1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn chính sách xã hội bảo hiểm xã hội việt nam hiện nay thực trạng và đề xuất giải pháp chính sách

32 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam Hiện Nay - Thực Trạng Và Đề Xuất Giải Pháp Chính Sách
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chính Sách Xã Hội
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 57,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI (6)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (6)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (8)
  • CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH (16)
    • 2.1 Thực trạng việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội (16)
    • 2.2. Vấn đề đặt ra và giải pháp chính sách trong việc xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện nay (18)
  • KẾT LUẬN (31)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI

Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là cơ chế bảo vệ tài chính cho người lao động, giúp bù đắp một phần thu nhập khi họ gặp phải các rủi ro như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật hoặc tuổi già Quỹ tài chính của BHXH được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và được Nhà nước bảo hộ theo pháp luật Mục tiêu của BHXH là đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần vào sự ổn định của xã hội.

1.1.2 Nguyên tắc bảo hiểm xã hội

Nguyên tắc tính đóng, hưởng BHXH được quy định tại Điều 5 Luật BHXH như sau:

+ Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH.

Mức đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc được xác định dựa trên tiền lương tháng của người lao động, trong khi mức đóng BHXH tự nguyện được tính theo mức thu nhập tháng mà người lao động lựa chọn.

+ Thời gian đóng BHXH đã được tính hưởng BHXH một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH.

Quỹ BHXH được quản lý một cách tập trung, thống nhất, công khai và minh bạch Quỹ này được sử dụng đúng mục đích và hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, cũng như các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.

+ Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.

1.1.3 Đối tượng của bảo hiểm xã hội Điều 2 – Luật BHXH sửa đổi năm 2014 đã bao phủ gần như toàn bộ người lao động có quan hệ lao động gồm:

Người lao động tham gia BHXH bắt buộc tại Việt Nam bao gồm công dân làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng xác định thời hạn từ 3 đến dưới 12 tháng, và cả hợp đồng ngắn hạn từ 1 đến dưới 3 tháng Đối tượng này cũng bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, công an, sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp, cũng như học viên quân đội và công an được hưởng sinh hoạt phí Ngoài ra, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã có hưởng lương cũng thuộc diện tham gia Cuối cùng, những người hoạt động không chuyên trách tại xã, phường, thị trấn cũng nằm trong danh sách này.

Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam với giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp, có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp, cá nhân có thuê mướn lao động theo hợp đồng.

Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ

15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội.

1.1.4 Chế độ bảo hiểm xã hội Điều 4 của Luật BHXH, các chế độ BHXH như sau:

BHXH bắt buộc BHXH tự nguyện

- Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Chính phủ là một chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện, nhằm hỗ trợ cho chế độ hưu trí bắt buộc Quỹ này được hình thành từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, dưới dạng tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật.

BHXH Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị ASSA thường niên, nhấn mạnh sự tích cực và hiệu quả trong công tác Nhiệm kỳ chủ tịch này được coi là một cột mốc quan trọng trong hoạt động đối ngoại của BHXH Việt Nam.

Năm 2015, BHXH Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp Hội Xã hội quốc tế (ISSA), tổ chức hàng đầu thế giới về an sinh xã hội Sự kiện này mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam nâng cao năng lực cán bộ, cải thiện hiệu quả trong quản lý và hoạt động an sinh xã hội.

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Quan điểm của Đảng về chính sách bảo hiểm xã hội

Trong Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng (khóa XII) về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Cụ thể, điểm 1,2 (II) của Nghị quyết số 28-NQ/TW nêu rõ: a Quan điểm chỉ đạo

Bảo hiểm xã hội đóng vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giúp thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đồng thời đảm bảo ổn định chính trị - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Phát triển một hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng và hiện đại, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế, nhằm huy động nguồn lực xã hội theo truyền thống tương thân tương ái Mục tiêu hướng tới là bao phủ toàn dân trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp hài hòa các nguyên tắc đóng - hưởng, đảm bảo công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững.

Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội là cần thiết và có tính bền vững, cần kết hợp hài hòa giữa việc kế thừa, ổn định và đổi mới, phát triển Điều này phải được thực hiện trong mối liên hệ với việc cải cách các chính sách xã hội khác, đặc biệt là chế độ tiền lương, thu nhập và trợ giúp xã hội, nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho tất cả công dân.

Phát triển hệ thống tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội cần đảm bảo tính gọn nhẹ, chuyên nghiệp và hiệu quả Đồng thời, hệ thống cũng phải hiện đại, nâng cao sức hấp dẫn, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người dân cùng các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.

