1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận CSXH Chính sách xã hội với người cao tuổi tại Việt Nam hiện nay

35 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách xã hội với người cao tuổi tại Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn
Chuyên ngành Chính sách xã hội
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 60,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích chính của đề tài là tìm hiểu các chính sách xã hội liên quan đến vấn đề người cao tuổi tại Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả và khắc phục hạn chế trong thời gian sắp tới. 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Tìm hiểu những công trình nghiên cứu an sinh xã hội, chính sách xã hội dành cho người cao tuổi đã nghiên cứu từ trước, làm tiền đề cho việc nghiên cứu, đánh giá. ¬ Đánh giá việc thực hiện chính sách xã hội đối với người cao tuổi, những mặt ưu điểm và khuyết điểm trong các chính sách để từ đó điều chỉnh phù hợp. Làm rõ các lý luận và thực tiễn cho việc thực thi chính sách xã hội đối với người cao tuổi. Đưa ra những khuyến nghị để có thể khắc phục tồn tại trong thời gian sắp tới.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đất nước Việt Nam ta đã trải qua công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước(1968-2020) đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đườngxây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Đất nước thoát rakhỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nướcđang phát triển và có thu nhập trung bình, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Cùng với đó nhà nước đang đẩy mạnh củng cố và hoàn thiện hệ thống chính sách

xã hội, Nghị quyết Đại hội Đảng khẳng định : "Chính sách xã hội bao trùm mọi

mặt của cuộc sống con người : điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và vănhóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc thể hiện đầy đủ trongthức tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tếvà chính sách xã hội"

Nhà nước ta đã không ngừng củng cố những chính sách xã hội từ chính sựđổi mới về tư duy, cách thức thực hiện và sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Nhànước với mục tiêu các chính sách xã hội đối với các các giai cấp, tầng lớp dân cưngày càng mở rộng và phù hợp hơn với từng nhóm đối tượng giúp góp phần đảm

bảo nền an sinh xã hội đầy đủ đáp ứng nhu cầu của nhân dân Cương lĩnh viết : “

Đảng coi chính sách xã hội là một công cụ mạnh mẽ đẩy nhanh sự pháttriển của đất nước, nâng cao tính tích cực chính trị và xã hội của quần chúng, xâydựng con người mới, khẳng định lối sống xã hội chủ nghĩa, là một nhân tố quantrọng đảm bảo sự ổn định chính trị của xã hội ”

Cùng với việc đảm bảo phát triển nền kinh tế – xã hội lớn mạnh, các chínhsách xã hội phổ cập bao trùm thì chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều khókhăn, đặc biệt là tốc độ già hóa dân số Nghiên cứu chính sách đối với người cao

Trang 2

tuổi hiện nay ở Việt Nam là rất cần thiết bởi số lượng người cao tuổi trong dân số

Việt Nam ngày càng tăng và làm tăng nhu cầu được chăm sóc một cách toàn diện Theo báo cáo của Tổng Cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế), tại Việt

Nam, 65,7% người cao tuổi sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp.Tuổi thọ trung bình cao (73 tuổi) nhưng tuổi thọ khỏe mạnh thấp (64 tuổi) ViệtNam là nước có tốc già hóa dân số thuộc hàng nhanh nhất thế giới Trong khi đó,hệ thống an sinh xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi; chưa có hệthống chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi; chưa có hệ thống cung ứng việc làmcho người cao tuổi

Theo Báo lao động đưa tin : “ Một số liệu được đưa nhân Ngày Quốc tếNgười cao tuổi 1.10 thì Việt Nam là một trong 10 nước có tốc độ già hóa nhanhnhất thế giới, sẽ không chỉ tới 20 năm, tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 7% lên14% Theo các chuyên gia dân số, Việt Nam sắp qua thời kỳ cơ cấu “ dân số vàng”và bước và giai đoạn già hóa”

