Đề tài Tiền lương trong khu vực công ĐÁNH GIÁ TIỀN LƯƠNG TRONG KHU VỰC CÔNG CỦA NHẬT BẢN BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM Tiểu luận (hoặc tham luận) |X| Cuối kì | | Giữa kì Tiểu luận (hoặc tham luận).
Trang 1Đề tài: Tiền lương trong khu vực công ĐÁNH GIÁ TIỀN LƯƠNG TRONG KHU VỰC CÔNG CỦA NHẬT BẢN:
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM Tiểu luận (hoặc tham
Tiểu luận (hoặc tham luận) này được hoàn thành vào ngày /9/2021
Giám khảo 1 (Ký và ghi rõ họ tên)
Giám khảo 2 (Ký và ghi rõ họ tên)
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10 NĂM 2021
Mục lụ
Trang 21 Đặt vấn đề 1
2 Cơ sở lý luận 1
3 Thực trạng tiền lương trong khu vực công ở Nhật Bản 3
3.1 Đặc điểm kinh tế - chính trị ở Nhật Bản 3
3.2 Tiền lương trong khu vực công của Nhật Bản 4
3.2.1 Hệ thống phân loại vị trí công việc 4
4 Thành tựu đạt được của Nhật Bản 6
5 Thực trạng tiền lương trong khu vực công ở Việt Nam 9
6 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam thông qua đánh giá chính sách tiền lương khu vực công ở Nhật Bản 11
Kết luận 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 31 Đặt vấn đề
Trong khu vực công, tiền lương là số tiền mà các cơ quan, tổ chức nhà nước trả cho người lao động theo cơ chế, chính sách của Nhà nước và được thể hiện trong hệ thống thang, bảng lương do Nhà nước quy định Trong hoạt động công vụ, tiền lương đóng vai trò đặc biệt quan trong, là một trong những yếu tố tiên quyết thu hút và giữ được người tài tham gia hoạt động trong khu vực công, tránh hện tượng chảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực tư Tiền lương khu vực công hiện nay ở nước ta chưa phản ánh đúng giá trị sức lao động Điều đó góp phần làm cho các giá trị xã hội của người công chức bị giảm sút, dễ bị tổn thương và là mảnh đất nảy sinh tình trạng quan liêu, tham nhũng ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ Trong khi ở một số quốc gia khác thì việc cải cách tiền lương đã đạt được nhiều thành tựu trong đó phải kể đến Nhật Bản Ở Nhật Bản, hình ảnh các công chức là một trong những biểu tượng nổi bật của đất nước này kể từ thời hậu chiến Công chức Nhật có tác phong làm việc tập trung và thái độ làm việc vô cùng nghiêm túc tạo hiệu quả, hiệu suất cao khiến cho họ được đề cao so với thế giới Đặc biệt là khi họ được tuyển dụng là công chức thì họ có ý thức trở nên mẫn cán, sống động và sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ được giao Có thể nói Nhật Bản là một trong những quốc gia có chính sách tiền lương tốt nhất, đặc biệt là chính sách tiền lương trong khu vực công
Rất dễ dàng để chúng ta có thể nhận thấy chính sách cải cách tiền lương khu vực công của Nhật Bản là một hình tượng tốt, là một con đường để Việt Nam tiếp thu một cách có chọn lọc, phù hợp với đặc điểm trong thời kì phát triển không ngừng của nền kinh tế quốc tế Nhận thấy được ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của vấn đề này, do
đó, em chọn đề tài “Đánh giá tiền lương trong khu vực công của Nhật Bản: Bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
2 Cơ sở lý luận
Khái niệm khu vực công
Khu vực công (còn gọi là khu vực nhà nước) là một bộ phận của nền kinh tế bao gồm dịch vụ công và doanh nghiệp công Mà trong đó Nhà nước; tổ chức chính trị, chính trị - xã hội; đơn vị sự nghiệp đóng vai trò là chủ sử dụng lao động.Tổ chức bộ máy quản lý rất phức tạp với quy mô rất lớn
Đặc điểm của khu vực công
+ Chủ sử dụng lao động là hoặc đại diện của Nhà nước;
Trang 4+ Tuân thủ và chịu tác động của các quy luật kinh tế - xã hội nói chung.
