Các tác phẩm trên không chỉ nêu lên một cách cụ thể, chi tiết về quá trình hội nhập của Việt Nam đối với thế giới mà còn cho chúng ta biết về quá trình hội nhập của Việt Nam trong các lĩ
Trang 1- -TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
GVHD: Ths Đinh Thị Hoàng Phương LỚP : DPK44NB
SVTH : Nhóm 1 KHÓA: 2020-2024
Trang 2TH ÀNH VIÊN NHÓM 1
1 Lê Nguy ễn Thanh Tâm 1900002
2 Nguy ễn Nữ Hồng Ân 2010309
5 Tr ần Thị Ngọc Anh 2010317
7 Nguy ễn Thị Ngọc Ánh 2010321
10 Qu ảng Thị Kim Giảng 2010348
11 B ùi Thị Mỹ Hiền 2010364
14 Nguy ễn Thị Phương Linh 2010405
16 Huy ền Tôn Nữ Quí Nghi 2010439
17 Trương Thị Bích Ngọc 2010449
19 Dương Thị Quỳnh Như 2010466
20 Ph ạm Thị Hồng Nhung 2010468
22 Nguy ễn Hồng Thiên Thanh 2010495
23 Nguy ễn Thị Phương Thảo 2010504
26 Nguy ễn Thị Thương 2010523
Trang 3M ỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Bố cục tiểu luận 3
PHẦN I 4
KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ MỞ CỬA, HỘI NHẬP TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 4
1.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế 4
1.1.1 Bối cảnh trong nước 4
1.1.2 Bối cảnh Quốc tế 5
1.2 Tính tất yếu của việc đề ra chính sách mở cửa - hội nhập 7
1.3 Chủ trương chính sách mở cửa, hội nhập của Đảng cộng sản Việt Nam 13 PHẦN II 15
THỰC TRẠNG MỞ CỬA, HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 15
2.1 Trong lĩnh vực kinh tế 15
2.1.1 Nội dung của hội nhập (chủ yếu là nội dung hội nhập WTO) 15
2.1.2 Những thành tựu cơ bản 15
2.2 Trong lĩnh vực chính trị 18
2.2.1 Mở cửa, hội nhập quốc tế về chính trị 18
2.2.2 Các hình thức hội nhập quốc tế về chính trị 18
2.2.3 Mở cửa, hội nhập quốc tế với ổn định chính trị 19
2.3 Trong lĩnh vực Quốc phòng - An ninh 21
2.3.1 Thành quả mở cửa, hội nhập quốc tế 21
2.3.2 Quan hệ quốc phòng song phương được mở rộng 21
2.3.3 Quan hệ quốc phòng đa phương có bước phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng, hiệu quả 22
Trang 42.3.4 Xây dựng sức mạnh chiến đấu Quân đội nhân dân và Công an nhân
dân cách mạng 22
2.3.5 Cùng với đối ngoại chung của cả nước, mở cửa hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh 23
2.3.6 K hía cạnh khác 23
2.3.7 Quá trình hội nhập quốc phòng an ninh trong đại dịch COVID 24
2.4 Trong lĩnh vực Giáo dục 25
2.5 Trong lĩnh vực Khoa học - Công nghệ 28
2.5.1 Khái niệm về “Hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ” 28
2.5.2 Nguyên nhân hình thành và phát triển của hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ 28
2.5.3 Các chủ trương, chính sách mở cửa hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ 28
2.5.3.1 Quan Điểm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (20-28/01/2016) 28
2.5.3.2 Mục Tiêu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (20-28/01/2016) 29
2.5.4 Nhiệm vụ và giải pháp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (20-28/01/2016) 30
2.5.5 Tổng quát các hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ từ năm 2002 đến nay 32
2.5.6 Những ảnh hưởng của mở cửa hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay 34
2.6 Trong lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 35
2.6.1 Mở cửa hội nhập về Văn hoá 35
2.6.2 Mở cửa hội nhập về con người, xã hội 36
2.6.3 Mở cửa hội nhập về công nghệ 37
2.6.4 Vai trò của văn hoá - xã hội trong quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế 38
PHẦN III 41
NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH MỞ CỬA, HỘI NHẬP 41
3.1 Ảnh hưởng tích cực 41
Trang 53.1.1 Những giá trị của việc hội nhập, mở cửa 41
3.1.2 Cơ hội 43
3.2 Ảnh hưởng tiêu cực 45
3.2.1 Hạn chế trong các lĩnh vực 45
3.2.2 Thách thức lớn trong hội nhập quốc tế của Việt Nam 49
PHẦN IV 53
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY MỞ CỬA, HỘI NHẬP Ở VIỆT NAM 53
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, thế giới có những biến đổi nhanh chóng, sâu sắc và phức tạp cùng những cơ hội và thách thức to lớn đối với từng quốc gia, đặc biệt là đối với các nước nghèo và chậm phát triển Mặc dù thế giới có thể còn có nhiều diễn biến phức tạp với sự hợp tác và đấu tranh đan xen lẫn nhau, song xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác để tiếp tục phát triển vẫn là xu thế chủ đạo trên thế giới, chi phối các quan hệ quốc tế cũng như chiến lược phát triển của từng nước Hội nhập quốc tế nhằm
mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực đời sống đã và đang trở thành
xu thế nổi bật của thời đại Bất cứ quốc gia nào muốn xây dựng đất nước, phát triển kinh tế xã hội tất yếu phải tham gia vào xu thế đó Trong bối cảnh ấy, Việt Nam không thể không hội nhập quốc tế, tranh thủ mọi cơ hội để phát triển
Chặng đường gần 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay là một quá trình đồng hành đầy thử thách, khó khăn Những thành công đạt được có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề và động lực để Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn Ngày nay, quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng nhanh hơn, mạnh hơn dưới sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó kinh tế thị trường và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ là động lực hàng đầu Hội nhập quốc tế đã và đang là một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia Suốt chặng đường xây dựng đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như tạo sức mạnh tổng hợp nhằm nâng cao sức cạnh tranh và khẳng định vị thế của Việt Nam Đó là lý do chúng
em lựa chọn vấn đề: “Chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế và ảnh hưởng của nó trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho
Trang 7tiểu luận Đây là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa khoa học, thực tiễn gắn liền với nước
ta
2 Lịch sử nghiên cứu
