CHƯƠNG 2: CÔNG CỤ PHÂN TÍCHMục tiêu của chương này là làm rõ vai trò của lý thuyết trong phân tích chính sách tài chính công; Tìm hiểu các phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp c
Trang 1CHƯƠNG 2: CÔNG CỤ PHÂN TÍCH
Mục tiêu của chương này là làm rõ vai trò của lý thuyết trong phân tích chính sách tài
chính công; Tìm hiểu các phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp chuẩn tắc được vận
dụng trong phân tích đánh giá chính sách tài chính công, ưu nhược điểm của từng phương
pháp; Thảo luận các bài tập có liên quan để tìm hiểu khả năng vận dụng các phương pháp đã
học trong thực tế.
Trang 22.1 Công cụ thực chứng
Làm thế nào để kiểm chứng được các chính sách của chính phủ đối với nềnkinh tế Phân tích thực chứng trong tiếng Anh là Positive Analysis Phân tích thực chứng
là cách phân tích trong đó người ta cố gắng lí giải khách quan về bản thân các vấn đề
hay sự kiện kinh tế
Cơ sở của việc vận dụng các công cụ này được bắt đầu từ việc nghiên cứu lýthuyết tác động của thuế lên cung lao động Cách tiếp cận chung này có thể áp dụng cho
hàng loạt vấn đề khác
Trang 32.1.1 Vai trò của lý thuyết
Mọi người thường nghe thấy câu nói “Các con số tự thân nói lên tất cả” Vậy những con
số nói gì về mức thuế thu nhập và lượng cung lao động?
2.1 Công cụ thực chứng
Trang 4Chúng ta có bảng thông tin về thuế suất biên
tế của thuế thu nhập và số giờ làm việc trung bình hàng tuần từ 1955 đến 1999 tại Mỹ
2.1 Công cụ thực chứng
Năm
Thuế suất biên của thuế thu nhập
Số giờ làm việc trung bình hàng tuần
Trang 52.1 Công cụ thực chứng
Các số liệu cho thấy thuế suất tăng và số giờ lao
động (lượng cung lao động) giảm xuống, có vẻ như thuế
suất tăng làm giảm cung lao động.
Liệu kết luận trên có đúng hay không?
Cùng với sự tăng lên của thuế suất cũng có hàng loạt
các yếu tố khác có thể ảnh hưởng tới lượng cung lao
động.
Ví dụ như thu nhập không từ lao động như cổ tức, lãi
ngân hàng tăng theo thời gian…hay những đức tin có thể
làm giảm lao động do họ trở nên giàu có.
30,00 32,00 34,00 36,00 38,00 40,00
0,00 10,00 20,00 30,00 40,00
Điều mà chúng ta cần biết là tác động độc lập của thuế lên lượng cung lao động, mà điều này chúng ta không thể biết được hoàn toàn từ việc khảo sát xu hướng theo thời gian của hai biến trên, từ đó ta có câu trả lời là – các con số tự chúng không nói lên điều gì.
Trang 6Mọi người dùng thời gian nghỉ ngơi chừng nào lợi ích từ nghỉ ngơi vẫn lớn hơn chi phí của việc nghỉ ngơi.Bây giờ chính phủ áp dụng mức thuế 20% lên thu nhập từ tiền công Khi này thu nhập thuần sau thuế của A là 8
đô la một giờ Một con người hợp lý sẽ hành động thế nào-làm nhiều hơn, làm ít hơn hay làm như cũ?
Trang 72.1 Công cụ thực chứng
Thứ nhất chúng ta quan sát thấy thuế thu nhập làm giảm giá thực tế của nghỉ ngơi Trướckhi có thuế, việc dùng một giờ để nghỉ ngơi làm A mất đi hết 10 đô la Khi có thuế thu nhập,tiền công ròng của A thấp hơn và một giờ nghỉ ngơi làm anh ta mất có 8 đô la Và vì việcnghỉ ngơi trở nên rẻ hơn, ông A sẽ có khuynh hướng tiêu dùng nó nhiều hơn-nghĩa là làmviệc ít đi Tác động này gọi là hiệu ứng thay thế (substitution effect)
Trang 92.1 Công cụ thực chứng
Vì hiệu ứng thay thế và thu nhập tác động tới giờ làm theo các chiều hướng ngược nhau nên tácđộng của thuế thu nhập đến lượng cung lao động không thể xác định chỉ bằng lý thuyết Hãy xem xéthai phát biểu sau đây:
1 “ Với thuế cao như vậy, rõ ràng là không đáng để tôi làm việc nhiều như trước đây.”;
2 “Với thuế cao thế này, tôi phải làm việc nhiều hơn để duy trì mức sống như cũ.”