+ Các hoạt động của khu vực công cũng diễn ra với sự khan hiếm của nguồn lực nói chung
+ Chính phủ điều hành khu vực công bằng quyền hành nhà nước, tuy nhiên vẫn phải tôn trọng và thừa nhận sựu tác động của các quy luật kinh tế và sự phát triển của nền kinh tế thị trường
+ Nguồn quỹ lương lấy toàn bộ hoặc một phần từ ngân sách, hoặc liên quan trực tiếp đến giá trị thặng dư đóng góp vào ngân sách nhà nước;
+ Các hoạt động cả khu vực công chủ yếu phục phụ xã hội và mục tiêu quản lý của nhà nước
Khái niệm tiền lương trong khu vực công
+ Theo Lê Chi Mai thì tiền lương trong khu vực công là phần tiền trả cho công chức, viên chức theo ngạch, bậc do nhà nước quy định
+ Tiền lương trong khu vực công cũng có thế hiểu một cách khái quát là số tiền Nhà nước trả cho cán bộ công nhân viên, người lao động làm việc trong khu vực công căn
cứ vào số lượng, chất lượng lao động phù hợp với quy luật cung cầu trên thị trường lao động và khả năng ngân sách quốc gia cũng như pháp luật
Khái niệm chính sách tiền lương
Chính sách tiền lương là một chính sách xã hội điều tiết quan hệ tiền lương trên thị trường lao động nhằm đảm bảo nâng cao năng suất lao động, phát triển sản xuất và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động Chính sách tiền
là phương thức hành động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với quá trình tổ chức trả công lao động nhằm đạt được các mục tiêu đã định của Nhà nước Đối tượng điều chỉnh của chính sách tiền lương là các chủ thể quan hệ lao động (người lao động, người sử dụng lao động, v.v…)
Yêu cầu của chính sách tiền lương trong khu vực công
+ Tiền lương của công chức phải được trả theo vị trí công việc trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh công chức và hiệu quả của thực thi công vụ
+ Tiền lương trả cho công chức phải được tính đúng tính đủ chi phí lao động và chú ý đến đặc điểm đặc thù của lao động chức năng
Trang 5+ Chính sách tiền lương công chức phải đặt trong mối tương quan với mặt bằng tiền lương, thu nhập khu vực thị trường
3 Thực trạng tiền lương trong khu vực công ở Nhật Bản
3.1 Đặc điểm kinh tế - chính trị ở Nhật Bản
Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương Gồm bốn đảo chính: Honshu, Kyushuy, Hokkaido và Shikoku, nhiều dãy đảo và khoảng 3.900 đảo nhỏ Tổng diện tích của Nhật Bản là 377.815 km2, đứng thứ 60 trên thế giới về diện tích và chiếm chưa đầy 0.3% tổng diện tích toàn thế giới
Với địa hình đa phần là dãy đảo và các đảo nhỏ, Nhật Bản là một trong những nước nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số quá đông, phần lớn nguyên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh Tuy nhiên với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi trong những năm 1945 - 1954, phát triển cao trong những năm 1955 - 1990, khiến cho cả thế giới hết sức kinh ngạc và khâm phục Trở thành một đất nước có nền kinh tế công nghiệp, tài chính ,thương mại, dịch vụ, khoa học - kĩ thuật đứng thứ hai thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ) Cán cân thương mại và dự trữ ngoại tệ đứng đầu thế giới, nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay viện trợ, tái thiết và phát triển nhất thế giới Ngoài ra, Nhật Bản còn có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới, đơn vị tiền tệ đang được sử dụng là đồng Yên Nhật