Liên hiệp quốc cảnh báo rằng : “ Kỷ nguyên người cao tuổi sẽ nổi lên trongthế kỷ 21” và Việt Nam là một trong 10 nước có tỷ lệ dân số già hóa cao nhất thếgiới Nước ta chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011, nhanhhơn 6 năm so với dự báo Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc tăng nhanh liên tục từ7,1% (năm 1989) lên 8,7% (năm 2009) và 10,9% (năm 2017) Theo dự báo, đếnnăm 2038, người cao tuổi ở Việt Nam sẽ chiếm 20% tổng dân số - tăng gấp ba lầntrong vòng 24 năm

Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ “già hóa” khi tốc độ già hóa tiếp tụctăng nhanh, các chính sách an sinh xã hội, lồng ghép vấn đề chính sách này vàotrong các chương trình kinh tế, chính sách y tế …dành cho người cao tuổi chưathực sự hoàn chỉnh Đặc biệt đối tượng là người cao tuổi phải thực sự được quantâm và chú trọng vì họ không thể lao động để kiếm ra vật chất, bệnh tất đau ốm vì

Trang 3

vậy phải đặc biệt quan tâm chính sách trợ cấp xã hội, cơ sở vật chất về việc thămkhám sức khỏe cho người cao tuổi Nhà nước cũng đã quan tâm và củng cố thựchiện, người cao tuổi cũng đã nhận dược trợ cấp và các điều kiện chăm sóc sứckhỏe, tuy nhiên việc triển khai còn thiếu đồng bộ giữa các khu vực và điều kiệntừng vùng miền khác nhau nên vẫn còn những hạn chế và đang đặt ra những tháchthức.

Từ thực tế trên cho thấy, phải quan tâm và chú trọng đến các vấn đề an sinhxã hội dành cho người cao tuổi, khắc phục những yếu kém và hạn chế, bao trùm vàphổ cập các chính sách xã hội dành cho người cao tuổi khắp vùng miền nhằm đảmbảo cuộc sống tốt đẹp nhất, cũng là mục tiêu của toàn xã hội Vì vậy em quyết định

lựa chọn đề tài “Chính sách xã hội đối với người cao tuổi tại Việt Nam hiện nay”.

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:

Ở Việt Nam, các vấn đề về chính sách dành cho người cao tuổi không phải làđiều mới mẻ nhưng những công trình nghiên cứu, đánh giá chính sách này lạikhông nhiều Trên thực tế hiện nay, trước tình hình biến động, gia tăng dân số củanhóm đối tượng người cao tuổi ở Việt Nam do tác động của già hóa dân số đã đặt

ra nhiều vấn đề mới khác liên quan

Cho đến nay đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến người caotuổi tại Việt Nam hay vấn đề già hóa dân số :

“ Nghiên cứu già hóa dân số của các quốc gia khác trên thế giới” của TS Mạc Tiến Anh là một trong những đề tài đầu tiên tìm hiểu, đánh giá về hiện tượng

già hóa của một số nước trên Thế giới Đề tài đưa ra những phân tích về điều kiệnthực tiễn của già hóa dân số và cách giải quyết ứng phó của Chính phủ các

Trang 4

nước.Kết quả nghiên cứu được đăng tải liên tục trên 3 số của Tạp chí Bảo hiển xãhội số 1/2005, số 2/2005 và số 4/2005.

 Cuốn sách “ Những xu hướng biến đổi dân số ở Việt Nam” , nhà xuất bảnNông nghiệp, Hà Nội (2007) của PGS.TS Nguyễn Đình Cử Đây là nghien cứuchứa đựng những dự báo đầu tiên về xu hướng, tình hình biến đổi cơ cấu của dânsố Việt Nam trong dài hạn, là cơ sở hình thành, xây dựng chính sách theo đòi hỏicủa xã hội