Để trả lời được câu hỏi chính sách thuế ảnh hưởng như thế nào đối với cung lao động, trong đó có sựđan xen giữa hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập trong nền kinh tế, thì chỉ có nghiên cứu thựcchứng, tức là sự phân tích dựa trên quan sát, kinh nghiệm với lý thuyết thuần túy, mới có câu trả lời chocâu hỏi hành vi lao động của con người bị ảnh hưởng như thế nào với chính sách thuế
Trang 102.1 Công cụ thực chứng
2.1.2 Phương pháp phân tích thực chứng
Ba dạng chiến lược nghiên cứu thực chứng là:
Phỏng vấn cá nhân;
Thực nghiệm (trong phòng thí nghiệm hoặc ngoài xã hội);
Ước lượng kinh tế lượng
Trang 112.1 Công cụ thực chứng
2.1.2.1 Phỏng vấn
Cách dễ nhất để biết liệu các hoạt động của chính phủ tác động đến hành vi của con ngườihay không là hỏi họ bằng các bảng câu hỏi Nhược điểm của phương pháp này là: Sự khoahọc trong việc đặt câu hỏi và có sự nghi ngờ về câu trả lời
Trang 122.1 Công cụ thực chứng
2.1.2.2 Thực nghiệm
Nghiên cứu thực nghiệm (empirical research) là một loại phương pháp nghiên cứu sử dụng bằngchứng có thể kiểm chứng để đi đến kết quả nghiên cứu Khác với các nghiên cứu trong lĩnh vực khoahọc tự nhiên, trong kinh tế, các nhà nghiên cứu khó có khả năng thực hiện những thí nghiệm có kiểmchứng vì nhiều lý do.Tuy nhiên, chính phủ cũng đã cố gắng tài trợ cho các phương pháp luận thựcnghiên trong việc nghiên cứu hành vi con người, nhưng kết quả lại có ý nhiều ý kiến trái chiều
Nhược điểm: Sự khoa học trong chọn mẫu; Do ý thức của người tham gia; Tốn kém
Trang 132.1 Công cụ thực chứng
2.1.2.3 Nghiên cứu kinh tế lượng
Kinh tế lượng là phân tích thống kê các số liệu kinh tế Nó không phụ thuộc vào việc phỏng vấn mọi người về quan điểm, hành vi của họ, cũng như biến họ thành đối tượng thực nghiệm, mà các tác động của các chính sách khác nhau được diễn giải từ việc phân tích các hành vi quan sát được Các phương pháp kinh tế lượng cũng có thể được áp dụng dùng số liệu từ các cuộc phỏng vấn, thực nghiệm
Trang 142.1 Công cụ thực chứng
Ví dụ: Mô hình cung lao động đơn giản cho rằng số giờ làm việc hàng năm (chúng ta ký hiệu L làcung lao động) phụ thuộc vào tỷ lệ tiền lương ròng (Wn) Suy luận một chút chúng ta sẽ thấy rằng cácthu nhập không từ lao động như cổ tức và tiền lãi (A), độ tuổi (X1), số lượng trẻ em (X2) cũng có thểtác động đến số giờ làm việc
Các nhà kinh tế lượng chọn một công thức đại số nhất định nào đó để mô tả mối quan hệ giữa sốgiờ làm với các biến số giải thích trên Một dạng công thức cụ thể có thể là:
𝐿 = 𝛼0 + 𝛼1𝑤𝑛 + 𝛼2𝐴 + 𝛼3𝑋1 + 𝛼4𝑋2 + 𝜀 (2.1)
Trang 152.1 Công cụ thực chứng
𝐿 = 𝛼0 + 𝛼1𝑤𝑛 + 𝛼2𝐴 + 𝛼3𝑋1 + 𝛼4𝑋2 + 𝜀 (2.1)Các α là thông số của phương trình và ɛ là sai số ngẫn nhiên Các thông số sẽ cho biết sự thayđổi của các biến số bên vế phải của phương trình sẽ tác động như thế nào đến số giờ làm việc Nếu α1>