Nhật Bản là một quốc gia có nền hành chính hiện đại, một chính phủ có bộ máy gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, có trách nhiệm đối với nhân dân Để có được kết quả này Chính phủ Nhật Bản rất coi trọng vấn đề quản lý nguồn nhân lực nói chung và công chức nói riêng Hoạt động quản lý gồm nhiều nội dung: tổ chức thực hiện các chế
độ, chính sách của nhà nước đối với công chức; bố trí, phân công, điều động, thuyên chuyển công tác; đánh giá; khen thưởng, kỷ luật công chức, trong đó đánh giá là khâu tiền đề, có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở của các khâu khác Với phương pháp đánh giá khoa học, có tiêu chí rõ ràng cho từng vị trí công việc đã giúp nền công vụ Nhật Bản hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đội ngũ công chức tinh gọn, chuyên nghiệp, kỷ luật
và có trách nhiệm
Về lương bổng, hàng năm bộ tài chính lấy thống kê lương bổng trong bộ môn dân doanh rồi tính ra bình quân lương bổng dân doanh Mức lương khởi đầu cho công chức cao cấp được định bởi mức lương trung bình của các kỹ sư hay nhân viên viên mới tốt nghiệp đại học trong bộ môn dân doanh cộng thêm một hằng số tương đối Mức lương cho công chức trung cấp cũng được định bởi mức lương trung bình của các công nhân
Trang 6viên thuộc bộ môn dân doanh mới tốt nghiệp trung học phổ thông (lớp 12) cộng thêm một hằng số tương tự Việc tăng lương hàng năm cũng làm theo phương pháp này Ngoài ra, chế độ lương hưu cho công chức Nhật Bản cũng tương đối cao hơn chế độ lương hưu trong bộ môn dân doanh
3.2.1 Hệ thống phân loại vị trí công việc
Các công chức trong khu vực công sẽ được chia thành hai loại “đặc biệt” và
“thường xuyên” Việc bổ nhiệm đối với những công chức hạng “đặc biệt” được chỉ đạo bởi yếu tố chính trị và một số yếu tố khác mà không liên quan đến việc thi tuyển cạnh tranh Công chức hạng đặc biệt gồm bộ trưởng nội các, người đứng đầu các cơ quan độc lập, thành viên của các lực lượng tự phòng vệ, quan chức nghị viện và đại sứ Tuy nhiên lực lượng nòng cốt trong các hoạt động công vụ lại là công chức trong nhóm “thường xuyên”, được tuyển dụng thông qua thi tuyển cạnh tranh Hàng năm, viện nhân sự Nhật Bản, cơ quan nhà nước độc lập với các bộ mở 03 kỳ thi Kỳ thi tuyển chọn công chức loại I (cấp cao) và các kỳ thi tuyển chọn công chức loại II (cấp trung) và loại III (cấp thấp) Những người rúng tuyển loại I sẽ được đào tạo để trở thành cán bộ lãnh đạo trong tương lai Còn những người trúng tuyển trong các cuộc thi loại II, loại III sẽ làm các công việc chuyên môn nghiệp vụ cụ thể Kỳ thi tuyển loại I
sẽ được mở hàng năm vào tháng 6 Nước Nhật mỗi năm sẽ tuyển khoảng 1000 cán bộ loại này, nhưng số người thi gấp hơn 50 lần Số người thi thông thường là những sinh viên ưu tú đã qua các kỳ thi trước khi tham gia kỳ thi này Ví dụ họ phải đỗ vào các trường đại học lớn, trong suốt quá trình học tập, thành tích phải xuất sắc Theo thống