Theo hiểu biết của chúng em hiện nay thì đã có nhiều tác giả, tác phẩm đề cập đến chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế và ảnh hưởng của nó trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay như: Đỗ Sơn Hải (2014), “Hội nhập quốc tế của Việt Nam: Từ lý thuyết đến thực tiễn”, Tạp chí Cộng sản; Võ Đại Lược (2018), “Việt Nam trong cục diện kinh tế thế giới”, Tạp chí Khoa học và xã hội Việt Nam; Phạm Bình Minh (2014), “Xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, nguồn sức mạnh mềm của Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản; Kim Ngọc (2015), Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế trong đổi mới”, Tạp chí Khoa học
xã hội Việt Nam; Các tác phẩm trên không chỉ nêu lên một cách cụ thể, chi tiết về quá trình hội nhập của Việt Nam đối với thế giới mà còn cho chúng ta biết về quá trình hội nhập của Việt Nam trong các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, cũng như ảnh hưởng của chúng trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
• Mục đích: Nêu rõ các vấn đề trong vấn đề hội nhập của Việt Nam trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong thời điểm hiện nay
• Nhiệm vụ: Làm sáng tỏ những vấn đề trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam; thực trạng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị…; hạn chế trong việc hội nhập quốc tế; cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập; giải pháp để Việt Nam có thể hội nhập quốc tế trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng: Chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế và ảnh hưởng của nó trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
• Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Việt Nam
+ Thời gian: 1986 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên những cơ sở thu thập thông tin tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau như thu thập các tài liệu, tác phẩm, Từ đó, thống kê, tổng hợp lại để nói lên một cách khái quát, cụ thể về chủ đề hội nhập của Việt Nam trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội hiện nay
6 Bố cục tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của tiểu luận gồm 5 phần:
• Phần I: KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ MỞ CỬA, HỘI NHẬP TRONG QUÁ
TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
• Phần II: THỰC TRẠNG MỞ CỬA, HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM HIỆN
Trang 9PHẦN I KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ MỞ CỬA, HỘI NHẬP TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế
1.1.1 Bối cảnh trong nước
Khi cách mạng khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của thế giới thì việc đề ra chủ trương hợp tác kinh tế
và khoa học kỹ thuật đối với các nước là một nhu cầu cấp thiết cho quá trình đổi mới của Việt Nam Hơn nữa, tại thời điểm đầu những năm 90 của thế kỉ XX, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế của thời đại, diễn ra mạnh mẽ trên nhiều phương diện với sự xuất hiện của nhiều khối kinh tế, mậu dịch trên thế giới Đối với một nước kinh tế còn thấp kém, lạc hậu như Việt Nam tại thời điểm đó, hội nhập kinh
tế quốc tế là con đường để rút ngắn khoảng cách với các nước khác trong khu vực và trên thế giới, phát huy những lợi thế và tìm cách khắc phục hạn chế thông qua việc học hỏi kinh nghiệm của các nước Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế, suốt thời gian qua Đảng đã nhất quán chủ trương phải tăng cường hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Cùng với nhận thức về toàn cầu hóa, Việt Nam từng bước tiến hành hội nhập
quốc tế Đại hội IX của Đảng đã đề ra chủ trương: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc
tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường” Đại hội X của Đảng (năm 2006) tiến thêm một bước trong nhận thức và hành động hội nhập quốc tế; đề ra chủ trương: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các
Trang 10nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” Đến Đại hội XI của Đảng, Việt Nam nhấn mạnh đến hội nhập quốc tế: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển;
đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”
Bước vào thời kỳ “kỷ nguyên số” với đặc điểm, tính chất và sự tác động sâu rộng chưa từng có Các quốc gia trong quan hệ quốc tế cũng đang điều chỉnh chính sách, chiến lược cho phù hợp với những chuyển động, tác động của kỷ nguyên số, trong đó có những nội dung về hội nhập quốc tế Đối với Việt Nam, việc tranh thủ các cơ hội từ kỷ nguyên số cho hội nhập quốc tế sẽ góp phần thực hiện chủ trương tích cực, chủ động, hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện
Trong bối cảnh đại dịch COVID - 19 ảnh hưởng nặng nề đến mọi mặt lĩnh vực cùng với sự biến động trong mối quan hệ các nước trên thế giới hiện nay, Việt Nam kiên định và thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả, là thành viên tích cực, đóng góp trách nhiệm vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế
1.1.2 Bối cảnh Quốc tế
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạo thành
xã hội và các quốc gia - dân tộc Các quốc gia lại liên kết với nhau tạo thành những thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới Đồng thời với sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình
Trang 11thành thị trường khu vực và quốc tế thống nhất Đây là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung Do đó hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thế giới cũng đồng thời chỉ ra con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập quốc tế
Giai đoạn cách mạng Công nghiệp 4.0 với nền tảng số hóa đã và đang thay đổi diện mạo thương mại toàn cầu với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử Thương mại thế giới quanh các sản phẩm hữu hình hiện không còn quan trọng như y như trước Do vậy, ưu tiên trong đàm phán tự do hóa thương mại thế giới đã dịch chuyển: từ mua bán hàng hóa vật chất chuyển sang mua bán dịch vụ xuyên biên giới;
sẽ không chỉ giới hạn ở cắt giảm thuế, mà có sự quan tâm hơn đến các hàng rào kỹ thuật mới, liên quan đến công nghệ số, đến chủ quyền số và thông tin người dùng cũng có nghĩa việc hội nhập quốc tế ngày càng được chú trọng