0, việc tăng tiền lương sẽ khuyến khích mọi người làm việc nhiều hơn, hiệu ứng thu nhập chiếm ưuthế Nếu α1 < 0, việc tăng tiền lương sẽ khuyến khích mọi người làm việc ít đi, hiệu ứng thay thế chiếm
ưu thế Nếu α1 =0 tiền lương không có tác động lên giờ làm việc Sự hiện diện của ɛ phản ánh các tácđộng lên cung lao động mà nhà nghiên cứu không quan sát được
Nếu chúng ta biết được tất cả các α thì các cuộc tranh luận về tác động của thuế đến cung lao động thì sẽ được giải quyết
Trang 16cũng dẫn kết kết quả cuối cùng
Trang 17KẾT LUẬN:
Trang 18Phân tích chuẩn tắc trong tiếng Anh là Normative Analysis Phân tích chuẩn tắc là cách phân tíchnhằm đưa ra những đánh giá và khuyến nghị dựa trên cơ sở các giá trị cá nhân của người phân tích.Câu hỏi trung tâm mà cách tiếp cận chuẩn tắc đặt ra là: cần phải làm gì hay cần phải làm như thế nàotrước một sự kiện kinh tế?
Các chính sách của chính phủ đối với nền kinh tế luôn được liên tục đánh giá Như có nên tăngthuế thu nhập hay không? Có nên kiểm soát chặt chẽ hơn việc lưu hành xe cá nhân hay không? Chínhphủ có cần tài trợ cho các trung tâm chăm sóc trẻ em hay không?
2.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
Trang 192.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
Có rất nhiều chính sách đặt ra để chính phủ thể hiện vai trò của mình trong nền kinh tế Với đa dạngcác chính sách trong thực tế, chúng ta cần có một khuôn khổ lý thuyết nào đó để đánh giá tính hấpdẫn của các chính sách Nếu không có một khuôn khổ chung mang tính hệ thống, thì sẽ có nhữngtranh luận không dẫn đến kết quả cuối cùng về những hành động của chính phủ, và tất nhiên, cácchính sách đó khó lòng có thể thực hiện được Nội dung này giới thiệu một khuôn khổ lý thuyết
được sử dụng trong phân tích tài chính công đó là kinh tế học phúc lợi
Trang 202.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
Kinh tế học phúc lợi (tiếng Anh: Welfare Economics) là một lĩnh vực nghiên cứu của kinh tế học, trong đónghiên cứu những vấn đề tiêu chuẩn, cách thức hoạt động kinh tế để làm cho phúc lợi kinh tế đạt được giá trịtối đa
Kinh tế học phúc lợi ra đời vào năm 1920 Tư tưởng chủ yếu của thời kỳ này đó là phúc lợi là hiệu quả sử dụngđạt được hoặc mức thỏa mãn của cá nhân, có thể so sánh được bằng số lượng giữa các cá nhân Phúc lợi kinh tế
có thể được tính toán bằng tiền Kinh tế học phúc lợi mới ra đời từ thập niên 1930 của thế kỷ XX, tư tưởng chủyếu lúc này là hiệu quả sử dụng lớn hay nhỏ là còn tùy thuộc vào thứ tự chứ không phải là số lượng Mức độhiệu quả được biểu hiện thông qua mức độ thị hiếu và thu nhập của mỗi người đối với sản phẩm, làm cho phúclợi đat tới giá trị tối đa Phúc lợi xã hội nói chung nhờ đó cũng đạt được đến tối đa
Trang 212.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
Vấn đề đầu tiên, chúng ta bắt đầu
vấn đề nghiên cứu này trong nền kinh
tế trao đổi thuần túy, nền kinh tế rất
đơn giản bao gồm hai người, họ tiêu
dùng hai loại hành hóa với số lượng
cung cố định trong nền kinh tế.