kê thì có tới một nửa số người trúng tuyển vào kỳ thi loại I đều là sinh viên ưu tú của đại học Tokyo, hầu hết là sinh viên khoa luật và khoa kinh tế
Trong số trên 1.000 cán bộ mới được tuyển chọn mỗi năm có khoảng một nửa là công chức hành chính, số còn lại là công chức chuyên môn kỹ thuật Công chức hành chính xuất thân từ khoa luật, khoa kinh tế hầu hết trở thành lãnh đạo các cấp ở các bộ công chức chuyên môn kỹ thuật, khoa học tự nhiên, như: Bộ giao thông, bưu điện, xây dựng, nông nghiệp,… Sau khi đỗ kỳ thi loại I, các quan chức tương lai được quyền lụa chọn nơi làm việc Có một số bộ ứng cử viên quá đông nên họ phải dự thi một lần nữa Tại Nhật, bộ tài chính, bộ ngoại giao, Cục kinh tế kế hoạch là những nơi có mức độ cạnh tranh gay gắt nhất Các bộ này mỗi năm chỉ nhận 25 công chức mới, nhưng số người thi vào lại cao gấp nhiều lần
3.2.2 Tiền lương và các chế độ đãi ngộ trong khu vực công
Trang 7Về lương bổng, hàng năm bộ tài chính lấy thống kê lương bổng trong bộ môn dân doanh rồi tính ra bình quân lương bổng dân doanh Mức lương khởi đầu cho công chức cao cấp được định bởi mức lương trung bình của các kỹ sư hay nhân viên viên mới tốt nghiệp đại học trong bộ môn dân doanh cộng thêm một hằng số tương đối Mức lương cho công chức trung cấp cũng được định bởi mức lương trung bình của các công nhân viên thuộc bộ môn dân doanh mới tốt nghiệp trung học phổ thông (lớp 12) cộng thêm một hằng số tương tự Việc tăng lương hàng năm cũng làm theo phương pháp này Ngoài ra, chế độ lương hưu cho công chức NB cũng tương đối cao hơn chế độ lương hưu trong bộ môn dân doanh
Cấu trúc: Tiền lương của những người làm trong khu vực công gồm bốn phần:
lương cơ bản, tiền thưởng, tiền trợ cấp cho thôi việc (tiền lương hưu) và các khoản trợ cấp khác
Tiền lương cơ bản: hàng năm bộ tài chính lấy thống kê lương bổng trong các tổ chức
công vụ rồi tính ra bình quân lương bổng cho cán bộ Mức lương khởi đầu cho công chức cao cấp được tính bởi mức lương trung bình của các kỹ sư hay nhân viên mới tốt nghiệp đại học trong các công ty tư nhân cộng thêm một hằng số tương đối Mức lương cho công chức trung cấp cũng được định bởi mức lương trung bình của các công nhân viên thuộc các công ty tư nhân mới tốt nghiệp trung học phổ thông (lớp 12) cộng thêm hằng số tương tự Chính phủ Nhật Bản đã quyết định tăng mức lương tối thiểu từ
902 yên/ giờ lên 930 yên/giờ tức là tăng 28 yên/giờ cho người lao động bắt đầu từu ngày 14/10/2021
Các tiêu chí cơ bản của việc trả lương:
+ Chính phủ có những biên pháp đãi ngộ công chức bằng việc tạo điều kiện làm việc tốt và bảo đảm việc trả lương cao cho họ
+ Việc trả lương do pháp luật xác định và cần được xem xét nhằm đáp ứng những điều kiện thông thường của xã hội
+ Công chức được trả lương trên cơ sở nhiệm vụ và trách nhiệm thuộc vị trí, chức danh của mình
Tiền thưởng: Công chức Nhật Bản nhận được tiền thưởng 03 lần trng một năm và số
tiền đó không vượt quá 05 tháng lương
Các khoản phụ cấp khác: là tiền trả thêm bổ sung vì nhiều mục đích (phụ cấp quản
lý, phụ cấp làm việc trong các dịp lễ đối với công chức lãnh đạo, phụ cấp động viên người mới vào làm việc, phụ cấp cho gia đình, phụ cấp đắt đỏ thành phố, phụ cấp tiền
