PHẦN IV. VĂN BẢN VĂN HỌC KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM
III. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU
2) Giá trị tác phẩm
a. Giá trị hiện thực: phản ánh một hiện thực lớn của xã hội Việt Nam trước CMT8 1945: bức tranh ảm đạm trong nạn đói, khi miếng ăn đe dọa mạng người, khi thân phận con người bị rẻ rúng, khổ sở
b. Giá trị nhân đạo:
- Tố cáo thực dân phát xít đẩy nhân dân ta đến bước đường cùng ;
- Bộc lộ niềm xót xa thương cảm đối với cuộc sống bi đát, thảm thương của họ trong nạn đói;
- Ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của người lao động nghèo trong hoàn cảnh khốn cùng - Gợi mở cho họ lối thoát - con đường đến với CM.
c. Giá trị nghệ thuật:
- Nhan đề ấn tượng, gây chú ý và nêu bật được ý nghĩa chủ đề
- Tình huống truyện độc đáo, giàu ý nghĩa có tác dụng làm nổi bật giá trị tư tưởng của tác phẩm
- Trần thuật tự nhiên, hấp dẫn, dựng truyện đơn giản nhưng chặt chẽ, mô tả tâm lý nhân vật chân thật, sinh động, sắc sảo.
- Giọng văn mộc mạc, giản dị, ngôn ngữ gần khẩu ngữ nhưng có sự chọn lọc kỹ lưỡng, tinh tế
RỪNG XÀ NU
Nguyễn Trung Thành I. GIỚI THIỆU CHUNG:
1) Tác giả :
- Nguyễn Trung Thành tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932 tại Quảng Nam.
- Năm 1950, Nguyễn Trung Thành gia nhập quân đội, làm phóng viên, hoạt động chủ yếu ở Tây Nguyên, với bút danh Nguyên Ngọc.
- Năm 1954, Nguyễn Trung Thành tập kết ra Bắc, tiếp tục hoạt động văn nghệ.
- Năm 1962, Nguyễn Trung Thành trở lại miền Nam, hoạt động ở Quảng Nam và chiến trường Tây Nguyên.
- Trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Nguyễn Trung Thành gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên, am hiểu cuộc sống của người dân nơi đây cũng như tinh thần chiến đấu anh dũng, yêu tự do, quý cách mạng của họ.
- Tác phẩm tiêu biểu: Đất nước đứng lên (1955); Rẻo cao (1961); Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (tập truyện và kí, 1969, trong đó có tác phẩm Rừng xà nu được giải thưởng văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu 1965), Đất Quảng (tiểu thuyết, phần 1 - 1971, phần 2 – 1974)
- Năm 2001, Nguyễn Trung Thành được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
2) Tác phẩm :
a. Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ:
- Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành được viết vào mùa hè năm 1965. Đó là thời kỳ Mĩ đổ quân ào ạt vào miền Nam nước ta, trong đó có bãi biển Chu Lai, tỉnh Quảng Ngãi.
- Truyện được đăng trên tạp chí “Văn nghệ quân giải phóng”miền Trung – Trung Bộ (1965), sau đó in trong tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”.
b. Tóm tắt :
Truyện kể về phong trào nổi dậy của dân làng Xô Man ở Tây Nguyên. Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Tnú. Anh mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được dân làng đùm bọc, cưu mang. Từ nhỏ, Tnú đã cùng Mai vào rừng tiếp tế cho cán bộ. Tnú làm liên lạc rất giỏi,
mưu trí và gan dạ. Trong một lần vượt sông Đắc Năng để chuyển thư của anh Quyết lên huyện, Tnú bị giặc bắt, tra tấn rất dã man.