O
O’ Ông Er
Lượng thức ăn Ông A
Trang 222.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
Bây giờ giả sử A và E mỗi người có một tập
hợp các đường bàng quan (ở dạng thông thường)
thể hiện những ưa thích của họ đối với thức ăn và
áo quần Trong hình sau, cả hai tập hợp các đường
bàng quan được đặt chồng lên hộp Edgeworth
Đường bàng quan của A là A’s, của E là E’s Các
đường bàng quan với số lớn hơn thể hiện mức độ
hạnh phúc (hữu dụng) lớn hơn (sử dụng hàng hóa
Trang 232.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
O
Lượng thức ăn Ông A
Ta thấy, A hạnh phúc hơn trên đường
bàng quan A3 hơn là trên A2 hay A1 Còn E
hạnh phúc hơn trên đường bàng quan E3 hơn
là trên E2 hay E1 Về tổng thể, hữu dụng của
E tăng lên khi vị trí của cô ta dịch chuyển
theo hướng tây nam, trong khi hữu dụng của
A tăng lên khi dịch chuyển theo hướng đông
bắc
Trang 242.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
Bây giờ ta chọn một vài phân phối bất kỳ của
thức ăn và áo quần, ta lấy điểm g trong hình
sau Ag là đường bàng quan của A chạy qua
điểm g, và Eg là của E Bây giờ chúng ta đặt ra
câu hỏi như sau: Có thể phân bổ lại thức ăn và
áo quần giữa A và E làm thế nào để A được
sung túc hơn trong khi E không bị thiệt đi hay
không?
O
O’ r
Lượng thức ăn Ông A
Trang 252.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
O
Lượng thức ăn Ông A
Sự phân bổ hiệu quả Pareto
Chúng ta có thể chỉ ra được ngay một phân phối như thế, đó
là tại điểm h, tức là khi dịch chuyển đường bàng quan của A
về hướng đông bắc, làm cho lượng hàng hóa của A được
hưởng nhiều hơn, nhưng sự thỏa dụng của E vẫn không thay
đổi vì điểm h vẫn nằm trên đường bàng quan của E, tức E
không bị thiệt hại Phúc lợi của A có thể tiếp tục tăng nữa
hay không mà không gây ra bất kỳ thiệt hại nào cho E? Có
thể làm được điều này khi A có thể dịch chuyển đến các
đường bàng quan xa hơn về phía đông bắc mà vẫn ở trên Eg.
Quá trình này có thể tiếp diễn cho đến khi đường bàng quan
của A chỉ tiếp xúc chạm đến Eg, điểm này là p như trên
hình.
Trang 262.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
O
O’ r
Lượng thức ăn Ông A
Sự phân bổ hiệu quả Pareto
Cách duy nhất để đặt A vào đường bàng quan cao hơn
Ap là đặt E vào đường bàng quan thấp hơn, tức giảm đi lưởng
hàng hóa mà E được thụ hưởng Một phân phối như tại điểm
p, tại đó cách duy nhất để làm cho một người sung túc hơn là
làm cho người khác thiệt hại đi, gọi là Hiệu quả Pareto.
Hiệu quả Pareto thường được sử dụng như tiêu chuẩn
đánh giá sự mong muốn về sự phân phối các nguồn lực Nếu
phân phối không phải là hiệu quả Pareto thì nó là “lãng phí”
trên phương diện có thể làm cho ai đó sung túc hơn mà không
làm thiệt hại đến bất kỳ ai khác Khi các nhà kinh tế sử dụng
từ hiệu quả, họ thường có hàm ý là tính hiệu quả Pareto.
Trang 272.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
Tuy nhiên, điểm p không là phân phối hiệu quả Pareto
duy nhất có thể đạt được bằng cách khởi đầu tại điểm g.
Ngược lại với trường hợp trên, ta muốn xem xét E hưởng
được hạnh phúc hơn (đường bàng quan của E sẽ dịch chuyển
về hướng đồng nam) trong khi đường bàng quan của A không
thay đổi, tức không bị thiệt hại khi E được hưởng hạnh phúc
hơn Với logic tượng tự ta tìm được điểm p1, tại đây cách duy
nhất để tăng phúc lợp cho E là dịch chuyển đường bàng quan
của A để A hưởng thỏa mãn thấp hơn, tức bị thiệt hại Do đó
điểm p1 chính là điểm phân phối hiệu quả Patero.