 Đề tài nghiên cứu khoa học: “Thực trạng đời sống người nghỉ hưu, nhữnggiải pháp cung cấp về dịch vụ xã hội nhằm cải thiện đời sống vật chất tinh thần củangười nghỉ hưu” năm 2013-2014 của TS Phạm Đình Thành Một trong những số ítcông trình nghiên cứu đánh giá chính sách hưu trí với đối tượng là người cao tuổi.Đề tài nghiên cứu mang tính thời sự, tại thời điểm mà Nhà nước và Quốc hội đangxem xét thông qua việc sửa đổi bổ sung Luật Bảo hiển xã hội 2006 Thông qua việcnghiên cứu thực trạng đời sống của người nghỉ hưu, đề tài cũng nêu lên rõ nguyệnvọng mong muốn của bộ phận người cao tuổi muốn đề đạt tới các cấp có thẩmquyền, những người làm chính sách để bổ sung, hoàn thiện chính sách, đáp ứngnhu caagu của người cao tuổi

 Đề tài nghiên cứu khoa học “Vấn đề già hóa dân số và chính sách BHXH, BHYT ở Việt Nam” năm 2015 của Ths Đỗ Thị Kim Oanh Công trình này nghiên

cứu mối quan hệ tác động qua lại giữa vấn đề già hóa dân số và một số mặt củachính sách xã hội, chính sách y tế ở Việt Nam Đề tài đã bao quát được những tácđộng tích cực và tiêu cực chủ yếu của việc cân đối và xử lý quỹ Bảo hiểm Y tế,Bảo hiểm Xã hội, đồng thời đã cung cấp được nguồn số liệu mới, chính xác, tạo

điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài “Chính sách xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay”.

Qua những văn bản quy phạm pháp luật ( Hiến pháp ):

Trang 5

Hiến pháp năm 1946, Điều 14 có nêu: “những người công dân già cả hoặc

tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”

Hiến pháp năm 1959, tại Điều 32 nêu: “Người lao động có quyền được

giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động Nhà nước mở rộngdần các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để bảo đảm cho người lao độngđược hưởng quyền đó” được việc thì được giúp đỡ”

Hiến pháp năm 1980, tại Điều 59 và Điều 74 cũng nêu rõ: “Công nhân,

viên chức khi về hưu, già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động được hưởng quyềnlợi bảo hiểm xã hội” và “Người già và người tàn tật không nơi nương tựa được Nhànước và xã hội giúp đỡ”

Hiến pháp năm 1992 chỉ rõ: “Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm

sóc ông bà, cha mẹ”; “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựađược Nhà nước và xã hội giúp đỡ”

Hiến pháp mới nhất năm 2013 cũng nêu rõ trong khoản 3 điều 37 “Người

cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai tròtrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Khoản 2 điều 59: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ

hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúpngười cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khănkhác”

Qua các văn bản Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết :

Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân (1989) quy định: ưu tiên người già trong

khám chữa bệnh; tạo điều kiện thuận lợi cho người già trong thể dục thể thao, nghỉngơi, giải trí

Trang 6

Luật Lao động (1994) định nghĩa người cao tuổi, xác định điều kiện lao

động cho người lao động, chế độ nghỉ hưu

 Luật Bảo hiểm xã hội (2006)

 Luật Người cao tuổi (2010)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu :

Mục đích chính của đề tài là tìm hiểu các chính sách xã hội liên quan đếnvấn đề người cao tuổi tại Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời đề xuất giải phápnâng cao hiệu quả và khắc phục hạn chế trong thời gian sắp tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu :

- Tìm hiểu những công trình nghiên cứu an sinh xã hội, chính sách xã hộidành cho người cao tuổi đã nghiên cứu từ trước, làm tiền đề cho việc nghiên cứu,đánh giá

- Đánh giá việc thực hiện chính sách xã hội đối với người cao tuổi, nhữngmặt ưu điểm và khuyết điểm trong các chính sách để từ đó điều chỉnh phù hợp

- Làm rõ các lý luận và thực tiễn cho việc thực thi chính sách xã hội đối vớingười cao tuổi

- Đưa ra những khuyến nghị để có thể khắc phục tồn tại trong thời gian sắptới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Việc thực hiện chính sách xã hội đối với người cao tuổi tại Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 7

- Nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi toàn đất nước Việt Nam.