Trang 8thuê nhà, phụ cấp đi lại, phụ cấp hàng quý, phụ cấp cho giáo viên,…) Vì thế, mức lương trung bình của công chức khá cao
Tăng lương: việc tăng lương hàng năm cuãng làm theo phương pháp như cách tính
mức lương cơ bản Cứ khoảng 2 - 3 năm họ lại được tăng lương một lần Nhìn chung, lương khởi điể và lương cơ bản của công chức có xu hướng tăng, song mức tăng khá chậm Điều muốn nói thêm ở đây là tăng mức lương lên tùy thuộc vào việc đánh giá thành tích năm qua chính phủ đưa khung nhằm giới hạn việc tăng thâm niên công tác hàng năm không cao hơn 6% mức lương
Chế độ lương hưu:
- Tuổi nghỉ hưu bắt buộc: 60 tuổi
- Để lĩnh lương hưu, hàng tháng công chức phải đóng bảo hiểm xã hội 3% tiền lương,
số tiền này sẽ đưa vào tài khoản để sau lĩnh lương hưu
- Một nhân viên làm việc công vụ nhiều hơn 10 năm có quyền nhận tiền phụ cấp nghỉ hưu 1 lần, công chức làm việc 25 năm lựa chọn nhận tiền hưu cục tiền hưu hàng tháng
- Phụ cấp lần cho công chức nghỉ hưu tính lương tháng cuối trước nghỉ hưu nhân với năm công tác:
+ Đối với công chức có từ 25 năm công tác trở lên, số tiền tính theo cách sau: lương tháng cuối nhân với số năm công tác chia cho 50
+ Đối với có số năm công tác 25 năm: lương tháng cuối nhân số năm công tác chia cho 55
4 Thành tựu đạt được của Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những nước có chỉ số quản lí minh bạch và môi trường đầu
tư hấp dẫn nhất thế giới Có nhiều yếu tố để tạo nên điều đó nhưng chính sách trả lương hợp lí là yếu tố tạo ra một nền hành chính lành mạnh và hiệu quả trong những năm qua Nhật Bản đã có những thành tựu nổi bật trong chính sách trả lương khu vực công như: Nhà nước đã ban hành Nghị định quy định cụ thể về chính sách tiền lương trong khu vực công bằng hệ thống thang bảng lương: Mục đích để các tổ chức áp dụng thông qua đó Nhà nước đã quản lí và điều chỉnh phù hợp với từng loại hình đơn vị , cân đối được thu, chi ngân sách, bảo vệ quyền lợi cho người lao động Tiền lương được Chính Phủ quy định rất rõ ràng, công bằng, minh bạch Cấu trúc: Tiền lương của
Trang 9người lao động gồm 4 phần: lương cơ bản, tiền thưởng, tiền trợ cấp cho thôi việc ( tiền lương hưu ) và các khoản trợ cấp khác
Lương cơ bản bao gồm:
+ Lương theo độ tuổi, được tính toán dựa trên tuổi tác, nền tảng giáo dục đào tạo và số năm làm việc liên tục Lương theo công việc, được tính dựa vào hoạt động của công việc
+ Lương theo khả năng, được tính dựa vào khả năng hoàn thành công việc
Chính phủ Nhật Bản đã tăng mức lương tối thiểu từ 882 yên/giờ lên 902 yên/ giờ tức là tăng 20 yên/giờ cho người lao động bắt đầu từ ngày 01/01/2020 Bắt đầu từ ngày 14/10/2021, chính phủ Nhật Bản ra quyết định tăng mức lương tối thiểu cho người lao động thêm 27 yên/giờ, đạt mức trung bình là 901 yên / giờ Đây là mức lương "kỷ lục" trong vòng 15 năm qua tại Nhật Bản Kể từ khi Nhật Bản bắt đầu chuyển từ tính mức lương theo giờ thay vì đánh giá mức lương hàng ngày của người lao động từ năm 2002 đến nay thì đây là lần tăng mạnh nhất Điều này đã đánh dấu bước tăng trưởng mạnh
