Nhận diện về Phong cách ngôn ngữ Phong cách ngôn ngữ Đặc điểm nhận diện 1 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt - Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày,mang tính tự nhiên, thoải mái và sinh
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẮK LẮK
CỤM CHUYÊN MÔN 7
Tháng 3/2023
Trang 2PHẦN I ĐỌC HIỂU
LÍ THUYẾT ĐỌC HIỂU
Học sinh ôn tập các kiến thức cơ bản sau:
1 Nhận diện về Phong cách ngôn ngữ
Phong cách ngôn ngữ Đặc điểm nhận diện
1 Phong cách ngôn
ngữ sinh hoạt
- Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày,mang tính tự nhiên, thoải mái và sinh động, ít trauchuốt…Trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm tronggiao tiếp với tư cách cá nhân
3 Phong cách ngôn
ngữ chính luận
Dùng trong lĩnh vực chính trị - xã hội, ; ngườigiao tiếp thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khaiquan điểm tư tưởng, tình cảm của mình với nhữngvấn đề thời sự nóng hổi của xã hội
4 Phong cách ngôn
ngữ nghệ thuật
-Dùng chủ yếu trong tác phẩm văn chương,không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãnnhu cầu thẩm mĩ của con người; từ ngữ trau chuốt,tinh luyện…
5 Phong cách ngôn
ngữ khoa học
Dùng trong những văn bản thuộc lĩnh vực nghiêncứu, học tập và phổ biến khoa học, đặc trưng cho cácmục đích diễn đạt chuyên môn sâu
6 Phong cách ngôn
ngữ hành chính
-Dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực giao tiếpđiều hành và quản lí xã hội ( giao tiếp giữa Nhà nướcvới nhân dân, Nhân dân với các cơ quan Nhà nước,giữa cơ quan với cơ quan…)
2 Nhận diện và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ - Yêu cầu:
- Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh,… (tạo âm hưởng và nhịp điệu
cho câu)
- Tu từ về từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, tương phản, chơi chữ, nói giảm,
nói tránh, thậm xưng,…
- Tu từ về cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng,…
Biện pháp tu từ Hiệu quả nghệ thuật (Tác dụng nghệ thuật)
So sánh Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động, cụ thể tác
Trang 3động đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm xúc
Ẩn dụ Cách diễn đạt mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt
cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc
Nhân hóa Làm cho đối tượng hiện ra sinh động, gần gũi, có tâm
Nhấn mạnh, tô đậm ấn tượng – tăng giá trị biểu cảm
Nói giảm Làm giảm nhẹ đi ý đau thương, mất mát nhằm thể hiện sự
Đảo ngữ Nhấn mạnh, gây ấn tượng về phần được đảo lên
Im lặng (…) Tạo điểm nhấn, gợi sự lắng đọng cảm xúc
Liệt kê Diễn tả cụ thể, toàn điện nhiều mặt
3 Nhận diện Phương thức biểu đạt: Yêu cầu nhận diện phương thức biểu đạt
Phương thức biểu
đạt
Nhận diện qua mục đích giao tiếp
2 Miêu tả Tái hiện trạng thái, sự vật, con người
4 Nghị luận Trình bày ý kiến đánh giá, bàn luận…
5 Thuyết minh Trình bày đặc điểm, tính chất, phương pháp…
4.1.Thơ năm chữ (Ngũ ngôn)Thơ ngũ ngôn có độ dài ngắn khác nhau nhưng được
chia thành nhiều khổ nhỏ, mỗi khổ gồm 4 dòng thơ Nhận biết dễ nhất là dựa vào số câu
số chữ: mỗi câu có 5 chữ
4.2.Song Thất Lục Bát
Thể thơ Song Thất Lục Bát này là của riêng Việt nam ta, cho nên luật thơ không
gò bó theo các kiểu thơ khác Thơ Song Thất Lục Bát gồm mỗi đoạn có 4 câu, hai câu đầu là Song Thất, có nghĩa là mỗi câu có 7 chữ, hai câu cuối là Lục, Bát, câu thứ ba sáu chữ, câu thứ 4 tám chữ
4.3.Lục Bát
Lục Bát là loại thơ một câu sáu chữ rồi đến một câu tám chữ cứ thế nối liền nhau Bài thơ lục bát thông thường được bắt đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát.Lục Bát
là thể thơ thông dụng nhất, cách nhận biết đơn giản là đếm số chữ trong mỗi dòng thơ
4.4 Đường Luật ( Đường luật có nhiều loại: Thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt,
)Nhận biết :Bố Cục Của Thơ Đường Luật
Trang 4Trong thơ Thất ngôn bát cú Đường Luật, mỗi một câu đều có chức năng của nó:Câu 1 và 2 là phá đề và thừa đề.
Câu 3 và 4 là Thực hay Trạng, dùng để giải thích hoặc đưa thêm chi tiết bổ nghĩa
đề bài cho rõ ràng
Câu 5 và 6 là Luận, dùng để bàn luận cho rộng nghĩa hay cũng có thể dùng như câu 3 và 4
Câu 7 và 8 là Kết, kết luận ý của bài thơ Điểm khó nhất trong Đường Thi là câu số
ba và câu số bốn, bởi vì hai câu này được gọi là hai câu Thực và hai câu năm và câu sáu
là hai câu Luận, hai cặp câu này luôn luôn đối nhau, Danh Từ đối Danh Từ, Động Từ đối Động Từ, Tính Từ đối Tính Từ, quan trọng hơn cả là hai câu 5,6 phải đối ý với hai câu 3,4 hoặc bổ sung cho ý của câu 3,4
Thơ thất ngôn tứ tuyệt có 4 câu, mỗi câu có 7 chữ Nó là 1 nửa của bài thất ngôn Bát
cú Niêm luật cũng chặt chẽ
4.5.Thơ bốn chữ , thơ sáu chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ: Nhận biết đơn giản,
dựa vào số chữ trong 1 dòng thơ Mỗi loại có quy định riêng về Vần, luật ( Cụ thể cô sẽ nói ở bài viết sau nhé )
4.6.Thơ tự do : Đúng như cái tên của nó : không bị gò bó bởi số câu số chữ, niêm ,
luật, vần, đối, … Nhận biết thơ tự do rất đơn giản : đếm số chữ trong 1 dòng thơ, dòng nhiều dòng ít không gò bó, và không bắt buộc theo quy luật như các thể thơ khác (Lục bát cũng dòng 6 dòng 8 nhưng nó cứ luân phiên theo quy luật)
5 Nhận diện các thao tác lập luận.
5.1/ Thao tác lập luận giải thích
– Là cắt nghĩa một sự vật, hiện tượng, khái niệm để người khác hiểu rõ, hiểu đúngvấn đề
– Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc hiểu rõ được tư tưởng, đạo
lí, phẩm chất, quan hệ cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡngtâm hồn, tình cảm
– Cách giải thích: Tìm đủ lí lẽ để giảng giải, cắt nghĩa vấn đề đó Đặt ra hệ thốngcâu hỏi để trả lời
5.2/ Thao tác lập luận phân tích:
-Là cách chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận để đi sâu xem xét mộtcách toàn diện về nội dung, hình thức của đối tượng
– Cách phân tích: Chia tách đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận theo những tiêuchí, quan hệ nhất định
5.3/ Thao tác lập luận chứng minh:
– Dùng những bằng chứng chân thực, đã được thừa nhận để chứng tỏ đối tượng.– Cách chứng minh: Xác định vấn đè chứng minh để tìm nguồn dẫn chứng phùhợp Dẫn chứng phải phong phú, tiêu biểu, toàn diện sát hợp với vấn đề cần chứng minh,sắp xếp dẫn chứng phải lô gic, chặt chẽ và hợp lí
5.4/ Thao tác lập luận so sánh:
Trang 5– Làm sáng tỏ đối tượng đang nghiên cứu trong mối tương quan với đối tượngkhác.
– Cách so sánh: Đặt đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên cùng một tiêuchí, nêu rõ quan điểm, ý kiến của người viết
5.5/ Thao tác lập luận bình luận:
– Bình luận là bàn bạc, nhận xét, đánh giá về một vấn đề
– Cách bình luận: Trình bày rõ ràng, trung thực vấn đề được bình luận, đề xuất vàchứng tỏ được ý kiến nhận định, đánh giá là xác đáng Thể hiện rõ chủ kiến của mình
5.6/ Thao tác lập luận bác bỏ:
– Là cách trao đổi, tranh luận để bác bỏ ý kiến được cho là sai
– Cách bác bỏ: Nêu ý kiến sai trái, sau đó phân tích, bác bỏ, khẳng định ý kiếnđúng; nêu từng phần ý kiến sai rồi bác bỏ theo cách cuốn chiếu từng phần
– Ý nhỏ phải nằm hoàn toàn trong phạm vi của ý lớn
– Nếu có thể biểu hiện nội dung của các ý bằng những vòng tròn thì ý lớn và mỗi ýnhỏ được chia ra từ đó là hai vòng tròn lồng vào nhau, không được ở ngoài nhau, cũngkhông được trùng nhau hoặc cắt nhau
– Mặt khác, các ý nhỏ được chia ra từ một ý lớn, khi hợp lại, phải cho ta một ýniệm tương đối đầy đủ về ý lớn, gần như các số hạng, khi cộng lại phải cho ta tổng số,hay vòng tròn lớn phải được lấp đầy bởi những vòng tròn nhỏ
– Mối quan hệ giữa những ý nhỏ được chia ra từ cùng một ý lớn hơn phải nganghàng nhau, không trùng lặp nhau
6 Xác định nội dung, chi tiết chính có liên quan đến văn bản
Đặt nhan đề, xác định câu chủ đề: Văn bản thường là một chỉnh thể thống nhất về
nội dung, hài hòa về hình thức Khi hiểu rõ được văn bản, học sinh dễ dàng tìm đượcnhan đề cũng như nội dung chính của văn bản
nhan đề phải khái quát được cao nhất nội dung tư tưởng của văn bản, phải cô
đọng được cái thần, cái hồn của văn bản.
Nhan đề của văn bản thường nằm ở những từ ngữ, những câu lặp đi, lặp lại nhiều lần trong văn bản.
Câu chủ đề của đoạn, chúng ta cần xác định xem đoạn văn đó trình bày theo cách
nào Nếu là đoạn văn trình bày theo cách diễn dịch thì câu chủ đề thường ở đầu đoạn.Nếu là đoạn văn trình bày theo cách quy nạp thì câu chủ đề nằm ở cuối đoạn Còn
đoạn văn trình bày theo cách móc xích hay song hành thì câu chủ đề là câu có tính chất
khái quát nhất, khái quát toàn đoạn Câu đó có thể nằm bất cứ vị trí nào trong đoạn văn.
7 Xác định nội dung chính của văn bản
Trang 6Muốn xác định được nội dung của văn bản giáo viên cần hướng dẫn học sinh căn
cứ vào tiêu đề của văn bản Căn cứ vào những hình ảnh đặc sắc, câu văn, câu thơ được nhắc đến nhiều lần Đây có thể là những từ khóa chứa đựng nội dung chính của văn bản.
Đối với văn bản là một đoạn, hoặc một vài đoạn, việc cần làm là học sinh phải xácđịnh được đoạn văn trình bày theo cách nào: diễn dịch, quy nạp, móc xích hay song
hành… Xác đinh được kiểu trình bày đoạn văn học sinh sẽ xác định được câu chủ đề
nằm ở vị trí nào Thường câu chủ đề sẽ là câu nắm giữ nội dung chính của cả đoạn Xác định bố cục của đoạn cũng là căn cứ để chúng ta tìm ra các nội dung chính của đoạn văn bản đó.
8 Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể trong văn bản
Phần này trong đề thi thường hỏi anh/ chị hãy chỉ ra một từ ngữ, một hình ảnh, mộtcâu nào đó có sẵn trong văn bản Sau khi chỉ ra được có thể lý giải phân tích vì sao lạinhư vậy
Vì thế giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh đọc kĩ đề, khi lý giải phải bám sát vàovăn bản Phần này phụ thuộc nhiều vào khả năng cảm thụ thơ văn của học sinh
9 Dựa vào văn bản cho sẵn viết một đoạn văn khoảng 5-7 dòng
Trong đề đọc hiểu phần câu hỏi này thường là câu cuối cùng Sau khi các em học
sinh nghiên cứu, tìm hiểu và trả lời các câu trên, đến câu này là câu có tính chất liên hệ
mở rộng Nó thuộc câu hỏi vận dụng Học sinh dựa vào văn bản đã cho, bằng sự trải
nghiệm của bản thân để viết một đoạn văn theo chủ đề
II LUYỆN TẬP ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Đề 1:
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Em tên là Phương, du học sinh đang trầy trật để thi đậu mấy môn cuối và tìm việc Còn nửa kia của em là ngữ văn.
Bọn em đã bên nhau được 12 năm, mà tạm xa rời vì bây giờ em đã có nhiều bạn khác thú vị hơn Nguyên nhân khiến cho em viết lách, giao tiếp và phản biện vô cùng kém so với những đứa bạn đến từ các nước khác Bởi:
Thứ nhất: Tính gia trưởng
Đề bài yêu cầu học sinh nêu cảm nghĩ của mình về một vấn đề/tác phẩm, nhưng nếu cảm nghĩ của học sinh mà không giống với bảng điểm là “không có ý để chấm” Điều này dẫn đến 1.000 học sinh sản xuất ra 1.000 phiên bản khác nhau vài cái chấm phẩy Như vậy, từ trong trường lớp học sinh đã bị hạn chế chuyện nêu ra ý kiến của mình!