5 Phương pháp nghiên cứu :

- Phân tích tài liệu và tổng hợp lý thuyết

- Thống kê và so sánh

6 Ý nghĩa lý luận :

Áp dụng các kiến thức trong lĩnh vực chính sách xã hội, anh sinh xã hội đểđể đi vào quá trình nghiên cứu đánh giá phục vụ cho việc nghiên cứu Góp phầnlàm sáng tỏ tình hình đặc điểm của chính sách xa hội đối với người cao tuổi

7 Ý nghĩa thực tiễn :

- Nước ta đang trong quá trình già hóa dân số, hơn thế nữa việc có nhữngchính sách quan tâm chăm sóc đặc biệt hơn đối với người cao tuổi là hết sức quantrọng vì họ không còn khả năng lao động, sức khỏe thì ngày một yếu đi, nếu khôngcó điều kiện thì không thể chăm sóc sức khỏe đầy đủ

- Hơn thế nữa, truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta từ bao đờicũng phải được phát huy, biết ơn đối với các thế hệ đi trước, đó còn là thước đo đạođức của con người khi biết ơn và chia sẻ gánh nặng giúp họ có niềm vui tuổi già vàđể họ có thể hưởng chính sách xã hội một cách tối ưu

8 Kết cấu đề tài nghiên cứu :

Phần nội dung chính bao gồm 03 chương:

Phần 1: Cơ sở lý luận trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với

người cao tuổi

Phần 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người

cao tuổi tại Việt Nam và một số khuyến nghị

Trang 8

Phần 3: Liên hệ chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi tại nước

1.1.1 Chính sách xã hội

Theo “Lý thuyết xã hội và xã hội học hiện đại”, Nxb KHXH, HN, 1980

 Chính sách xã hội là sự tổng hợp các phương thức, các biện pháp của Nhànước, của các đảng phái và tổ chức chính trị khác nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chấtvà tinh thần của nhân dân phù hợp với trình độ phát triển đất nước về kinh tế, vănhoá, xã hội… Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luậtnhững chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước

Theo tài liệu chính sách xã hội của T.S Dương Thị Thục Anh :

 Chính sách xã hội là tổng thể các hệ thống quan điểm, chủ trương, phươnghướng và biện pháp được thể chế hóa bằng pháp luật của Nhà nước để giải quyếtnhững vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian và không gian nhất định, nhằm tăngcường phúc lợi, bảo đảm công bằng xã hội và tạo điều kiện cho người dân hòa nhậpvào sự phát triển xã hội

1.1.2 An sinh xã hội

- Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): An sinh xã hội là sự cung cấp phúc

lợi cho các hộ gia đình và các nhân thông qua cơ chế của Nhà nước hoặc tập thểnhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp

Trang 9

- An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp củaNhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với cácrủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập

do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao độnghoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa vàcung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chínhsách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt

- Hệ thống an sinh xã hội phải đáp ứng được ba chức năng cơ bản là chứcnăng phòng ngừa rủi ro, hạn chế rủi ro và khắc phục rủi ro Theo quan niệm này, hệthống an sinh xã hội ở nước ta gồm 04 phần cơ bản:

 Chính sách và chương trình bảo hiểm xã hội;

 Chính sách và chương trình bảo hiểm y tế;

 Chính sách và chương trình trợ giúp đặc biệt;

 Chính sách và chương trình trợ giúp xã hội

1.1.3 Người cao tuổi

Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền

với việc suy giảm các chức năng của cơ thể

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên

Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ, lại quy định người cao tuổi là nhữngngười từ 65 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do ở mỗi quốc gia,người dân có sự khác nhau về lứa tuổi cũng như biểu hiện già hóa Những nước cóhệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũngđược nâng cao Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn

Trang 10

1.1.4 An sinh xã hội đối với người cao tuổi

- An sinh xã hội đối với người cao tuổi là những can thiệp của Nhà nước và

xã hội bằng các biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro chođối tượng này

