng Chính phủ giao

- Ngân sách Trung ương bổ sung nguồn kinh phí thực hiện chế độ tiền lương cho các Bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong trường hợp đã thực hiện đúng các quy định mà vẫn còn thiếu

Xếp lương theo 7 bảng lương:

Hiện nay doanh nghiệp nhà nước đang áp dụng 2 thang lương (1 thang lương 6 bậc, 1 thang lương 7 bậc) chia theo 21 ngành nghề khác nhau và 26 bảng lương với quan

hệ tiền lương tối thiểu, trung bình, tối đa là 1 - 1,82 - 7,06 (Có các bảng lương kèm theo)

- Các thang lương công nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất, kinh doanh;

Trang 8

- Các bảng lương công nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất, kinh doanh; 17 - Bảng lương của thành viên chuyên trách Hội đồng quản trị (theo hạng DN);

- Bảng lương của Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Phó Giám đốc,

Kế toán trưởng (theo hạng DN);

- Bảng lương chuyên gia cao cấp và nghệ nhân;

- Bảng lương viên chức chuyên môn, nghiệp vụ và bảng phụ cấp giữ chức vụ Trưởng phòng, Phó trưởng phòng;

- Bảng lương nhân viên thừa hành, phục vụ

Các chế độ phụ cấp lương, bao gồm:

- Phụ cấp chức vụ

- Phụ cấp khu vực: so với mức lương tối thiểu chung

- Phụ cấp trách nhiệm công việc: so với mức lương tối thiểu chung

- Phụ cấp độc hại, nguy hiểm: so với mức lương tối thiểu chung

- Phụ cấp lưu động: so với mức lương tối thiểu chung

- Phụ cấp thu hút: với mức lương cấp bậc, chức vụ hoặc lương chuyên môn, nghiệp vụ (Thời gian hưởng từ 3 đến 5 năm) Hệ thống thang lương, bảng lương, phụ cấp lương làm cơ sở để: Thoả thuận tiền lương trong hợp đồng lao động; xây dựng đơn giá tiền lương; thực hiện chế độ nâng bậc lương theo thoả thuận trong hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể; đóng và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; trả lương ngừng việc và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động; giải quyết các quyền lợi khác theo thoả thuận

2.1.3 Các hình thức trả lương

Cán bộ công chức, viên chức nói chung và công chức hàng chính Nhà nước nói riêng hiện nay đang được trả lương theo hình thức trả lương thời gian đơn giản Hình thức trả lương này căn cứ vào mức lương theo thang bảng lương do Nhà nước ban hành

và nguồn để trả lương lấy từ ngân sách Nhà nước Công thức tính tiền lương cho công chức hành chính Nhà nước đang được áp dụng là hệ số lương (đã được xếp theo bảng lương do Nhà nước ban hành ở Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính Phủ) nhân với mức tiền lương tối thiểu chung Cụ thể là:

TL = HSL x ML min chung Nếu công chức đi làm đầy đủ các ngày công trong tháng thì được áp dụng tính theo công thức trên còn nếu đi làm không đầy đủ thì có thể áp dụng công thức tính lương theo mức lương ngày (ML ngày) nhân với ngày công làm thực tế trong tháng Trong đó

ML ngày = HSL x ML min chung/22 ngày Chẳng hạn, một công chức phòng nội vụ (cấp huyện) được xếp bậc 2 trong nhóm ngạch công chức loại B của Bảng lương chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ công chức trong các cơ quan Nhà nước có hệ số lương là 2,06 Mức lương tối thiểu chung là 1.050.000 đồng/tháng Tiền lương tháng của công chức này được xác định như sau:

2,06 x 1.050.000 = 2.163.000 đồng/tháng Nếu trong tháng người công chức này chỉ đi làm 20 ngày còn 2 ngày nghỉ ốm thì tiền lương chỉ tính cho 20 ngày đi làm còn 2 ngày nghỉ ốm do bảo hiểm xã hội chi trả Tiền lương của 20 ngày được tính như sau:

2,06 x 1.050.000/22 x 20 = 1.966.363 đồng

Trang 9

Cách tính lương này cho thấy hạn chế là chưa phản ánh được mức độ phức tạp công việc và tính trách nhiệm mà công việc đòi hỏi, chưa phản ánh được hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức

Bảng 2.1.3: Mức độ hợp lý của chế độ tiền lương đối với công chức hành chính hiện nay

Đơn vị tính: % so với tổng số

ST

T Cấp quản lý không hợpHoàn toàn

Không hợp

(Nguồn: Biểu số 09/TH – CCHC, Kết quả điều tra CCHC Nhà nước đề tài độc lập cấp

Nhà nước mã số DTDL 2011-G/58)

Cách tính trả lương không hợp lý này đã gây ra tiêu cực trong việc thực thi nhiệm

vụ và ảnh hưởng đến mức độ khai thác khả năng làm việc của công chức hành chính cũng như tinh thần trách nhiệm của cán bộ công chức trong công việc

Số liệu ở bảng 2.1.3 cho thấy: Tỷ lệ số người được đánh giá ở mức độ “trung bình” và “hợp lý” chiếm tỷ lệ rất thấp, số người đánh giá ở mức độ ‘không hợp lý” chiếm

tỷ lệ cao nhất, ở tất cả các cấp quản lý được điều tra, tiếp đến là mức độ đánh giá “hoàn toàn không hợp lý” Chính yếu tố này dẫn đến tiền lương trả cho công chức hành chính không thỏa đáng và đây cũng là lý do chính (chiếm trên 90% số người trả lời) dẫn đến cán bộ công chức nói chung và công chức hành chính nói riêng giữ chức danh quản lý 100% đều cho rằng tiền lương không thỏa đáng chính là nguyên nhân dẫn đến tiêu cực và làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm

Cách tính trả lương đơn giản như trên đã ảnh hưởng đến mức độ khai thác khả năng làm việc của công chức hành chính Tỷ lệ số người trả lời cho rằng mức độ khai thác ở mức “trung bình”, “thấp” và “rất thấp” chiếm tỷ lệ cao Cụ thể, công chức hành chính ở cấp quản lý càng cao thù mức độ đánh giá ở mức “trung bình” càng thấp và ngược lại ở mức “thấp” và “rất thấp” có xu hướng tăng lên (bảng 2.1.3) Kết quả điều tra mức độ ảnh hưởng có chế độ tiền lương đến tinh thần trách nhiệm trong công việc của công chức hành chính cũng cho kết quả tương tự đối với mức độ khai thác khả năng làm việc

2.2 Đánh giá chung

2.2.1 Ưu điểm

Về mức lương tối thiểu:

- Mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định là sự cụ thể hoá quy định của Bộ

Luật Lao động, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động (chống đói nghèo và bóc lột), là cơ sở để người sử dụng lao động và người lao động thoả thuận mức tiền công (thấp nhất bằng mức lương tối thiểu và phải cao hơn ít nhất 7% với

Trang 10

LĐ đã qua đào tạo nghề) và giải quyết các quyền lợi khác cho người lao động theo pháp luật quy định

- Hàng năm tuỳ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt và cung

cầu lao động Nhà nước đã điều chỉnh mức lương tối thiểu phù hợp góp phần ổn định

và cải thiện cuộc sống người L Đ; kích cầu tiêu dùng góp phần chống suy giảm kinh tế; góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp

Về thang bảng lương

- Hệ thống thang bảng lương theo Nghị định 204/2004/N Đ- CP và Nghị định 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 đã có tính yếu tố thị trường và có tiền tệ hoá tiền nhà vào lương có tác dụng nâng cao vai trò tiền lương trong nền kinh tế;

- Qua lần cải cách năm 2004, số lượng bảng lương khu vực hành chính Nhà nước

đã được rút bớt từ 21 xuống 7 bảng lương, số lượng các bậc trong các bảng lương không nhiều Quan hệ tiền lương được xác định theo quan hệ: tối thiểu - trung bình - tối đa theo các chức danh: nhân viên tạp vụ - chuyên viên tốt nghiệp đại học hết tập sự - chủ tịch nước, tương ứng là 1 - 2,34 - 13,0 (mức khởi điểm tăng so với trước) Đồng thời, trong xây dựng bảng lương cho các ngạch công chức, đã sử dụng phương pháp phân tích, chuyên gia để xác định mức độ phức tạp lao động của các chức danh Các mức tiền lương

là thang giá trị, làm căn cứ trả lương cho công chức và tính toán các khoản chịu thuế, đóng bảo hiểm xã hội

- Cán bộ, công chức bổ nhiệm trong các cơ quan hành chính, bầu cử, tư pháp, Đảng, đoàn thể được xếp theo bảng lương chuyên môn nghiệp vụ, phần tiền lương chức

vụ không nằm trong cơ cấu bảng lương mà được quy định bằng phụ cấp chức vụ tương ứng (hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo tính so với tiền lương tối thiểu) cho đến khi thôi ở vị trí lãnh đạo (trước đây khi CCVC được bổ nhiệm không tính đến thời gian giữ bậc lương

mà hưởng theo chức danh bổ nhiệm; khi chuyển xếp lương đây là một vướng mắc)

- Quy định rõ và quản lý tốt việc nâng bậc lương đúng niên hạn, trước niên hạn và chuyển ngạch lương (trước đây thực hiện nâng bậc và chuyển ngạch có nhiều hạn chế)

- Các chế độ phụ cấp về cơ bản bảo đảm được mục tiêu khuyến khích, động viên người lao động, bù đắp được hao phí lao động chưa tính trong tiền lương

2.2.2 Nhược điểm

Về mức lương tối thiểu:

- Việc tăng lương tối thiểu nhiều lần trong thời gian qua là một nỗ lực lớn của Nhà

nước trong cải cách chính sách tiền lương đối với công chức, nhưng không mang lại những thay đổi đáng kể về lương thực tế nếu gắn với tốc độ gia tăng giá tiêu dùng Do

đó, việc nâng lương tối thiểu không có tác dụng cải thiện hơn đời sống của công chức và cũng không làm thay đổi được hiệu quả, chất lượng của công việc theo chiều hướng tích cực hơn

- Khi Nhà nước chuẩn bị tăng lương tối thiểu thì giá cả thị trường đã tăng trước, tăng bằng và lớn hơn tỷ lệ tăng lương tối thiểu nên thực tế là cuộc chạy đua giữu lương

và giá, tức chỉ là lỗ lực để duy trì ổn định lương (lương danh nghĩa tăng nhưng lương thực tế có thể được duy trì hoặc bị giảm đi)

- Mức lương tối thiểu không đảm bảo cuộc sống tối thiểu chưa nói đến việc tái sản xuất mở rộng và các nhu cầu khác cho bản thân và gia đình Từ năm 2003 đến nay, mức

Ngày đăng: 26/06/2021, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w