Thứ hai: Hay mơ mộng
Mình cảm thấy chuyện học văn rất hữu ích, vì trong cuộc sống mình sử dụng văn nhiều hơn toán Ví dụ nhé! Mình bị lạc mất con mèo và muốn nhờ mọi người giúp, thế thì phải biết sử dụng văn miêu tả làm sao cho người ta tưởng tượng ra con mèo nhà mình Thế nhưng mèo ở Việt Nam, 100 con thì tới 99 con có đôi mắt như hai hòn bi ve! (…)
Trang 7Kết: Hãy trở thành một nửa lý tưởng của mọi bạn đời, chứ đừng là kẻ lúc nào cũng bị ly dị sau 12 năm gắn bó.
(Lược trích bài viết của Lê Uyên Phương, https://thanhnien.vn/giao-duc/)
Câu 1 Đặt một nhan đề phù hợp cho văn bản.
Câu 2 Vì sao bạn Phương tạm xa rời môn Văn?
Câu 3 Vì sao bạn Phương cho rằng học văn rất hữu ích? Anh/Chị hiểu như thế nào
về câu nói, “Thế nhưng mèo ở Việt Nam, 100 con thì tới 99 con có đôi mắt như hai hòn
bi ve!” ?
Câu 4 Anh/Chị có đồng tình với ý kiến môn Văn hay mơ mộng không? Trả lời
bằng một đoạn văn ngắn khoảng 5-7 câu
Đề 2:
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Hôm ấy là ngày đầu tiên tôi học môn Toán với thầy Peter Vừa vào lớp, thầy cho
cả lớp làm bài kiểm tra đầu năm Cả lớp ngạc nhiên khi thầy phát cho chúng tôi ba loại
đề khác nhau rồi nói:
- Đề thứ nhất gồm những câu hỏi vừa dễ và khó, nếu làm hết các em sẽ được 10 điểm Đề thứ hai có số điểm cao nhất là 8 với những câu hỏi tương đối dễ Đề thứ 3 có
số điểm tối đa là 6 với những câu hỏi rất dễ Các em được quyền chọn đề cho mình Thầy chỉ cho làm bài trong 15 phút nên tôi đã chọn đề thứ 2 cho chắc ăn Không chỉ tôi mà các bạn cùng lớp cũng thế, chẳng có ai chọn đề thứ nhất cả.
Một tuần sau, thầy Peter trả bài kiểm tra Cả lớp lại càng ngạc nhiên hơn khi biết
ai chọn đề nào thì được số điểm tối đa của đề đó, bất kể làm đúng hay sai Lớp trưởng hỏi thầy:
- Thưa thầy tại sao lại như thế?
Thầy cười rồi nghiêm nghị trả lời:
- Với bài kiểm tra này, thầy chỉ muốn thử thách lớp mình Ai trong số các em cũng
mơ ước đạt được điểm 10 nhưng ít ai dám vượt qua thử thách để biến ước mơ ấy thành
sự thật.
(Theo: Mangthuvien.com)
Câu 1 Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt chủ yếu nào?
Câu 2 Hãy nêu nội dung chính của văn bản
Câu 3 Vì sao thầy Peter kiểm tra cả lớp với ba loại đề khác nhau?
Câu 4 Từ câu nói của thầy Peter: Ai trong số các em cũng mơ ước đạt được điểm
10 nhưng ít ai dám vượt qua thử thách để biến ước mơ ấy thành sự thật.
Anh/Chị hãy cho biết, trong cuộc sống để biến ước mơ thành hiện thực, chúng tacần phải làm gì?
Đề 3:
Trang 8Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Có hai hạt lúa được giữ lại để làm hạt giống cho vụ sau vì cả hai đều là những hạt lúa tốt, đều to khỏe và chắc mẩy Một hôm, người chủ định đem chúng gieo trên cánh đồng gần đó Hạt thứ nhất nhủ thầm: “Dại gì ta phải theo ông chủ ra đồng Ta không muốn cả thân mình phải nát tan trong đất Tốt nhất ta hãy giữ lại tất cả chất dinh dưỡng trong lớp vỏ này và tìm một nơi lý tưởng để trú ngụ.” Thế là nó chọn một góc khuất trong kho lúa để lăn vào đó Còn hạt lúa thứ hai thì ngày đêm mong được ông chủ mang gieo xuống đất Nó thật sự sung sướng khi được bắt đầu một cuộc đời mới.
Thời gian trôi qua, hạt lúa thứ nhất bị héo khô nơi góc nhà bởi vì nó chẳng nhận được nước và ánh sáng Lúc này chất dinh dưỡng chẳng giúp ích được gì nên nó chết dần chết mòn Trong khi đó, hạt lúa thứ hai dù nát tan trong đất nhưng từ thân nó lại mọc lên cây lúa vàng óng, trĩu hạt Nó lại mang đến cho đời những hạt lúa mới
(Theo: Hạt giống tâm hồn, Nxb Trẻ)
Câu 1 Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?
Câu 2 Nêu ngắn gọn nội dung chính của văn bản
Câu 3 Hình ảnh hai hạt lúa trong văn bản khiến Anh/Chị liên tưởng đến những đối
tượng nào?
Câu 4 Theo Anh/Chị vì sao hạt lúa thứ hai thật sung sướng khi được bắt đầu một
cuộc đời mới?
PHẦN II LÀM VĂN
I NGHỊ LUẬN XÃ HỘI -VIẾT ĐOẠN VĂN 200 CHỮ
1 Khái niệm đoạn văn.
2.Cấu trúc của đoạn văn 200 chữ.
– Câu mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghi luận (khoảng 2 – 4 dòng).
– Các câu phát triển đoạn: (12 – 16 dòng).
Vận dụng các thao tác:
+ Giải thích (Câu nói nêu lên vấn đề gì?)
+ Lí giải (Vì sao lại nói như thế?)
+ Dẫn chứng (Họ đã làm thế nào?)
+ Bình luận (Vấn đề đúng hay sai hay vừa đúng vừa sai?)
+ Bác bỏ (Hiện tượng trái ngược cần phê phán là gì?)
– Câu kết đoạn: Rút ra bài học (Bản thân và mọi người cần phải làm gì?) (2– 4
dòng)
Trang 93 Hai loại đoạn văn thường gặp:
Dạng 1: Bàn luận về một tư tưởng, đạo lí:
– Đề bài thường trích một câu trong đọc hiểu hoặc trực tiếp nêu vấn đề cần nghị
luận.
Khía cạnh Biểu hiện
Nhận thức Lí tưởng, khát vọng, niềm đam mê, mục đích sống…
Phẩm chất Lòng yêu nước, tính trung thực, lòng dũng cảm, sự khiêm tốn,
sự tự học, lòng ham hiểu biết, sự cầu thị…
Quan hệ gia
đình
Tình mẫu tử, tình anh em…
Quan hệ xã hội tình bạn, tình thầy trò, tình đồng bào…
Cách ứng xử Lòng nhân ái, thái độ hòa nhã, sự vị tha…
+ Chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh còn ẩn ý hoặc chưa rõ nghĩa.
+ Phải đi từ yếu tố nhỏ đến yếu tố lớn: giải thích từ ngữ, hình ảnh ẩn ý trước rồi mới
khái quát ý nghĩa của cả câu nói
+ Nên dựa vào nôi dung phần Đọc hiểu để giải thích ý nghĩa, tránh suy diễn tùy
tiện Bởi vì có những câu nói khi đứng độc lập thì nó có ý nghĩa khác so với nghĩa trongvăn cảnh
Nếu đề bài không trích dẫn câu nói thì chỉ cần giải thích ngắn gọn khái niệm/ vấn
đề cần bàn luận.
Bàn luận: Phân tích, lí giải, chứng minh ý nghĩa câu nói:
Yêu cầu:
+ Phân tách các vế của câu nói để xem xét cặn kẽ, thấu đáo
+ Khi bàn luận, cần có căn cứ khách quan
Minh chứng bằng các dẫn chứng, ví dụ cụ thể (Biểu hiện như thế nào?)
+ Dẫn chứng phải tiêu biểu, hợp lí, phục vụ cho việc bàn luận
+ Nên kết hợp dẫn chứng lịch sử – hiện tại, trong nước – ngoài nước, người nổitiếng – người bình thường… sao cho phong phú và có sức thuyết phục
+ Có 4 cách nêu dẫn chứng:
Cách 1: nêu số liệu (Ví dụ: số liệu về người mắc ung thư do thực phẩm bẩn)
Cách 2: nêu hiện tượng hiển nhiên, không thể chối cãi (Ví dụ: thủng tầng ô-zônkhiến bầu khí quyển bị ảnh hưởng)
Cách 3: nêu tấm gương điển hình, nổi tiếng (Ví dụ: Walt Disney, Bill Gate…)
Trang 10Cách 4: nêu lời nói của một người nổi tiếng (Ví dụ: Nhà văn Mark Twain từng nói:
“Không có gì buồn hơn tiếng thở dài của người còn trẻ mà đã bi quan)
+ Luận bàn mở rộng vấn đề: Phê phán điểm hạn chế, phân tích mặt tích cực
Áp dụng tư tưởng đạo lí vào trong thực tế: Nêu bài học nhận thức và hành động
(Cần phải làm gì?)
Yêu cầu:
+ Bài học phải được rút ra từ chính tư tưởng, đạo lí mà đề bài yêu cầu bàn luận.+ Bài học cần chân thành, giản dị, hướng tới tuổi trẻ, không sáo rỗng, hình thức.+ Nên rút ra hai bài học, một bài học về nhận thức, một bài học về hành động
Kết đoạn:
Đưa ra một thông điệp hay một lời khuyên cho mọi người
VÍ DỤ MINH HỌA
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về câu nói: “Leo lên đỉnh cao là
để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các em”.
Gợi ý:
– Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề
(Thầy hiệu trưởng … đã có câu nói: “Leo lên … các em.”)
– Phát triển đoạn:
+ Giải thích câu nói: (Câu nói khẳng định điều gì?)
(“Leo lên đỉnh núi cao” có thể hiểu là sự chinh phục những thử thách, chiếm lĩnhnhững tầm cao của con người chúng ta Còn “nhìn ngắm thế giới” là sự quan sát, pháthiện sự lớn lao cũng như tận hưởng những vẻ đẹp của thế giới, của cuộc sống xungquanh “Thế giới nhận ra các em” nghĩa là sự ghi nhận của mọi người Câu nói của thầyhiệu trưởng đã khẳng định thái độ đúng đắn của con người khi vươn tới tầm cao, đạtđược mục đích lớn lao: không phải để khẳng định thành tích mà là phải xem đó là cơ hội
để trải nghiệm, nhìn ngắm thế giới ở tầm cao hơn, rộng hơn, khái quát hơn )
+ Bàn luận: Phân tích, lí giải, chứng minh ý nghĩa câu nói:
Vì sao ta phải “Leo lên đỉnh núi cao”?
Chinh phục những đỉnh cao trong cuộc sống – dù không dễ dàng – nhưng là khátvọng cao cả, là cách thể hiện bản thân, thể hiện bản lĩnh mỗi người Khi lên tới đỉnh cao,
ta sẽ nhìn lại được khả năng của chính mình, có thêm nhiều kinh nghiệm mới
Vì sao “Leo lên đỉnh núi cao” là ta có thể “ngắm nhìn thế giới”?
Mỗi hành trình vươn đến đỉnh cao đều chứa đựng những bí ẩn thú vị, mà đi đến tậncùng, người ta mới thấu hiểu Ở tầm cao, người ta sẽ ngắm nhìn thế giới rộng hơn, kháiquát hơn và chính xác hơn
Cuộc sống không ngừng vận động, nên muốn tiến bộ, phát triển, phải nhìn ngắm thếgiới hằng ngày Đây là cái đích của sự chinh phục những đỉnh cao trong cuộc đời
Vì sao “Leo lên đỉnh núi cao” là “không phải để thế giới nhận ra” mình?
Nếu coi việc chinh phục đỉnh cao là để được mọi người ghi nhận là cái đích tối cao,con người dễ bằng lòng, thỏa mãn với những gì mình có mà không còn ý thức vươn lênnữa
Ai đã làm được điều đó – xem việc chinh phục đỉnh cao là để “nhìn ngắm thế giới”?Rất nhiều những nhà khoa học, những nhà kinh tế mà mục tiêu của họ đặt ra đểphấn đấu đạt được chứ hoàn toàn không phải để người khác nhìn thấy vai trò, tài năngcủa họ Như nhà bác học Ê – đi – xơn, mục tiêu của ông là thắp sáng lên cho cả thế giới
Trang 11Ông đặt ra mục tiêu này để theo đuổi, cống hiến hết mình cho những điều cao đẹp củacuộc đời chứ không nhằm khẳng định tên tuổi.
Cần phải phê phán những hiện tượng nào?
Thật đáng chê trách những người không biết đặt ra những “đỉnh cao”, những mụctiêu cho bản thân mình Những con người ấy sống cuộc sống như vô nghĩa, không chútcầu tiến, không chút tương lai Cũng thật đáng phê phán những ai xem việc chinh phụcđỉnh cao chỉ nhằm để khẳng định mình trước thiên hạ mà không vì mục tiêu chung chomọi người
– Kết đoạn: Bài học với bản thân.