Theo Elias G Hadji Koumis (2021), sự bùng phát của đại dịch COVID-19 đang trở thành thách thức lớn nhất hiện nay của toàn cầu, khiến một số vấn đề kinh
tế trở nên trầm trọng, đặc biệt là sự suy giảm trong xu hướng toàn cầu hóa và thương mại tự do, xuất hiện thái độ bảo hộ với thương mại quốc tế và sự gián đoạn của chuỗi cung ứng Điển hình là trong đại dịch COVID-19, việc dựa vào hàng công nghiệp của Trung Quốc có thể gây tổn hại khả năng phục hồi kinh tế của Mỹ, nên nước này đã khuyến khích các doanh nghiệp Mỹ rút khỏi Trung Quốc hoặc chuyển sang các quốc gia khác Nhật Bản đã dành một quỹ trị giá 2,2 tỷ USD để hỗ trợ các công ty của nước này chuyển cơ sở sản xuất từ Trung Quốc sang Đông Nam Á EU đóng vai trò quan trọng trong ngoại giao kinh tế đối với 28 quốc gia thành viên, nhưng mỗi quốc gia đều có chiến lược ngoại giao kinh tế độc lập riêng, vì lợi ích cụ thể của một quốc gia
có thể không phù hợp với lợi ích của EU Sự kiện Brexit là một minh chứng cụ thể
về tầm quan trọng của việc mỗi quốc gia cần có chiến lược ngoại giao kinh tế độc lập Dưới tác động của toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế các quốc gia phải điều chỉnh
Trang 12lại chính sách và chiến lược kinh tế đối ngoại của mình đối với các quốc gia khác nhằm thúc đẩy lợi ích của quốc gia
Thế giới và tiến trình toàn cầu hóa cũng đang đứng trước nhiều thách thức mới khi các diễn đàn đa phương có sự tham gia của một số siêu cường kinh tế (như WTO, Liên hợp quốc, APEC, G20, G7, v.v.) bộc lộ không ít bất đồng và gặp khó khăn trong việc tìm tiếng nói chung; vai trò của các thể chế đa phương và luật lệ, quy định thương mại quốc tế phổ cập (đặc biệt là WTO) có phần suy giảm trong khi xuất hiện các sáng kiến, định chế kinh tế - tài chính mới (như Sáng kiến Vành đai và Con đường, AIIB, v.v.) Bản thân WTO vẫn chưa xử lý được những vấn đề quan trọng liên quan đến thương mại như an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, hay những mất cân đối thương mại toàn cầu Vì vậy hiện nay liên kết kinh tế khu vực, tiểu vùng và song phương có
xu hướng được đẩy mạnh hơn so với liên kết kinh tế toàn cầu và liên khu vực
1.2 Tính tất yếu của việc đề ra chính sách mở cửa - hội nhập
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang tăng lên, các quốc gia trên thế giới ở mức độ này hay mức độ khác đều phụ thuộc lẫn nhau, có quan hệ qua lại với nhau Vì thế nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược lại với xu thế của thời đại và khó tránh khỏi lạc hậu Trái lại, mở cửa và hội nhập quốc tế, tuy phải trả giá ở mức nhất định, song đó là yêu cầu tất yếu hướng tới sự phát triển của mỗi đất nước Việc tiến hành thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế rộng rãi và cho đến nay đã không ngừng được mở rộng, bước đầu đưa lại những lợi ích đáng kể cho đất nước
Cần loại bỏ lối suy nghĩ giản đơn nhưng cũng khá phổ biến hiện nay ở Việt Nam, rằng “Hội nhập quốc tế” là hình thức phát triển cao của “Hợp tác quốc tế” Vấn
đề là ở chỗ “Hợp tác quốc tế” và “Hội nhập quốc tế” là thuộc các lớp khái niệm khác nhau Hợp tác quốc tế chỉ là một trong nhiều phương thức tương tác giữa các nước với nhau; bên cạnh hợp tác quốc tế còn có cạnh tranh, đấu tranh, liên minh, liên kết,
Trang 13đối đầu, chiến tranh Điểm cơ bản là ở chỗ, khác với khái niệm “Hội nhập quốc tế”, khái niệm “Hợp tác quốc tế” không đề cập tới việc cấu thành hệ thống chỉnh thể thế giới
Để đánh giá thực trạng hội nhập quốc tế của một quốc gia, cần lấy phạm vi, mức độ tham gia và vị thế của quốc gia đó trong các mặt đời sống của cộng đồng quốc tế, trong các hệ thống thế giới làm tiêu chí:
• Về chiều “nông - sâu”, cũng có ba cấp độ hội nhập:
- Một là, hội nhập nông, khi quốc gia hội nhập hầu như không có vị trí, vai trò trong cộng đồng quốc tế
- Hai là, hội nhập tương đối sâu, khi quốc gia hội nhập có vị trí, vai trò nhất định trong cộng đồng quốc tế
- Ba là, hội nhập sâu, khi quốc gia hội nhập có vị trí, vai trò đáng kể trong cộng đồng quốc tế
Nói theo ngôn ngữ của lý thuyết hệ thống, hội nhập sâu là trường hợp quốc gia hội nhập với tư cách là một bộ phận cấu thành hệ thống, có ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành và phát triển “tính trồi” (emergent) của cả hệ thống; còn hội nhập nông là trường hợp quốc gia hội nhập hầu như không có ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển “tính trồi” của cả hệ thống
Trang 14Với cách tiếp cận trên, có thể thấy, sau hai thập niên chủ động và tích cực hội nhập quốc tế từ Đại hội IX của Đảng đến nay, Việt Nam từng bước tham gia tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội quốc tế; trở thành thành viên có trách nhiệm, có vị trí, vai trò và ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng quốc tế, cả về kinh
tế, chính trị, văn hóa - xã hội Điều đó có nghĩa là Việt Nam tích cực hội nhập vào chỉnh thể thế giới Do vậy, để phát triển đất nước trong bối cảnh mới của “toàn cầu hóa” và giai đoạn mới của “hội nhập quốc tế”, cần quan tâm một số vấn đề lớn sau:
Thứ nhất, nhận thức đúng về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế” để làm cơ
sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Đặc biệt, cần thấy rõ bước phát triển mới của toàn cầu hóa trong những năm tới khi cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ;
từ đó, tính toán sách lược, chiến lược trong tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Thứ hai, Việt Nam hiện tham gia các mặt đời sống chính trị - xã hội quốc tế, tức là đã hội nhập rộng vào chỉnh thể thế giới, nhưng mới chỉ dừng ở mức độ hội nhập tương đối sâu với vị trí, vai trò nhất định trong một số lĩnh vực Tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đưa Việt Nam trở thành bộ phận cấu thành của chỉnh thể thế giới Tới đây, cần xác định việc giành lấy vị trí, vai trò ngày càng đáng kể trong nền kinh tế thế giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại là nội dung chủ yếu của tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam
• Về kinh tế, cần phấn đấu giành chỗ đứng trong các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; ưu tiên thúc đẩy phát triển nhanh các ngành kinh tế số và công nghiệp 4.0 Cơ hội đang mở ra cho Việt Nam ở thời hậu dịch bệnh COVID-19, không được bỏ lỡ Muốn thế, cần ưu tiên phát triển các mạng kết nối Việt Nam với thế giới, cả “kết nối cứng” và “kết nối mềm”
Trang 15• Về chính trị, tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn, nhất là các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong ASEAN Chủ động tham gia xử lý các vấn đề quốc tế và khu vực Thể hiện vai trò của Việt Nam “Là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”
• Về văn hóa - xã hội, cần đẩy mạnh quảng bá lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam với thế giới; bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản thiên nhiên, công viên địa chất, công viên sinh thái, di sản văn hóa thế giới, cả vật thể lẫn phi vật thể; khẳng định các giá trị xã hội và truyền thống tốt đẹp của Việt Nam, bản sắc Việt Nam; tích cực tham gia sáng tạo các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, khoa học có tầm ảnh hưởng quốc tế; tham gia xử lý các vấn đề nhân đạo trên trường quốc tế; tham gia đấu tranh với các hiện tượng, hoạt động phi văn hóa, phản văn hóa, chống lại nhân loại Cần đặc biệt quan tâm việc nhân thêm và phát huy “sức mạnh mềm” của đất nước, cạnh tranh về “sức mạnh mềm” trên trường quốc tế Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các phương tiện truyền thông xã hội ngày càng có vai trò lớn trong quảng bá văn hóa và
cả trong “xâm lăng” văn hóa, lan tỏa các giá trị xã hội và cả làm xói mòn các giá trị xã hội, phát huy “sức mạnh mềm” và cả hạn chế “sức mạnh mềm” của các quốc gia, phát triển ổn định xã hội và cả gây bất ổn xã hội Phương tiện truyền thông xã hội trở thành một hiện tượng văn hóa, một kênh thông tin, một công cụ quản trị Bên cạnh việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các phương tiện truyền thông xã hội, một số nước chủ động sử dụng và phát huy vai trò kênh thông tin, công cụ quản trị của các phương tiện truyền thông này Việt Nam cần có cách tiếp cận mới đối với các phương tiện truyền thông xã hội, không chỉ dừng ở chỗ coi chúng là đối tượng quản lý
Trang 16Thứ ba, khi triển khai các hoạt động hội nhập quốc tế, luôn nảy sinh những vấn đề cần xử lý về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế Đơn cử như, trong tiến trình hội nhập quốc tế, cần luôn điều chỉnh, sửa đổi
hệ thống pháp luật trong nước, tuy nhiên, phải có lộ trình, bước đi cẩn trọng, để vừa củng cố độc lập, tự chủ, vừa hội nhập quốc tế thành công Hay là vấn đề đối phó với nguy cơ lệ thuộc vào thị trường bên ngoài, lệ thuộc kinh tế dẫn đến lệ thuộc về chính trị ; hoặc vấn đề phải đối phó với sự xâm lăng văn hóa, xử lý hiện tượng giao thoa văn hóa trong hội nhập quốc tế, những mâu thuẫn trong xây dựng con người Việt Nam dưới tác động của trào lưu hình thành công dân toàn cầu, sự xâm nhập của các giá trị xã hội không phù hợp đối với nước ta…
Thứ tư, Việt Nam cần chủ động và tích cực tham gia vào việc đổi mới, cải tổ, cải cách hay thiết lập các định chế toàn cầu và khu vực; đóng góp nhiều hơn vào xây dựng “luật chơi”, coi đây là lợi ích quan trọng của quốc gia
Thứ năm, trong quá trình hội nhập quốc tế, luôn nảy sinh ngày càng nhiều những tranh chấp Ngoài những cơ chế quốc tế phổ biến, thế giới còn có những cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế mang tính khu biệt, chuyên ngành mà ta chưa có nhiều kinh nghiệm Do đó, vấn đề cấp bách trong quá trình hội nhập là nâng cao năng lực phòng, chống, xử lý, giải quyết những tranh chấp quốc tế, gắn với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên sâu về các lĩnh vực này
Từ năm 1986, cùng với quá trình đổi mới và mở rộng hợp tác với bên ngoài,
tư duy của Đảng ta về hội nhập quốc tế đã liên tục phát triển, các hoạt động hội nhập quốc tế, với hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, cũng liên tục phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Có thể tổng hợp một số nét lớn như sau:
Thứ nhất, hội nhập quốc tế gắn liền với quá trình gia nhập các tổ chức quốc
tế, tức là chấp nhận các luật lệ và chuẩn mực quốc tế chung Điều này xuất phát từ
Trang 17thực tế là nước ta bị bao vây, cô lập, phải chủ động bình thường hóa quan hệ và gia nhập các tổ chức quốc tế Cũng vì vậy, hội nhập quốc tế được nhìn nhận thiên về quá trình đàm phán gia nhập các tổ chức quốc tế, chấp nhận “luật chơi” quốc tế
Thứ hai, hội nhập quốc tế cũng được diễn ra trong quan hệ song phương Ngoài các cấp độ đa phương, các văn kiện của Đảng cũng coi hợp tác song phương theo chuẩn mực chung là một phần của hội nhập quốc tế Nhiều văn kiện của Đảng nhấn mạnh các nội dung có tính chất hội nhập bên trong của nền kinh tế như biện pháp thực hiện hội nhập quốc tế Trên thực tế, phần lớn các điều khoản của Hiệp định Thương mại với Hoa kỳ được xây dựng trên các quy định của WTO
Thứ ba, hội nhập quốc tế khởi đầu đặt trọng tâm trong lĩnh vực kinh tế và sau
đó mở rộng sang các lĩnh vực khác Trên thực tế, hội nhập quốc tế ở nước ta đã diễn
ra trên nhiều lĩnh vực Trong giai đoạn đầu, các văn kiện của Đảng chỉ đề cập đến hội nhập kinh tế do đây là lĩnh vực trọng tâm Đến các đại hội Đảng gần đây, hội nhập trong các lĩnh vực khác đã được định hướng ngày càng rõ hơn, xuất phát từ thực tế là hội nhập kinh tế đã tạo cơ sở để Việt Nam mở rộng hội nhập trên các lĩnh vực khác
và hội nhập trên các lĩnh vực khác càng củng cố mức độ hội nhập kinh tế của nước
ta
Xét từ nhiều góc độ, quá trình hội nhập quốc tế của nước ta đã bắt đầu từ lâu Trong các văn kiện của Đảng ta không nêu khái niệm, nội hàm của hội nhập, nhưng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước liên quan đến hội nhập quốc tế thể hiện rõ cách tiếp cận phù hợp với xu hướng chung của khu vực và thế giới, cũng như đặc thù của nước ta Việc thực hiện chủ trương đó đã đem lại nhiều thành tựu quan trọng
Trang 181.3 Chủ trương chính sách mở cửa, hội nhập của Đảng cộng sản Việt Nam
Đại hội VI (1986) của Đảng đã mở đầu cho thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước Cũng chính từ Đại hội VI, bước đầu nhận thức về hội nhập quốc tế của Đảng ta được hình thành Đảng cho rằng, “Muốn kết hợp sức mạnh với dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế” và “Một đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc
tế hóa các lực lượng sản xuất” Tiếp đến Đại hội VII, tư duy về hội nhập quốc tế tiếp tục được Đảng ta khẳng định, đó là “Cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại phù hợp”
Tại Đại hội VIII (1996), lần đầu tiên thuật ngữ “Hội nhập” chính thức được đề cập trong Văn kiện của Đảng, đó là “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới” Tiếp theo đến Đại hội IX, tư duy về hội nhập được Đảng chỉ rõ và nhấn mạnh hơn “Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Để cụ thể hóa tinh thần này, ngày 27/11/2001 Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW “Về hội nhập kinh tế quốc tế” Đến Đại hội X, tinh thần hội nhập từ “Chủ động” được Đảng ta phát triển và nâng lên một bước cao hơn, đó là “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, tư duy nhận thức của Đảng về hội nhập đã có một bước phát triển toàn diện hơn,
đó là từ “Hội nhập kinh tế quốc tế” trong các kỳ Đại hội trước chuyển thành “Hội nhập quốc tế” Đảng ta đã khẳng định “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” Khẳng định và làm sâu sắc hơn tinh thần này, ngày 10/4/2013, Bộ Chính trị khóa XI
đã ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW “Về hội nhập quốc tế”
Trang 19Mục tiêu lớn trong Nghị quyết số 22 đưa ra, đó là “Hội nhập quốc tế phải nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa; Quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; Tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; Góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”
Như vậy, bằng việc ban hành Nghị quyết số 22 “Về hội nhập quốc tế” cho thấy nhận thức của Đảng và hội nhập quốc tế đã có một quá trình phát triển ngày một sâu sắc, toàn diện hơn Toàn bộ nội dung của Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế
sẽ được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế Với tầm quan trọng của hội nhập quốc tế, vấn đề này cũng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp (năm 2013) của Việt Nam
Trang 20PHẦN II THỰC TRẠNG MỞ CỬA, HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Trong lĩnh vực kinh tế
2.1.1 Nội dung của hội nhập (chủ yếu là nội dung hội nhập WTO)
Về thương mại hàng hóa: các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan như QUOTA, giấy phép xuất khẩu , biểu thuế nhập khẩu được giữ hiện hành và giảm dần theo lịch trình thỏa thuận…
Về thương mại dịch vụ, các nước mở cửa thị trường cho nhau với cả bốn phương thức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, thông qua liên doanh, hiện diện
Về thị trường đầu tư: không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài yêu cầu về tỷ
lệ nội địa hoá, cân bằng xuất nhập khẩu và hạn chế tiếp cận nguồn ngoại tệ, khuyến khích tự do hoá đầu tư…
2.1.2 Những thành tựu cơ bản
Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước ta đã chủ trương tham gia các thể chế kinh tế quốc tế Lời kêu gọi trong thư gửi Liên hợp quốc tháng 12-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.”
Trang 21Đến năm 2015, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 185/193 nước thành viên Liên Hợp quốc, thiết lập quan hệ “đối tác chiến lược” với 13 nước, quan hệ “đối tác chiến lược” trên một số lĩnh vực với 2 nước, quan hệ “đối tác toàn diện” với 11 nước Trong các đối tác trên có 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc
Sau 30 năm đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế và 10 năm gia nhập WTO (2006), Việt Nam đã tận dụng được cơ hội và thu được nhiều thành tựu quan trọng :
Thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng, số lượng đối tác thương mại gia tăng, tranh thủ được khối lượng lớn vốn đầu tư, tri thức, công nghệ mới và các nguồn lực quan trọng khác, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng hiện đại Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch mạnh theo hướng giảm tỷ lệ nông sản thô, nguyên nhiên liệu và tăng tỷ lệ các mặt hàng công nghiệp và chế biến; phát triển được nhiều ngành, sản phẩm có năng lực cạnh tranh, phục vụ tốt yêu cầu phát triển kinh tế và cải thiện vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế của khu vực và thế giới
Tạo được những chuyển biến lớn về tư duy của cả chính quyền, doanh nghiệp
và xã hội, tạo động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp đổi mới; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hệ thống luật pháp; điều chỉnh chính sách theo các chuẩn mực quốc tế, từ đó nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Trong 5 năm, Việt Nam đã sửa đổi và xây dựng 86 luật để tạo điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với sự ra đời Luật đầu
tư nước ngoài, và sự điều chỉnh của các điều luật, cơ chế, chính sách khác, Việt Nam
đã và đang tạo lập môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Trang 22Tiếp thu công nghệ mới và đào tạo nguồn nhân lực Hội nhập kinh tế quốc tế
đã tạo cơ hội và động lực cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới nhất Nhiều công nghệ hiện đại, dây chuyền sản xuất tiên tiến được áp dụng, tạo ra bước phát triển mới trong các ngành sản xuất Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần đào tạo cán bộ trên nhiều lĩnh vực Hàng vạn lao động trực tiếp, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý,… được đào tạo và trưởng thành có thể tiếp cận và chuyển giao thành công các công nghệ hiện đại của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Từng bước đưa doanh nghiệp và nền kinh tế bước vào môi trường cạnh tranh Hội nhập kinh tế quốc tế buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh ở cả thị trường trong nước và nước ngoài, do đó các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng, xây dựng thương hiệu