Ba năm sau, Tnú vượt ngục Kon Tum trở về làng, anh Quyết đã hy sinh, Tnú thay anh lãnh đạo dân làng đánh giặc. Bọn giặc lùng bắt anh không được, chúng bắt vợ con anh và đánh đập và tra tấn hết sức dã man. Không chịu được cảnh thương tâm ấy, anh đã xông ra để cứu vợ con nhưng anh thất bại. Anh bị bắt, bị đốt mười ngón tay bằng giẻ tẩm nhựa xà nu nhưng anh không hề kêu van. Dân làng Xô Man, dưới sự chỉ huy của cụ Mết đã nổi dậy tiêu diệt một tiểu đội giặc và cứu sống Tnú.
Tuy mỗi ngón tay chỉ còn hai đốt, nhưng Tnú vẫn quyết tâm tham gia bộ đội giải phóng. Sau một ngày trở về thăm làng, cụ Mết và Dít lại tiễn anh ra đi. Cả ba người cùng nhìn ra cánh rừng xà nu bạt ngàn tới chân trời.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN : 1) Những ý chính :
a. Ý nghĩa nhan đề :
- Rừng xà nu là ký ức đẹp với những kỷ niệm sâu sắc của nhà văn về mảnh đất cũng như con người Tây Nguyên. Cả một cánh rừng xà nu bát ngát, nối tiếp tới tận chân trời là một phần của sự sống Tây Nguyên, mang đặc trưng Tây Nguyên, gắn bó với con người nơi đây.
- Đồng thời Rừng xà nu còn mang tầng ý nghĩa cao hơn. Nó tiêu biểu cho số phận và phẩm chất, cho sức sống bất diệt, tinh thần đấu tranh quật cường của nhân dân Tây Nguyên. Các thế hệ cây xà nu cũng tượng trưng cho các thế hệ dân làng Xôman, nói rộng ra là các thế hệ người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
b. Hình tượng cây – rừng xà nu :
Cây xà nu là hình tượng chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm.
- Trong tác phẩm, cây xà nu, rừng xà nu là một chủ âm, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, được tác giả nhắc tới 20 lần: từ nhan đề, mở đầu truyện, phần giữa hay khép lại tác phẩm đều thấy hình ảnh cây xà nu, rừng xà nu.
- Hình tượng cây xà nu là một biểu tượng nghệ thuật, tượng trưng cho số phận, phẩm chất, con đường đấu tranh của nhân dân Tây Nguyên, nói rộng ra là của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Ý nghĩa của cây xà nu trong cuộc sống đời thường:
- Cây xà nu gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân làng Xô Man: rừng xà nu, đồi xà nu, cây xà nu, ngọn xà nu, nhựa xà nu, khói xà nu, dầu xà nu . . . . hiện hữu trong cuộc sống đời thường. Nó là một phần của sự sống Tây Nguyên, mang đặc trưng Tây Nguyên, gắn bó mật thiết với con người nơi đây.
- Cây xà nu còn tham dự vào những sự kiện trọng đại của buôn làng Xô Man, của Tây Nguyên: dưới ánh đuốc xà nu, người dân Xô Man mài vũ khí giết giặc, dưới sự chỉ huy của cụ Mết, nhân dân đồng khởi tiêu diệt kẻ thù. Bên đống lửa xà nu, tại nhà Rông, cụ Mết tập hợp buôn làng, kể về cuộc đời đầy bi tráng của Tnú, kể về lịch sử hào hùng của bộ tộc.
Ý nghĩa biểu tượng:
- Cây xà nu chịu nhiều đau thương dưới tầng bom đạn của kẻ thù tượng trưng cho những tổn thất, mất mát, hy sinh của nhân dân Tây Nguyên, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
- Cây xà nu chịu nhiều đau thương nhưng có sức sống bất diệt, kiên cường, không bom đạn nào giết nổi chúng, sự lớn mạnh của các thế hệ cây xà nu ấy tượng trưng cho sự tiếp nối giữa các thế hệ người dân Việt Nam.