(Câu nói của thầy hiệu trưởng đã cho tôi một bài học vô cùng sâu sắc Bản thân tôiphải đặt ra mục tiêu cho chính mình và tôi cũng nghĩ rằng, chỉ có bản thân mình mới cóthể hiểu được giá trị của những mục tiêu đó Tôi không cần người khác đánh giá mà chỉcần tôi hiểu được giá trị của chính mình – những điều tôi đang theo đuổi Tất cả nhữngđiều đó cho tôi và cho tất cả chúng ta một cuộc sống tuyệt vời.)
Dạng 2: Bàn luận về một hiện tượng đời sống
a Phân loại :
– Các hiện tượng tích cực trong đời sống: tương thân tương ái, tự học thành tài…– Các hiện tượng tiêu cực trong đời sống: ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn, tainạn giao thông, gian lân trong thi cử…
– Các hiện tượng hai mặt: đam mê thần tượng, du học rồi ở lại nước ngoài, mạng xãhội…
b Dàn ý chung:
– Mở đoạn:
+ Dẫn dắt vào hiện tượng
+ Nêu thái độ đánh giá về hiện tượng
– Thân đoạn:
+ Bước 1: Nêu rõ thực trạng, các biểu hiện cụ thể của hiện tượng trong đời sống (Nó
như thế nào?)
+ Bước 2: Nêu nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (Nguyên nhân khách quan và
chủ quan; Nguyên nhân sâu xa và trực tiếp)
+ Bước 3: Nêu thái độ đánh giá, nhận định về mặt đúng – sai, lợi – hại, kết quả –
hậu quả, biểu dương – phê phán
+ Bước 4: Biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát huy kết quả (Cần phải làm gì?) + Bước 5: Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động cho mình.
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về hiện tượng được nêu trong ýkiến trên
ĐÁP ÁN
– Mở đoạn:
Trang 12Sử dụng mạng xã hội là một nhu cầu không thể thiếu trong thời đại công nghệnhưng sự bùng phát của “đại dịch ái kỉ” do nó mang lại cũng là vấn đề được dư luận đặtra.
– Thân đoạn:
+ Giải thích, thực trạng:
Khái niệm “ái kỉ” : là chỉ căn bệnh tự yêu bản thân mình Đó được xem là mộtdạng rối loạn nhân cách khi một người có biểu hiện tự cao, ảo tưởng, thiếu đồng cảm vớingười khác
Cùng với sự phát triển của internet là hàng loạt các trang mạng xã hội ra đời nhưtwitter, zalo, vaber, facebook… kéo theo trào lưu sống ảo, đăng các thông tin, dòng trạngthái hay ảnh cá nhân để “khoe” với cộng đồng mạng
Hơn nữa, hiện tượng này dẫn đến tình trạng con người thiếu khả năng kiểm soátnhững ham muốn của bản thân nên có những hành động bất thường chỉ để thỏa mãn nhucầu cá nhân mình: ăn mặc như nhân vật mình tưởng tượng, mua sắm vật dụng cá nhânđắt tiền để chạy theo phong trào, dễ sa ngã…
Thậm chí, đây cũng là một tâm lí dẫn đến tỉ lệ tử vong cao
– Kết đoạn:
Đây là hiện tượng tiêu cực do mạng xã hội gây ra nên cần ngay lập thức chấn chỉnh,thay đổi để mỗi cá nhân có cuộc sống cân bằng, lành mạnh
Đặc biệt lưu ý : Trên đây chỉ là dàn ý chung cho đoạn văn bàn về hiện tượng đời
sống Tùy vào từng đề thi cụ thể, các em cần linh hoạt khi làm bài Có những đề thikhông nhất thiết phải triển khai đầy đủ các bước, có thể nhấn mạnh vấn đề đang bàn luận
Ví dụ : Đề bài yêu cầu anh/ chị hãy bình luận về nguyên nhân và giải pháp để khắcphục hiện tượng trên Thì chúng ta cần làm rõ nguyên nhân và đề xuất được những giảipháp đúng đắn, thuyết phục người đọc Những luận điểm phụ chỉ là tiền đề để triển khailuận điểm chính Tránh viết chung chung, dàn trải
3 Luyện tập
Trang 13Đề 1 Hãy viết một đoạn văn (Khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về
bài học được nêu trong hai câu đầu của văn bản đọc hiểu: “Tuổi trẻ là đặc ân vô giá của
tạo hóa ban cho bạn Vô nghĩa của đời người là để tuổi xuân trôi qua trong vô vọng”.
Đáp án :
Yêu cầu về hình thức
– Viết đúng một đoạn văn khoảng 200 chữ
– Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu…
Yêu cầu về nội dung
Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý sau:
+ Giải thích: Tuổi trẻ là khoảng khắc tươi đẹp tràn đầy khát vọng, cũng là thời gian
sống tận hưởng và cống hiến Nhưng tuổi trẻ lại vô cùng ngắn ngủi và khi trôi đi sẽ để lạinhiều luyến tiếc Vì vậy mỗi người phải khao khát sống hết mình, sống chủ động
+ Phân tích:
– Cuộc sống một khi đã trôi qua thì không bao giờ trở lại
– Cần theo đuổi hy vọng, ước mơ, hoài bão phái trước
– Đừng chờ đợi mà phải biết nắm bắt cơ hội và những điều thú vị
– Trân trọng những mối quan hệ tình cảm cao quý
+ Bàn luận:
– Đừng để hối hận vì lối sống buông thả không suy tính
– Tránh lối sống vị kỷ cho riêng bản thân, lối sống thích hưởng thụ
– Hành động và ứn xử chủ động, hợp lý với cuộc sống
– Không đợi chờ mà phải tự mình đem đến những thành quả
+ Bài học:
– Đừng quá vội vã mà quên mất tận hưởng cuộc sống
– Dành chút thời gia quan tâm hơn đến gia đình
– Đôi lúc cần phải sống chậm lại, lắng sâu suy nghĩ
– Sống trọn từng khoảnh khắc, hướng về tương lai
ĐÊ 2: Hãy viết đoạn văn 200 chữ bày tỏ suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến sau:
“ Trong thế gian này, chúng ta xót xa không chỉ vì lời nói và hành động của những
kẻ xấu mà còn là sự im lặng đáng sợ của những người tốt” (K L King).
- “xót xa” là một trong những cảm xúc đó Đó là cảm giác đau đớn, nhức nhối
- Con người có thể Xót xa vì cái gì?
+ Hành động và lời nói của kẻ xấu- những kẻ kém đạo đức Chúng làm nhiều việctrái với chuẩn mực đạo đức xã hội, gây tổn hại về kinh tế và đời sống tinh thần
+ Xót xa vì sự im lặng của người tốt Đó là sự im lặng đáng sợ vì đó là phản ứngbất bình thường của người người mà từ trước đến nay ta trân trọng
- Ý kiến này khẳng định: sự đau đớn, thất vọng do lời nói và hành động của kẻ xấukhông lớn bằng việc những người tốt không có bất cứ phản ứng gì trước những việc làmcủa kẻ xấu
Trang 142 Phân tích- chứng minh:
Ý 1: Xót xa vì những điều chưa tốt
- Cuộc sống là tổng hòa các mối quan hệ xã hội nên luôn luôn tồn tại hai loại người:xấu và tốt Vì thế, ta thấy đau lòng vì hàng ngày, hàng giờ vẫn có những nhiều đáng tiếcxảy ra, chà đạp lên các giá trị
4 Bài học:
* Nhận thức: Phải nhận thức rõ nhưng việc làm tốt – xấu xung quanh cuộc sốngcủa mình.Không làm ngơ trước cái xấu, cái ác
* Hành động: Hãy ủng hộ việc làm của những người tốt, hãy chia sẻ với họ, bảo vệ
họ để xã hội ngày một tốt đẹp hơn
Đề 3: “Thay đổi sẽ không đến nếu chúng ta trông chờ vào người khác hay đợi thời
điểm khác Chúng ta chính là người mà chúng ta đang chờ đợi Chúng ta chính là sự thay đổi mà chúng ta đang tìm kiếm.” (Barack Obama)
Anh/ chị hãy bàn luận về ý kiến trên
Dàn bài tham khảo:
* Mở bài: (Gián tiếp)
Một vài nét về Barack Obama: Là tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ, xuấtthân từ một người bình thường Những phát ngôn và những việc ông làm đã làm cho cảnước Mỹ và thế giới thán phục về quyền lực và khả năng của ông.Trích dẫn câu nói “Thay đổi sẽ không đến nếu chúng ta trông chờ vào người khác hayđợi thời điểm khác Chúng ta chính là người mà chúng ta đang chờ đợi Chúng ta chính là
sự thay đổi mà chúng ta đang tìm kiếm.”
Trang 152 Chứng minh:
+ Trong lịch sử: Nếu trông chờ người khác thì có lẽ thời điểm để giành lại độc lậpchủ quyền sẽ qua đi, Ngô Quyền sẽ không tạo nên chiến công hiển hách trên sông BạchĐằng, Cách mạng tháng Tám sẽ không có tên trong lịch sử nước nhà những con ngườiđứng lên đúng lúc để tự giải thoát cho chính mình…
+ Đời người ngắn chẳng tày gang, tuổi trẻ cũng không dài, nếu không thay đổingay bây giờ, tuổi trẻ sẽ qua đi mất Cá nhân Barack Obama đã từng bị Đại họcSwarthmore từ chối khi nộp đơn ứng tuyển, ông đã tự cho mình thêm một cơ hội với việcnhập học trường Occidental, sau đó lần lượt trở thành sinh viên hai ngôi trường danhtiếng Đại học Colombia và Harvard, rồi trở thành vị tổng thống quyền lực nhất nướcMỹ…
Thay đổi, không nhất thiết phải trở thành người vĩ đại như họ Thay đổi chính làvượt lên chính bản thân, đạt được mục đích, dù không phải là trở thành tổng thống, haytrở thành một vĩ nhân được cả đát nước nhìn nhận, thì đó cũng vẫn là thành công của bảnthân Mục đích được học tại một trường đại học nào đó, mục đích được đến một vùng đấtnào đó, hay mục đích chỉ nhỏ như sẽ mua được một món đồ yêu thích, thì tất cả đều cần
sự thay đổi, nỗ lực từ trong chính bản thân ta…
Tại sao “Chúng ta chính là sự thay đổi mà chúng ta đang tìm kiếm”?Bởi vì chính ta mới biết bản thân cần gì, thiếu gì, nên thay đổi như thế nào Ta không thểbảo người khác làm gì đó cho mình, nhưng chính ta có thể điều khiển bản thân mình, tự
cố gắng, tự động viên, tự thay đổi cuộc sống theo ý muốn của mình
3 Liên hệ mở rộng
- Phản đề: Điều đó không có nghĩa là một mình chúng ta có thể thay đổi được tất
cả Có rất nhiều mục đích, mong muốn cần phải có sự hợp sức của rất nhiều người Ví dụnhư xây dựng một khu phố sạch đẹp, như tạo nên một môi trường văn minh,… “Một câylàm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”…
- Kết luận: Như vậy câu nói của Barack Obama như một châm ngôn sống đúng
đắn, nhắc nhở con người, nhất là giới trẻ, cần tận dụng tuổi trẻ của mình, sống năngđộng, thay đổi bản thân, thay đổi thế giới theo hướng tốt đẹp hơn, theo mong muốn củachính mình Thụ động chờ đợi một ai đó ở một thời điểm khác, có thể sẽ muộn mất
Liên hệ bản thân
II NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
1 Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ
1.1 Đối tượng của bài văn nghị luận về thơ
Rất đa dạng: một bài thơ, một đoạn thơ, hình tượng thơ,…Với kiểu bài này, cần tìm hiểu từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu, cấu tứ,…của bài thơ, đoạn thơ đó
1.2 Cách làm bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Trang 16- Dẫn đề: Nêu nội dung, nghệ thuật và trích dẫn bài thơ, đoạn thơ.