- Trong những năm qua, bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt

Nam ngày càng được hoàn thiện và phát triển Đến nay, đã có nhiều chính sách,chương trình dành cho người cao tuổi theo các nhóm đối tượng khác nhau, nhưngtập trung nhất là các nhóm chính sách về Bảo hiểm Xã hội, Bảo hiểm Y tế và trợcấp xã hội

1.1.5 Một số khái niệm có liên quan

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của

người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do đau ốm, thai sản, tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc qua đời, trên cơ sởđóng vào quỹ bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc

sức khỏe không vì lợi ích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đốitượng đóng góp theo quy định của bảo hiểm y tế

Trợ cấp xã hội là sự hỗ trợ của Nhà nước dành cho các nhóm đối tượng có

hoàn cảnh khó khăn nhằm hướng tới đảm bảo các nhu cầu tối thiểu giúp họ pháthuy được hết khả năng tự lo liệu cho cuộc sống của bản thân và gia đình họ

1.2 Sự cần thiết của chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi :

Thứ nhất, tỷ lệ người cao tuổi ngày càng gia tăng tạo nên gánh nặng cho quỹ hưu trí

Trang 11

Đất nước ta đang phải đối mặt với nguy cơ dân số “già hóa”, sẽ không còn làthời kỳ “ dân số vàng” như trước kia nữa mà thay vào đó là những người trên 60tuổi tăng lên và sống lâu hơn, điều này cũng đồng nghĩa với việc tỷ lệ tham gia lựclượng lao động sẽ có xu hướng giảm đi.

Chính vấn đề này đã gây ra một “gánh nặng” lớn về quỹ hưu trí quốc gia khiphải chi ra số tiền lớn cho lương hưu trong thời gian dài mà bên cạnh đó số ngườiđóng góp lại có xu hướng giảm đi nhiều so với mức chi trả để hưởng thụ ( đó còn làhệ quả của việc mức sinh thấp )

Thứ hai, những người lính tham gia kháng chiến cứu nước bảo vệ tổ quốc chiến đấu ở những vùng ác liệt, những nơi đó có thể nhiễm chất độc màu da cam, ảnh hưởng đến chính sức khỏe họ và gia đình sau này ( bây giờ họ thuộc nhóm người cao tuổi).

Ngoài việc họ mắc những bệnh tuổi gìa thì họ còn mắc không ít những cănbệnh do chiến tranh gây ra, hơn thế nữa họ không có lương sau chiến tranh, họ phảitự trang trải cuộc sống của mình bằng những việc làm hoặc phải nhờ chính sự chămsóc của gia đình Điều này đòi hỏi phải có chính sách đặc thù dành cho nhóm ngườinày bớt khó khăn

Thứ ba, tỷ lệ hưởng bảo hiểm xã hội hưu trí của những người cao tuổi ở khu vực nông thôn còn thấp

Nước ta xuất phát là một nước đi lên từ nông nghiệp với 70% dân số và cũngkhoảng 70% số dân xuất phát từ nông thôn, trong đó khoảng 50% làm các nghềnông nghiệp Trong khi đó số lao động tham gia bảo hiểm xã hội chỉ chiếm khoảng10-20% tổng lực lượng lao động và chủ yếu ở khu vực thành thị Điều đó có thểcho thấy, cuộc sống của những người cao tuổi trên 60 sẽ hoàn toàn không đượchưởng lương từ bảo hiểm xã hội Để có một cuộc sống ổn định thì họ phải tự làm

Trang 12

ăn, tích góp một số tiền để an dưỡng tuổi già chứ không có tiền lương hưu, hoặc họ

sẽ phải nhờ đến sự trợ giúp của gia đình hoặc xã hội nếu không thể tự nuôi sốngbản thân lúc về già Vì vậy phải tăng cường bao phủ người tham gia bảo hiểm xãhội ở nông thôn để họ có khoản lương an dưỡng khi tuổi già

Thứ tư , chi phí y tế dành cho người cao tuổi.