- Cây xà nu ham ánh sáng và khí trời tượng trưng cho khát vọng tự do, yêu quý cách mạng của nhân dân Tây Nguyên bất khuất, kiên cường.
c. Hệ thống nhân vật :
Nhân vật Tnú :
- Hình tượng nhân vật Tnú được nhà văn khắc họa qua dòng hồi tưởng của anh sau 3 năm tham gia lực lượng quân giải phóng có dịp trở về thăm làng. Bên đống lửa nhà Ưng, qua giọng kể trầm trầm, vang vang của cụ Mết tựa như lối kể Khan trong các bản trường ca Tây Nguyên giúp ta hiểu được cuộc đời đầy bi tráng của người anh hùng Tnú.
- Hoàn cảnh xuất thân và con đường đến với cách mạng của Tnú: anh mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được dân làng Xô Man yêu thương, bao bọc chở che, sớm giác ngộ cách mạng.
- Ngay từ nhỏ Tnú đã thể hiện nét tính cách gan góc và táo bạo, dũng cảm và chân thực: khi học chữ với Mai có lần thua Mai nó cầm một hòn đá tự đập vào đầu chảy máu ròng ròng, khi làm giao liên bị giặc phục kích Tnú nuốt luôn cái thư để giữ an toàn cho cán bộ Đảng, cho cách mạng.
- Tnú bị giặc bắt, sau 3 năm anh vượt ngục Kontum trở về làng, lúc này anh Quyết đã hy sinh, Tnú thay anh lãnh đạo dân làng Xô Man đánh giặc.
- Mặc dù anh dũng và gan góc nhưng Tnú không vượt qua bi kịch cá nhân, bi kịch gia đình, anh đã rơi vào ngón đòn của thằng Dục, không bảo vệ được vợ con, Tnú bị giặc bắt, tra tấn, đốt 10 đầu ngón tay bằng giẻ tẩm nhựa xà nu (phân tích tâm trạng đau đớn của Tnú trong cái đêm Tnú chứng kiến cảnh bọn giặc tra tấn vợ con anh đến chết bằng trận mưa cây sắt và bản thân anh đã bị gọn thằng Dục dùng giẻ tẩm dầu xà nu đốt cháy mười ngón tay).
- Cụ Mết lãnh đạo dân làng Xô Man đứng lên chống giặc, cứu sống Tnú. Mặc dù mỗi ngón tay chỉ còn hai đốt nhưng Tnú vẫn cầm súng, cầm giáo mác tiêu diệt kẻ thù, tham gia lực lượng quân giải phóng, cùng buôn làng bảo vệ quê hương.
- Tnú biết vượt lên nỗi đau và bi kịch cá nhân để sống có ích cho đất nước, cho quê hương. Cuộc đời bi thương của Tnú cũng chính là số phận của đất nước của dân tộc trong những năm tháng thương đau của chiến tranh. Tinh thần quả cảm, kiên cường của Tnú cũng chính là tinh thần quả cảm, kiên cường của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam trong cuộc chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Nhân vật cụ Mết :
- Cụ Mết chính là hình ảnh của cây xà nu đại thụ giữa rừng xà nu bạt ngàn. Cụ là viên gạch nối hai thời đại cách mạng, giữa Đảng với nhân dân làng Xô Man.
- Khi xây dựng nhân vật cụ Mết, tác giả như muốn khẳng định vai trò của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau. Cụ là già làng lưu giữ truyền thống của cộng đồng để lại.
- Cụ mang dáng dấp của những người tù trưởng trong các bản trường ca Tây Nguyên.
- Thông qua nhân vật cụ Mết, nhà văn Nguyễn Trung Thành thể hiện niềm tin vững chắc của nhân dân ta vào Đảng, khẳng định chân lý cách mạng và con đường giải phóng dân tộc: chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo.
Nhân vật Dít :
- Là sự tiếp nối của Mai. Ngay từ nhỏ, Dít đã tỏ ra là một cô bé lanh lợi và quả cảm.