để không ngừng phát triển Hiện nay nhiều mặt hàng của nước ta được đánh giá có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Một số doanh nghiệp đã đầu tư hoạt động ở nước ngoài như: Viettel, Petro Vietnam, Hoàng Anh Gia Lai, cà phê Trung Nguyên, Vinamilk,… Thị trường chủ yếu là Lào, Nga, Singapore, Campuchia, Anh, Ấn Độ, Đài Loan,…
Duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và tương đối ổn định, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân Năm 1990, thu nhập bình quân đầu người nước
ta ở mức dưới 100 USD, năm 2005 đạt 640 USD, năm 2010 đạt 1168 USD Tuy nhiên đến Đại hội XII của Đảng, “Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân
5 năm đạt trên 5,9%/năm Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên; GDP năm 2015 đạt 193,4 tỷ USD, bình quân đầu người khoảng 2.109 USD
Góp phần củng cố hệ thống chính trị - an ninh - quốc phòng Việt Nam Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp củng cố hệ thống chính trị, nâng cao uy tín, vai trò của Đảng và Nhà nước, làm cho vị thế và vai trò quốc tế của Việt Nam được tăng cường
Trang 23Mặt khác hội nhập kinh tế quốc tế tạo nền tảng để bảo đảm an ninh, quốc phòng, tạo điều kiện tốt hơn để thực hiện các chương trình xã hội như xóa đói giảm nghèo, phát triển vùng sâu vùng xa
2.2 Trong lĩnh vực chính trị
2.2.1 Mở cửa, hội nhập quốc tế về chính trị
Đây là hình thái hội nhập quốc tế theo quy phạm chung của các cơ quan quyền lực của các quốc gia tham gia tuân thủ nhằm chia sẻ lợi ích cơ bản về chính trị chính thể, ý thức hệ, quyền lực… bằng hình thái hiệp ước, liên minh, đồng minh khu vực hoặc toàn cầu, ví dụ như ASEAN, EU, Liên hợp quốc Quy phạm chung về hội nhập chính trị tùy theo tính chất của liên kết (sâu rộng, chặt chẽ, lỏng lẻo, đồng thuận…)
Hội nhập trong lĩnh vực chính trị mặc dù manh nha từ lâu, nhưng chỉ trong thời gian gần đây mới trở thành một trong những xu thế chung của thế giới và nó sẽ tiếp tục phát triển trong một thế giới hiện đại Tuy nhiên, khác với các lĩnh vực hội nhập quốc tế khác, trong giai đoạn hiện nay, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực này chỉ
ở mức độ và phạm vi nhất định, chứ không sâu như hội nhập kinh tế Đây có thể nói
là một hình thức liên kết quốc tế đặc biệt trong hội nhập Theo đó, hội nhập quốc tế
về chính trị là quá trình các quốc gia tham gia vào các cơ chế quyền lực tập thể vì những mục tiêu, lợi ích của quốc gia mình Quốc gia có thể hội nhập chính trị quốc
tế thông qua ký điều ước quốc tế đa phương, khu vực, tiểu khu vực hoặc song phương
để thiết lập các mối liên kết quyền lực (hiệp ước liên minh hay đồng minh) hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị khu vực (ví dụ như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
- ASEAN, Liên minh châu Âu -EU) hay một tổ chức có quy mô toàn cầu (ví dụ như: Liên hợp quốc (UN)
2.2.2 Các hình thức hội nhập quốc tế về chính trị
Hội nhập quốc tế về chính trị có nhiều hình thức khác nhau:
Trang 24• Ở hình thức thấp của hội nhập quốc tế về chính trị là việc liên kết hạn chế giữa các quốc gia, mà trong đó các quốc gia vẫn cơ bản giữ thẩm quyền định đoạt chính sách riêng Chẳng hạn, hội nhập về chính trị trong ASEAN vẫn còn tồn tại nhiều sự khác biệt, đa dạng
• Hình thức hội nhập quốc tế về chính trị ở mức độ cao hơn, đòi hỏi sự tương đồng về thể chế chính trị và độ tin cậy hoàn toàn của các quốc gia Về mặt tổ chức quyền lực, các quốc gia thành viên chỉ giữ lại một số thẩm quyền nhất định, còn trao các quyền lực còn lại cho một cơ cấu siêu quốc gia của mình, ví dụ: EU là một điển hình
Trong các lĩnh vực của hội nhập quốc tế, hội nhập chính trị là bước cuối cùng trên cơ sở các quốc gia đã đạt đến trình độ cao ở hội nhập kinh tế và văn hóa - xã hội Trong lịch sử, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Ca-na-đa trước đây và EU hiện nay được thành lập theo phương thức này Trên thực tế, trong những hoàn cảnh nhất định, ở các khu vực khác nhau, việc hội nhập quốc tế cũng không tuân theo tuần tự như đã nêu trên Hội nhập quốc tế về chính trị có thể đi trước để mở đường, thúc đẩy hội nhập trong các lĩnh vực khác Một minh chứng rõ ràng nhất là đối với trường hợp ASEAN, trong giai đoạn đầu là một cơ chế hợp tác khu vực về chính trị - ngoại giao nhằm đối phó với những thách thức đối với an ninh quốc gia của các quốc gia thành viên Sau giai đoạn khởi đầu chủ yếu hội nhập về chính trị - an ninh, từ cuối thập niên
70 thế kỷ XX, ASEAN mới bắt đầu triển khai hợp tác về kinh tế và chỉ từ gần giữa thập niên 90 thế kỷ XX, ASEAN mới bắt đầu tiến trình hội nhập kinh tế Đến khi có Hiến chương ASEAN vào năm 2007, ASEAN mới bắt đầu hội nhập toàn diện hơn trên cả ba lĩnh vực là: chính trị - an ninh, kinh tế và văn hoá - xã hội
2.2.3 Mở cửa, hội nhập quốc tế với ổn định chính trị
Ổn định chính trị là độ bền vững và tính toàn vẹn của một chế độ chính quyền hiện hành dưới sự lãnh đạo của đảng chính trị Điều này được xác định dựa trên sự phục tùng quyền lực một cách tự nguyện tự giác hay sự chống đối, hiện tượng bạo
Trang 25lực diễn ra trong cả nước thực hiện bởi các công dân liên quan đến nhà nước Một xã hội có nền chính trị ổn định là một xã hội trong đó người dân hài lòng với đảng cầm quyền và hệ thống chính trị, tự nguyện thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân một cách chủ động và mang tính tích cực xã hội cao Sự ổn định chính trị là một trong những yếu tố không thể thiếu, góp phần giúp Việt Nam có thể kiên trì chính sách phát triển kinh tế Nền chính trị ổn định tạo cho Việt Nam có được một nền hòa bình và thịnh vượng Nếu nhìn sang một số quốc gia khác trong khu vực, dễ thấy rằng, trừ Singapore, thì từ năm 1990 trở lại đây, hầu hết các nước đều trải qua các cuộc đảo chính hay khủng hoảng chính trị Trong khi đó, nền chính trị của Việt Nam luôn ổn định, đây là một bảo đảm cho sự gắn kết để thực hiện chính sách kinh tế nhất quán Thành công của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam cũng là dựa trên sự ổn định chính trị