Thân bài :
Lần lượt phân tích, chứng minh những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ -> khi phân tích cần kết hợp cả nội dung và nghệ thuật (phân tích, chứng minh)
- Bình giảng bài thơ, đoạn thơ (chọn một vài chi tiết, hình ảnh)
- Đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ
Kết bài :
- Khẳng định giá trị của bài thơ, đoạn thơ đóng góp của nhà thơ
- Liên hệ bản thân, rút ra bài học
Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành…”
(Tây Tiến-Quang Dũng, SGK Ngữ văn 12, tập một, trang 89)
Gợi ý làm bài
* Giới thiệu về tác giả, tác phẩm
- Ông là một người tài hoa: làm thơ, viết văn, sáng tác nhạc và có vẽ tranh
- Thơ ông vừa hồn nhiên, vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậmchất lãng mạn
- Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợpvới bộ đội Lào biên giới Việt – Lào với địa bàn hoạt động rộng lớn từ Sơn La, Lai Châu,Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa đến tận bên kia biên giới Việt – Lào
- Rời xa đơn vị cũ cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh (Hà Đông cũ), Quang Dũngnhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến nên viết lên bài thơ này Bài thơ lúc đầu có
tên là “Nhớ Tây Tiến”, in trong tập “Mây đầu ô” (NXB Hà Nội, 1986)
* Vẻ đẹp ngoại hình cuả người lính
+ “đoàn binh không mọc tóc”: đó là do những trận sốt rét rừng làm cho nhữngmái tóc không còn nữa
=> Thế nhưng cách nói " không mọc tóc" đầy ngang tàn và hiên ngang
+ “mắt trừng”: đó là ánh mắt đầy dữ dằn và nghiêm nghị và đầy tinh thần cảnhgiác
Trang 17+ “đoàn binh”: gợi hình ảnh một tập thể vững mạnh
=> Ở đây có sự đối lập giữa ngoại hình và tinh thần Hoàn cảnh khó khăn khôngngăn cản được ý chí nghị lực của người lính
* Vẻ đẹp hào hoa, đa tình, lãng mạn của những người lính trẻ
- “gửi mộng”, “đêm mơ”: lính Tây Tiến là những con người mơ mộng, là những
người trai xuất thân từ đất Hà thành nên họ mang vào chiến trường không chỉ có tinhthần dũng cảm mà còn cả vẻ đẹp hào hoa và lãng mạn
- “dáng Kiều thơm” gợi hình ảnh những thiếu nữ Hà Nội yêu kiều, kiêu sa, hìnhbóng người thương của lính Tây Tiến Đó là nguồn động lực để họ chiến đấu và chiếnthắng nơi chiến trường
=> Mặc dù trong hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt họ vẫn giữ được những nét hàohoa, lãng mạn vốn có của những thanh niên trí thức đất Hà Thành
* Vẻ đẹp lý tưởng sống của người lính Tây tiến
- Họ là những người lính hiên ngang và dũng cảm luôn cố gắng chiến đấu, sẵn sàng
xả thân vì nước, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh
* Bút lãng mạn, thấm đẫm tinh thần bi tráng của nhà thơ Quang Dũng được thể hiện qua đoạn thơ.
- Vẻ đẹp lãng mạn thể hiện trên những phương diện: cái tôi trữ tình tràn đầy tình
cảm, cảm xúc, sử dụng những yếu tố cường điệu, thủ pháp đối lập để tô đậm những cáiphi thường, sử dụng triệt để thủ pháp đối lập
- Cái bi là sự gian khổ, hi sinh Cái tráng là sự hào hùng, tráng lệ Cái chết, sự hisinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ miêu tả thật trang trọng Cái chết ấy đãtạo được sự cảm thương sâu sắc ở thiên nhiên Và dòng sông Mã đã trân trọng đưa tiễnlinh hồn người lính bằng cách tấu lên khúc nhạc trầm hùng
– Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã làm nổi bật hình ảnh những người línhTây Tiến trong đoạn thơ này thấm đẫm tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng,mang dáng vẻ của những anh hùng kiểu chinh phu thuở xưa một đi không trở lại
2 Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
Trang 182.3 Ví dụ
Trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân có đoạn:
“Hắn chắp hai tay sau lưng lững thững bước ra sân Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa xói vào hai con mắt còn cay xè của hắn Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng Mấy chiếc quần
áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp Đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã hót sạch
Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn
có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà.”
(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, 2013,tr 28-29)
Anh/chị hãy phân tích nhân vật Tràng trong đoạn trích trên Từ đó nhận xét về nghệ
thuật xây dựng hình tượng nhân vật qua đoạn trích
-
HẾT-Gợi ý làm bài
Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
+ Kim Lân là nhà văn của người nông dân, là cây bút của đồng ruộng
+ Truyện ngắn Vợ nhặt của ông thể hiện sự am hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm línhững người ở thôn quê: dù cuộc sống có tăm tối đến đâu họ vẫn khao khát sống, yêuthương đùm bọc nhau, vẫn hi vọng vào tương lai
Thân bài:
a Khái quát về truyện ngắn, đoạn trích
- Vợ nhặt được coi là kiệt tác trong sự nghiệp sáng tác của Kim Lân, cũng là mộttruyện ngắn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại Tiền thân của truyện ngắn Vợ nhặt
là một chương trong tiểu thuyết Xóm ngụ cư viết ngay sau 1945 Tới 1954, Kim Lân dựavào một phần cốt truyện cũ để viết Vợ nhặt Do đó, tác phẩm không chỉ là kết quả mộtquá trình suy ngẫm, gọt giũa về cả nội dung và nghệ thuật mà còn mang âm hưởng lạcquan của thời đại mới trong thời điểm đất nước được giải phóng sau năm 1954
- Đoạn trích thuộc phần cuối của truyện, diễn tả tâm trạng của bà cụ Tứ khi Tràngdẫn vợ về và khi bà nói chuyện với nàng dâu mới Đoạn trích diễn tả sâu sắc tâm trạngcủa nhân vật bà Tràng, đồng thời thể hiện Nghệ thuật xây hình tượng đặc sắc của nhà vănkim lân
* Phân tích tâm trạng nhân vật Tràng
- Hoàn cảnh: Buổi sáng đầu tiên sau khi “nhặt vợ”
- Tâm trạng:
Trang 19- Trong buổi sáng hôm sau, anh Tràng đã có những cảm xúc mới mẻ cùng nhữngcảm nhận lần đầu có
– Tràng nhận ra mọi thứ xung quanh cũng đổi khác “có cái gì vừa thay đổi mới lạ”– Nhìn cảnh mẹ và vợ đang lúi húi dọn dẹp Tràng, hình ảnh bình dị nhưng lại khiếncho Tràng xúc động, Tràng thấy cuộc sống của mình thay đổi hẳn:
+ Những suy nghĩ của hắn cũng trở nên trưởng thành, chín chắn hơn
+ Tràng cảm thấy mình phải có trách nhiệm với vợ con, với gia đình nhỏ của mình
“Bỗng nhiên ắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng
+ Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Thành công của việc xây dựng hình tượng Tràng đó là tác giả đã dựng nên tìnhhuống truyện độc đáo; nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, sinh động, hấp dẫn; ngônngữ mộc mạc giản dị, tạo sức gợi; miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sắc sảo…; trần thuậthấp dẫn
- Ý nghĩa của những thay đổi trong suy nghĩ của Tràng: Sự thay đổi của nhân vậtTràng trong buổi sáng hôm sau vợ về nhà đã tiếp nối mạch diễn biến của câu chuyện,đồng thời thể hiện sự trân trọng của nhà văn Kim Lân đối với nhân vật của mình cũng là
sự trân trọng sâu sắc với những người dân nghèo khổ nhưng có khát khao sống mạnh mẽ
3 Kết bài
Có thể khẳng định, với truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân đã tạo dựng cho mình mộtchỗ đứng bền lâu trong lòng người đọc bởi truyện đặt ra một vấn đề mang tính nhân vănsâu sắc và chuyển tải vấn đề ấy bằng một giọng văn hóm hỉnh, nhẹ nhàng; bởi nghệ thuậtxây dựng hình tượng nhân vật đặc sắc của tác giả
PHẦN IV VĂN BẢN VĂN HỌC KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM
Trang 20- Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước tự do, độc lập → Văn học vậnđộng và phát triển thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
- Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ suốt 30 năm đãtác động sâu sắc và mạnh mẽ đến đời sống vật chất và tinh thần của toàn dân tộc (trong
đó có văn học)
- Điều kiện giao lưu văn hoá với các nước ngoài bị hạn chế, chỉ giới hạn trongmột số nước
2) Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
a Chặng đường từ năm 1945 đến năm 1954
Nội dung :
- Chủ đề bao trùm sáng tác văn học trong những ngày đầu đất nước giành được độclập là ca ngợi Tổ Quốc và quần chúng cách mạng, kêu gọi tinh thần đoàn kết toàn dân, cổ
vũ phong trào Nam tiến, biểu dương những tấm gương vì nước quên mình
- Từ cuối năm 1946, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dânPháp Đến với cách mạng và kháng chiến, nhiều văn nghệ, nhiều nghệ sĩ đã thể hiện lòngyêu nước và tinh thần dân tộc, đưa văn nghệ thâm nhập đời sống thực tế, đã góp phầnkhơi nguồn cảm hứng sáng tạo của nhà văn và tạo nên những thành tựu đặc sắc của vănnghệ kháng chiến
- Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến: hướng tới đạichúng, phản ánh sức mạnh của quần chúng nhân dân: thể hiện niềm tự hào dân tộc vàniềm tin vào tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến
Thành tựu ở từng thể loại :
Truyện kí :
- Truyện ngắn và ký là những thể loại mở đầu cho văn xuôi kháng chiến, chống thực
dân Pháp Kí sự Một lần tới Thủ Đô, Trận phố Ràng của Trần Đăng, truyện ngắn Đôi
mắt và nhật ký Ở rừng của Nam Cao, truyện ngắn Làng của Kim Lân, Thư nhà của Hồ
Phương, là những tác phẩm tiêu biểu
- Từ năm 1950, đã bắt đầu xuất hiện những tập truyện, kí khá dày dặn Đáng chú ý
là các tác phẩm được tặng giải thưởng truyện – kí của Hội văn nghệ Việt Nam năm
1951-1952: Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng và các tác phẩm được tặng giải Nhất trong giải thưởng truyện – kí năm 1954-1955: Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc,
Truyện Tây Bắc của Tô Hoài.
Thơ : Những tác phẩm xuất sắc của thơ kháng chiến là Cảnh khuya,
Rằm tháng giêng (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh, Đèo Cả của Hữu Loan, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm,Tây Tiến của Quang Dũng, Nhớ của Hồng Nguyên, Đất Nước
của Nguyễn Đình Thi, Bao giờ trở lại của Hoàng Trung Thông, Đồng chí của Chính Hữu
và đặc biệt là tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Trang 21 Kịch : Một số vở kịch ra đời phản ánh hiện thực cách mạng và kháng
chiến Bắc Sơn, Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng, Chị Hòa của Học Phi là
những vở được chú ý trong chặng đường này
Lí luận, phê bình : Lí luận nhưng đã có một số sự kiện và tác phẩm có
ý nghĩa quan trọng Bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và Vấn đề văn hóa Việt Nam (1948) của
Trường Chinh, Hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc (1949) có ý nghĩa định hướng
cho văn học nghệ thuật Bài tiểu luận Nhận đường và tập Mấy vấn đề nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi, tập phê bình, tiểu luận Nói chuyện thơ ca kháng chiến và Quyền sống
con người trong “Truyện Kiều” của Hoài Thanh, Giảng văn “Chinh phụ ngâm” của
Đặng Thai Mai, là những tác phẩm tiêu biểu
b Chặng đường từ năm 1955 đến năm 1964
- Nhiều tác phẩm văn học đã thể hiện tình cảm sâu nặng với niềm Nam ruột thịt, nóilên nỗi đau chia cắt và thể hiện ý chí thống nhất đất nước
Thành tựu ở từng thể loại :
Truyện kí :
- Văn xuôi mở rộng đề tài, bao quát được khá nhiều vần đề và phạm vi của hiện thực
đời sống : Đi nước nữa của Nguyễn Thế Phương, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Anh Keng của Nguyễn Kiên; tiểu thuyết Sống mãi với Thủ Đô của Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm
cuối cùng của Hữu Mai, Trước giờ nổ súng của Lê Khâm
- Ngoài ra còn có những truyện ngắn, tiểu thuyết viết về hiện thực đời sống trước
Cách Mạng với cái nhìn, khả năng phân tích và sức khái quát mới: Vợ nhặt của Kim Lân,
Tranh tối tranh sáng của Nguyễn Công Hoan, Mười năm của Tô Hoài, Phất của Bùi Huy
Phồn Những bộ tiểu thuyết: Vỡ bờ (hai tập) của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển (bốn tập)
- Thơ ca đã có được một mùa gặt bội thu với các tập Gió lộng của Tố Hữu, Ánh
sáng và phù sa của Chế Lan Viên, Riêng chung của Xuân Diệu, Đất nở hoa, Bài thơ Hắc Hải của Nguyễn Đình Thi, Những cánh buồm của Hoàng Trung Thông,
Trang 22- Nỗi đau chia cắt đất nước, nỗi nhớ quê hương và khát vọng giải phóng miền Nam
là nguồn cảm hứng của nhiều bài thơ đặc sắc của Tố Hữu, Tế Hanh, Nguyễn Bính Ngaytrên tuyến đầu chống Mĩ, đã sớm xuất hiện những bài thơ hay, xúc động về miền Nam
yêu thương và anh dũng như Mồ anh hoa nở của Thanh Hải và Quê hương của Giang
Nam
Kịch : Kịch nói cũng có một số tác phẩm được dư luận chú ý như Một
đảng viên của Học Phi, Ngọn lửa của Nguyễn Vũ, Quẫn của Lộng Chương, Chị Nhàn và Nổi gió của Đào Hồng Cẩm.
c Chặng đường từ năm 1965 đến năm 1975
- Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Giấc
mơ ông lão vườn chim, Hòn Đất của Anh Đức, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, Rừng U Minh của Trần Hiếu Minh, Mẫn và tôi của Phan Tứ, đã tạo được sự hấp dẫn
người đọc trong những năm chống Mĩ
- Ở miền Bắc, truyện kí cũng phát triển mạnh Tiêu biểu là kí chống Mĩ của NguyễnTuân : truyện ngắn của Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên, Vũ Thị Thường, Đỗ Chu;
tiểu thuyết Vùng trời (ba tập) của Hữu Mai, Cửa sông và Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Chiến sĩ của Nguyễn Khải, Bão biển (hai tập) của Chu Văn.