mẽ nhất trong mức lương tối thiêu người lao dộng Nhật Chính phủ dự tính mỗi năm mức lương cơ bản ở Nhật sẽ tăng 3% để đạt mức lương giờ trung bình trên toàn quốc đạt 1.000 yên/giờ
700
750
800
850
900
950
730
764
780
798
823
848
874 882
902
930
Mức lương cơ bản của Nhật Bản tăng dần
qua các năm
Mức lương tối thiểu
Nguồn: Xuất khẩu lao động
ĐVT: Yên/giờ
Trang 10Các tiêu chí cơ bản của chính sách trả lương: Được trả dựa trên cơ sở nhiệm vụ
và trách nhiệm thuộc vị trí và chức trách của mình Do pháp luật xác định và cần được xem xét nhằm đáp ứng những điều kiện thông thường của xã hội Chính Phủ có những đãi ngộ công chức bằng việc tạo điều kiện làm việc tốt và bảo đảm việc trả lương cao cho họ Lương có tính cạnh tranh so với khu vực tư nhân: Lương cơ bản theo thống kê
sẽ được tăng hàng năm và do đó mức lương cũng sẽ được tăng lên Do sự đánh giá khác nhau cho nên mức tăng lương cũng khác nhau Nếu một người nào đó nhận được
sự đánh giá tốt của phòng nhân sự, tiền lương của anh ta sẽ được tăng lên rất nhiều và
ai đó nhận được sự đánh giá kém, mức lương nhận được của anh ta sẽ rất ít Đây được xem như một động lực để thúc đẩy tính cạnh tranh và sự cố gắng làm việc của người lao động
Các chế độ Bảo hiểm và chế độ khác theo quy định được đóng và thụ hưởng dựa trên cơ sở là hệ số lương và mức lương tối thiểu: Tiền thưởng: Công chức Nhật Bản nhận được tiền thưởng 3 lần trong 1 năm và số tiền đó không vượt quá 5 tháng lương Các khoản phụ cấp khác: Là tiền trả thêm bổ sung vì nhiều mục đích ( phụ cấp quản lí, phụ cấp làm việc trong các dịp lễ đối với công chức lãnh đạo, phụ cấp động viên người mới vào làm việc, phụ cấp cho gia đình, phụ cấp đắt đỏ thành phố, phụ cấp tiền thuê nhà, phụ cấp đi lại, phụ cấp vùng sâu vùng xa , phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp nghỉ phép, phụ cấp hàng quý, phụ cấp cho giáo viên, ) Vì thế mức lương trung bình của công chức khá cao Tăng lương: Việc tăng lương hàng năm cũng làm theo phương pháp như cách tính mức lương cơ bản Cứ khoảng 2-3 năm lại được tăng lương 1 lần Chế độ lương hưu: Để lĩnh lương hưu, hàng tháng công chức phải đóng bảo hiểm xã hội 3% tiền lương số tiền đưa vào tài khoản để sau lĩnh lương hưu Công nhân làm việc công vụ trên 10 năm có quyền nhận tiền phụ cấp nghỉ hưu 1 lần, công chức làm việc 25 năm lựa chọn nhận tiền lương hưu hằng tháng
Mức lương trả cho công chức tương xứng với kết quả thực hiện công việc thông qua thang đánh giá vị trí công việc Thang đánh giá được xây dựng trên cơ sở 05 mức theo thứ tự giảm dần, cao nhất là S; A, B (Trung bình), C, D (không tốt) Đánh giá công chức dựa trên 2 nội dung sau:
+ Đánh giá tinh thần cạnh tranh: đánh giá khả năng của công chức trong quá trình thực hiện các nghĩa vụ; đánh giá nhằm xem xét công chức đó có thể bình tĩnh và chắc chắn hành động khi được yêu cầu ở vị trí của họ (1 năm: thời điểm đánh giá tiến hành
từ tháng 10 năm trước đến tháng 9 năm sau)
+ Đánh giá năng lực: đánh giá xem mức độ công chức đạt được mục tiêu và thể hiện vai trò của mình trong công việc (thực hiện 2 lần trong 1 năm (từ tháng 4 đến tháng 9 và từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau)