1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận CSXH Chính sách chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay

46 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chính sách xã hội
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 63,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là đối tượng hướng tới của chính sách và cũng là chủ thể tác động đến chính sách. Chủ thể này tác động đến chính sách đối với người cao tuổi thông qua một số khía cạnh như như cầu của người cao tuổi đối với chính sách đối với người cao tuổi, đặc điểm của người cao tuổi cần được lưu tâm trong việc ban hành và thực hiện chính sách người cao tuổi. Đó còn là điều kiện về gia đình, kinh tế của người cao tuổi. Đó còn là tiếng nói và sự tương tác của người cao tuổi trong quy trình chính sách đối với người cao tuổi.

Trang 1

Dân số cao tuổi tăng nhanh nhất so với tất cả các nhóm dân số khác.Theo dữ liệu của Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và 2009, trong giaiđoạn 1979-2009 tổng dân số tăng 1,6 lần, dân số trẻ em giảm gần một nửa,dân số trong độ tuổi lao động tăng 2,08 lần, còn dân số cao tuổi tăng 2,12 lần.

Hệ quả của xu hướng biến đổi cơ cấu tuổi trên là chỉ số già hóa sẽ tăng lênnhanh chóng và vượt ngưỡng 100 vào khoảng 2032, tức là giai đoạn ViệtNam bắt đầu có dân số cao tuổi nhiều hơn dân số trẻ em Điều đáng lưu ý làthời gian để Việt Nam chuyển đổi từ cơ cấu dân số “già hóa” sang cơ cấu dân

số “già” sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia có trình độ phát triển cao hơn,như Thụy Điển là 85 năm, Nhật Bản là 26 năm, và Thái Lan là 22 năm, trongkhi dự báo ở Việt Nam chỉ là 20 năm Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đối với tăngtrưởng kinh tế cũng như các chương trình an sinh xã hội cần thiết nhằm đápứng nhu cầu của nhóm dân số cao tuổi

Tiếp đó, đặc điểm thứ hai của quá trình già hóa dân số ở Việt Nam là

sẽ “già ở nhóm già nhất”, nghĩa là tốc độ tăng và số lượng người cao tuổi ở độtuổi cao nhất (từ 80 tuổi trở lên) sẽ ngày càng lớn Nếu như không có những

Trang 2

chính sách kịp thời thì những đối tượng này sẽ gặp khó khăn trong cuộc sống

và trở thành khó khăn của phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Số lượng người cao tuổi trong dân số Việt Nam ngày càng tăng làmtăng nhu cầu được chăm sóc một cách khá toàn diện Theo Cuộc tổng điều tradân số năm 1979, Việt Nam có 7.07% dân số từ 60 tuổi trở lên, tương đươngvới 3.688.137 người (Phạm Bích San, 1985) Đến năm 1989, tỷ lệ người caotuổi ở Việt Nam trong tổng dân số tăng nhẹ và chiếm 7,2% dân số; tăng chỉkhoảng 1.3% so với năm 1979; con số này tiếp tục tăng nhanh vào năm 2008với 9.9% (Nguyễn Văn Trí, 2011) Như vậy trong vòng 30 năm qua, qua 4 kỳtổng điều tra dân số (1979, 1989, 1999, 2009), số lượng và tỷ lệ người caotuổi ở Việt Nam chỉ tăng trung bình 0,06% mỗi năm Nhưng chỉ trong vòng 1năm, từ 1/4/2009- 1/4/2010, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên đã tăng từ 8,67% lên9,4%, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 6,4% lên 6,8% (Hà Anh, 2012).Năm 2012, tỷ lệ người cao tuổi chiếm 10,2% tổng dân số cả nước; năm 2014,

tỷ lệ này đã tăng lên 10,5% (Ngân Anh, 2015) Con số này cho thấy, chỉ trongmột năm, tỷ lệ người cao tuổi đã tăng hơn gấp 10 lần so với cả giai đoạn trướcđây cộng lại Theo kết quả dự báo, đến năm 2020, số lượng người cao tuổi ởViệt Nam sẽ chiếm 18%, và sẽ là 30% vào năm 2030 (Hồng Sơn, 2012) Khi

đó, nhu cầu chăm sóc người cao tuổi tiếp tục tên lên 20 lần vào năm 2020, rồitới 30 lần vào năm 2030 Với những con số này, việc nghiên cứu chính sáchđối với người cao tuổi hiện nay không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại mà còngóp phần tích cực trong việc định hình chính sách đối với người cao tuổi chotương lai Xét theo nghĩa này, việc nghiên cứu chính sách đối với người caotuổi là hết sức cần thiết không chỉ cho hiện tại mà còn là sự chuẩn bị cần thiếttrong tương lai

Mặt khác, không chỉ tăng nhanh về số lượng, nhu cầu y tế của ngườicao tuổi cũng gia tăng khi tình trạng sức khỏe của đối tượng này ở Việt Namđang ở mức thấp Theo Báo cáo “Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt

Trang 3

Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách” do Tiến sĩ GiangThanh Long hoàn thành, Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) xuất bản, nhucầu y tế cảu người cao tuổi rất nhiều Thứ nhất, tình trạng sức khỏe của ngườicao tuổi phụ thuộc rất nhiều vào tuổi tác, trong đó tuổi càng tăng thì tỷ lệngười cao tuổi có sức khỏe yếu càng cao, số bệnh mắc phải càng lớn và thờigian nằm bệnh càng dài Thứ hai, mô hình và nguyên nhân bệnh tật của ngườicao tuổi đang thay đổi nhanh chóng khiến cho gánh nặng “bệnh tật kép” ngàycàng rõ ràng Mô hình bệnh tật của người cao tuổi chuyển từ bệnh lây nhiễmsang bệnh mãn tính, không lây nhiễm trở thành nguyên nhân hàng đầu gâybệnh tật và tàn phế cho người cao tuổi đang là thách thức lớn cho Việt Nam.Thứ ba, mức độ hiểu biết về chăm sóc sức khỏe và tự chăm sóc sức khỏe củangười cao tuổi còn thấp Thứ tư, khả năng và tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ chămsóc sức khỏe giữa các nhóm người cao tuổi hết sức khác nhau Nhóm ngườicao tuổi ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nhóm chiếm tỷ lệcao trong dân số cao tuổi, lại rất khó khăn khi tiếp cận với các dịch vụ chămsóc sức khỏe Báo cáo cũng chỉ rõ các nguyên nhân của tình trạng này Mặc

dù tỷ lệ người cao tuổi ngày càng tăng nhưng mạng lưới y tế phục vụ ngườicao tuổi ở Việt Nam còn rất yếu

Bên cạnh đó, sự bất cập trong chính sách đối với người cao tuổi hiệnnay ở nước ta vẫn còn tồn tại Tuy nhu cầu chăm sóc người cao tuổi càng tăng

về số lượng và chất lượng nhưng sự chuẩn bị cho một xã hội có dân số giàdường như còn đơn sơ cả về phương diện chính sách, luật pháp, cơ sở vậtchất, kỹ thuật và tâm lý xã hội Mặc dù trong thời gian qua, Đảng và Nhànước đã có nhiều chủ trương, chính sách đối với người cao tuổi và hoạt độngcủa Hội người cao tuổi trong thời kỳ mới và đã được cụ thể hóa, đi vào cuộcsống, khuyến khích sự quan tâm rộng rãi của các tổ chức, cá nhân trong côngtác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi Thế nhưng, công tác ngườicao tuổi còn một số hạn chế Không ít người cao tuổi chưa được khám sứckhỏe định kỳ, chưa lập sổ theo dõi sức khỏe thường xuyên, chưa được ưu tiên

Trang 4

khi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế Một bộ phận người cao tuổi ở nôngthôn, nhất là vùng núi, vùng cao biên giới, vùng xa xôi, hẻo lánh, vùng đồngbào dân tộc thiểu số không chỉ khó khăn về đời sống mà còn cả trong khảnăng tiếp cận, thụ hưởng phúc lợi dành cho chính bản thân mình.

Do đó, trong thời gian tới, chính sách đối với người cao tuổi cần đượctiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện để người cao tuổi được chăm sóc tốt, khôngnhững phát huy tối đa sự đóng góp của họ mà còn đảm bảo tính hiệu quả thựcchất của hệ thống an sinh xã hội và sự phát triển ổn định, bền vững của đấtnước

1.1.2 Tính thời sự

Tính thời sự của các chính sách chăm sóc người cao tuổi từ trước năm

1945 chưa được thể hiện nhiều Trong thời kỳ đó, người cao tuổi chưa đượcquan tâm đến nhiều và ưu tiên như ngày nay Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minhchú trọng đến người cao tuổi, các chính sách này mới ngày càng được bổsung và hoàn thiện hơn Khi đó, tính thời sự cũng được thể hiện rõ ràng hơn.Qua từng giai đoạn, từng thời kỳ, các chính sách đều đáp ứng được nhữngnhu cầu thiết yếu trong giai đoạn đó và luôn luôn dự trù cho những khó khănmới của người cao tuổi để có những chính sách đảm bảo hơn cho cuộc sốngcủa người cao tuổi

1.1.3 Tính chính trị

Chủ thể thực hiện các chính sách chăm sóc người cao tuổi là Nhà nước.Chính vì vậy, chính sách chăm sóc người cao tuổi mang tính chính trị cao.Đặc biệt là vai trò của người cao tuổi rất quan trọng trong xã hội và ảnhhưởng đến chính trị rất lớn

1.1.4 Tính pháp lý

Trang 5

Tính pháp lý của đề tài được thể hiện qua những văn bản pháp lý nhưHiến pháp; Luật Hôn nhân và gia đình; các văn bản nghị quyết, thông tư, nghịđịnh; và đặc biệt là Luật Người cao tuổi năm 2009.

1.2 Tính nghiên cứu liên quan

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Xuất phát từ vai trò quan trọng của người cao tuổi và chính sách đốivới người cao tuổi, vấn đề chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam nhận được sựquan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

Có nhiều nghiên cứu về người cao tuổi và chính sách đối với người caotuổi ở trong nước Các nghiên cứu này tập trung vào một số nội dung quantrọng như mô tả về người cao tuổi, bao gồm: khái niệm, phân loại và đặcđiểm của người cao tuổi; chất lượng sống và nhu cầu chăm sóc sức khỏe củangười cao tuổi; nghiên cứu về người cao tuổi trong mối quan hệ với gia đình;nghiên cứu về chăm sóc người cao tuổi và nghiên cứu về chính sách đối vớingười cao tuổi Trên thực tế, có những nghiên cứu đề cập đến đồng thờinhững nội dung vừa nêu, nhưng trọng tâm có thể nghiêng về một trong nhữngnội dung trên Cho nên sự phân chia của luận án trong quá trình tổng thuật tàiliệu chỉ mang tính tương đối để vừa làm nổi bật những nội dung của cácnghiên cứu đã có về lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi vừa đảm bảo tính sáthợp với yêu, mục tiêu nghiên cứu

Công trình nghiên cứu “Cơ sở thực tiễn và lý luận xây dựng chính sách

xã hội đối với người già” của tác giả Nguyễn Hữu Dương (1999) do Vụ Cácvấn đề xã hội thuộc Văn phòng Quốc hội chủ trì Công trình đã cung cấp đượcthực trạng người cao tuổi ở Việt Nam cũng như chính sách đối với người caotuổi trước khi giành độc lập và từ sau khi giành độc lập đến nay Ngoài ra,nghiên cứu còn cho thấy tình trạng kinh tế-xã hội, gia đình, nhà ở và việc làm;cũng như sự tham gia các hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội của ngườicao tuổi Tuy nhiên, do được tiến hành từ năm 1999, số liệu tác giả cung cấp

Trang 6

đến nay đã bị lạc hậu Hiện nay, với sự biến động mạnh mẽ về kinh tế, xã hội,chính trị và thiết chế gia đình, thực trạng và nhu cầu chăm sóc của người caotuổi đã thay đổi; đòi hỏi có sự tiếp cận mới phù hợp hơn với bối cảnh hiệnnay Thêm nữa, chính sách đối với người cao tuổi tuy có đề cập nhưng sơlược, khái quát, chưa thấy được rõ nét những nỗ lực mà Nhà nước đã thựchiện, cũng như những việc Nhà nước nên và sẽ làm trong thời gian tới Cùngnhìn nhận vấn đề người cao tuổi ở góc độ chính sách, đặc biệt xem xét, đánhgiá lại mức độ thành công cũng như sự ghi nhận của người cao tuổi đối vớihiệu quả của hệ thống chính sách đối với người cao tuổi từ khi có luật đếnnay, tác giả Nguyễn Văn Đồng có bài nghiên cứu sát với mục tiêu của luận

án: “Luật người cao tuổi: Thực tiễn triển khai sau 8 năm ba hành” được đăng

trên Tạp chí Xã hội học, số 1, 2017 Luật người cao tuổi được Quốc hội khóaXII thông qua ngày 23/11/2009, đã quy định rõ về quyền và nghĩa vụ củangười cao tuổi; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc chămsóc, trợ giúp và phát huy vai trò người cao tuổi Sự ra đời của Luật người caotuổi đã tạo nền tảng pháp lý thúc đẩy hoạt động trợ giúp người cao tuổi diễn

ra thuận lợi hơn, thường xuyên và sâu rộng hơn Nhìn ở góc độ thực chứng,nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Đồng đã chỉ ra được những kết quả nổi bật, toàndiện, ở khía cạnh khái quát sâu sắc song hành cùng với tồn tại, vướng mắccòn gặp phải trong suốt quá trình hơn 08 năm thực hiên chính sách đối vớingười cao tuổi trên các lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất,tinh thần; vai trò của người cao tuổi trong đời sống; khả năngtiếp cận của người cao tuổi về chính sách liên quan đến họ; hay vai trò xã hộicủa họ trong tiến trình thực thi chính sách đối với người cao tuổi thời gianqua, Những tồn tại, bất cập mà tác giả Nguyễn Văn Đồng đưa ra như cácvấn đề xoay quanh văn bản quy định triển khai luật (hình thức, tiến độ, tínhthực tiễn, ), hạn chế kinh phí, người cao tuổi còn khó khăn trong tiếp cậndịch vụ cơ bản của xã hội, mà công trình này đạt được là những gợi ý, chỉbáo cần thiết cho luận án tiếp tục nghiên cứu

Trang 7

Cùng chủ đề này, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã tiến hành triển

khai đề tài “Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng” trong hai năm

2005 và 2006 Đề tài hướng tới các mục tiêu cơ bản như đánh giá thực trạng

về người cao tuổi ở Việt Nam; tổng kết, đánh giá kinh nghiệm từ một số môhình chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi hiện hành và đề xuất một số giảipháp chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Theo đó, đề tài đã trình bày một cáchsâu sắc những đặc điểm của người cao tuổi ở Việt Nam trên một số khía cạnh:tuổi thọ trung bình, trình độ học vấn, và điều kiện sống Tuổi thọ trung bìnhcủa người cao tuổi ở Việt Nam cao hơn mức trung bình của thế giới và phân

bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở đồng bằng và khu đô thị Trình độhọc vấn của người cao tuổi có tăng nhưng còn thấp, phần lớn là mù chữ Điềukiện sống của người cao tuổi ở nông thôn tốt hơn ở thành thị; tình trạng nhà ởcủa người cao tuổi cũng được quan tâm; mức sống còn rất thấp Đời sống tinhthần của người cao tuổi còn đơn điệu, chủ yếu là xem tivi, các hoạt động sinhhoạt cộng đồng chưa phong phú và đa dạng

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách đối với người cao tuổi

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chính sách đối với người cao tuổi, đó lànhững yếu tố tạo nên sự thành công của chính sách này

a Yếu tố môi trường

Môi trường chính trị là một trong những môi trường chính sách cơ bản.Yếu tố chính trị trước hết thể hiện ở tư duy về chính trị trong từng giai đoạncủa Đảng Cộng sản Việt Nam Sự thay đổi về tư duy của Đảng lãnh đạo cũngảnh hưởng rất lớn đến chính sách người cao tuổi Điều này thể hiện xuyênsuốt trong quá trình hình thành và phát triển chính sách người cao tuổi ở ViệtNam Chính vì Đảng quan tâm đến đối tượng là người cao tuổi, nhận ra đượcvai trò không thể thiếu của họ trong đấu tranh bảo vệ dân tộc, trong xây dựngđất nước và gia đình nên ngày từ những năm 1945 nhà nước Việt Nam đã

Trang 8

nhìn nhận rõ ràng vai trò của người cao tuổi từ đó thường xuyên đưa ra nhữngchính sách trong từng giai đoạn cho phù hợp Tư tưởng của Đảng về chínhsách còn thể hiện ở cách gọi đối tượng này từ già thành người cao tuổi.

Môi trường kinh tế - xã hội quyết định đến nội hàm của chính sách đốivới người cao tuổi Đều này thể hiện ở mức độ ngày càng hoàn thiện về nộidung của chính sách này Đồng thời môi trường kinh tế - xã hội còn tác độngđến mức độ của các nội dung chính sách Chẳng hạn như mức độ trợ cấp xãhội, hoặc mức độ của các chương trình chăm sóc sức khỏe giành cho ngườicao tuổi Sở dĩ môi trường kinh tế-xã hội tác động rất lớn là vì nó quyết địnhtiềm lực kinh tế, và khả năng huy động lực lượng xã hội vào chính sách này

Việt Nam có truyền thống hiếu thảo, tôn trọng người cao tuổi Đồngthời Việt Nam đang hình thành những giá trị văn hoá mới liên quan đến giađình như chuyển dần từ văn hoá gia đình đại đồng đường sang văn hoá giađình hạt nhân Điều này ảnh hưởng rất lớn đến như cầu cần được quan tâmcủa người cao tuổi, do đó ảnh hưởng nhiều đến chính sách đối với người caotuổi

Môi trường quốc tế cũng ảnh hưởng đến chính sách đối với người caotuổi Có thể kể ra như quá trình hội nhập của Nhà nước cũng ảnh hưởng đếnquá trình hội nhập của chính sách đối với người cao tuổi Chính sách ngườicao tuổi được hoàn thiện hơn do tiếp thu học tập những chính sách từ nướcngoài Các tổ chức quốc tế cũng tham gia tích cực hơn vào hoạch định và thựcthi chính sách đối với người cao tuổi

Trang 9

chính sách một cách đúng đắn và quan trọng Đó còn là khả năng tìm kiếmgiải pháp tối ưu trong điều kiện kinh tế-xã hội có hạn.

Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào nănglực của chủ thể trong thực hiện chính sách Nói cách khác, năng lực thực hiệnchính sách đối với người cao tuổi của đội ngũ cán bộ, công chức tham giathực hiện chính sách quyết định chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện chínhsách Do đó, muốn nâng cao hiệu quả, chất lượng thực hiện chính sách côngcần phải có các giải pháp đồng bộ nâng cao năng lực thực hiện chính sách củađội ngũ tham gia thực hiện chính sách

Đánh giá chính sách đối với người cao tuổi là một trong những hoạtđộng quan trọng giúp cho chính sách gần với thực tiễn hơn và hiệu quả hơn,tạo ra được những tác động như mong muốn của chủ thể ban hành Năng lựcchính sách đối với người cao tuổi là một tập hợp bao gồm các yếu tố cần thiếtgiúp chủ thể đánh giá có được những hoạt động đánh giá hiệu quả Thứ nhất

là năng lực xác định vấn đề cần đánh giá liên quan đến chính sách đối vớingười cao tuổi Thứ hai là năng lực lựa chọn và sử dụng phương pháp đánhgiá Thứ ba là năng lực thu thập và xử lý thông tin

c Yếu tố đối tượng chịu tác động của chính sách

Đây là đối tượng hướng tới của chính sách và cũng là chủ thể tác độngđến chính sách Chủ thể này tác động đến chính sách đối với người cao tuổithông qua một số khía cạnh như như cầu của người cao tuổi đối với chínhsách đối với người cao tuổi, đặc điểm của người cao tuổi cần được lưu tâmtrong việc ban hành và thực hiện chính sách người cao tuổi Đó còn là điềukiện về gia đình, kinh tế của người cao tuổi Đó còn là tiếng nói và sự tươngtác của người cao tuổi trong quy trình chính sách đối với người cao tuổi

1.3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

1.3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 10

Mục đích nghiên cứu của tiểu luận là tìm hiểu thực trạng chính sách đốivới người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay Từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằmhoàn thiện chính sách hơn.

1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu ra, tiểu luận cần phải thựchiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, thao tác hóa các khái niệm liên quan đến chính sách chăm

sóc người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai, phân tích quan điểm của Đảng về chính sách đối với người

cao tuổi

Thứ ba, nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách đối với người cao

tuổi ở Việt Nam

Thứ tư, phân tích và đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm khắc phục

những hạn chế và phát huy những ưu điểm của chính sách đối với người caotuổi ở Việt Nam

Thứ năm, liên hệ với khu vực và các nước trên thế giới để tiếp thu

những tiến bộ nhằm hoàn thiện chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam

1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Thực trạng thực hiện chính sách chăm sóc người cao tuổi

- Thời gian: Từ sau năm 1945 đến nay Số liệu lấy từ năm 2019

- Không gian: Đất nước Việt Nam, tiêu biểu là một số thành phố như

Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội,…

Trang 11

1.5 Phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Tập trung thu thập số liệu thứ cấp từ các nghiên cứu có sẵn, các vănbản quy phạm pháp luật của Nhà nước và các báo cáo về người cao tuổi trong

và ngoài nước giành cho Việt Nam

1.5.2 Phương pháp tiếp cận đa ngành

Để trả lời cho câu hỏi có tính liên ngành đối với chính sách chăm sócngười cao tuổi, em tập trung vào các ngành chính sách xã hội, pháp luật, nhànước, xã hội học

II NỘI DUNG

2.1. Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Chính sách

Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra;căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình kinh tế; nhắm đến một mụcđích nhất định, nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó Chính sách đượcban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng

2.1.3 Người cao tuổi

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi Trước đây, người

ta thường dùng thuật ngữ “người già” để chỉ những người có tuổi Hiện nay,thuật ngữ “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn Hai thuật ngữ

Trang 12

này không khác nhau về mặt khoa học, song về mặt tâm lý, thuật ngữ “ngườicao tuổi” mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng.

Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắnliền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể

Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên

Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2009 quy địnhngười cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”

Theo quan điểm của Công tác xã hội: Người cao tuổi với những thayđổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khókhăn, vấn đề trong cuộc sống Do đó, đối tượng người cao tuổi là một đốitượng yếu thế, cần sự trợ giúp công tác xã hội

2.1.4 Chính sách chăm sóc người cao tuổi

Chính sách chăm sóc người cao tuổi là những chính sách xã hội đượcban hành với mục tiêu tăng cường phúc lợi cho người cao tuổi cũng như tạođiều kiện khắc phục khó khăn để người cao tuổi hòa nhập vào sự phát triển xãhội Nội dung chính của chính sách là đảm bảo thu nhập cho người cao tuổi;chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho người cao tuổi; hỗ trợ người caotuổi trong việc đi lại, di chuyển trong cuộc sống và cuối cùng là vấn đề antoàn cho người cao tuổi

2.2. Quan điểm của Đảng về chính sách đối với người cao tuổi

2.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cao tuổi

Trong lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão, Chủ tịch Hồ ChíMinh viết: “Trách nhiệm của các vị phụ lão chúng ta đối với nhiệm vụ đấtnước thật là trọng đại Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng Đất nướctồn tại do phụ lão giúp sức Nước bị mất, phụ lão cứu, nước suy sụp do phụlão phù trì Nước nhà hưng, suy, tồn, vong phụ lão đều gánh trách nhiệm rất

Trang 13

nặng nề …Nước nhà lo, các cụ cùng phải lo Nước nhà vui các cụ đều cùngđược vui ”.

Người lại nói: “Chúng ta là bậc phụ lão, cần phải tinh thành đoàn kếttrước để làm gương cho con cháu ta Vậy tôi mong các vị phụ lão ở Hà thành

ra xung phong tổ chức “Phụ lão cứu quốc Hội” để cho các phụ lão cả nướcbắt chước và để hun sức gìn giữ nền độc lập nước nhà”

Ngay sau cách mạng tháng Tám, Bác Hồ đã rất quan tâm đến sức khoẻnhân dân Trong “Thư gửi các vị phụ lão” ngày 21/9/1945, Bác đã chốngquan niệm cổ xưa “lão lai tài tận, lão giả an chi” và trong bài “ Sức khoẻ vàthể dục, ngày 27/3/1946, Bác viết: “…Việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làmthành công… Vì vậy nên tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mọingười dân yêu nước Việc đó không tốn kém, khó khăn gì Gái trai già trẻ aicũng nên làm và ai cũng làm được… Dân cường thì nước thịnh…”

Trong bài “Tuổi tác càng cao lòng yêu nước càng lớn” Bác Hồ đã viết:

“Truyền thống “Điện Diên Hồng” là truyền thống yêu nước vẻ vangchung của dân ta và riêng của các cụ phụ lão ta

Mỗi khi có việc quan hệ lớn đến nước nhà nòi giống, thì các cụ khôngquản tuổi cao sức yếu, luôn hăng hái đứng ra gánh vác phần mình và đôn đốccon em làm tròn nhiệm vụ

Trong thời kì kháng chiến, chúng ta có những đội du kích “bạch đầuquân” Sự chiến đấu anh dũng và hy sinh oanh liệt của “những đội viên tócbạc răng long” đã làm cho lũ giặc kinh hồn và khuyến khích chiến sĩ ta càngthêm dũng cảm Các cụ đã góp phần không nhỏ vào cuộc thắng lợi vĩ đại củanhân dân ta

Ngày nay, trong công cuộc xây dung chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làmnền tảng vững mạnh cho sự nghiệp đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà,các cụ cũng tham gia rất hăng hái

Trang 14

Càng già, càng dẻo lại càng dai,

Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai

Đôn đốc con em làm nhiệm vụ

Vuốt râu mừng xã hội tương lai.”

Như vậy, ngay những ngày đầu thành lập nước, cách mạng còn đangtrong trứng nước, thù trong, giặc ngoài đe doạ cũng như trong thời kỳ khángchiến chống thực dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh

luôn đánh giá cao vị trí, vai trò, tiềm năng của người cao tuổi và đồng thời quan tâm, tập hợp, xây dựng tổ chức của Hội người cao tuổi là “Hội Phụ lão cứu quốc” tiền thân của Hội người cao tuổi ngày nay.