Thực hiện hiệu quả chính sách bảo hiểm xã hội là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị, bao gồm các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và từng cá nhân trong xã hội Mục tiêu là đảm bảo sự an sinh cho mọi người dân.

Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội là cần thiết để biến bảo hiểm xã hội thành trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, mở rộng diện bao phủ và hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân Hệ thống bảo hiểm xã hội cần phát triển linh hoạt, đa dạng và hiện đại, đồng thời hội nhập quốc tế, dựa trên nguyên tắc công bằng, bình đẳng và bền vững Để đạt được điều này, cần nâng cao năng lực quản lý nhà nước và xây dựng hệ thống thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội chuyên nghiệp, tin cậy và minh bạch.

Đến năm 2025, mục tiêu đặt ra là khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, với nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 1% Khoảng 28% lực lượng lao động trong độ tuổi sẽ tham gia bảo hiểm thất nghiệp, và 45% người sau độ tuổi nghỉ hưu sẽ được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hàng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội Tỷ lệ giao dịch điện tử sẽ đạt 100%, thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, giảm số giờ giao dịch giữa cơ quan bảo hiểm xã hội và doanh nghiệp xuống mức ASEAN 4 Chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội dự kiến đạt 80%.

Đến năm 2025, mục tiêu là khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm 2,5% Khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi sẽ tham gia bảo hiểm thất nghiệp, và 55% người nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hàng tháng cùng trợ cấp hưu trí xã hội Chỉ số hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội dự kiến đạt 85%.

Đến năm 2025, mục tiêu là khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 5% Đồng thời, khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi sẽ tham gia bảo hiểm thất nghiệp Đối với người nghỉ hưu, khoảng 60% sẽ được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hàng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội Mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội cũng được đặt mục tiêu đạt 90%.

1.2.2 Quan điểm của nhà nước về bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội (BHXH) đã xuất hiện từ hàng trăm năm trước, gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa Qua quá trình phát triển, BHXH đã thay đổi cả về mô hình lẫn nội dung thực hiện Từ những năm 50 của thế kỷ 19, tính xã hội của BHXH đã được chú trọng, với chế độ bảo hiểm đầu tiên được triển khai vào năm 1850 nhằm hỗ trợ người lao động khi họ gặp rủi ro ốm đau Kể từ đó, BHXH đã mở rộng để bảo vệ người lao động nghèo và thu nhập thấp, đặc biệt là từ cuối thế kỷ 19.

Bảo hiểm xã hội (BHXH) đã phát triển mạnh mẽ ở châu Âu và sau Thế chiến thứ hai, lan rộng ra hơn một trăm quốc gia với nhiều hình thức đa dạng Tại Việt Nam, ngay từ những ngày đầu thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Điều 14, mục B, Chương II của Hiến pháp 1946 đã ghi nhận sự quan trọng của BHXH.

“Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76 và 77, quy định về chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và hưu trí cho cán bộ công nhân viên Đến năm 1961, Chính phủ ban hành Nghị định 218/CP về Điều lệ BHXH tạm thời, quy định 6 chế độ BHXH cho công nhân viên chức Nhà nước và xác định quỹ Bảo hiểm xã hội được tài trợ từ ngân sách nhà nước, với mức hưởng được quy định rõ ràng.

Bảo hiểm xã hội (BHXH) dựa trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia, yêu cầu mọi người đóng góp để tạo quỹ chung chi trả các trợ cấp và hoạt động liên quan Các thành viên được hưởng chế độ khi gặp sự kiện hoặc "rủi ro xã hội" đủ điều kiện Quỹ BHXH chủ yếu hình thành từ đóng góp của người lao động và chủ sử dụng lao động, với sự hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn thu khác Tham gia BHXH là bắt buộc, trừ một số trường hợp ngoại lệ Phần quỹ chưa sử dụng sẽ được đầu tư theo quy định pháp luật để kiếm lợi nhuận Chính sách BHXH đóng vai trò quan trọng trong chính sách kinh tế và xã hội của Nhà nước, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế theo từng giai đoạn.

Bảo hiểm xã hội đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam, được quy định bởi Luật Bảo hiểm xã hội do Quốc hội thông qua vào ngày 29/6/2006, hiện nay là Luật BHXH số 58/2014/QH13.

Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 được ban hành nhằm bảo đảm cuộc sống cho người lao động, bảo vệ sức khỏe Nhân dân, duy trì ổn định chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Luật này đã bổ sung và sửa đổi các chế độ bảo hiểm cho người lao động so với các quy định trước đó.

THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH

Thực trạng việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

2.1.1 Thành tựu trong quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội giai đoạn

2012 – 2020” là sự cụ thể hóa định hướng quan trọng nhằm đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và nhà nước ta

Công tác cải cách hành chính đã được triển khai đồng bộ theo yêu cầu của Chính phủ, với thời gian thực hiện thủ tục hành chính tham gia và hưởng chế độ BHXH được rút ngắn đáng kể Cụ thể, số lượng thủ tục hành chính đã giảm xuống còn 32, thành phần hồ sơ giảm 32%, và thao tác thực hiện giảm 54% Cơ quan Bảo hiểm xã hội đã chuyển đổi phong cách phục vụ, coi doanh nghiệp và người tham gia BHXH là trung tâm, với 10 yêu cầu cụ thể đối với viên chức như chào hỏi khách, luôn tươi cười, tư vấn tận tình, và giải quyết nhanh chóng các yêu cầu của khách hàng Những kết quả từ công tác cải cách hành chính đã được ghi nhận và đánh giá cao.

Hệ thống chính sách và pháp luật về bảo hiểm xã hội đang được hoàn thiện, với sự tăng cường trong công tác quản lý Số lượng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng gia tăng, đồng thời quyền lợi của người tham gia cũng được đảm bảo một cách hiệu quả.

Chế độ chính sách dành cho người tham gia bảo hiểm xã hội được thực hiện một cách kịp thời và đúng quy định, đồng thời thủ tục hành chính được đơn giản hóa để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân.

Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng được chi trả đầy đủ, an toàn, thuận lợi đến người hưởng.

Trong hơn 20 năm qua, BHXH Việt Nam đã tích cực thực hiện công tác phát triển hội nhập quốc tế, trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển của ngành đến năm 2020 và định hướng 2030 theo Quyết định 146/QĐ-TTg Mục tiêu của hội nhập quốc tế là tối đa hóa nguồn lực và điều kiện thuận lợi, nhằm xây dựng hệ thống an sinh xã hội bền vững, hiệu quả và hiện đại tại Việt Nam.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN (ASSA) vào ngày 12/9/1998 Kể từ đó, Việt Nam đã tích cực tham gia và đóng góp trách nhiệm trong tổ chức này Ngoài ra, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Ban chấp hành ASSA vào các năm 1999, 2002, 2005 và 2010.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã tăng cường hội nhập quốc tế bằng cách thiết lập và duy trì quan hệ hợp tác với hơn 40 đối tác quốc tế, nhằm học hỏi và trao đổi kinh nghiệm cũng như thông tin về thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội với các tổ chức an sinh xã hội toàn cầu.

Trong chiến lược hội nhập quốc tế, ngành Bảo hiểm xã hội đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thiện mô hình quản lý hiện đại, phù hợp với xu hướng toàn cầu và bối cảnh di chuyển lao động Mục tiêu này nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu tham gia và thụ hưởng chính sách của người lao động và người sử dụng lao động Các điểm đột phá bao gồm mở rộng đối tượng tham gia, sửa đổi chế độ hưu trí để đảm bảo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng xã hội, và cải thiện tình hình tài chính của quỹ hưu trí, tử tuất, và bảo hiểm y tế, nhằm đảm bảo an sinh xã hội bền vững cho người dân.

2.1.2 Hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

Tình trạng trốn đóng, chậm đóng và nợ bảo hiểm xã hội vẫn phổ biến tại nhiều tỉnh, thành phố, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người lao động Công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội chưa thực sự phù hợp với đối tượng, trong khi công tác kiểm tra và hậu kiểm thường không đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý.

Mặc dù số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã tăng đều qua các năm, nhưng vẫn còn thấp so với nhu cầu thực tế Đặc biệt, số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn thấp hơn nhiều so với tiềm năng phát triển của nó.

Luật Bảo hiểm xã hội đã có hiệu lực, nhưng các văn bản hướng dẫn vẫn chưa đầy đủ, gây khó khăn cho cơ quan Bảo hiểm xã hội trong việc thực hiện Việc hướng dẫn về các chế độ theo quy định pháp luật chưa kịp thời, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, đặc biệt là lao động tại các doanh nghiệp nợ tiền bảo hiểm hoặc đang trong quá trình phá sản.