Chính sách mở cửa, hội nhập đem lại nhiều cơ hội để phát triển nhưng đồng thời Việt Nam phải đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức trong môi trường quốc
tế và khu vực Trong các cuộc họp, có nhiều báo cáo chính trị đánh giá Việt Nam chúng ta giành được những thành tựu có ý nghĩa rất quan trọng, nhiều dấu ấn nổi bật, trong đó có đóng góp của công tác đối ngoại, bao gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, ngoại giao Nhân dân
Việt Nam đã nâng cao hiệu quả và làm sâu sắc hơn quan hệ với nhiều đối tác quốc tế, nâng số lượng đối tác chiến lược và đối tác toàn diện lên con số 30, gồm tất
cả các nước là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, phần lớn các nước thành viên các nhóm chính trị, kinh tế lớn trên thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng
Một điều rất quan trọng là chúng ta đã giữ vững được toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền, đạt được nhiều thành tựu cụ thể trong giải quyết vấn đề biên giới Đối với đường biên giới trên bộ (khoảng trên 5.000 km), chúng ta đã hoạch định xong toàn
bộ với cả ba nước có biên giới chung là Lào, Campuchia, Trung Quốc Điểm lớn nữa
Trang 26là chúng ta đã tranh thủ tốt hội nhập quốc tế cho phát triển kinh tế xã hội, thể hiện từ chủ trương quan hệ chính trị, hội nhập quốc tế Chúng ta đã thu hút được nguồn lực đầu tư rất lớn, thúc đẩy thương mại, du lịch, tranh thủ về khoa học, công nghệ, giáo dục…
2.3 Trong lĩnh vực Quốc phòng - An ninh
2.3.1 Thành quả mở cửa, hội nhập quốc tế
Mở cửa, hội nhập về quốc phòng, an ninh đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam nhấn mạnh: chủ động, tích cực đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả đối ngoại quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh quan hệ hợp tác song phương, tích cực tham gia và xây dựng các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương mà Việt Nam là thành viên có trách nhiệm
2.3.2 Quan hệ quốc phòng song phương được mở rộng
Những năm qua, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng lòng tin, giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về lịch
sử, truyền thống, bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam-một quân đội chính nghĩa, của dân, do dân và vì dân, được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, với chính sách quốc phòng tự vệ, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết xung đột và quan hệ quốc tế
Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng chính thức với 65 nước trong
đó có các cường quốc trên thế giới; đã thiết lập tùy viên quốc phòng tại 31 nước và
đã có 42 nước thiết lập tùy viên quốc phòng tại Việt Nam
Trang 27Hợp tác quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng giữa Việt Nam với các nước đã và đang được quan tâm, ngày càng mở rộng với phương châm không phân biệt thể chế chính trị, trên cơ sở mục tiêu chung là tăng cường hữu nghị, sự hiểu biết
và tin cậy lẫn nhau Đặc biệt, đối với các nước láng giềng, các nước XHCN và bạn
bè truyền thống của Việt Nam, hợp tác trong lĩnh vực này được tập trung ưu tiên thúc đẩy bằng cách trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, tăng cường tuyên truyền, giáo dục về quan hệ hữu nghị truyền thống thông qua việc cùng xuất bản các ấn phẩm tái hiện lịch sử quan hệ hợp tác quốc phòng…
2.3.3 Quan hệ quốc phòng đa phương có bước phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng, hiệu quả
Việt Nam đã tiến hành đối thoại quốc phòng - an ninh thường xuyên ở nhiều cấp độ với các quốc gia trong khối ASEAN, Trung Quốc, Nga, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Ấn Độ… Cùng với việc tăng cường trao đổi các đoàn quân sự cấp cao, giao lưu giữa các sĩ quan trẻ, hợp tác giữa các nhà trường, các viện nghiên cứu của Bộ Quốc phòng Việt Nam với các nước cũng được coi trọng
2.3.4 Xây dựng sức mạnh chiến đấu Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng
Góp phần nâng cao một bước trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tổ chức các hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh của đội ngũ cán bộ đối ngoại quốc phòng, an ninh của Việt Nam
Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh tạo điều kiện cho nước ta tiếp thu khoa học - công nghệ tiên tiến, nhất là dưới sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại Cùng với đó, sự phát triển chung của kinh tế thương mại, dịch vụ, đầu tư… sẽ làm cho thị trường hàng hóa phục vụ quốc phòng,
an ninh ngày càng phong phú hơn, tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ trao đổi, đầu
tư, đổi mới công nghệ, từng bước hiện đại hóa trang bị vũ khí - kỹ thuật quân sự, tăng
Trang 28cường hiện đại hóa quốc phòng, hiện đại hóa quân đội, công an, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc
2.3.5 Cùng với đối ngoại chung của cả nước, mở cửa hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh
Góp phần xây dựng khối ASEAN vững mạnh, đồng thuận, bảo vệ và duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới; nâng cao hình ảnh, uy tín, vị thế đất nước và Quân đội trong khu vực và trên thế giới Qua đó, tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Đối ngoại quốc phòng của Việt Nam đã góp phần thiết thực vào duy trì hòa bình, ổn định an ninh khu vực và trên thế giới Những đóng góp này đều được khẳng định rõ nét qua hai lần Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch luân phiên của ASEAN
và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Dấu ấn nổi bật là sự tham gia của Việt Nam vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc
2.3.6 Khía cạnh khác
Đến nay, để mở cửa, hội nhập quốc tế với các quốc gia trên thế giới trong các lĩnh vực thì vấn đề cửa khẩu quốc gia là vô cùng quan trọng Cửa khẩu là cửa ngõ quốc gia, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế và đối ngoại