- Khi bị bắt, tra tấn bằng loạt đạn tôm xông, đôi mắt của Dít vẫn mở to, bình thản, trong suốt.
- Dít là hình ảnh của những cây xà nu mới nhú, phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng.
- Dít kiên cường, sức chịu đựng phi thường, biết nén đau thương để nung nấu lòng căm thù, biến đau thương thành hành động, là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam thời đánh Mỹ.
Nhân vật bé Heng :
- Ngày Tnú đi lực lượng, nó mới đứng đến ngang bụng anh, chỉ biết đeo cái xà lét nhỏ xíu theo người lớn ra ra rẫy.
- Sau ba năm, Tnú trở về làng, bé Heng đã trưởng thành nhanh chóng, ăn mặc chỉnh trang như một người lính thực thụ. Nếu cụ Mết xứng đáng với hình ảnh cây xà nu đại thụ giữa rừng xà nu bạt ngàn xanh thẳm thì bé Heng tượng trưng cho cây xà nu mới lớn
“ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên, lao thẳng lên bầu trời”.
- Bé Heng tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mỹ gan góc, táo bạo, dũng cảm, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân ta.
2) Đặc sắc nghệ thuật : - Đậm chất sử thi
- Xây dựng được một hệ thống nhân vật đậm chất Tây Nguyên, tiêu biểu cho các thế hệ cách mạng của người Tây Nguyên.
- Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, lời kể trang trọng.
- Kết cấu đan xen.
- Ngôn ngữ đậm chất Tây Nguyên.
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA Nguyễn Minh Châu
I. GIỚI THIỆU CHUNG:
1) Tác giả :
a . Cuộc đời :
- Nguyễn Minh Châu ( 1930 – 1989) , quê ở Nghệ An.
- Đầu năm 1950, ông gia nhập quân đội , theo học trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn.
- Từ năm 1952 đến 1958, ông công tác tại sư đoàn 320.
- Năm 1962, ông về Phòng Văn nghệ Quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ Quân đội.
- Ông bắt đầu viết văn từ năm 1960, nhưng tên tuổi của ông chỉ thực sự được bạn đọc chú ý từ tiểu thuyết Cửa sông (1967). Ông được coi là một trong những cây bút tiên phong của văn học Việt Nam thời kì đổi mới với tất cả tâm huyết , tài năng cũng như khát vọng sáng tạo chân chính và bản lĩnh dũng cảm.
- Năm 2000 ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
b . Sự nghiệp sáng tác :
Tác phẩm :
Tiểu thuyết : Cửa sông (1967), Dấu chân người lính (1972), Từ giã tuổi thơ (1972), Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những ngày lưu lạc (1981), Những người đi từ trong rừng ra (1982), Đảo đá kì lạ (1985), Mảnh đất tình yêu (1987)
Các tập truyện ngắn : Những vùng trời khác nhau (1970), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê (1985), Chiếc thuyền ngoài xa (1987), Cỏ lau (1989).
Tiểu luận phê bình : Người viết trẻ và cánh rừng già (1973), Trang giấy trước đèn (1994)
Đặc điểm sáng tác :
Suốt cuộc đời cầm bút, ông không ngừng trăn trở về số phận nhân dân và trách nhiệm nhà văn
Trước thập kỉ 80, ông là ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn
Từ đầu thập kỉ 80 đến khi mất, ông chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh
2) Tác phẩm :
a. Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ:
- Sáng tác năm 1983, in lần đầu trong tập Bến quê, 1985. Sau được in riêng thành tập Chiếc thuyền ngoài xa.
- Truyện ngắn tiêu biểu cho xu hướng chung của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới:
hướng nội, khai thác số phận cá nhân và thân phận con người trong cuộc sống đời thường.
b. Tóm tắt :
Câu chuyện kể về chuyến đi của một nghệ sĩ nhiếp ảnh đến một vùng biển vắng ở miền Trung, cũng là nơi ngày xưa anh từng chiến đấu, để chụp ảnh nghệ thuật làm ảnh lịch. Qua đó nhà văn kể về câu chuyện của một gia đình ngư dân đồng thời bộc lộ những suy nghĩ sâu sắc của ông về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống.