O
O’
Lượng thức ăn Ông A
Trang 282.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
Bây giờ chúng ta xem xét trường hợp sự phân phối làm cho
cả hai sung túc hơn, bắt đầu từ điểm g.
Tại điểm p2, A khá hơn vì đường bàng quan tiến xa về phía
đông bắc, từ Ag thành Ap2 và E cũng vậy, tiến về phía đông nam,
từ Eg thành Ep2 Điểm p2 là hiệu quả pareto, bởi tại điểm này ta
không thể làm cho một các nhân sung sướng hơn mà không làm
người khác bị thiệt hại.
Ta thấy, rõ ràng từ điểm khởi đầu g ta có thể tìm được
nhiều tập hợp các điểm Pareto Nếu ta chọn điểm khởi đầu là k
thì ta cũng có những điểm hiệu quả khác như p3, p4. O
O’
Ông E r
Lượng thức ăn Ông A
Trang 292.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
O
O’
Ông E r
Lượng thức ăn Ông A
Tại điểm p2, A khá hơn vì đường bàng quan
tiến xa về phía đông bắc, từ Ag thành Ap2 và E
cũng vậy, tiến về phía đông nam, từ Eg thành
Ep2 Điểm p2 là hiệu quả pareto, bởi tại điểm
này ta không thể làm cho một các nhân sung
sướng hơn mà không làm người khác bị thiệt
hại.
Trang 302.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
Các khác là các yếu tố hàng hóa mỗi bên thu được
bao nhiêu từ sự phân phối lại các nguồn lực Tập hợp vị
trí của tất cả các điểm hiệu quả Pareto được gọi là đường
tiếp xúc (contract curve), và được thể hiện bằng đường
mm Chú ý rằng để một phân phối là hiệu quả Pareto (ở
trên đường mm), nó phải là điểm tại đó các đường bàng
quan của A và E vừa tiếp xúc với nhau Theo ngôn ngữ
toán học thì các đường này tiếp tuyến với nhau – nghĩa
là độ dốc của các đường bàng quan là bằng nhau
O
O’
Ông E r
Lượng thức ăn Ông A
m
Trang 312.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
Trong kinh tế học, giá trị tuyệt đối của độ dốc của đường bàng quan cho thấy tỷ lệ một
cá nhân sẵn sàng trao đổi một hàng hoá lấy một số lượng tăng thêm của hàng hoá khác, còn được gọi là tỷ lệ thay thế biên tế MRS (marginal rate of substitution) Do vậy, hiệu quả Pareto đòi hỏi rằng tỷ lệ thay thế biên tế là bằng nhau đối với tất cả mọi người tiêu dùng: 𝑀𝑅𝑆𝑎𝑡𝐴 = 𝑀𝑅𝑆𝑎𝑡𝐸 .
𝑀𝑅𝑆𝑎𝑡𝐴 là là tỷ lệ thay thế biên tế của áo quần cho thức ăn đối với người tiêu dùng A, và 𝑀𝑅𝑆𝑎𝑡𝐸 là là tỷ lệ thay thế biên tế của áo quần cho thức ăn đối với người tiêu dùng E.
Trang 322.2 Công cụ chuẩn tắc (còn gọi là quy chuẩn)
2.2.1 Kinh tế học phúc lợi (Welfare Economics)
Vấn đề thứ hai, chúng ta nghiên cứu trong nền kinh tế sản xuất.
Chúng ta đã giả thiết rằng lượng cung hàng hóa là cố định, điều gì sẽ xảy ra khi các đầu vào sản xuất có thể thay đổi giữa việc sản xuất (tạo ra) thức ăn và áo quần, số lượng hai loại hàng hóa này có thể thay đổi Với điều kiện là các yếu tố đầu vào được sử dụng hiệu quả, nếu thức ăn được sản xuất nhiều hơn thì sản xuất áo quần phải giảm
và ngược lại.