- Nhiều tập thơ có tiếng vang, tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn như Ra trận, Máu và
hoa của Tố Hữu, Hoa ngày thường – Chim báo bão và những bài thơ đánh giặc của Chế
Lan Viên, Hai đợt sóng, Tôi giàu đôi mắt của Xuân Diệu, Dòng sông trong xanh của Nguyễn Đình Thi, Đầu súng trăng treo của Chính Hữu, Cửa mở của Việt Phương, Vầng
trăng quần lửa và Thơ một chặng đường của Phạm Tiến Duật, Đất ngoại ô và Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Gió Lào cát trắng của Xuân Quỳnh, Hương cây – Bếp lửa của Lưu Quang Vũ và Bằng Việt, Cát trắng của Nguyễn Duy, Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa
- Lịch sử thơ ca chặng đường này đặc biệt ghi nhận sự xuất hiện và những đóng gópcủa thế hệ các nhà thơ trẻ đã đem đến cho nên thơ Việt Nam hiện đại một tiếng thơ mới;trẻ trung, sôi nổi mà vẫn thấm đượm chất suy tư, triết luận Đó là Phạm Tiến Duật,Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Nguyễn Mỹ, XuânQuỳnh, Thanh Thảo, Hũu Thỉnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn ĐứcMậu, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Đăng Khoa
Trang 23Kịch cũng có những thành tựu đáng ghi nhận: Quê hương Việt Nam và Thời tiết
ngày mai của Xuân Trình, Đại đội trưởng của tôi của Đào Hồng Cẩm, Đôi mắt của Vũ
Dũng Minh,… là những vở tạo được tiếng vang lúc bấy giờ
Lí luận, phê bình :
Chặng đường này, nhiều công trình nghiên cứu, lí luận, phê bình xuất hiện Có giátrị hơn cả là những công trình của Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế LanViên, Lê Đình Kỵ
d Nói đến văn học Việt nam từ năm 1945 đến năm 1975 cần phải lưu ý tới văn học vùng địch tạm chiếm, tức là văn học dưới chế độ thực dân (cũ hoặc mới)
3) Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
a Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước
- Nền văn học mới được khai sinh cùng sự ra đời của nhà nước nhân dân còn nontrẻ, lại trải qua ba mươi năm chiến tranh ác liệt chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, vận
nước có lúc ngàn treo sợi tóc nên sớm được kiến tạo theo mô hình “Văn hóa nghệ thuật
cũng là một mặt trận” (Hồ Chí Minh) cùng với kiểu nhà văn mới: nhà văn- chiến sĩ
- Khuynh hướng tư tưởng chủ đạo của nền văn học mới là tư tưởng cách mạng, vănhọc trước hết phải là một thứ vũ khí phục vụ sự nghiệp cách mạng Ý thức trách nhiệmcông dân của người nghệ sĩ được đề cao Gắn bó với dân tộc, với nhân dân và đất nước,dùng nòi bút để phục vụ kháng chiến, cỗ vũ chiến đấu là đòi hỏi, yêu cầu của thời đại,đồng thời cũng là tình cảm, ý thức tự giác của nhà văn
- Gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước nên quá trình vận động, pháttriển của nền văn học mới ăn nhịp với từng chặng đường lịch sử của dân tộc, theo sáttừng nhiệm vụ chính trị của đất nước
b Nền văn học hướng về đại chúng
- Cách mạng và kháng chiến đã làm thay đổi hẳn cách nhìn nhân dân của nhiều nhàvăn: đồng thời hình thành ở họ một quan niệm mới về đất nước: đất nước của nhân dân.Chính nhân dân đã xây dựng, gìn giữ và bảo vệ đất nước bằng mồ hôi, nước mắt và máuxương của mình qua hàng nghìn năm lịch sử Đó là cảm hứng chủ đạo, là chủ đề củanhiều tác phẩm viết về đất nước trong văn học giai đọan này
- Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 quan tâm tới đời sống của nhân dânlao động, nói lên nỗi bất hạnh của những người lao động nghèo khổ bị áp bức, bóc lộttrong xã hội cũ cũng như niềm vui, niềm tự hào của họ về cuộc đời mới Nhiều tác phẩm
đã thể hiện con đường tất yếu đến với cách mạng của những người dân lao động bị dồnđẩy đến bước đường cùng, phát hiện ở họ khả năng cách mạng và phẩm chất anh hùng.Nền văn học mới cũng tập trung hình tượng quần chúng cách mạng, miêu tả tâm hồn củanhân dân lao động Có thể nói, đó là một nền văn học có tính nhân văn sâu sắc và nộidung nhân đạo mới
- Hướng về đại chúng, văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 phần lớn lànhững tác phẩm ngắn gọn, nội dung dễ hiểu, chủ đề rõ ràng Văn học cũng thường tìm
Trang 24đến những hình thức nghệ thuật quen thuộc với nhân dân ở ngay trong kho tàng văn hóadân gian và văn học truyền thống Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, trong sáng, dễ hiểu đốivới nhân dân.
c Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Khuynh hướng sử thi :
- Đề tài sử thi gắn với những vấn đề liên quan đến vận mệnh của cộng đồng
- Nhân vật sử thi là những con người đại diện cho cộng đồng, kết tinh các phẩm chấtcao quý của cộng đồng, số phận gắn với số phận của cộng đồng – sống chết cùng cộngđồng
- Con người được khám phá ở bổn phận trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, ở lẽ sốnglớn và tình cảm lớn
- Lời văn sử thi mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hàohùng
Cảm hứng lãng mạn :
- Khẳng định phương diện lý tưởng của cuộc sống và vẻ đẹp của con người mới
- Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng
- Tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc
II VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ NĂM 1975 ĐẾN HẾT THẾ KỶ XX
1) Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa
- Chiến thắng mùa xuân 1975, lịch sử dân tộc lại mở ra một thời kỳ mới - thờI kỳđộc lập, tự do và thống nhất đất nước
- Từ 1986, bước vào công cuộc đổi mới, tiếp xúc rộng rãi với nhiều nền văn hoá trênthế giới
- Phong trào nói thẳng, nói thật được phát động sôi nổi
- Quan điểm văn nghệ của Đảng: Văn học là nhu cầu văn hoá thiết yếu của conngười
2) Những chuyến biến và một số thành tựu ban đầu
Nội dung :
- Từ năm 1975 và nhất là từ năm 1986, văn học Việt Nam từng bước chuyển sanggiai đọan mới Có thể xem từ năm 1975 đến năm 1985 là chặng đường văn học chuyểntiếp, trăn trở, tìm kiếm con đường mới Còn từ năm 1986 trở đi là chặng đường văn họcđổi mới mạnh mẽ, sâu sắc và khá toàn diện
- Nhìn chung, văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỷ XX đã vận động theokhuynh hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản, nhăn văn sâu sắc Văn học phát triển đadạng hơn về đề tài, chủ đề; phong phú và mới mẻ hơn về thủ pháp nghệ thuật Văn họcgiai đoạn này đã đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận, cách tiếpcận con người và hiện thực đời sống, đã khám phá con người trong những mối quan hệ
đa dạng và phức tạp, thể hiện con người ở nhiều phương tiện của đời sống, kể cả đờisống tâm linh Cái mới của văn học giai đoạn này là tính chất hướng nội, quan tâm nhiềuhơn tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp, đời thường
Trang 25- Văn học từ năm 1975 đến hết thế kỷ XX, bên cạnh những mặt tích cực và nhữngtìm tòi đúng hướng, cũng nảy sinh một vài xu hướng tiêu cực, những lúng túng, bất cập,thiếu lành mạnh.
- Nới tới văn học Việt Nam giai đoạn này, cũng cần chú ý đến một số sáng tác cógiá trị của những cây bút người Việt sống ở nước ngoài
Thành tựu ở từng thể loại :
Truyện kí :
- Nguyễn Trọng Oánh với Đất trắng, Thái Bá Lợi với Hai người trở lại trung đoàn;
Đứng trước biển và Cù lao tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Cha và con, và …, Gặp gỡ
cuối năm của Nguyễn Khải, Mưa mùa hạ và Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn
Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu; những tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành và Bến quê của Nguyễn Minh Châu, phóng sự của Nguyễn Hùng Gia Lộc,
Trần Huy Quang Các, Trần Khắc, Hoàng Minh Tường, Văn xuôi thực sự khởi sắc với
những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao như các tập truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa,
Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Hiệp; tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
- Kí cũng phát triển, có được thành tựu mới như bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, hồi kí Cát bụi chân ai và Chiều chiều của Tô Hoài
Từ sau năm 1975, thơ không tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn như ở giai đoạn trước
Tuy nhiên, vẫn có ít nhiều tác phẩm tạo được sự chú ý của người đọc: Di cảo của Chế Lan Viên, trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Đường tới thành phố của Hữu Thịnh, Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu, Tự hát của Xuân Quỳnh, Người
đàn và ngồi đàn của Ý Nhi, Thư mùa đông của Hữu Thỉnh, Ánh trăng của Nguyễn Duy, Xúc xắc mùa thu của Hoàng Nhuận Cầm, Nhà thơ và hoa cỏ của Trần Nhuận Minh, Gọi nhau qua vách núi của Thi Hoàng Những cây bút làm thơ thuộc thế hệ các nhà thơ sau
năm 1975 xuất hiện ngày càng nhiều, đã và đang từng bước khẳng định vị trí của mình,
tiêu biểu là Y Phương với tập Tiếng hát tháng giêng, Nguyễn Quang Thiều với tập Sự
mất ngủ của lửa,
Kịch nói từ sau năm 1975 phát triển khá mạnh mẽ Một số tác phẩm đã gây được
tiếng vang là Hồn Trương Ba, da hàng thịt và Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ, Mùa
hè ở biển của Xuân Trình
Lí luận, phê bình :
Lí luận, nghiên cứu, phê bình văn học cũng có sự đổi mới Về đội ngũ, ngoài nhữngcây bút có tên tuổi từ trước, đã xuất hiện một số người viết trẻ có triển vọng Do đượctiếp cận với nhiều nguồn thông tin mới, nhiều tiêu chí đánh giá văn học, hệ thống cáckhái niệm được vận dụng trong nghiên cứu, phê bình đã được điều chỉnh và bổ sung.Nhiều nhà nghiên cứu, lí luận, phê bình đã có ý thức tự giác cao hơn trong việc đổi mới
Trang 26phương pháp tiếp cận đối tượng Giá trị nhân văn, ý nghĩa nhân bản và chức năng thẩm
mĩ của văn học được đặc biệt chú ý
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Hồ Chí Minh
PHẦN MỘT: TÁC GIẢ
I VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ:
1) Thân thế: Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5 1890, xuất thân trong gia đình nhà Nho,
quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Thân phụ là cụ Phó bảng NguyễnSinh Sắc, thân mẫu là cụ bà Hoàng Thị Loan
2) Hoạt động:
- Từng dạy học ở trường Dục Thanh , Phan Thiết
- Năm 1911, ra nước ngoài tìm đường cứu nước
- Năm 1919, gửi tới Hội nghị hòa bình ở Véc-xay bản yêu sách của nhân dân ViệtNam
- 1920, dự Đại hội Tua, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp
- Từ 1923- 1941, Nguyễn Ái Quốc hoạt động chủ yếu ở nước ngoài, thành lập nhiều
tổ chức Cách Mạng tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Tháng 2- 1941, Người về nước, lãnh đạo phong trào Cách mạng
- Ngày 13-8-1942, Người sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế thì bịbọn Tưởng Giới Thạch bắt giam Sau khi ra tù, Bác về nước tiếp tục lãnh đạo Cáchmạng Việt Nam tiến tới thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945
- Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa
- Bác được bầu làm Chủ tịch nước từ Quốc hội khóa đầu tiên (1946) cho đến khiNgười từ trần (1969)
II SỰ NGHIỆP VĂN HỌC:
Hồ Chí Minh không chỉ để lại cho dân tộc một sự nghiệp Cách mạng vĩ đại màNgười còn để lại một di sản văn học vô giá
- Văn hóa tư tưởng là một mặt trận
- Thơ văn phải có tính chiến đấu
b Hồ Chí Minh luôn chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học:
Yêu cầu của Bác đối với các nhà văn:
Trang 27- Miêu tả cho hay, chân thật và hùng hồn.