Một buổi bình minh, nhiếp ảnh gia Phùng đã bất ngờ thu vào ống kính hình ảnh tuyệt vời - chiếc thuyền ngoài xa. Nhưng khi chiếc thuyền cập vào bờ, Phùng tình cờ chứng kiến một bi kịch nghiệt ngã, cay đắng xảy ra trong một gia đình ngư dân : người chồng vũ phu, đánh vợ như một thói quen, phản ứng dữ dội của đứa con trai và sự cam chịu đến tội nghiệp của người vợ. Ba hôm sau, cũng trong làn sương sớm, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ. Không thể chịu đựng được, Phùng xông ra buộc lão phải chấm dứt hành động vũ phu. Sau đó anh lại vô tình có mặt tại tòa án huyện, nơi đang xử lí việc người chồng đánh vợ. Tại nơi đó, người đàn bà bất hạnh đã thuật lại cho nhiếp ảnh gia Phùng và chánh án Đẩu (là bạn chiến đấu ngày xưa của Phùng) về hoàn cảnh, tâm tư, nguyện vọng của mình. Điều bất ngờ nhất chính là người đàn bà ấy đã không chịu li dị với người chồng chỉ vì theo chị, thà cam chịu thói vũ phu của chồng như thế nhưng vẫn đảm bảo được sự tồn tại, mưu sinh của gia đình nhỏ bé ấy với vợ chồng con cái quây quần.
Kết thúc câu chuyện là nỗi ám ảnh, day dứt không thôi của người nghệ sĩ nhiếp ảnh khi mỗi lần nhìn bức hình đen trắng chụp chiếc thuyền ngoài xa là anh lại thấy như người đàn bà vùng biển ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh với tất cả những hình ảnh chân thực nhất, sống động nhất như anh đã từng thấy.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN : 1) Những ý chính :
a. Ý nghĩa nhan đề:
- Qua nội dung câu chuyện, nhất là qua sự tình huống nhận thức, sự “vỡ lẽ” của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng và chánh án Đẩu, ta thấy hình ảnh con thuyền nhìn từ xa rất khác với lúc nhìn gần. Hình ảnh con thuyền trong những bức ảnh chụp của người phóng viên gắn với cái đẹp “tuyệt đỉnh của ngoại cảnh”. Nhưng cuộc sống đích thực của gia đình hàng chài kia thì vất vả, nhọc nhằn, tăm tối, khổ đau ...
- Nhan đề truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” mang ý nghĩa biểu tượng, thể hiện rõ tư tưởng, chủ đề của tác phẩm:
“Chiếc thuyền ngoài xa” là biểu tượng của bức tranh thiên nhiên về biển cả và cũng là biểu tượng về hiện thực đời sống của những thân phận, những cuộc đời trôi nổi dập dềnh trên biển khơi;
“Chiếc thuyền ngoài xa” là một khái quát giản dị về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống: Nghệ thuật chân chính phải phải gắn bó với con người và vì con người;
“Chiếc thuyền ngoài xa” là một ẩn dụ về cái nhìn nghệ thuật, như một gợi ý về khoảng cách, về cự ly nhìn ngắm đời sống mà người nghệ sĩ cần coi trọng. Đó là người nghệ sĩ không thể nhìn cuộc sống bằng con mắt giản đơn, dễ dãi mà phải là cái nhìn đa chiều, sâu sắc; phải có tấm lòng, có can đảm và biết trăn trở về con người.
b. Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh
Phát hiện thứ nhất: Chiếc thuyền ngoài xa
- Đó là “một cảnh đắt trời cho” là cảnh chiếc thuyền lưới vó ẩn hiện trong biển sớm mờ sương có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào…Với người nghệ sĩ,