Hệ thống bảo hiểm xã hội hiện nay còn thiếu đa dạng và linh hoạt, khiến nó không thu hút được người dân Thêm vào đó, hồ sơ và thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội chưa thật sự thuận tiện, đôi khi gây khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn người lao động.

Tình trạng lạm dụng và trục lợi quỹ ốm đau, thai sản, cũng như quỹ bảo hiểm thất nghiệp đang diễn ra phức tạp, với các thủ đoạn ngày càng tinh vi và chưa được quản lý hiệu quả.

Vấn đề đặt ra và giải pháp chính sách trong việc xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện nay

2.2.1 Những vấn đề đặt ra

Đảm bảo an sinh xã hội cho người dân là một chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước, góp phần vào việc duy trì an ninh chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an sinh xã hội đang được ưu tiên hàng đầu, đặc biệt là việc đảm bảo quyền lợi của người lao động trong thương mại quốc tế Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội trong quá trình hội nhập là rất cần thiết để hiện đại hóa hệ thống quản lý, phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ thông tin Ngày 20/1/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 146/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Hội nhập quốc tế của ngành bảo hiểm xã hội đến năm 2020.

Đến năm 2030, mục tiêu của hội nhập quốc tế là tận dụng tối đa nguồn lực và điều kiện thuận lợi từ quá trình này, nhằm xây dựng một hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam bền vững, hiệu quả và hiện đại.

Nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế, bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chú trọng công tác hợp tác quốc tế ngay từ những ngày đầu thành lập Đặc biệt, vào ngày 21/9/2016, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành Kế hoạch 3636/KH-BHXH để triển khai Chiến lược hội nhập quốc tế trong giai đoạn tiếp theo.

Từ năm 2016 đến 2020, vào ngày 24/5/2017, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành Kế hoạch thông tin đối ngoại năm 2017 Mục tiêu của kế hoạch này là cung cấp thông tin về chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng, cũng như pháp luật của Nhà nước liên quan đến bảo hiểm xã hội Đồng thời, kế hoạch cũng nhằm quảng bá hình ảnh và nâng cao vị thế quốc tế của ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Trong bối cảnh hiện nay, việc thực hiện các cam kết quốc tế và hiệp định thương mại tự do đã tạo ra nhiều thách thức cho ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam Để nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế, cần chủ động tham gia vào các diễn đàn an sinh xã hội khu vực và quốc tế Chiến lược cũng đề xuất các giải pháp về tổ chức, nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất, đồng thời mở rộng quan hệ với các quốc gia và tổ chức an sinh xã hội toàn cầu Việt Nam phấn đấu đến năm 2020 có 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, 50% tham gia bảo hiểm xã hội và trên 90% tham gia bảo hiểm y tế, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội cho mọi người dân Do đó, việc tăng cường hợp tác và đàm phán với các đối tác quốc tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Pháp, Úc và Mỹ là rất cần thiết để học hỏi kinh nghiệm và áp dụng vào chính sách bảo hiểm xã hội của Việt Nam.

Trong bối cảnh đổi mới hiện nay, đất nước đang thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, việc giải quyết các vấn đề xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống và ổn định xã hội trở thành ưu tiên hàng đầu Do đó, Đảng và Nhà nước cần chú trọng vào việc thực hiện chính sách xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh để đáp ứng những thách thức mới.

Thứ nhất, thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam nhằm khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường.

Kinh tế thị trường tác động mạnh mẽ đến chính sách xã hội, vừa tạo cơ hội cho con người phát huy khả năng, vừa gây ra rủi ro về kinh tế và xã hội Những rủi ro này ngày càng phức tạp, khiến con người lo lắng và gặp nhiều bất lợi trong đời sống Do đó, cần khắc phục các rủi ro từ cơ chế thị trường để phát huy vai trò của con người, vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Thực hiện chính sách xã hội nhằm đảm bảo rằng người dân ngày càng được hưởng lợi từ những thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.

Công cuộc đổi mới toàn diện hiện nay cần chú trọng phát triển xã hội bền vững, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Chính sách xã hội phải hướng tới xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội Cần giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội bức xúc, đảm bảo hài hòa lợi ích và quan tâm đến các tầng lớp yếu thế, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, nhằm khắc phục tình trạng phân hóa giàu - nghèo Đồng thời, cần thực hiện tốt chính sách chăm sóc người có công, giải quyết lao động, việc làm và thu nhập, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi, chăm sóc sức khỏe nhân dân, và góp phần giảm nghèo bền vững, ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ ba, phải tăng cường xã hội hóa các nguồn lực trong nước và hợp tác quốc tế trong việc thực hiện chính sách xã hội.