Khi bước sang tuổi 60, sức khỏe của con người giảm sút đáng kể, quá trình

đồng hóa giảm đi, thay vào đó là quá trình dị hóa tăng lên, nhiều người cao tuổimắc nhiều chứng bệnh một lúc như : tai biến máu não, huyết áp cao, tiền đình, timmạch…quá trình lão hóa diễn ra rất nhanh, tuổi càng cao thì sức khỏe càng giảm,dù con người có muốn hay không thì đó cũng là quy luật chung, không tránh khỏinhững bệnh tật của tuổi già Ngày nay, những thành tựu trong phát triển kinh tếcũng như y học nhưng cơ cấu bệnh tật của dân số nước ta nói chung và của ngườicao tuổi nói riêng đang chuyển dần từ mô hình bệnh tật của nhữn nước đang pháttriển sang nước phát triển Cơ cấu của bệnh tật chuyển từ không lây nhiễm, khôngnhiễm trùng sang các bệnh chủ yếu như huyết áp cao, tim mạch, đái tháo đường…

Cơ cấu chi tiêu của người cao tuổi thay đổi, chi phí cho khám chữa bệnh có xuhướng tăng lên, người già lại dễ bị những bệnh đòi hỏi chi phí điều trị các bệnhhuyết áp, tim mạch nhiều hơn Theo PGS.TS Phạm Thắng -–Viện Lão khoa quốcgiá, nhu cầu chăm sóc những người cao tuổi sẽ là thách thức lớn về y tế, xã hội, tàichính đối với xã hội và gia đình Người cao tuổi có nhu cầu chăm sóc sức khỏenhiều hơn so với người bình thường, chi phí khám chữa và điều trị lại cao gấp 7đến 8 lần so với trẻ em Những chi phí này có thể do gia đình chi trả hoặc do bảohiểm y tế chi trả đối với những người tham gia bảo hiểm y tế, cũng gây “gánhnặng” kinh tế đối với lĩnh vực y tế ( đối với những người tham gia bảo hiểm xã hộihoặc đối tượng tham gia bảo hiểm y tế ) đó cũng chính là thách thức lớn đối vớinền kinh tế nước ta

Trang 13

Thứ năm, người lao động ở Việt Nam “ già khi chưa giàu”

Thu nhập chính của người lao động Việt Nam thấp, thậm chí chỉ đủ cho việctrang trải cuộc sống ngày, lo cho con cái thậm chí còn thiếu, chỉ đủ cho chi tiêutrước mắt, không có tích lũy cho tương lai để an dưỡng tuổi già Điều này là nguy

cơ tiềm năng khi người lao động khi không làm việc nữa thì họ sẽ không có mộtkhoản tích lũy nào hết khi về già Một số nhà phân tích cũng đã nêu, người laođộng Việt Nam “gìa khi chưa giàu” sẽ tạo ra một áp lực cho con cái, việc đó lại mộtlần nữa an sinh xã hội phải đảm nhiệm, một xã hội “già hóa” và xã hội “già” thì áplực này bây giờ lại chuyển sang cho hệ thống an sinh xã hội phụ trách

1.3 Quan điểm của Đảng – Nhà nước về an sinh xã hội đối với người cao tuổi

1.3.1 Quan điểm của Đảng

Nghị quyết Đại hội IV Hội Người cao tuổi Việt Nam (2011) nêu: “Nâng cao

hiệu quả hoạt động chăm sóc, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người caotuổi, giảm bớt khó khăn cho người cao tuổi nghèo, già yếu cô đơn, không để ngườicao tuổi phải sống lang thang cơ nhỡ’

Nghị quyết Đại hội V Hội Người cao tuổi Việt Nam (2016) chỉ rõ: “Tăng

cường xã hộ hóa các hoạt động của Hội, xây dựng nguồn lực cả cơ sở vật chất vàtài chính để chăm sóc phát huy vai trò người cao tuổi”

Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng nêu rõ: Quan tâm chăm sóc sức

khỏe, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hóa, tiếp cận thông tin, sốngvui, sống khỏe, sống hạnh phúc Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, laođộng học tập của người cao tuổi trong xã hội và gia đình “Ông bà, cha mẹ mẫumực, con cháu thảo hiền, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết thương yêunhau”; giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa

Trang 14

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nêu: “Đối với các lão thành

cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, những người caotuổi thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sốngtinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu thông tin, phát huy khảnăng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội; nêu gươngtốt, giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng cho thanhniên, thiếu niên…”

1.3.2 Các văn bản pháp luật

Hiến pháp năm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật

không làm được việc thì được giúp đỡ’

Hiến pháp 1959, Điều 32 quy định: “Người lao động có quyền được giúp đỡ

về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động Nhà nước mở rộng dần cáctổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để đảm bảo chongười lao động được hưởngquyền đó’

Điều 87 Hiến pháp 1992 ghi: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không

nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”

Luật Người Cao tuổi 2009: Đã dành toàn bộ chương II quy định về phụng

dưỡng, chăm sóc người cao tuổi

Hiến pháp 2013, khoản 3 Điều 37 quy định: “Người cao tuổi được nhà nước,

gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựngvà bảo vệ Tổ quốc”

Luật Bảo vệ Chăm sóc Sức khỏe Nhân dân, tại khoản 1 Điều 41 quy định”

“Người cao tuổi…được ưu tiên khám, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi đểđóng góp cho xã hội phù hợp với sức khỏe của mình”

Trang 15

1.3.3 Chính sách của Nhà nước.

Chỉ thị 117/CP “Về chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuôi Việt Nam” do Thủ tướng chính phủ ban hành năm 1969, Đảng và

Nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của ngườicao tuổi là đạo lý của dân tộc Là tình cảm và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dânvà các cấp chính quyền và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta “Uống nướcnhớ nguồn”, “kính lão đắc thọ”

Chính phủ, các bộ ngành, cơ quan Nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bảnpháp Luật về cơ chế chính sách liên quan đến người cao tuổi ( Các văn bản Luật đãđề cập phía trên)

Các Nghị định, thông tư về chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi:

Thông tư số 17/2011/TT-BLĐTBXH ngày 19/5/2011 của Bộ lao động Thương binh và xã hội quy định hồ sơ, tủ tục trợ cấp xã hội hàng tháng, hỗ trợ chi

phí mai táng và tiếp nhận người cao tuổi vào cơ sở bảo trợ xã hội

Thông tư số 21/2011/TT-BTC ngày 18/2/2011 của Bộ tài chính quy định

quản lý và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú, chúc thọ,mừng thọ và biểu dương, khen thưởng người cao tuổi

Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2012 của Bộ lao động Thương binh và xã hội hướng dẫn một số điều của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều

Luật người khuyết tật

 Như vậy hầu hết các văn kiện Đại hội của Đảng, các văn kiện Đại hộingười cao tuổi của Việt Nam đều khẳng định được rằng : người cao tuổi là nền tảngcủa gia đình, là những thế hệ đi trước để lại nhiều công lao to lớn cho tầng lớp saunày, chúng ta phải biết tôn trọng và cùng nhau chăm sóc người cao tuổi, nó không

Trang 16

chỉ là nền tảng đạo đức cao đẹp của dân tộc từ bao đời, mà còn là thể hiện tìnhthương yêu với tầng lớp cha anh góp phần vì sự nghiệp đất nước phát triển vữngmạnh và toàn diện Các văn bản Luật về người cao tuổi cũng phát huy mạnh mẽ vaitrò, đó là cơ sở pháp lý quan trọng để người cao tuổi có thể có được những sự quantâm chăm sóc đặc biệt từ Đảng và nhà nước.

Trang 17

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN

NGHỊ 2.1 Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam.

2.1.1 Ưu điểm của việc thực hiện chính sách.