Vì thế, Việt nam đã đề ra chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cửa khẩu, tạo động lực đổi mới toàn diện, từng bước hiện đại hóa
hệ thống cửa khẩu, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước
Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã chủ động phối hợp với Ủy ban Biên giới quốc gia (Bộ Ngoại giao) và các cơ quan liên quan tham mưu với Chính phủ đàm phán, ký kết Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới quốc gia
Trang 29Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Lào, Việt Nam-Campuchia; tham mưu với Bộ Quốc phòng thành lập Ủy ban Hợp tác cửa khẩu Việt Nam-Trung Quốc nhằm thúc đẩy phát triển, nâng cấp hệ thống cửa khẩu, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động XNC ở các cửa khẩu và đàm phán, xử lý, giải quyết các vấn
đề phát sinh tại cửa khẩu; phối hợp với phía bạn Lào triển khai mô hình kiểm soát
“một cửa, một điểm dừng” theo Hiệp định GMS tại cặp cửa khẩu quốc tế Lao Bảo (Quảng Trị)-Densavan (Savannakhet, Lào)
2.3.7 Quá trình hội nhập quốc phòng an ninh trong đại dịch COVID
Năm 2020, thế giới phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp; các điểm nóng an ninh tiếp tục “tăng nhiệt”, nhất là cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, biến đổi khí hậu, khủng bố, an ninh, an toàn không gian mạng,… tác động mạnh mẽ và đặt ra nhiều thách thức chưa có tiền lệ đối với việc triển khai công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng Việt Nam Đặc biệt, Covid-19 bùng phát và trở thành đại dịch toàn cầu, tác động nghiêm trọng đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,… của các quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam
Trong đại dịch Covid-19, các lực lượng chức năng của Bộ đội Biên phòng, quân khu giáp biên, Hải quân, Cảnh sát biển chủ động phối hợp, thúc đẩy hợp tác trong quản lý, bảo vệ biên giới với đối tác của các nước tại khu vực giáp biên, đẩy mạnh kết nghĩa cụm dân cư và lực lượng hai bên biên giới để góp phần xây dựng tuyến biên giới hòa bình, ổn định và phát triển
Cùng với đó, chuẩn bị mọi mặt, tham gia Hội thao Army Games - 2021 tại Nga và một số nước; làm tốt công tác chuẩn bị đăng cai các nội dung thi đấu tại Việt Nam, đảm bảo an toàn, hiệu quả Các cơ quan, đơn vị thúc đẩy ký kết các thỏa thuận quốc tế, điều ước quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng về công tác Đảng, công tác chính trị; công nghiệp quốc phòng, hợp tác kỹ thuật quân sự, quân y, cứu hộ - cứu nạn, an
Trang 30ninh phi truyền thống; đẩy mạnh hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống
COVID-19, nhất là nghiên cứu, tiếp nhận chuyển giao vaccine
Duy trì và nghiên cứu mở rộng tham gia các hoạt động tại 2 Phái bộ và Trụ sở Liên hợp quốc; thúc đẩy chuẩn bị đội Công binh đi thực hiện nhiệm vụ tại Phái bộ; triển khai, ra mắt Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; xúc tiến triển khai lực lượng quân cảnh; xây dựng Trung tâm Điều phối quốc gia về gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc Chú trọng củng cố công tác ngành đối ngoại toàn quân thông qua tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ hội nhập quốc tế, ngoại ngữ cho cán bộ đối ngoại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
2.4 Trong lĩnh vực Giáo dục
Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện…
Hội nhập quốc tế về giáo dục là hiện đại hoá, quốc tế hoá nền giáo dục của quốc gia mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Giáo dục – đào tạo ở Việt Nam hiện nay là vấn đề tương đối bức xúc, yêu cầu cấp thiết phải cải cách cơ bản, tìm hướng đi mới để nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo ngang tầm quốc tế Một trong những hướng đi của cải cách giáo dục – đào tạo là hội nhập quốc tế sâu sắc về vấn đề này
Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, nhưng vẫn gìn giữ được bản sắc dân tộc trong giáo dục con người Việt Nam với những đặc trưng riêng Do đó, trong hội nhập quốc tế về giáo dục – đào tạo phải tìm
Trang 31kênh tiếp cận thích hợp, lựa chọn lĩnh vực mũi nhọn, đột phá Việc hội nhập quốc tế
về giáo dục, đào tạo có thể thông qua nhiều kênh khác nhau, từ việc ký kết điều ước quốc tế thực hiện hợp tác giáo dục, đến việc trao đổi, tham gia các hoạt động quốc tế khác nhằm nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn giáo dục, đào tạo trong nước Việc hội nhập phải bảo đảm thực hiện trong tất cả các khâu của giáo dục và đào tạo, đồng thời kiểm tra, đánh giá theo chuẩn mực quốc tế và xây dựng cơ sở vật chất liên quan đến giáo dục, đào tạo theo tiêu chuẩn tốt của quốc tế
Chính sách Đổi mới năm 1986 mở đầu cho những thay đổi toàn diện của Việt Nam nói chung, của ngành giáo dục nói riêng Từ thời điểm này, Việt Nam bắt đầu
đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, các hình thức đào tạo, ban hành quy chế các trường, lớp dân lập, tư thục (Giai đoạn 1975 đến trước năm 1986, các trường tư thục không được công nhận.)
Nhờ thành quả phát triển kinh tế và chính sách mở cửa, người dân được tiếp cận với nhiều loại hình giáo dục, nhiều cơ hội giáo dục khác nhau Sự hội nhập và phát triển kinh tế cũng gia tăng nhu cầu về nhân lực, tạo động lực cho việc học tập của người dân Ngoài ra, tâm lý coi trọng bằng cấp, học vị của người Việt (thường bị phê phán), cũng là một trong những lý do thúc đẩy sự thành lập và phát triển các tổ chức giáo dục, đặc biệt là các trường đại học
Nhờ có chính sách mở cửa, các tổ chức giáo dục nước ngoài ngày càng tăng cường sự hiện diện tại Việt Nam Đồng thời, nhiều loại hình liên kết giáo dục giữa Việt Nam với các quốc gia khác cũng được mở ra ở các cấp học, không chỉ góp phần
đa dạng hóa cơ hội học tập cho người dân, mà còn tạo ra sự cạnh tranh giữa các tổ chức giáo dục, góp phần cải thiện chất lượng giáo dục
Với tỷ lệ 20% ngân sách quốc gia được chi tiêu cho giáo dục, cộng với nhiều nguồn kinh phí tài trợ hoặc các chương trình vốn vay ưu đãi phục vụ giáo dục, có thể