Chính sách xã hội cần phải liên kết chặt chẽ với chính sách kinh tế để đảm bảo sự phát triển bền vững Mục tiêu phát triển kinh tế phải phục vụ lợi ích xã hội, tìm kiếm động lực từ cộng đồng và hướng tới sự ổn định Trong quá trình tăng trưởng, cần chú trọng đến con người, mang lại hạnh phúc và đảm bảo rằng mọi nhóm dân cư, đặc biệt là các nhóm yếu thế, đều được hưởng lợi từ thành quả kinh tế.

Hiệu quả của chính sách xã hội phụ thuộc vào việc giải quyết các vấn đề xã hội hiện tại Trong những năm tới, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục áp dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh để đối phó với những thách thức này Chỉ khi đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội mới có thể được hiện thực hóa.

Để xây dựng hệ thống an sinh xã hội bền vững và hiện đại tại Việt Nam, cần phát huy nguồn lực từ hội nhập quốc tế, nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm xã hội và thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực Các cán bộ ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần nhận thức rõ tầm quan trọng của hội nhập quốc tế Để đạt được điều này, BHXH Việt Nam cần tăng cường công tác tập huấn cho cán bộ các tỉnh, thành phố và xây dựng chiến lược thông tin đối ngoại, nhằm cung cấp thông tin về chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước và hoạt động của BHXH Việt Nam, từ đó quảng bá hình ảnh ngành trên trường quốc tế.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần mở rộng hợp tác với các tổ chức an sinh xã hội quốc tế, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á và những nước có hệ thống phát triển Việc này bao gồm đàm phán và ký kết các hiệp định song phương bảo hiểm xã hội nhằm hỗ trợ công dân sống và làm việc tại Việt Nam cũng như công dân Việt Nam đi học và làm việc ở nước ngoài Đồng thời, cần tăng cường hoạt động hợp tác đa phương và tích cực tham gia các diễn đàn an sinh xã hội khu vực và toàn cầu.

Để nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành chính sách xã hội, cần kiện toàn bộ máy cơ quan các cấp Những thành tựu trong việc giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách đã chứng minh sự đúng đắn trong hoạch định và thực thi chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới.

Ngày đăng: 12/09/2023, 17:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Đình Thanh (2004), Xã hội học và Chính sách xã hội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học và Chính sách xã hội
Tác giả: Bùi Đình Thanh
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội
Năm: 2004
2. Nguyễn Hải Hữu (2007), Giáo trình Nhập môn An sinh xã hội, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn An sinh xã hội
Tác giả: Nguyễn Hải Hữu
Nhà XB: NXBLao động – Xã hội
Năm: 2007
3. Nguyễn Huy Ban (2006), Nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học cơ bản để hoàn thiện hệ thống BHXH ở Việt Nam, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học cơbản để hoàn thiện hệ thống BHXH ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Ban
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2006
7. Mai Ngọc Cường (2009), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chínhsách an sinh xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
8. Hoàng Hà (2011), Lý luận về an sinh xã hội ở Việt Nam, Chuyên đề nghiên cứ khoa học, BHXH Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận về an sinh xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Hà
Năm: 2011
10. Ngô Văn Lược (2014), Nâng cao chất lượng phục vụ BHXH, BHYT và sự phát triển bền vững, Tạp chí BHXH tháng 8/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng phục vụ BHXH, BHYTvà sự phát triển bền vững
Tác giả: Ngô Văn Lược
Năm: 2014
11. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật BHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: LuậtBHXH
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007
12. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật BHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: LuậtBHXH
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2014
13. Đinh Công Tuấn (2008), Hệ thống An sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống An sinh xã hội của EU và bàihọc kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Đinh Công Tuấn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
4. Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội (2008), Quyết định số 4857/QĐ- BHXH ngày 21/10/2008 Khác
5. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2010), 15 năm thực hiện chính sách BHXH, BHYT góp phần bảo đảm an sinh xã hội Khác
6. Nguyễn Hùng Cường (2015), Đề tài nghiên cứu khoa học chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật BHXH – Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện Khác
9. Hoàng Thị Hạnh (2014), Bảo hiểm xã hội của Nhật BẢn và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam Khác
14. A.M. Best Company (2014), Understanding the insurance industry: An overview for those working with and in one of the world’s most interesting and vital Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w