Ngày 6 tháng 6 năm 1941, Người viết bài Kính cáo đồng bào, kêu gọimọi tầng lớp nhân dân Việt Nam coi “quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơnhết thảy Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gianđặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”

Trong bài Kính cáo đồng bào bất hủ đó, Bác Hồ đã đặt người cao tuổilên vị trí hàng đầu trong các tầng lớp nhân dân: “Hỡi các bậc phụ huynh! Hỡicác hiền nhân, chí sĩ! Hỡi các bạn sĩ, nông, công, thương, binh!” Người đãnêu những tấm gương oanh liệt chống thực dân Pháp của các bậc tiền bốinhư: Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến…, nhắc lạicác bài học lịch sử và “Mong các ngài noi gương phụ lão đời Trần trước họagiặc Nguyên xâm lấn, đã nhiệt liệt hô hào con em tham gia sự nghiệp cứunước”

Đáp lại lời kêu gọi của Bác, hàng chục vạn người cao tuổi đã tham giaMặt trận Việt Minh xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng lực lượng vũtrang của Đảng, nuôi, giấu, làm giao thông liên lạc cho cán bộ, làm công tácbinh vận, tham gia Tổng khởi nghĩa, góp phần quan trọng vào thắng lợi của

Trang 15

Cách mạng tháng Tám, giành chính quyền về tay nhân dân, xây dựng nền độclập, tự do cho dân tộc.

Với ý nghĩa to lớn và sâu sắc của ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọingười cao tuổi cả nước cùng các tầng lớp nhân dân khác đứng lên cứu nước,

để phát huy vai trò và truyền thống của người cao tuổi, động viên người caotuổi vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 26 tháng 3 năm 2006,Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy ngày 06 tháng 6 hàng năm là “Ngàytruyền thống người cao tuổi Việt Nam”

2.2.2 Chủ trương của Đảng về người cao tuổi

Sau khi Hội người cao tuổi Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban

bí thư TW đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quyđịnh: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi làtrách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nêu: “Đối với các lãothành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, nhữngngười cao tuổi thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khỏe,nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầuthông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và cáchoạt động xã hội; nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền thống cáchmạng cho thanhniên, thiếu niên…”

Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dântham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lãothành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xãhội Chăm sóc đời sống vật chất và tih thần của người già, nhất là nhữngngười già cô đơn, không nơi nương tựa…”

Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng nêu rõ: Quan tâm chăm sócsức khỏe, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hóa, tiếp cận thông

Trang 16

tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống,lao động, lao động học tập của người trong xã hội và gia đình “Ông bà, cha

mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kếtthương yêu nhau”; giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa

Nghị quyết Đại hội IV Hội Người cao tuổi Việt Nam (2011) nêu:

“Nâng cao hiệu quả hoạt động chăm sóc, góp phần nâng cao chất lượng cuộcsống người cao tuổi, giảm bớt khó khăn cho người cao tuổi nghèo, già yếu côđơn, không để người cao tuổi phải sống lang thang cơ nhỡ’

Nghị quyết Đại hội V Hội Người cao tuổi Việt Nam (2016) chỉ rõ:

“Tăng cường xã hộ hóa các hoạt động của Hội, xây dựng nguồn lực cả cơ sởvật chất và tài chính để chăm sóc phát huy vai trò người cao tuổi”

2.3. Văn bản pháp lý của Nhà nước liên quan đến chính sách đối với người cao tuổi

2.3.1 Chính sách của Nhà nước với người cao tuổi

a Truyền thống “kính lão đắc thọ”

Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 117/CP “Về chăm

sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuổi Việt Nam”.

Chỉ thị khẳng định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân

ta, Đảng và nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinhthần của người cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm củatoàn đảng, toàn dân Các cấp chính quyền đã đề ra nhiều chính sách thể hiện

Trang 17

Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng, đơn vị thuộcquyền thường xuyên quan tâm làm tốt công tác chăm sóc người cao tuổi.Công tác này cần được thể hiện trong các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hộingắn hạn và dài hạn của địa phương Trong chỉ tiêu xây dựng gia đình vănhoá, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư: chỉ đạo các cơ quan văn hoá,thông tin, giáo dục và đào tạo đẩy mạnh công tác tuyên tryền, giáo dục nhândân, nhất là thế hệ trẻ về ý thức, thái độ và nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ kínhtrọng người cao tuổi

Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trong khi hoạchđịnh các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và các chương trình quốc gia, cầnchú ý bồi dưỡng và phát huy nguồn lực người cao tuổi Hàng năm cần dànhmột tỷ lệ thích đáng ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, chăm sóc, bồidưỡng, phát huy vai trò người cao tuổi và hỗ trợ Hội người cao tuổi

Đối với Hội Người cao tuổi

Hội có tư cách pháp nhân, hoạt động theo điều lệ phù hợp với Hiếnpháp và pháp luật dưới sự lãnh đạo của đảng và sự hỗ trợ của Chính phủ vềkinh phí và điều kiện hoạt động

Đối với các Bộ, ngành

Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quản lý về mặt nhà nước đối với

Hội người cao tuổi có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn Hội hoạt động theođúng đường lối, chính sách, pháp luật của nhà nước…

Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân các địa phương tạo điều kiện giúp đỡ

về cơ sở vật chất và hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động cho Hội người caotuổi ở Trung ương, xã, phường và thị trấn

Các Bộ, ngành khi soạn thảo các văn bản pháp luật có liên quan đếnchính sách đối với người cao tuổi cần tham khảo ý kiến của Hội người caotuổi Việt Nam trước khi trình Chính phủ và Quốc hội

Trang 18

Chỉ thị cũng đã đề cập đến Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Khoahọc và Công nghệ, Bộ Ngoại giao, Tổng cục thể dục thể thao, Mặt trận tổquốc Việt Nam… tạo điều kiện và phối hợp…chăm sóc và phát huy vai tròngười cao tuổi.

b Công tác bảo trợ xã hội và chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi

Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quyđịnh chính sách trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội Tại Điều

5, Chương 2, đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm ngườicao tuổi thuộc một trong các trường hợp: Người cao tuổi thuộc hộ nghèokhông có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa

vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hộihàng tháng; Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm aKhoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợcấp xã hội hàng tháng; Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người cónghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủđiều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhậnchăm sóc tại cộng đồng Điều 9, Chương 2, người từ đủ 80 tuổi trở lên đanghưởng trợ cấp tuất bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác màchưa được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí Bên cạnh đó, còn nhiều điều khoảncủa Nghị định này quy định về những quyền lợi mà người cao tuổi đượchưởng Tuy nhiên, những điều khoản về người cao tuổi vẫn còn được xếpchung với những đối tượng khác mà chưa được tách biệt riêng

Thông tư số 17/2011/TT-BLĐTBXH ngày 19/5/2011 của Bộ lao độngThương binh và xã hội quy định hồ sơ, thủ tục trợ cấp xã hội hàng tháng, hỗtrợ chi phí mai táng và tiếp nhận người cao tuổi vào cơ sở bảo trợ xã hội

Thông tư số 21/2011/TT-BTC ngày 18/2/2011 của Bộ tài chính quyđịnh quản lý và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú,chúc thọ, mừng thọ và biểu dương, khen thưởng người cao tuổi

Trang 19

Thông tư 35/2011/TT-BYT ngày 15/10/2011 của Bộ y tế hướng dẫnthực hiện chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Thông tư hướng dẫn chăm sócsức khỏe người cao tuổi tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và tại cộng đồngcũng như quản lý các bệnh mãn tính.

Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp cácđối tượng bảo trợ xã hội Điều 4, Chương 2, đối tượng bảo trợ xã hội thuộcdiện trợ cấp hàng tháng do xã, phường, thị trấn quản lí bao gồm người caotuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồngnhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộgia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thờikỳ); người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xãhội

Nghị định 13/2010/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghịđịnh 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của chính phủ về chính sách trợ giúpcác đối tượng bảo trợ xã hội Mức trợ cấp đối với người cao tuổi tại Nghị địnhnày đã được nâng lên nhiều so với mức trợ cấp cũ của Nghị định67/2007/NĐ-CP

c Lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch

Thông tư số 127/2011/TT-BTC ngày 9/9/2011 của Bộ tài chính quyđịnh mức thu phí thăm quan di tích văn hóa, lịch sử, bảo tàng, danh lam thắngcảnh đối với người cao tuổi Theo đó, mức thu phí thăm quan di tích văn hoá,lịch sử, bảo tàng, danh lam thắng cảnh đối với người cao tuổi bằng 50% mứcthu phí hiện hành

Thông tư số 06/2012/TT-BVHTTDL ngày 14/5/2012 của Bộ Văn hóa,thể thao, du lịch quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 06/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về hỗ trợ người cao tuổi tham giahoạt động văn hóa, thể thao và du lịch và tổ chức mừng thọ người cao tuổi.Người cao tuổi được hỗ trợ trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch Giá

Trang 20

dịch vụ tại các di tích lịch sử - văn hóa, bảo tàng, danh lam thắng cảnh, cơ sởtập luyện thể dục, thể thao thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch được giảm đối với người cao tuổi.

d Lĩnh vực giao thông

Thông tư số 71/2011/TT-BCTVT ngày 30/12/2011 của Bộ giao thôngvận tải quy định về hỗ trợ người cao tuổi khi tham gia giao thông công cộng

Công văn 3873/BGTVT-CP ngày 1/7/2011 của Bộ giao thông vận tải

về việc triển khai thực hiện quy định giảm giá vé, giá dịch vụ cho người caotuổi khi tham gia giao thông bằng tàu thủy chở khách, tàu hỏa chở khách, máybay chở khách

e Quỹ chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi

Nghị định 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tổ chức,hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện Người cao tuổi theo quy định có thểthành lập những quỹ xã hội hoặc quỹ từ thiện theo nhóm, tổ chức, địaphương Theo quy định, những quỹ xã hội, quỹ từ thiện được lập ra để hoạtđộng vì người cao tuổi

Thông tư 02/2013/TT-BNV ngày 10/4/2013 của Bộ nội vụ quy định chitiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 30/2012/NĐ-CPngày 12/4/2012 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động quỹ xã hội từ thiện.Theo đó, các quỹ xã hội từ thiện có thể được tổ chức và hoạt động với đốitượng là người cao tuổi

f Chương trình hành động

Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 22/11/2012 của Thủ tướng chínhphủ phê duyệt chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Namgia đoạn 2012 – 2020 Chương trình hoạt động quốc gia về người cao tuổiViệt Nam được phê duyệt với mục tiêu phát huy vai trò người cao tuổi; nângcao chất lượng chăm sóc người cao tuổi; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động

Trang 21

chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi phù hợp với tiềm năng và trình

độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với các hoạt động chăm sóc sứckhỏe người cao tuổi; hướng dẫn, tạo điều kiện cho người cao tuổi tham giavào các hoạt động lao động sản xuất; chăm sóc đời sống văn hóa, tinh thần;tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về các vấn đề liên quan đến ngườicao tuổi; nâng cao đời sống vật chất cho người cao tuổi; xây dựng và nhânrộng mô hình chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi dựa vào cộng đồng;phát triển các cơ sở chăm sóc và nhà ở đối với người cao tuổi; đào tạo nângcao năng lực cán bộ; giám sát, đánh giá nghiên cứu về những vấn đề liên quanngười cao tuổi; tuyên truyền cho sự chủ động chuẩn bị cho tuổi già

g Tháng hành động vì người cao tuổi

Quyết định 544/QĐ-TTg ngày 25/4/2014 của Thủ tướng CP quy địnhhàng năm lấy tháng 10 là tháng hành động vì người cao tuổi Việc tổ chức

“Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam” hàng năm phải đảm bảo thiếtthực, hiệu quả với mục đích phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”,lòng hiếu thảo của con cháu với cha mẹ, ông bà và tinh thần kính lão, trọngthọ; thu hút sự quan tâm của tổ chức, cá nhân và các tầng lớp nhân dân tíchcực tham gia chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò của người cao tuổi

2.3.2 Pháp luật liên quan đến người cao tuổi

Hiến pháp năm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặctàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ’

Hiến pháp 1959, Điều 32 quy định: “Người lao động có quyền đượcgiúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động Nhà nước

mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để đảm bảo chongười lao động được hưởng quyền đó’

Hiến pháp 1992, Điều 64 quy định: “Gia đình là tế bào của xã hội Nhànước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến

Trang 22

bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạycon thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sócông bà, cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xửgiữa các con.”

Hiến pháp 1992, Điều 67 ghi: “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩđược hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước Thương binh được tạo điềukiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và cóđời sống ổn định Những người và gia đình có công với nước được khenthưởng, chăm sóc Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựađược Nhà nước và xã hội giúp đỡ.”

Hiến pháp 2013, khoản 3 Điều 37 quy định: “Người cao tuổi được nhànước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Hiến pháp 2013 tại khoản 2, Điều 59, ghi: “Nhà nước tạo bình đẳng về

cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xãhội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo vàngười có hoàn cảnh khó khăn khác”

Luật người cao tuổi 2009: Đã dành toàn bộ chương II quy định vềphụng dưỡng, chăm sóc người cao tuổi

Luật hôn nhân và gia đình 2014, khoản 2 Điều 71 quy định: “Con cónghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mấtnăng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình cónhiều con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”

Luật bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân 1989, Điều 41 quy định:

“Người cao tuổi, thương binh, bệnh binh và người tàn tật được ưu tiên trongkhám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hộiphù hợp với sức khoẻ của mình; Bộ y tế, Tổng cục thể dục thể thao hướng

Trang 23

dẫn phương pháp rèn luyện thân thể, nghỉ ngơi và giải trí để phòng, chống cácbệnh người già”.

Bộ Luật hình sự 2015, Điều 40, khoản 2 quy định: Không áp dụng hìnhphạt tử hình đối với người tử tù đủ 75 tuổi trở lên khi phậm tội hoặc khi xétxử

2.4. Thực trạng của thực hiện chính sách đối với người cao tuổi

2.4.1 Ưu điểm và nguyên nhân

và hỗ trợ về tài chính Nói cách khác, ngày nay chính sách của Đảng và Nhànước đối với người cao tuổi đã cơ bản hoàn thiện, các thiết chế chăm lo chongười cao tuổi được hình thành và hoàn thiện từ Trung ương tới cơ sở Ngườicao tuổi 80 tuổi trở lên đã được Nhà nước trả lương mặc dù chưa nhiều nhưngđây là nỗ lực rất lớn của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh nền kinh tế đấtnước còn nhiều khó khăn Hệ thống an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa đã tạothành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh nhằm chăm lo một cách tốt nhấtcho người cao tuổi trong điều kiện cho phép của nền kinh tế đất nước

Thứ hai, Người cao tuổi có hiểu biết nhất định về chính sách giành cho

họ Đây là một thành công về mặt tuyên tuyền tới đối tượng thụ hưởng củachính sách Có tới 100% số người cao tuổi được hỏi có nghe tới chính sáchtrợ cấp xã hội Có tới 91,5% số người cao tuổi được hỏi trả lời là có biết đếnchính sách chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Và có tới 74,6% số người trả

Ngày đăng: 23/10/2023, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Chính sách xã hội, Dương Thị Thục Anh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chính sách xã hội
Tác giả: Dương Thị Thục Anh
Nhà XB: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2018
3. Giáo trình Công tác xã hội với người cao tuổi, Đề án 32, Cục bảo trợ xã hội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội với người cao tuổi, Đề án 32
Nhà XB: Cục bảo trợ xã hội
Năm: 2012
4. Báo cáo Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách, Ts. Giang Thanh Long, Quỹ Dân số Liên hợp quốc, 7/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách
Tác giả: Ts. Giang Thanh Long
Nhà XB: Quỹ Dân số Liên hợp quốc
Năm: 2011
5. Cơ sở thực tiễn và lý luận xây dựng chính sách xã hội đối với người già”, Nguyễn Hữu Dương, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở thực tiễn và lý luận xây dựng chính sách xã hội đối với người già
Tác giả: Nguyễn Hữu Dương
Năm: 1999
6. Luật người cao tuổi: Thực tiễn triển khai sau 8 năm ba hành, Nguyễn Văn Đồng, Tạp chí Xã hội học, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật người cao tuổi: Thực tiễn triển khai sau 8 năm ba hành
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 2017
7. Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng
Tác giả: Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em
Năm: 2006
8. Báo cáo tóm tắt Già hóa trong thế kỉ XXI: Thành tựu và thách thức, Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hóa trong thế kỉ XXI: Thành tựu và thách thức
Nhà XB: Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
9. Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013
2. Vấn đề người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay, Lê Văn Khảm, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 7(80), 2014 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w