Mức trợ cấp xã hội dành cho người cao tuổi

Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước không ngừng đổi mới cácchính sách xã hội dành cho người cao tuổi để đảm bảo được hệ thống an sinh xã hộibền vững Tuổi để hưởng trợ cấp hằng tháng đối với người cao tuổi từng bước đượcđiều chỉnh Pháp luật nước ta thể hiện tư duy nhất quán, người cao tuổi cần thiếtđược hỗ trợ, giúp đỡ trước hết về mặt vật chất

+ Nếu năm 2007 thực hiện theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP, quy định ngườitừ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội được hưởngmức 120.000 đồng/tháng thì giai đoạn 2007 -–2009 bình quân hằng năm nhà nướcđã trợ cấp cho hơn 600.000 người cao tuổi

+ Từ năm 2010, thực hiện Nghị định số 13/2010/NĐ-CP sửa đổi nghị định67/2007/NĐ-CP đã nâng mức chuẩn trợ cấp lên 180.000 đồng/tháng Tuy khôngđiều chỉnh độ tuổi nhưng tổng số người cao tuổi được hưởng tăng lên 948.000người

+ Đặc biệt, kể từ khi Luật người cao tuổi có hiệu lực (01/07/2010) và Nghịđịnh số 06/2011/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật được ban hành đã quy định điềuchỉnh giảm độ tuổi hưởng trợ cấp xuống dưới 80 tuổi ( mặc dù không tăng mức

Ngày đăng: 23/10/2023, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tài liệu Chính sách xã hội – TS. Dương Thị Thục Anh, Khoa Chính trịhọc, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Chính sách xã hội
Tác giả: TS. Dương Thị Thục Anh
Nhà XB: Khoa Chính trị học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
2. Luận án tiến sĩ Chính sách công “Chính sách đối với người cao tuổi tại Việt Nam hiện nay “ của tác giả Bùi Nghĩa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối với người cao tuổi tại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Bùi Nghĩa
3. Luận văn thạc sĩ “Chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi tại Việt Nam” của tác giả Phan Thu My Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi tại Việt Nam
Tác giả: Phan Thu My
4. PGS.TS. Lê Quốc Lý cùng tập thể các nhà khoa học trong Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Sách “Chính sách an sinh xã hội thực trạng và giải pháp” do, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách an sinh xã hội thực trạng và giải pháp
Tác giả: PGS.TS. Lê Quốc Lý
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
5. Đặng Vũ Cảnh Linh , Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển – Sách“Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam” - NXB Dân Trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Vũ Cảnh Linh
Nhà XB: NXB Dân Trí
7. ThS. Đỗ Thị Kim Oanh - Đề tài nghiên cứu khoa học “Vấn đề già hóa dân số và chính sách BHXH, BHYT ở Việt Nam” năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề già hóa dân số và chính sách BHXH, BHYT ở Việt Nam
Tác giả: ThS. Đỗ Thị Kim Oanh
Năm: 2015
8. UNFPA - Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (2011), Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách
Tác giả: UNFPA - Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
11. TS. Phạm Ngọc Anh, Học viện An ninh nhân dân (2017), “Chính sách an sinh xã hội ở Nhật Bản”, Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách an sinh xã hội ở Nhật Bản
Tác giả: TS. Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Học viện An ninh nhân dân
Năm: 2017
13. Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1992, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1992, 2013
Năm: 2013
14. Luật Người cao tuổi (2009); Bộ luật Lao động (2012); Bộ luật hình sự(2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Người cao tuổi
Năm: 2009
6. TS. Phạm Đình Thành - Đề tài nghiên cứu “Thực trạng đời sống người nghỉ hưu, những giải pháp về cung cấp các dịch vụ xã hội nhằm cải thiện vật chất tinh thần người nghỉ hưu” năm 2013 – 2014 Khác
9. Nguyễn Tuấn Anh (2015), “Già hóa dân số và an sinh xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, t.1, số 1 Khác
10. Nguyễn Thế Huệ (2015), “Đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi:thành tựu và thách thức”, Tạp chí Dân số và Phát triển, số 2 (166) Khác
15. Các bài báo tại báo: Pháp luật, cổng thông tin điện tử thủ đô… Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w