- Giữ tình cảm chân thật
- Phát huy cốt cách dân tộc
Bác luôn đề cao sự sáng tạo của người nghệ sĩ
c Khi cầm bút, phải xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức:
- Người luôn đặt các câu hỏi: Viết cho ai?, Viết để làm gì?, Viết cái gì? và Viết thế
- Nhiều bài văn chính luận bằng tiếng Pháp đăng trên báo Người cùng khổ, Nhân
đạo, Đời sống thợ thuyền, nổi tiếng nhất là Bản án chế độ thực dân Pháp
- Nội dung: lên án bọn thực dân Pháp với chính sách tàn bạo và tố cáo những tội áccủa chúng đối với các dân tộc thuộc địa
- Nghệ thuật: cứ liệu chân thực, chính xác, tình cảm sâu sắc, châm biếm đả kích sắcsảo, giàu chất trí tuệ
- Không thể quên Tuyên ngôn độc lập, một văn kiện lịch sử trọng đại, một áng văn chính luận mẫu mực; Lời kêu gọi toàn quiốc kháng chiến viết trong giờ phút thử thách đặc biệt của dân tộc; Không có gì quý hơn độc lập tự do thể hiện sâu sắc tiếng gọi của non sông đất nước; Di chúc để lại tấm lòng thương yêu vô hạn của Bác dành cho nhân
dân và đề ra chiến lược phát triển đất nước
b Truyện và kí:
- Những truyện ngắn Bác viết bằng tiếng Pháp đăng báo ở Pa-ri: Lời than vãn của
bà Trưng Trắc (1922), Vi hành (1923) Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu
- Ngục trung nhật kí: tập nhật kí bằng thơ được Người viết lúc bị chính quyền
Tưởng Giới Thạch giam cầm (mùa thu 1942 đến mùa thu 1943), Bác đã ghi chép lạinhững điều tai nghe mắt thấy ở nhà ltù Trung Quốc và trên đường chuyển lao, qua đóphản ánh bộ mặt thối nát của xã hội Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch Tác phẩm còn
là bức chân dung tự họa phản ánh vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của người chiến sĩ cộng
Trang 28sản Hồ Chí Minh Tập thơ đa dạng và linh hoạt về bút pháp, kết tinh giá trị tư tưởng vànghệ thuật thơ ca của Người.
- Những bài thơ chữ Hán Bác viết trong nhiều thời điểm, đặc biệt là những bài viết
trong thời kháng chiến như Nguyên tiêu, Báo tiệp, Thướng sơn thể hiện tình yêu đất
nước, yêu thiên nhiên sâu sắc và luôn tràn đầy tinh thần lạc quan
Tiếng Việt :
- Những bài thơ nhằm mục đích tuyên truyền Cách mạng: Dân cày, Công nhân, Ca
binh lính, Ca sợi chỉ có nội dung giản dị, dễ hiểu để mọi người có thể thực hiện được.
- Những bài thơ nghệ thuật: Pác Bó hùng vĩ, Tức cảnh Pác Bó, Cảnh khuya, Cảnh
rừng Việt Bắc vừa cổ điển, vừa hiện đại
- Nổi bật trong thơ là hình ảnh một nhân vật trữ tình rất yêu nước, tâm hồn hòa hợpvới thiên nhiên, một phong thái ung dung mà rất bản lĩnh của một nhà cách mạng, luôntin vào tương lai tất thắng của cách mạng
b Truyện và kí: rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ, nghệ thuật trào
phúng sắc bén, tiếng cười nhẹ nhàng, hóm hỉnh mà thâm thúy
c Thơ ca: Những bài thơ tuyên truyền có lời lẽ giản dị mộc mạc, dễ nhớ, mang màu
sắc dân gian hiện đại Những bài thơ nghệ thuật viết theo cảm hứng thẩm mỹ, thường làthơ tứ tuyệt, mang đặc điểm thơ cổ phương Đông
Phong cách chung:
- Cách viết ngắn gọn, trong sáng, giản dị.
- Sử dụng linh họat các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật khác nhau nhằm thể hiện một cách nhuần nhị và sâu sắc nhất tình cảm của người cầm bút
Trang 29- Ngày 2-9-1945, trên quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Bác thay mặt Chính phủ lâmthời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước ViệtNam mới.
- Tình hình hiện tại: phía Nam, quân đội Pháp theo chân quân Đồng minh âm mưutái xâm lược nuóc ta; phía Bắc, bọn Mỹ nấp sau quân Tưởng Giới Thạch lăm le xâmchiếm Việt Nam
- Đây không chỉ là lời tuyên bố với nhân dân Việt Nam mà còn với nhân dân thếgiới, phe Đồng minh, cả những kẻ thù của dân tộc về quyền độc lập của dân tộc ta
2) Giá trị :
- Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn : là lời tuyên bố xóa
bỏ chế độ thực dân, phong kiến, giáng một đòn mạnh vào dã tâm nô dịch nước ta của cáclực lượng thù địch và cơ hội quốc tế; là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳngcủa dân tộc ta trên toàn thế giới, là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do trênđất nước ta
- Tuyên ngôn Độc lập là một tác phẩm chính luận đặc sắc với sức mạnh và tínhthuyết phục của tác phẩm được thể hiện chủ yếu ở cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén,bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc
- Tuyên ngôn Độc lập còn là một áng văn tâm huyết của Hồ Chí Minh, hội tụ vẻ đẹp
tư tưởng và tình cảm của Người, đồng thời kết tinh khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự
do của dân tộc ta
c Đoạn 3: phần còn lại: Tuyên bố độc lập tự do và quyết tâm bảo vệ độc lập tự do.
II NỘI DUNG CƠ BẢN :
1) Cơ sở pháp lý của bản Tuyên ngôn:
- Bác trích dẫn hai bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ và bản Tuyên ngôn
về Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Pháp Hai đoạn trích này đều đề cập đếnquyền tự do, bình đẳng của con người Từ nguyên tắc bình đẳng tự do ấy , Bác đã suyrộng ra về quyền bình đẳng tự do của mọi dân tộc trên thế giới.Điều đó không chỉ khẳngcho dân tộc ta mà Người còn cho các dân tộc thuộc địa khác thấy để họ đứng lên đấutranh, đây cũng là sự đóng góp to lớn của Bác vào cuộc đấu tranh chung của quốc tế
- Trích dẫn các bản tuyên ngôn cũng là biện pháp dùng"gậy ông đập lưng dùng chính lời lẽ của tổ tiên người Pháp, người Mỹ để ngăn chặn âm mưu xâm lược củachúng, nhất là đập tan luận điệu xảo trá của thực dân Pháp: Đông Dương là đất "bảo hộ",
ông"-là nơi mà chúng có công "khai hóa" nên việc chúng trở lại Việt Nam ông"-là lẽ đương nhiên
- Khẳng định "đó là những lẽ phải không ai chối cãi được" cũng ngầm khẳng định với
thế giới cuộc Cách mạng tháng Tám của ta cũng ngang hàng với các cuộc cách mạng của
Trang 30Pháp và Mỹ; bản Tuyên ngôn cuả ta sắp tuyên bố cũng là những lẽ phải mà mọi ngườiphải công nhận.
2) Cơ sở thực tế của bản Tuyên ngôn:
a Thực tế tội ác của thực dân Pháp:
-Với biện pháp liệt kê, Bác đã tố cáo những tội ác của thực dân Pháp ở từng phương
diện chính trị, kinh tế một cách cụ thể, chi tiết Điệp từ "chúng" được nhắc lại nhiều lần kết hợp với cách so sánh "nhà tù nhiều hơn trường học", cách dùng từ có hình ảnh "chúng tắm
các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu","bóc lột dân ta đến xương tủy" tội ác của
giặc được Bác tố cáo mạnh mẽ, đanh thép hơn
- Việc Pháp đầu hàng, bán nước ta cho Nhật và khủng bố Việt Minh cũng được Bác
đưa ra thời gian cụ thể nên giàu sức thuyết phục Dạng câu tăng tiến "chẳng những chúng
không , trái lại, chúng còn ", "thậm chí chúng còn " làm cho lý lẽ thêm sắc bén.
b Thực tế hành động của nhân dân ta:
- Thái độ khoan hồng của ta đối với Pháp, đó là truyền thống nhân đạo của dân tộcViệt Nam
- Từ mùa thu 1940, ta đã thành thuộc địa của Nhật và ta đã giành chính quyền, lấylại nước từ tay Nhật
- Dân ta đã đánh đổ xiềng xích tực dân và chế độ quân chủ để có độc lập Biện pháp
điệp cấu trúc "sự thật là” mở đầu câu, và cấu trúc tăng tiến "dân ta đã đánh đổ, ”, "dân ta
lại đánh đổ ” vừa khẳng định mạnh mẽ thực tế, vừa tạo giọng văn hùng hồn, đầy sức
thuyết phục
- "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” Câu văn ngắn gọn nhưng tổng kết
đầy đủ nhất thành tựu cách mạng của nhân dân ta trong việc đập tan ba thế lực: thực dân,phát xít, phong kiến
- Câu văn Bác dùng vừa thuyết phục: "Chúng tôi tin rằng " nhưng lại vừa ràng buộc thế giới phải công nhận quyền độc lập tự do của ta: "quyết không thể không công nhận " Điệp cấu trúc "một dân tộc đã gan góc "; Dân tộc đó phải được " là những câu khẳng
định thực tế một cách mạnh mẽ và là những câu mệnh lệnh buộc mọi người phải đồngtình
3) Lời tuyên bố và thể hiện quyết tâm:
- Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam
- Khẳng định ý chí, quyết tâm bảo vệ độc lập tự do cũng là lời cảnh báo cho những
kẻ âm mưu xâm lược Việt Nam
Trang 31- Ông là một người tài hoa: làm thơ, viết văn, sáng tác nhạc và có vẽ tranh
- Trước 1945, học ở Hà Nội Sau CMT8, ông vào bộ đội
- Sau 1954 làm biên tập ở NXB Văn học
- Thơ ông vừa hồn nhiên, vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậmchất lãng mạn
- Năm 2001, nhà thơ được truy tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
- Tác phẩm tiêu biểu: Rừng biển quê hương (in chung, 1957), Đường lên Châu
Thuận (truyện kí, 1964), Rừng về xuôi (truyện kí, 1968), Mây đầu ô (tập thơ, 1986).
2) Tác phẩm :
a Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ:
- Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợpvới bộ đội Lào biên giới Việt – Lào với địa bàn hoạt động rộng lớn từ Sơn La, Lai Châu,Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa đến tận bên kia biên giới Việt – Lào
- Chiến sĩ Tây Tiến phần lớn là thanh niên Hà Nội, chiến đấu trong một hoàn cảnhkhắc nghiệt, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn nhưng họ vẫn lạc quan, thể hiện vẻ đẹp hàohùng và hào hoa của tuổi trẻ
- Rời xa đơn vị cũ cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh (Hà Đông cũ), Quang Dũngnhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến nên viết lên bài thơ này
- Bài thơ lúc đầu có tên là “Nhớ Tây Tiến”, in trong tập “Mây đầu ô” (NXB Hà Nội,
1986)
b Bố cục :
- Đoạn 1 (14 câu): Nhớ những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến
trong khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội
- Đoạn 2 (8 câu tiếp): Hoài niệm của nhà thơ về những đêm liên hoan văn nghệ
thắm thiết tình quân dân và nỗi nhớ về cảnh sông nước miền Tây thơ mộng
- Đoạn 3: (8 câu tiếp): Nhà thơ nhớ hình ảnh người lính Tây Tiến trong gian khổ
vẫn lẫm liệt, hào hùng, hào hoa, lãng mạn
- Đoạn 4 (Bốn câu cuối): Lời thề quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ Tổ quốc
và lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây
II NỘI DUNG CƠ BẢN :
1) Những ý chính :
a Nhớ những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến trong khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội
Hai câu đầu :
- Trong tâm trí nhà thơ, Tây Tiến là một vùng đất đầy ắp kỉ niệm nên mở đầu bàithơ là tiếng gọi thể hiện nỗi nhớ tha thiết, bâng khuâng; gợi nhắc một địa danh đong đầybao kí ức của đời lính
- “Tây Tiến ơi” - câu cảm vang lên gọi thức tiếng lòng da diết gắn liền với bao kỉ
niệm thân thương về đoàn quân Tây Tiến
Trang 32- Nỗi nhớ đó vừa cụ thể gắn liền với địa danh Tây Bắc : “nhớ về rừng núi” ; vừa xa xôi không định hình “nhớ chơi vơi; tạo cho nỗi nhớ một âm hưởng kéo dài, lan rộng; gợi
mở một tâm trạng, cảm xúc vang xa đến mênh mông, vô cùng vô tận
vất vả với “cọp trêu người” (luôn rình rập “chiều chiều, đêm đêm”) và thác cao nghìn
thước
- Điệp từ “ngàn thước”, lên > < xuống, nhịp thơ 4/3 như tô đậm chiều cao, độ
sâu và tạo một nét gãy đầy ấn tượng của núi đèo Chiều cao và chiều sâu của dốc núidựng đứng đã đặc tả được sự nguy hiểm đối với chiến sĩ Dường như trong thế đứnghùng vĩ ấy, trong âm hưởng câu thơ có cả dáng mệt mỏi và nhịp thở đứt quãng nhọc nhằncủa chiến sĩ Tây Tiến
- Vất vả, gian lao nên không ít người đã mệt mỏi “gục trên súng mũ bỏ quên đời”.
Cách nói giảm làm dịu bớt đau thương họ hi sinh như đi vào giấc ngủ thanh thản nhưng cũng không che giấu hết những gian khổ, nhọc nhằn đã vắt kiệt sức của các chiến
-sĩ Tuy vậy, trên đỉnh núi cao, họ vẫn giữ cho mình cái nhìn, cách nói hóm hỉnh, vui tươi
của một tâm hồn trẻ trung : “súng ngửi trời”
Thơ mộng, trữ tình :
- Sau những nét vẽ gân guốc, mạnh mẽ là những đường nét thanh thoát, lãng mạn,
mềm mại khắc họa rõ nét vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của núi rừng Tây Bắc: “Nhà ai Pha
Luông mưa xa khơi” , “Nhớ ôi…….nếp xôi” Câu thơ với nhiều thanh bằng như tiếng thở
phào nhẹ nhõm, thanh thản sau khi vượt qua khó khăn Từ đỉnh núi, ánh nhìn vươn dàitheo cơn mưa rừng xa tận Pha Luông, không gian thơ mộng mở ra với những mái nhàthấp thoáng gợi tình cảm gia đình ấm áp, gần gũi; tiếp thêm sức mạnh cả vật chất lẫntinh thần cho người chiến sĩ sau chặng đường dài
- Cách nói “mùa em” vừa nhẹ nhàng tình tứ vừa mới lạ, độc đáo Tâm hồn lãng
mạn, tinh tế của người lính Tây Tiến đang hòa một nhịp với những sinh hoạt bình dị vàtấm lòng hiếu khách cao quý của người dân vùng cao dành cho chiến sĩ Những bữa cơmđầm ấm tình nghĩa quân dân, những bát xôi nếp thơm nồng kỉ niệm khiến câu thơ cuốinhư một tiếng vọng da diết, khắc khoải của hoài niệm dấu yêu
b Hoài niệm của nhà thơ về những đêm liên hoan văn nghệ thắm thiết tình quân dân và nỗi nhớ về cảnh sông nước miền Tây thơ mộng
Kỉ niệm đêm liên hoan :
- Sau những chặng đường hành quân vất vả, những người lính Tây Tiến như bừnglên một sức sống mới trong đêm hội của núi rừng, làng bản Đêm hội ấy được khắc hoạ
Trang 33với những nét tiêu biểu: ánh đuốc sáng rực rỡ, âm thanh rộn ràng trong nhạc khèn lênman điệu
- Câu cảm “kìa em” vang lên trong một niềm ngỡ ngàng đầy trìu mến, kết hợp với
động từ “bừng” có sức gợi tả, gợi cảm cao thể hiện được bao nhiêu tình cảm, cảm xúcđang thăng hoa, trào dâng mãnh liệt
- “Em” vừa thơm hương kỉ niệm trong bát xôi nếp ngày nào tự bao giờ bỗng rực rỡ
sáng ngời trong xiêm áo e ấp bao điều chưa ngỏ Biên giới xa xôi được nối lại gần trongtình cảm cảm quân dân thắm thiết và bao cảm xúc tưng bừng của tuổi trẻ Và quá khứnhư đang sống dậy rộn ràng trong tâm hồn Quang Dũng rồi cất cao thành những lời thơcháy bỏng , chan hòa trong bao âm thanh, sắc màu của đêm hội năm xưa
Kỉ niệm về chặng đường qua Châu Mộc :
- Giọng thơ có sự lắng lại trong khi không gian được trải rộng mênh mông Cả câylau, sông nước, chiều sương, thuyền độc mộc xuôi dòng theo cánh hoa trôi đều phảngphất, man mác trong lưu luyến bâng khuâng
- Nếu ở trên tưng bừng rộn rã một sức sống thì ở đây tha thiết một tâm tình mỗi lúcmột hiện rõ dẫu cảnh vật mông lung, thưa thớt, nhạt nhoà Bên cạnh một cảnh tượng lại
là một lời hỏi, lời gọi chân tình : “có nhớ, có thấy” Nhà thơ không chỉ khắc họa được vẻ
đẹp của thiên nhiên mà còn tái hiện được cả linh hồn của cảnh vật
- Bức tranh sông nước Tây Bắc nên thơ, trữ tình được khắc họa với bút pháp miêu
tả chấm phá hòa lẫn cùng tình cảm người đã và đang xa cách càng trở nên ấn tượng vàgợi cảm
c Hình ảnh người lính Tây Tiến trong gian khổ vẫn lẫm liệt, hào hùng, hào hoa, lãng mạn
Chân dung :
- Các chi tiết tả thực: “không mọc tóc”, “ quân xanh màu lá” đã khắc họa được diện
mạo rất độc đáo, đồng thời phản ánh lại hiện thực một cách khá thi vị những cảnh giankhổ, thiếu thốn, bệnh tật nơi chiến trường miền Tây Nhà thơ không hề né tránh nhữngkhó khăn mà người lính gặp phải trong buổi đầu chống Pháp nhưng cách nói của nhà thơcho ta cảm giác ông đang tô đậm, nhấn mạnh cái vẻ ngoài khác thường của họ
- Đối lập với vẻ ngoài ốm yếu, xanh xao đó là sức mạnh tinh thần ghê gớm - hình
ảnh “dữ oai hùm” đã nói lên được điều ấy: mạnh mẽ, dũng mãnh như hổ báo ấy chính là
kết quả của lòng yêu nước, căm thù mãnh liệt
Tâm hồn, khí phách : hào hoa, lãng mạn, kiêu hùng
- Không chỉ “dữ oai hùm”, đôi “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” đã tô đậm khí
thế, quyết tâm của họ
- Vất vả, gian lao nhưng vẫn luôn nghĩ về quê nhà, mơ về Hà Nội với những giấc
mơ hào hoa và lãng mạn Chính những điều tưởng chừng như giản đơn, một thời bị lên
án là “buồn rớt, mộng rớt tiểu tư sản” ấy lại là một động lực tiếp thêm sức mạnh cho họtrên đường hành quân gian lao, giúp họ có thể trụ vững trong hiện tại khốc liệt
Lí tưởng sống cao đẹp :
Trang 34- Một lần nữa nhà thơ không trốn tránh khi nói đến hiện thực đau thương, dẫu đã có
sử dụng biện pháp nói giảm (“thay chiếu”, “về đất”) : hi sinh không một manh chiếu để
chôn, anh nằm xuống với chính tấm áo bạc phai đời lính; với hình ảnh những nấm mồ vô
danh đó rải rác khắp biên cương nơi xứ lạ Chính những từ Hán Việt cổ kính như “biên
cương”, “viễn xứ” đã tăng thêm sự thành kính, trân trọng với người đã khuất và khiến
giọng thơ dẫu có làm lòng người ngậm ngùi thương xót nhưng vẫn cất cao âm hưởng hàohùng bi tráng
- Sau những đau thương, mất mát; đột ngột những câu thơ sau chuyển giọng, cáchngắt nhịp thay đổi, âm vang mạnh mẽ để phản ánh lí tưởng cao đẹp: vì nước quên mình,
sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân cho Tổ quốc “Chẳng tiếc” như một lời khẳng định hùng
hồn của người trai thời loạn
- Sự hi sinh của các anh dẫu để lại nhiều day dứt , xót xa nhưng với cách nói giảm
nhẹ: “anh về đất” khiến ta có cảm giác cái chết này trở nên thanh thản, nhẹ nhàng lạ
thường Những người con ưu tú của đất nước, những người anh hùng của thời đại nhưvừa hoàn thành xong một chặng hành trình dài: quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh - xongnhiệm vụ , anh trở về với vòng tay rộng mở bao la của đất mẹ trong tiếng sông Mã gầmvang đưa tiễn Câu thơ diễn tả sự hi sinh thầm lặng mà cao cả, cái chết nhẹ nhàng, thanhthản mà gây xúc động lớn lao trong lòng người, làm lay động cả thiên nhiên Nỗi bithương ấy vợi đi nhờ cách nói giảm, rồi bị át hẳn trong tiếng ai điếu gầm vang dữ dội củacon sông khiến bài thơ mang âm hưởng anh hùng ca, thấm đẫm tinh thần bi tráng, hàohùng
d Lời thề quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ Tổ quốc và lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây
Khổ thơ kết tinh và nâng cao những cảm xúc, tình cảm của cả bài: ghi lại lời thề sắtson cùng sông núi: lí tưởng mùa xuân ấy chưa thực hiện được, nay quyết tâm thực hiệntrọn vẹn đến cùng Dẫu còn nhiều vất vả, gian lao; dẫu còn bao khó khăn thử thách:
“Đường lên thăm thẳm”, “chia phôi”; nhưng vẫn cháy mãi một khát vọng sống và chiến
đấu “Người đi không hẹn ước” nêu bật một tinh thần quyết tâm ra đi không hẹn ngày về.
Giọng thơ vẫn toát lên âm hưởng hào hùng dù có thoáng man mác buồn pha lẫn chútbâng khuâng
2) Đặc sắc nghệ thuật :
- Cảm hứng lãng mạn và chất bi tráng hài hòa xuyên suốt bài thơ
Cảm hứng lãng mạn: Nhà thơ đã nhấn mạnh, tô đậm những gì phi thường, vừa dữdội vừa tuyệt mỹ của thiên nhiên và con người Tây Bắc Chất lãng mạn được thể hiệnchủ yếu ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẵn sàng hy sinh cho lý tưởng của cộng đồng,dân tộc
Chất bi tráng: Thể hiện ở chỗ nhấn mạnh những mất mát bi thương cùng với tinhthần hiên ngang bất khuất của những người lính Tây Tiến Cái bi được thể hiện bằng mộtgiọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng
- Bút pháp hiện thực lãng mạn đan xen
Trang 35- Lời thơ vừa hùng tráng vừa trang nhã, khi gân guốc mạnh mẽ, khi mềm mại trữtình.
- Chọn lọc từ ngữ, hình ảnh độc đáo: giàu chất họa, chất nhạc, sử dụng khéo léo các
từ Hán Việt
tráng là như vậy
VIỆT BẮC (trích)
Tố Hữu
PHẦN MỘT: TÁC GIẢ
I NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ CUỘC ĐỜI :
- Tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920 tại Thừa Thiên - Huế
- Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, mồ côi mẹ năm 12 tuổi
- Bước vào những năm thanh niên, ông tham gia phong trào đấu tranh cách mạng vàtrở thành người lãnh đạo chủ chốt của Đoàn thanh niên Dân chủ ở Huế, rồi được kết nạpvào Đảng Cộng Sản Đông Dương
- Cuối tháng 4/1939 bị giặc bắt Tháng 3/1942 ông vượt ngục, tiếp tục hoạt độngCách mạng
- Cách Mạng Tháng 8 năm 1945, ông là Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa ở Huế
- Trong 2 cuộc kháng chiến và cho đến năm 1986, ông liên tục giữ những cương vịtrọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước
- Ông đã được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)
II CON ĐƯỜNG THƠ CỦA TỐ HỮU :
Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam Thơ
Tố Hữu gắn bó chặt chẽ và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy giankhổ hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc; đồng thời cũng là nhữngchặng đường vận động trong quan điểm tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của nhà thơ
1) Tập thơ TỪ ẤY (1937 – 1946): là chặng đường đầu tiên của đời thơ Tố Hữu,
đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng.Tập thơ gồm 3 phần :
Trang 36- Máu lửa: gồm những bài sáng tác trong thời kì Mặt trận dân chủ, thể hiện sự cảm
thông sâu sắc với cuộc sống cơ cực của những người nghèo khổ trong xã hội, đồng thờikhơi dậy ở họ ý chí đấu tranh và niềm tin vào tương lai
- Xiềng xích: gồm những bài thơ sáng tác trong các nhà lao lớn ở Trung Bộ và Tây
Nguyên Đó là tâm tư của một người trẻ tuổi tha thiết yêu đời và khao khát tự do, là ý chíkiên cường của người chiến sĩ quyết tâm tiếp tục chiến đấu ngay trong nhà tù
- Giải phóng: gồm những bài sáng tác từ khi Tố Hữu vượt ngục đến những ngày
đầu giải phóng vĩ đại của toàn dân tộc Nhà thơ nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi của cáchmạng, nền độc lập, tự do của Tổ quốc, khẳng định niềm tin tưởng vững chắc của nhândân vào chế độ mới
2) Tập thơ VIỆT BẮC (1946 – 1954) :
- Là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp và những conngười kháng chiến – là người lao động rất bình thường nhưng rất anh hùng : anh vệ quốcquân, bà mẹ nông dân, chị phụ nữ, em liên lạc…
- Nhà thơ ca ngợi Đảng và Bác Hồ đã khơi nguồn và phát huy sức mạnh của quândân ta để đánh thắng kẻ thù; thể hiện những tình cảm lớn như tình quân dân cá nước, tìnhcảm tiền tuyến – hậu phương, miền xuôi và miền ngược, cán bộ với quần chúng, nhândân với lãnh tụ, tình yêu đất nước, tình cảm quốc tế vô sản
- Tập thơ kết thúc bằng những bài hùng ca vang dội phản ánh khí thế chiến thắnghào hùng, biết bao tình cảm bồi hồi, xúc động của dân tộc trong giờ phút lịch sử
4) Hai tập thơ RA TRẬN (1962 – 1971) và MÁU VÀ HOA (1972 – 1977): âm
vang khí thế quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cưới nước và niềm vui toàn thắng
- RA TRẬN: là bản anh hùng ca về miền Nam anh dũng với bao hình ảnh quen
thuộc từ anh giải phóng quân, cô dân quân, bà mẹ, em thơ đến người công nhân, ngườithợ điện … đều tiêu biểu cho dũng khí kiên cường của dân tộc
- MÁU VÀ HOA: ghi lại một chặng đường Cách mạng đầy gian khổ, hi sinh, khẳng
định niềm tin sâu sắc vào sức mạnh tiềm tàng của xứ sở quê hương, cũng như của mỗicon người Việt Nam mới, biểu hiện niềm tự hào và niềm vui phơi phới khi “toàn thắng
về ta”
Trang 375) MỘT TIẾNG ĐỜN (1992) vă TA VỚI TA (1999): lă hai tập thơ đânh dấu bước
chuyển biến mới trong thơ Tố Hữu Dòng chảy sôi động của cuộc sống đời thường vớibao nỗi niềm khơi gợi trong tđm hồn nhă thơ nhiều cảm xúc, suy tư Ông tìm đến nhữngchiím nghiệm mang tính phổ quât về cuộc đời vă con người Vượt lín bao biến độngthăng trầm, thơ Tố Hữu vẫn kiín định niềm tin văo lí tưởng vă con đường Câch mạng,văo chữ nhđn luôn tỏa sâng ở mỗi hồn người
III PHONG CÂCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU:
1) Về nội dung, thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị rất sđu sắc:
- Hồn thơ Tố Hữu luôn hướng đến câi ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềmvui lớn của con người câch mạng, của cả dđn tộc
- Ngay từ đầu, câi tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu đê lă câi tôi chiến sĩ, căng về saucăng xâc định rõ lă câi tôi nhđn danh Đảng, nhđn danh cộng đồng dđn tộc nhằm khẳngđịnh lí tưởng đẹp nhất lă dấn thđn văo con đường câch mạng giải phóng dđn tộc, phấnđấu vì cuộc sống tươi đẹp của dđn tộc
- Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi, coi những sự kiện chính trị lớn của đất nước lăđối tượng thể hiện chủ yếu, luôn đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử vă có tínhchất toăn dđn Nhă thơ ít chú ý đến những diễn biến bình thường của đời sống mă thườngtập trung khắc họa những bối cảnh rộng lớn, những biến cố quan trọng tâc động mạnh mẽđến vận mệnh dđn tộc
- Cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố Hữu lă cảm hứng lịch sử – dđn tộc chứ khôngphải cảm hứng thế sự – đời tư; nổi bật trong thơ ông lă vấn đề vận mệnh cộng đồng chứkhông phải vấn đề số phận câ nhđn Điều đó dẫn đến con người trong thơ Tố Hữu lă conngười của sự nghiệp chung với những cố gắng phi thường, mang phẩm chất tiíu biểu chodđn tộc
2) Giọng thơ lă giọng tđm tình, ngọt ngăo tha thiết, nhă thơ đặc biệt rung động
với đời sống câch mạng, với nghĩa tình câch mạng cho nín thường hướng về đồng băo,đồng chí mă trò chuyện, nhắn nhủ, tđm sự Những tđm tình đó có cội nguồn từ chất Huế
của hồn thơ Tố Hữu vă cũng từ quan niệm của chính ông : “Thơ lă chuyện đồng điệu, nó
lă tiếng nói … đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí”
3) Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu đậm đă tính dđn tộc :
- Đặc biệt thănh công khi vận dụng những thể thơ truyền thống của dđn tộc
- Thơ lục bât của ông mang sắc thâi ca dao vă lục bât cổ điển, dạt dăo những đmhưởng nghĩa tình của hồn thơ dđn tộc
- Những băi thơ theo thể thất ngôn trang trọng nhưng không khuôn sâo, trâi lại hơithơ liền mạch, diễn tả được hiện thực đa dạng vă nhiều trạng thâi cảm xúc khâc nhau
- Về ngôn ngữ, Tố Hữu không chú ý sâng tạo những từ mới, câch diễn đạt mới mẵng thường sử dụng những từ ngữ vă câch nói quen thuộc với dđn tộc Đặc biệt thơ TốHữu đê phât huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt, nhă thơ sử dụng rất tăi tìnhcâc từ lây, câc thanh điệu, câc vần thơ…
Trang 38- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (5/1954), hiệp định Giơnevơ vì Đông Dương được
kí kết (7/1954), hoà bình lập lại, miền Bắc được giải phóng, một trang sử mới của đấtnước và giai đoạn mới của cách mạng được mở ra
- 10/1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắctrở về Hà Nội Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy và cảm xúc trực tiếp từ sự chia taytrong lưu luyến ân tình giữa Việt Bắc với người chiến sĩ cách mạng, Tố Hữu đã sáng tácbài thơ này
- Bài thơ hoàn thành vào tháng 10/1954, đoạn trích được học là đoạn mở đầu phầnmột, trích trong tập thơ “Việt Bắc” (1947 -1954) Như ta thấy, bài thơ đã được lấy làmtên chung cho cả tập thơ “Việt Bắc” – một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và tác phẩm cũng làmột sáng tác xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp
- Giọng thơ tâm tình ngọt ngào với cả một hệ thống ngôn từ của tình yêu đôi lứa hòacùng điệp từ “nhớ” với sắc thái ngày càng thiết tha sâu nặng khiến bài thơ như một bảntình ca nồng nàn thủy chung son sắt của người cán bộ cách mạng khi chia tay Việt Bắc
- Sử dụng những biện pháp tu từ quen thuộc một cách tinh tế, sáng tạo, điêu luyện :
so sánh, nhân hóa, trùng điệp, ẩn dụ , hoán dụ … làm tăng giá trị thẩm mĩ và thể hiệntình cảm kín đáo mà vẫn sâu lắng
II NỘI DUNG CƠ BẢN :
1) Buổi chia tay đầy lưu luyến :
a Đoạn 1 : Lời người Việt Bắc
- Tác giả dùng cặp đại từ xưng hô quen thuộc “Mình” - “Ta” nhằm thể hiện tình
cảm gắn bó, sâu nặng, khắng khít giữa Việt Bắc – người cán bộ Cách Mạng
- Câu hỏi gợi nhắc một khoảng thời gian dài cụ thể, khái quát lại một giai đoạn lịch
sử gian khổ gắn với Việt Bắc, đồng thời gợi nhắc tình cảm “thiết tha mặn nồng” trải dài
theo năm tháng
- “Cây – núi – sông – nguồn” là những hình ảnh thể hiện đặc trưng của VB Các
hình ảnh sóng đôi từng cặp, kết cấu lặp - trùng điệp thể hiện một tình cảm gắn bó giao
Trang 39hòa Chỉ một từ “nguồn” nhưng đó vừa là nguồn nước vừa là ngọn nguồn của quê
hương Cách Mạng Câu hỏi khái quát tiếp tục không gian, vùng Cách Mạng để lời nhắnnhủ người ra đi hãy mãi nhớ, đừng bao giờ quên Việt Bắc thêm tha thiết
- Nghĩa tình của kẻ ở – người về được biểu hiện đằm thắm qua các đại từ “mình”,
“ta” thân thiết Điệp từ “nhớ” được láy đi láy lại cùng với những lời nhắn nhủ của người
Việt Bắc “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không” vang lên như day dứt không nguôi Các từ “thiết tha”, “mặn nồng” thể hiện bao ân tình gắn bó
b Đoạn 2 :
- Bốn câu này chủ yếu là tiếng lòng của người cán bộ cách mạng về xuôi Tuy
không trực tiếp trả lời câu hỏi của người ở lại nhưng tâm trạng “bâng khuâng”, “bồn
chồn” cùng cử chỉ “cầm tay nhau” xúc động, bồi hồi đã nói lên tình cảm thắm thiết của
người cán bộ với cảnh và người Việt Bắc
- Nghệ thuật hoán dụ “áo chàm” gợi hồn người Việt Bắc Màu áo quen thuộc của
đồng bào Việt Bắc, màu bền chặt của nghĩa tình chung thủy Nhưng cũng chính là để nóirằng ngày tiễn đưa cán bộ kháng chiến về xuôi cả nhân dân Việt Bắc cùng đưa tiễn
- Câu cuối tái hiện lại một hành động cầm tay không lời nhưng chất chứa một chiều
sâu cảm xúc vô biên bất tận Mặc dù không nói nên lời nhưng cái tâm trạng “bâng
khuâng”, “bồn chồn”, cùng với nỗi “nhớ” đã nói lên nhiều về tình cảm của người ra đi
với người ở lại Hình ảnh “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” thật cảm động
c Đoạn 3: Lời người ở lại nhắc nhớ những kỉ niệm ngày qua
- Không gian, địa điểm hiển hiện từ mờ xa đến gần gũi, xác định : “mưa nguồn,
suối lũ, mây mù – chiến khu”, rồi dấy lên sức mạnh tranh đấu một thời : “kháng Nhật” ;
trải ra mênh mang với những địa danh một thời ghi dấu : “Tân Trào, Hồng Thái, mái
đình, cây đa”
- Cách nói đảo ngữ, tương phản đối lập “hắt hiu lau xám - đậm đà lòng son” càng
làm bật lên ân tình Cách Mạng Càng khổ cực, gian lao: bát cơm chấm muối, hắt hiu lauxám càng ngọt bùi bao kỉ niệm, đậm đà những tấm chân tình trao gửi cho nhau
- “Mình về …………để già”: Câu thơ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc miêu tả thiênnhiên tàn tạ, trống vắng để diễn tả tình cảm nhớ thương trong lòng người ở lại
- Nghệ thuật nhân hóa (rừng núi nhớ ai), hàng loạt điệp từ “mình, có nhớ”, nhịp
ngắt đều đặn , hàng loạt những hoài niệm ân nghĩa nhất, nguồn cội tình cảm sâu rộngnhất trải dài theo không gian và thời gian tập trung khắc họa hình ảnh một người đangbâng khuâng thương nhớ trong cảm giác chưa nguôi da diết trong phút chia li
2) Lời người ra đi – cán bộ Cách Mạng: nhắc lại ân tình những ngày gắn bó
a Đoạn 4:
- Sự tinh tế một lần nữa được nhấn mạnh khi người ra đi cảm nhận rất sâu sắc nỗilòng người ở lại và đang hòa nhịp nhớ thương cùng Việt Bắc
Trang 40- “Mình đi mình lại nhớ mình” khẳng định không bao giờ đánh mất những tình cảm quý gía một thời đã qua Sự hoán đổi vị trí “mình – ta” khẳng định tình cảm quấn
quýt, hoà quyện, gắn bó, sâu nặng, bền chặt ; đồng thời củng cố niềm tin cho người ở lại
- Cách so sánh “bao nhiêu – bấy nhiêu” mang đậm màu sắc ca dao “Nguồn….bấy
nhiêu” càng nhấn mạnh nghĩa tình sâu sắc, lớn lao, gắn bó Cách Mạng Sự tương đồng
này rất lớn lao, không thể đong đếm được “Mặn mà – đinh ninh”, trước sau như một
khiến tình cảm càng thêm sâu nặng
b Đoạn 5, 6 :
- So sánh “nhớ gì như nhớ người yêu” làm bật lên nỗi nhớ vừa tha thiết vừa quen
thuộc Người ra đi nhớ từng khoảnh khắc đẹp nhất, thơ mộng nhất Cảnh sắc thiên nhiênrất thực mà cũng đầy bâng khuâng da diết : trăng đầu núi, nắng chiều lưng nương, bảnkhói sương , bếp lửa sớm khuya, rừng nứa bờ tre, ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê Các địa
danh gắn với điệp từ “từng” khiến nỗi nhớ cụ thể với đặc điểm rất riêng của từng địa
danh, từng cảnh vật vì gắn bó rất sâu nặng nên tái hiện lại ngập tràn trong nhớ thươngtha thiết
- Nỗi nhớ Việt Bắc gắn với con người Việt Bắc (người thương) và tình cảm ân nghiã
đã trải đắng cay ngọt bùi có nhau : “Sắn lùi , chăn sui”, “chia - cùng – sẻ” làm hiện rõ , nổi bật thêm tình cảm “thương nhau” được đặt ở đầu câu Tình cảm sâu nặng đã biến
những khó khăn một thời thành kỉ niệm đẹp khó quên
- “Nhớ người…bắp ngô” hình ảnh bà mẹ tảo tần, quen thuộc Nghệ thuật thậm xưng
“nắng cháy lưng” thể hiện rõ cảm xúc xót xa nghẹn ngào vừa gợi sự cơ cực vừa nói lên
sự biết ơn những khó khăn ấy lại chứa chan ân tình
c Đoạn 7: Bộ tranh tứ bình về bốn mùa nơi núi rừng Việt Bắc
Đoạn thơ gợi lại kỷ niệm thân thiết và đẹp đẽ nhất về cảnh và người Việt Bắc trongnỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi và cũng là của nhà thơ
Hai dòng thơ đầu :
Hai câu đầu giới thiệu chung về nội dung xúc cảm của đoạn thơ Câu trên là hỏingười, còn câu dưới là giãi bày lòng mình Vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên và con ngườiViệt Bắc đã trào dâng trong nỗi nhớ của người ra đi Có thể nói, ngay từ đầu, đoạn thơgiúp người đọc vừa cảm nhận được vẻ đẹp của nghĩa tình vừa thấy được vẻ đẹp hòaquyện giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc
Tám dòng thơ tiếp theo :
Mùa đông
- Câu thơ mở ra một không gian rộng lớn Nghệ thuật điểm xuyết trong thơ tỏ ra rất
ấn tượng: giữa bạt ngàn xanh của núi rừng Việt Bắc, màu đỏ của hoa chuối bỗng gợi lên
sự ấm áp, có sức lan tỏa
- Câu sau cũng là một sự điểm xuyết nhưng hình ảnh điểm xuyết nổi rõ hơn cảnh,điểm rất nhỏ nhưng sức gợi cực lớn Câu thơ có sự lấp lánh của hình ảnh khiến cảnh vậtvốn tĩnh lặng, thậm chí tịch mịch bỗng có sức sống, có sự chuyển động Hình ảnh conngười lao động được tả thực gợi vẻ đẹp khoẻ khoắn, mạnh mẽ